ier) 1926: Đèn thyratron ra đời 1930: Chỉnh lưu dùng đèn hơi thủy ngân công suất 3MW được lắp đặt cho hệ thống tàu điện ngầm New York (dùng để điều khiển động cơ DC của xe điện) 1931: Hệ thống cycloconverter dùng đèn hơi thủy ngân được ứng dụng trong hệ thống tàu điện tại Đức 1948: Transistor được phát minh tại Bell Labs 1956: Diode công suất dùng bán dẫn Silic ra đời 1958: GE giới thiệu thyristor (SCR) thương phẩm đầu tiên 1971: Kỹ thuật điều khiển vector động cơ không đồngier) 1926: Đèn thyratron ra đời 1930: Chỉnh lưu dùng đèn hơi thủy ngân công suất 3MW được lắp đặt cho hệ thống tàu điện ngầm New York (dùng để điều khiển động cơ DC của xe điện) 1931: Hệ thống cycloconverter dùng đèn hơi thủy ngân được ứng dụng trong hệ thống tàu điện tại Đức 1948: Transistor được phát minh tại Bell Labs 1956: Diode công suất dùng bán dẫn Silic ra đời 1958: GE giới thiệu thyristor (SCR) thương phẩm đầu tiên 1971: Kỹ thuật điều khiển vector động cơ không đồngier) 1926: Đèn thyratron ra đời 1930: Chỉnh lưu dùng đèn hơi thủy ngân công suất 3MW được lắp đặt cho hệ thống tàu điện ngầm New York (dùng để điều khiển động cơ DC của xe điện) 1931: Hệ thống cycloconverter dùng đèn hơi thủy ngân được ứng dụng trong hệ thống tàu điện tại Đức 1948: Transistor được phát minh tại Bell Labs 1956: Diode công suất dùng bán dẫn Silic ra đời 1958: GE giới thiệu thyristor (SCR) thương phẩm đầu tiên 1971: Kỹ thuật điều khiển vector động cơ không đồng
