1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương chi tiết quản lý công

252 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 252
Dung lượng 232,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương đáp án chi tiết môn quản lý công.KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ CÔNG VÀ KHOA HỌC QUẢN LÝ CÔNG. CHỨC NĂNG VÀ NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ CÔNG HÌNH THỨC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ CÔNG. NGHỆ THUẬT QUẢN LÝ CÔNG Kinh nghiệm quản lý và cung cấp dịch vụ công cơ bản ở các nước và khu vực trên thế giới

Trang 1

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ CÔNG VÀ KHOA HỌC QUẢN LÝ CÔNG 1.1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ CÔNG

1.1.1 Khái niệm quản lý công

1.1.1.1 Khái niệm quản lý

Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thểquản lý tối đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêucủa tổ chức trong điều kiện môi trường biến đổi

Từ định nghĩa này, có thể thấy rằng:

- Quản lý là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người, đó

là quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý

- Quản lý là tác động có ý thức

- Quản lý là tác động bằng quyền lực

- Quản lý là tác động theo quy trình

- Quản lý là phối hợp các nguồn lực

- Quản lý nhằm thực hiện mục tiêu chung

- Quản lý tồn tại trong một môi trường luôn biến đổiNhư vậy, quản lý là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản: chủ thểquản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý, công cụ, phương tiện quản lý, cáchthức quản lý (có ý thức, bằng quyền lực, theo qui trình) và môi trường quản lý.Những nhân tố đó có quan hệ và tác động lẫn nhau để hình thành nên quy luật vàtính quy luật quản lý

1.1.1.2 Khu vực công

Trang 2

Quản lý công gắn liền với phạm vi hoạt động trong khu vực công Theonghĩa rộng, khu vực công là tổng thể các nhu cầu của cư dân xã hội về dịch vụcông, hàng hóa công đòi hỏi phải được đáp ứng và hệ thống các cơ quan, tổ chứccông của nhà nước thực hiện việc quản lý sản xuất và cung ứng dịch vụ công, cáchàng hóa công cộng và một phần các loại hàng hóa cá nhân dưới hình thức côngcộng đáp ứng nhu cầu chung của xã hội.

Khu vực công bao gồm hai phân hệ hợp thành: Các chủ thể có trách nhiệmtạo ra và cung ứng các dịch vụ công, hóa hóa công cộng cho xã hội (các cơ quanquản lý vĩ mô nhà nước các cấp và đội ngũ cán bộ công chức với các hoạt độngtương ứng – công vụ, có trách nhiệm quản lý việc tổ chức sản xuất và cung ứngdịch vụ công, hàng hóa công cộng; các tổ chức công thực hiện việc sản xuất cácdịch vụ công, hàng hóa công cộng); và hệ thống các dịch vụ công, hàng hóa côngcộng đòi hỏi chủ thể bên cung ứng phải đáp ứng

Theo nghĩa hẹp, khu vực công là khu vực bao gồm toàn bộ hệ thống các cơquan, tổ chức công có nhiệm vụ quản lý sản xuất, cung ứng dịch vụ công, hàng hóacông cộng cho xã hội

Tựu chung lại, khu vực công là khu vực hoạt động do nhà nước làm chủ sởhữu, nhà nước đầu tư vốn, trực tiếp thực hiện hoặc một phần do tư nhân đầu tư,tiến hành có sự trợ giúp tài chính của nhà nước và được nhà nước quản lý nhằm tạo

ra các sản phẩm và dịch vụ phục vụ nhu cầu chung thiết yếu của xã hội

1.1.1.3 Khái niệm Quản lý công

Thuật ngữ quản lý công xuất hiện ở các nước tư bản phát triển từ khoảngđầu thế kỷ XX nhưng chỉ được sử dụng tương đối rộng rãi vào khoảng những năm

1960 Đây là giai đoạn các nhà nghiên cứu hành chính tập trung vào việc chuyển từnghiên cứu chủ yếu khía cạnh hình thành chính sách trong hoạt động của nhà nước

Trang 3

sang nghiên cứu khía cạnh quản lý Các nguyên tắc và phương pháp quản lý nhưquản lý tài chính và ngân sách, quản lý nguồn nhân lực… bắt đầu được sử dụngphổ biến trong hoạt động hành chính nhà nước để hướng vào việc đảm bảo hiệulực và hiệu quả hoạt động.

Quản lý công thực sự bùng nổ vào khoảng những năm 70 của thế kỷ XXcùng với sự chuyển đổi từ mô hình hành chính công truyền thống sang mô hìnhquản lý công mới

Quản lý công là sự tác động có tổ chức và bằng pháp luật của bộ máy nhà nước đối với khu vực công nhằm đảm bảo cung ứng dịch vụ công cho mọi người dân một cách công bằng, ổn định, hiệu quả và phi lợi nhuận.

Quản lý công là một bộ phận quan trọng của quản lý nhà nước đối với xã hộinói chung

1.1.2 Đặc điểm của hoạt động quản lý công

- Quản lý công là hoạt động phổ biến và cần thiết trong mọi xã hội.

Trong xã hội, khi hình thành hoạt động cộng đồng là cần sự hợp tác, phốihợp Muốn cho hoạt động chung của xã hội đạt hiệu quả cao thì cần thiết phải quản

lý Hoạt động quản lý ban đầu có thể là rất đơn giản, và chủ thể tham gia quản lýcũng chưa có sự phân biệt một cách rõ ràng với các cá nhân còn lại trong cộngđồng Nhưng cùng với sự phát triển của xã hội loài người, sự xuất hiện của các môhình, các phương pháp và công nghệ mới trong sản xuất, cũng với tính chất phứctạp của các quan hệ xã hội cũng như quan hệ sản xuất, hoạt động quản lý trở nênphổ biên và ngày càng cần thiết, thậm chí có thể coi là hoạt động không thể thiếutrong các quá trình sản xuất và quá trình xã hội mặc dù hoạt động quản lý đươngnhiên không trực tiếp tạo ra các sản phẩm vật chất

Trang 4

- Chủ thể và đối tượng của hoạt động quản lý công phải gắn liền với khu vực công.

Chúng ta nói hoạt động quản lý cũng như khoa học quản lý nói chung là mộthoạt động hay một khoa học tổng hợp Quản lý công phân biệt với các khoa họcquản lý chuyên ngành cũng như quản lý nói chung ở chỗ đối tượng mà khoa họcnày hướng tới là các quan hệ quản lý trong khu vực công Ở đó, chủ thể của quátrình quản lý thường phải là các cơ quan công quyền, đối tượng hướng đến củahoạt động quản lý công là đa số nhân dân và các nguồn lực được huy động cũngnhư được quản lý là các nguồn lực công, thuộc sở hữu của quốc gia

- Quản lý công là hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật

Tính khoa học của hoạt động quản lý công thể hiện ở chỗ, hoạt động quản lýphải được xây dựng trên cơ sở những tri thức khách quan chứ không phải là ýmuốn chủ quan của người quản lý Nói cụ thể hơn, những quyết định quản lý,những nguyên tắc quản lý, quy trình quản lý… không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm,thói quen mà