Trang 1CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
I KỸ SƯ VÀ NGHỀ NGHIỆP
1.1 Kỹ sư là ai
1.2 Các chức năng của người Kỹ sư
1.3 Con đường nghề nghiệp của người Kỹ sư
II NGƯỜI KỸ SƯ TRONG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
2.1 Người Kỹ sư trong doanh nghiệp
2.2 Người Kỹ sư trong tổ chức
III NGƯỜI KỸ SƯ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
3.1 Quản lý là gì
3.2 Kỹ sư làm công tác quản lý
3.3 Quản lý kỹ thuật
3.4 Khi Kỹ sư trở thành người quản lý
IV KỸ SƯ HỌC QUẢN LÝ NHƯ THẾ NÀO
V CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ VAI TRÕ CỦA CÔNG NGHỆ
5.1 Công nghệ và công tác quản lý
5.2 Công nghệ chiến lược, công nghệ cần thiết và công nghệ chủ đạo 5.3 Đổi mới công nghệ và Chiến lược cạnh tranh
5.4 Các loại đổi mới công nghệ
Trang 2I KỸ SƯ VÀ NGHỀ NGHIỆP
1.1 Kỹ sư là ai?
Kỹ sư (Engineer) là người hành nghề kỹ thuật Nghề nghiệp kỹ thuật (engineering profession)
ngày nay được xem là “Một nghề ứng dụng một cách có suy xét các kiến thức toán học và khoa
học tự nhiên có được qua học tập, nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra những phương thức sử dụng các vật liệu và các nguồn lực tự nhiên một cách hiệu quả về mặt kinh tế nhằm phục
vụ lợi ích con người“
Cả Kỹ sư và “Nhà khoa học tự nhiên” (Scientists) đều được học tập về toán học và khoa học tự nhiên, nhưng Nhà khoa học tự nhiên chủ yếu sử dụng các tri thức này để tìm ra tri thức mới còn
Kỹ sư là người áp dụng các tri thức đó để thiết kế và phát triển các thiết bị, các cấu trúc và các quá trình có ích cho con người Mặt khác, khác với các nghề nghiệp của Luật sư, Nhà tâm lý học, Nha sĩ v.v , người Kỹ sư tạo ra các thiết bị, cấu trúc, quá trình nói trên để sử dụng cho những nhóm người hơn là cho một cá nhân Họ rất ít khi giao tiếp trực tiếp với những người sử dụng, người hưởng lợi từ công việc và dịch vụ của họ Tuy nhiên, những “tác phẩm” của họ thì lại thường được “phô bày” ra cho tất cả mọi người nhìn thấy và không dễ gì che dấu được những khuyết tật hay sai lầm như ở một số ngành nghề khác
Ở nhiều nước, muốn làm Kỹ sư phải đăng ký hành nghề và Kỹ sư thường tham gia vào các hội nghề nghiệp để được bảo vệ quyền lợi và có tiếng nói chung trong hoạt động nghề nghiệp Để được đăng ký hành nghề, người Kỹ sư thường phải có 4 năm đào tạo và ít nhất là 4 năm kinh nghiệm, phải trải qua một kỳ thi viết và thỏa mãn những yêu cầu về tư cách và đạo đức nghề nghiệp
1.2 Các chức năng của người Kỹ sư
Chức năng hay hoạt động của người Kỹ sư có một phạm vi rất rộng, có thể bao gồm: nghiên cứu, phát triển, thiết kế, sản xuất, xây dựng, vận hành, bán hàng và quản lý
1/ Nghiên cứu (Research): là hoạt động để tìm kiếm những tri thức mới hoặc để hiểu biết tốt hơn
ý nghĩa và mối liên hệ giữa các sự việc đã biết đang tồn tại trong thế giới khách quan của đời sống con người
2/ Phát triển (Development): là hoạt động phát minh và ứng dụng các kết quả nghiên cứu để đưa
ra các sản phẩm, các phương pháp và các quá trình hữu ích
3/ Thiết kế (Design): là quá trình hoạt động chuyển đổi các khái niệm và thông tin thành những
kế hoạch và những mô tả kỹ thuật để từ đó có thể sản xuất hay xây dựng những sản phẩm, công trình
4/ Sản xuất (Production): là quá trình hoạt động công nghiệp để sản xuất ra các sản phẩm hoặc
vật phẩm từ các nguyên vật liệu
5/ Xây dựng (Construction): là quá trình hoạt động để chuyển đổi các thiết kế và vật liệu thành
các công trình như nhà cửa, đường xá v.v
6/ Vận hành (Operation): trong kỹ thuật, được hiểu là việc áp dụng các nguyên lý kỹ thuật hoặc
thực hiện một công việc thực tế Trong sản xuất, vận hành là việc cung cấp nguyên liệu, duy tu
Trang 37/ Bán hàng (Sales): Ngày nay có nhiều mặt hàng máy móc, thiết bị hay dịch vụ yêu cầu phải có
những Kỹ sư được đào tạo để có thể giới thiệu cho khách hàng mới, phục vụ một cách tốt nhất nhu cầu của họ Bán hàng ở đây bao gồm cả nhiệm vụ có tính chất tiếp thị
8/ Quản lý (Management): là trách nhiệm giải quyết các vấn đề về chính sách, tổ chức, tài chính,
bán hàng và phối hợp công việc v.v
Trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của mình, người Kỹ sư có thể làm một số hay tất cả các chức năng đó Theo số liệu thống kê năm 1984 ở Mỹ, tỷ lệ Kỹ sư trong một số hoạt động như sau:
3/ Quản lý nghiên cứu và phát triển 10,9 %
4/ Hành chính và các loại quản lý khác 22,6 %
8/ Báo cáo tính toán, thống kê 4,0 %
1.3 Con đường nghề nghiệp của người Kỹ sư
Có lẽ có ít nhất 5 con đường nghề nghiệp đối với một số sinh viên (SV) tốt nghiệp các ngành kỹ thuật Đó là:
1/ Theo các bậc thang nghề nghiệp trong các doanh nghiệp, công ty Công ty thường thu nhận
phần lớn các Kỹ sư Ở Mỹ năm 1984 có đến hơn 80% Kỹ sư làm việc ở các công ty, đặc biệt là ở các công ty lớn Họ có thể trực tiếp làm việc về kỹ thuật, soạn thảo các dự án, tiếp thị các dịch vụ
kỹ thuật hoặc từng bước leo lên các bậc thang quản lý Công ty, trừ một số có nhiệm vụ phục vụ công ích, thường có mục tiêu là lợi nhuận Với công ty, lợi nhuận như là máu của cơ thể con
người Mục tiêu nói chung của công ty là “Cực đại hóa lợi nhuận” theo nghĩa rộng, Người Kỹ sư
luôn phải hiểu điều đó
2/ Hoạt động như một nhà doanh nghiệp độc lập (Entrepreneur) Một số Kỹ sư lại muốn làm
việc độc lập cho chính họ Con đường thường là: Làm việc cho một công ty hay một tổ chức phục vụ công cộng khoảng 3 – 5 năm để có kinh nghiệm, từ đó có thể tiến đến hoạt động tư vấn độc lập, biến những kiến thức, tài năng của mình thành vốn và sau đó thành lập công ty cho chính mình Có thể nói, đây là một con đường có nhiều rủi ro nhưng đầy hứng thú Mục tiêu cuối cùng không chỉ là giàu có mà còn là “độc lập”, là thách thức tài năng và ở đây chỉ phải “phục tùng” chính mình và khách hàng của mình
3/ Làm việc trong các tổ chức nhà nước, các tổ chức phục vụ công cộng Ở đây có hai con
đường chính Một là tham gia quân đội, hai là làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước Các
Kỹ sư trẻ tham gia quân đội sẽ có điều kiện tiếp xúc với kỹ thuật – công nghệ có trình độ cao, ít
bị áp lực tuổi tác, kinh nghiệm, có điều kiện thăng tiến nhanh, dễ được đào tạo thêm để có bằng cấp cao hơn Với một tấm bằng cấp cao và quỹ hưu bổng khá, sau chừng 20 năm, ở tuổi “rực rỡ”
40 - 45 người Kỹ sư có thể dễ dàng bắt đầu một nghề nghiệp mới Ở một số nước, nhiều người cho rằng, đây là một phương án có nhiều ưu việt
Trang 4Còn khi làm việc ở các cơ quan quản lý nhà nước hoặc phục vụ công cộng, người Kỹ sư thường
có được những lợi ích bổ sung như: an toàn về việc làm, có chế độ nghỉ ngơi hợp lý và có các chương trình hưu bổng, y tế ưu tiên Phần lớn các Kỹ sư ở đây là Kỹ sư công chánh, liên quan đến đường sá, cầu cống, bến cảng, các dự án thủy lợi, cấp nước, bảo vệ môi trường v.v Cũng cần lưu ý là, có một số tổ chức phục vụ công cộng có mua bán các sản phẩm dịch vụ nhưng ở đây không tuân theo đầy đủ những yếu tố của cơ chế thị trường, không theo nguyên tắc “Cạnh
tranh hay là chết” Mục tiêu của các tổ chức này thường là: “Cực tiểu chi phí” (đương nhiên là từ
“hầu bao” của công chúng)
4/ Hành nghề Giáo sư – Kỹ sư hay Nhà nghiên cứu ở các tổ chức đào tạo_nghiên cứu
Nước ta hiện nay có gần 200 trường đại học – cao đẳng, có khoảng 400 viện nghiên cứu ở trung ương, ở địa phương và ở các ngành kỹ thuật Số lượng Kỹ sư đang hoạt đông ở dạng nhà giáo hay nhà nghiên cứu ở các tổ chức này khá đông đảo Những Kỹ sư theo con đường nghề nghiệp này, nói chung, thường phải ở đỉnh cao trong lĩnh vực chuyên môn của mình Vì vậy, đây là một nghề nghiệp, về nguyên tắc, khá “khắc nghiệt” Thầy giáo ở trường đại học, nhất là trường đại học truyền thống, phải vừa là nhà sư phạm, nhà khoa học và cả nhà thực tiễn nữa
Các tổ chức này, ngoài các mục tiêu do tổ chức tài trợ xác định, thường có mục tiêu “Cực tiểu
chi phí” Hơn nữa, ngày nay trong xu thế “nghiên cứu theo hợp đồng”, xu thế “giáo dục đại học cho số đông”, người ta cũng ngày càng lưu ý hơn việc “thương mại hóa” những dịch vụ của
mình
5/ Làm việc ngoài lĩnh vực kỹ thuật Người có bằng đại học kỹ thuật cũng có thể chuyển sang
làm việc ở các lĩnh vực như Luật, Kinh doanh, Y tế, Tài chính v.v Một Luật sư – kỹ sư sẽ phục vụ rất tốt cho một tổ chức nông nghiệp đang kiện một xí nghiệp ở thượng lưu làm tăng hàm lượng mặn vào hệ thống tưới, có khả năng nhận ra các điều ngụy biện và dối trá của bị đơn Một Nhà quản lý – Kỹ sư sẽ dễ dàng nhận ra các khía cạnh kỹ thuật của các thiết kế, thử nghiệm, sản xuất và tiếp thị sản phẩm Một Bác sĩ – kỹ sư sẽ có nhiều thuận lợi trong việc nghiên cứu các thiết bị y tế v.v Trong thực tiễn đã có khá nhiều ví dụ về một Kỹ sư mà đã đạt được những thành công đáng kể khi chuyển sang làm việc ở một lĩnh vực chuyên môn khác Do đó đừng quá câu nệ đến chuyên môn bằng cấp đầu tiên
Trên thực tế, trong một đời người có thể làm rất nhiều nghề khác nhau Một số SV kỹ thuật sau khi tốt nghiệp có thể làm Kỹ sư ở một công ty lớn 7 – 8 năm, sau đó lại lãnh đạo một công ty tư vấn độc lập ở một tỉnh nhỏ, tiếp sau lại làm việc cho cơ quan quản lý nhà nước v.v Sau khi về hưu, với những thành công và uy tín đã có, họ lại có thể thành lập một công ty tư vấn khác Không ai có thể lường trước được con đường nghề nghiệp của cả đời mình Vì vậy, điều quan trọng là, phải biết tìm kiếm kiến thức và biết thích nghi
II NGƯỜI KỸ SƯ TRONG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
2.1 Người Kỹ sư trong doanh nghiệp
Như đã nêu trên, phần lớn Kỹ sư làm việc ở các lĩnh vực công nghiệp, ở các công ty Để xem xét người Kỹ sư sẽ làm việc trong môi trường này như thế nào, chúng ta thử lấy một ví dụ minh họa
từ một “quá trình phát triển sản phẩm” trong một doanh nghiệp sản xuất (manufacturing) Đương
nhiên, đây là quá trình đã được đơn giản hóa để thấy được những đặc điểm chính của môi trường Trong thực tế, quá trình này phức tạp hơn (Hình 1-1)
Trang 5Môi trường kinh doanh ở đây được đơn giản hóa chỉ bao gồm 3 thành phần: Khách hàng (customers), Đối thủ cạnh tranh (competitors) và Các ràng buộc (constraints), tạo thành môi
trường của DN DN cũng đơn giản chỉ gồm 5 chức năng:
1/ Chức năng tiếp thị (marketing) Ở đây, người Kỹ sư có nhiệm vụ tìm hiểu sở thích và những
yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm Từ đó, họ có thể lập “Đề cương các đặc điểm kỹ
thuật” (outline specifications) cho các sản phẩm mới và sản phẩm cải tiến
2/ Chức năng kỹ thuật (technical) Ở đây, người Kỹ sư có nhiệm vụ “Phát triển và thiết kế sản
phẩm”, chuyển Đề cương trên thành “Các đặc điểm kỹ thuật cho việc chế tạo” (manufacturing
specifications), nghĩa là xác định: sản phẩm phải được làm ra như thế nào và phải đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng, giá thành, thời gian v.v (Hoạt động nghiên cứu để phát triển và thiết
kế sản phẩm không nêu ra ở đây)
3/ Chức năng sản xuất (Production) Ở đây, người Kỹ sư chuyển các thiết kế nói trên thành sản
phẩm đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và các ràng buộc về giá thành Sản lượng sản xuất phụ thuộc vào thị trường, chính sách thị trường, khả năng sản xuất, mức độ cạnh tranh và sự đặt hàng của khách hàng
4/ Chức năng tiêu thụ (Sales) Việc tiêu thụ phải đáp ứng được các đơn đặt hàng và phụ thuộc
vào chính sách thị trường của doanh nghiệp
5/ Chức năng tài chính (Finance) Đây là công việc giúp cho người quản lý kinh doanh trong
việc lập kế hoạch, tổ chức, kiểm tra và kiểm soát các hoạt động kinh doanh về mặt lợi tức, lợi
nhuận và dòng tiền tệ (cash-flow)
Trang 6Hình 1.1: Quá trình sản xuất trong môi trường kinh doanh
Như vậy người Kỹ sư trong quá trình thiết kế sản phẩm, dù phải tập trung vào chức năng kỹ thuật, trên thực tế phải mở rộng tầm nhìn của mình sang cả chức năng tiếp thị và sản xuất Hơn nữa, đầu tư là chi phí đi trước lợi nhuận Do đó, người Kỹ sư cũng phải biết chú trọng đến vấn đề giá thành, thời gian…, nghĩa là phải có hiểu biết cả chức năng tài chính Chức năng kỹ thuật là phần liên kết nằm giữa chức năng tiếp thị và sản xuất và ba chức năng này hợp thành một mảng
có ý nghĩa rất lớn trong thành công hay thất bại của một DN sản xuất Ở đây, các chức năng khác
có vai trò hỗ trợ Đương nhiên, chức năng tài chính, trong đó có nhiệm vụ kế toán gắn rất chặt với 3 chức năng chủ yếu nói trên
Từ những phân tích sơ bộ nói trên, đến đây chúng ta cũng đã có thể nói rằng, người Kỹ sư không
thể chỉ có quan điểm kỹ thuật trong hoạt động nghề nghiệp của mình Muốn hoàn thành tốt
nhiệm vụ, người Kỹ sư cần có cả 3 loại quan điểm khác nhau sau đây:
Quan điểm kỹ thuật (đương nhiên)
Quan điểm kinh tế, liên quan đến các khía cạnh thời gian, tiền bạc, v.v , “biết đọc, biết viết” (literate) về tài chính (vì ngôn ngữ về tiền bạc là ngôn ngữ của kinh doanh)…
Quan điểm vận hành (operational), biết nhìn từ cách nhìn của khách hàng-người tiêu dùng, của người quản lý…
Thị trường Khách hàng, người cạnh tranh, các ràng buộc
Xác định yêu cầu
Phát triển &
thiết kế
Chế tạo Bán hàng
Tiếp thị Kỹ thuật Sản xuất Tiêu thụ
Các chức năng kinh doanh
Sản phẩm Quá trình thiết kế
sản phẩm
Trang 7Hình 1.2: Các quan điểm trong hoạt động nghề nghiệp của người kỹ sư
2.2 Người kỹ sư trong tổ chức
Hoạt động nghề nghiệp của người Kỹ sư trong xã hội ngày nay thường được gắn kết trong một tổ chức nào đó Một người ở trong một tổ chức cũng có nghĩa là sự “cam kết” (commitment) cá nhân của người đó đối với các mục tiêu, mục đích của tổ chức này và phải thể hiện bằng những đóng góp của chính mình Điều đó cũng có nghĩa, họ phải làm việc qua các mối quan hệ chính thức và không chính thức giữa các thành viên của tổ chức, và rộng hơn nữa là giữa các tổ chức với nhau cũng như giữa người với người trong xã hội Họ luôn phải có quan hệ, va chạm với những người khác và với những sự việc, ít ra là trong tổ chức đó
Chính vì vậy, một Kỹ sư nổi tiếng đã viết trong “tự truyện” của mình như sau: “Tôi đã tốt nghiệp
kỹ thuật nhưng tôi vẫn chưa phải là kỹ sư Một nguời kỹ sư phải biết rất nhiều về con người, về cách tổ chức họ lại với nhau và cả cách “chống đối nhau” Tôi quyết tâm trở thành một kỹ sư thực sự Tôi quyết tâm học thêm về con người cũng như các sự việc.”
Yêu cầu của khách hàng
Đặc tính kỹ thuật khái quát
Đặc tính kỹ thuật chế tạo
Sản xuất
Tiêu thụ sản phẩm
Tiếp thị
Kỹ thuật
Sản xuất
Bán hàng
Tài chính
CHỨC NĂNG
Các quan điểm
(Nhìn từ khách hàng)
Để có quan điểm hiểu biết tổng thể
Trang 8III NGƯỜI KỸ SƯ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
3.1 Quản lý là gì ?
Quản lý, thực tế có quá nhiều định nghĩa Có tác giả gọi đơn giản: “Quản lý là giải quyết công
việc thông qua hoạt động của nhiều người” (getting things done through people) Tuy nhiên, nói
chung nhiều người cho rằng, quản lý bao gồm 4 nhiệm vụ phân biệt nhưng có liên quan nhau là :
1/ Hoạch định (Lập kế hoạch): Là việc xác định các mục tiêu và tìm giải pháp hợp lý về kinh tế
để đạt được các mục tiêu đó;
2/ Tổ chức: Là việc huy động các nguồn lực, con người v.v để thực hiện các kế hoạch;
3/ Kiểm soát: (controlling) là việc xử lý các “chệch choạc” so với kế hoạch và tiến hành các hiệu
chỉnh khi cần thiết; và
4/ Lãnh đạo: (leading) là việc thúc đẩy mọi người hoàn thành công việc của mình một cách tốt
nhất
Có hai yếu tố chính cần xem xét trong công việc quản lý Thứ nhất là mức độ về kỹ năng chuyên môn không thuộc khoa học quản lý nhưng được sử dụng trong công tác quản lý và thứ hai là cấp (level) quản lý trong hệ thống quản lý Đương nhiên các yếu tố này có liên quan với nhau Hệ thống quản lý trong một tổ chức DN thường có dạng “tập quyền” (hierachy) như ở Hình (1-3), gồm 3 cấp chính
1/ Quản lý cấp thấp (first line managers), thường là những người giám sát (supervisor), nhóm
trưởng, những người quản lý không giống như kiểu quản lý của giám đốc, trưởng phòng
2/ Quản lý cấp trung (middle managers), như trưởng phân xưởng, kỹ sư trưởng, các giám đốc
chức năng (tài chính, nhân sự ) v.v
3/ Quản lý cấp cao (top managers), như chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc, v.v
Cấp quản lý càng cao, trách nhiệm càng lớn thì tầm nhìn phải càng xa và sử dụng kiến thức, kỹ năng tổng quát nhiều hơn Ngược lại, cấp quản lý càng thấp thì phải đi vào giải quyết những nhiệm vụ cụ thể hơn, có tính chất ngắn hạn hơn và sử dụng nhiều kỹ năng chuyên môn hơn Hầu hết các nhà quản lý ban đầu được đào tạo về những kỹ năng chuyên môn “không có tính chất quản lý” (non – management) như Luật, Kế toán, Tiếp thị, Kỹ thuật và công việc đầu tiên của
họ thường liên quan với những chuyên môn đó Dần dần họ vươn lên trong thang bậc quản lý ở
DN, càng ngày càng có kinh nghiệm nhiều hơn và khi đến mức “giám đốc” thì họ sử dụng kỹ năng của người “generalists” nhiều hơn và việc sử dụng các kỹ năng chuyên môn nói trên ngày càng ít hơn Người ta cũng nói rằng, “Giám đốc tài chính thì giỏi về tài chính, giám đốc kỹ thuật – sản xuất thì phải giỏi về kỹ thuật/công nghệ” Tuy nhiên, “quy tắc” này không có nhiều ý nghĩa đối với trường hợp các giám đốc chức năng khác
Trang 93.2 Kỹ sƣ làm công tác quản lý
Chúng ta đang sống trong một xã hội có tính chất công nghiệp (Technological Society) và các công ty ngày nay cũng đều “bắt nguồn” từ, hay “hướng theo”, công nghệ (Technically oriented) Người Kỹ sư thường là “nhân vật” quan trọng nhất đưa chúng ta đến xã hội đó Chính vì vậy, ngay ở Mỹ, nơi có đến ¼ số bằng cấp thạc sĩ (Master) là thạc sĩ về quản trị kinh doanh (MBA) nhưng cũng có đến trên một nửa số công ty như vậy là do những người vốn được đào tạo ban đầu về kỹ thuật làm tổng giám đốc Hơn nữa, theo một thống kê về công việc của người Kỹ sư năm 1969 ở Mỹ, người ta thấy (Hình 1-4):
+ Có đến 10% Kỹ sư là Tổng quản lý (Tổng giám đốc);
+ Có đến 20% Kỹ sư quản lý các Phòng Ban hoặc Chương trình (Giám đốc chức năng); + Có đến 22% Kỹ sư là quản lý/giám sát các Dự án hay Bộ phận;
+ Có đến 12% Kỹ sư là quản lý/giám sát Đội, Tổ;
+ Có 18% Kỹ sư làm công tác giám sát nhân viên hoặc giám sát gián tiếp, và
+ Chỉ có 18% kỹ sư không có làm công tác giám sát thường xuyên
Như vậy có thể nói rằng, có đến khoảng 2/3 kỹ sư có trực tiếp làm công tác quản lý, giống như một nhà quản lý (managers) Người ta cũng cho rằng, mặc dù các số liệu thống kê nói trên đã cũ nhưng chúng vẫn còn là những con số hợp lý trong xã hội ngày nay
Hình 1.3: Các cấp quản lý
Giám Đốc Điều Hành
Tính
chất
của
Kỹ
Năng
Trách nhiệm kinh doanh
Tổng Quát –
(generalists)
Tầm Nhìn
Chuyên Sâu –
Specialists)
Cao
Thấp
Dài
Ngắn
Chủ Tịch HĐQT Giám Đốc Quản Lý
QL Cấp Thấp
QL Cấp Cao
QL Cấp Trung
Công Nhân Các Cổ Đông
Trang 1012 %
22 %
20 %
10 %
18 %
18 %
Hình 1.4: Trách nhiệm quản lý/ giám sát của kỹ sư
3.3 Quản lý kỹ thuật
Một số tác giả cho rằng, quản lý kỹ thuật (engineering management) là giám sát trực tiếp các Kỹ
sư hoặc các chức năng kỹ thuật, nghĩa là giám sát những nhóm các nhà nghiên cứu kỹ thuật hoặc các hoạt động thiết kế kỹ thuật Một số tác giả lại đưa thêm vào định nghĩa đó: “có tính kỹ thuật trong công tác quản lý” (“engineering” of management), nghĩa là có ứng dụng các phương pháp định lượng trong quản lý (management science) Tuy nhiên, một số tác giả cho rằng, cách định nghĩa như vậy là quá hẹp, chưa phù hợp với các hoạt động của người Kỹ sư trong các DN ngày nay Các tác giả này cho rằng, “Người quản lý kỹ thuật khác với những người quản lý khác là ở
chỗ họ phải đồng thời có khả năng áp dụng các nguyên lý kỹ thuật và cả kỹ năng tổ chức và chỉ
đạo con người cũng như dự án Họ ít nhất phải có năng lực cao, hoặc trong quản lý các chức
năng kỹ thuật (technical functions) như là thiết kế hay sản xuất ở một DN sản xuất bình thường, hoặc trong quản lý các chức năng rộng hơn như là tiếp thị hay tổng quản lý trong các DN công nghệ cao
Cũng cần lưu ý rằng, các DN công nghệ cao ngày nay thường phải sản xuất kinh doanh theo những công việc và kiểu cách chưa từng có trước đây Hơn nữa, họ phải “đảm bảo” làm đúng ngay từ lần đầu vì thường không có cơ hội thứ hai và họ phải giải quyết, xử lý những vấn đề có tính chất “không chắc chắn” (uncertainties) Các yếu tố này có nhiều tính chất kỹ thuật mà người
Kỹ sư là người có điều kiện nhiều nhất để nhận ra được và tổ chức giải quyết Cũng chính vì vậy
mà người Kỹ sư thường được lựa chọn vào các chức vụ “quản lý kỹ thuật” ở các DN dựa vào công nghệ (technically based)
3.4 Khi Kỹ sư trở thành người quản lý
Bước thang đầu tiên trong các bậc thang quản lý ở DN của người Kỹ sư thường là “Kỹ sư quản
lý các Kỹ sư” ở vai trò giám sát vì các Kỹ sư thường yêu cầu giám sát họ phải là một người Kỹ
sư nổi tiếng Cũng chính vì vậy, “Kỹ sư quản lý các Kỹ sư” thường là những người rất thành đạt
ở vai trò kỹ sư Tuy nhiên, trước đó họ thường không có ý định “gắn” vào quản lý như là mục tiêu nghề nghiệp của đời mình Do đó, trong nhiều trường hợp các “cuộc dịch chuyển” như vậy,
Giám đốc chức năng
Tổng quản lý
Không làm công tác giám sát thư ờ ng xuyên
Giám sát gián tiếp
Quản lý /
Giám sát
Dự án/Bộ
phận
Quản lý /
Giám sát
Đội, Tổ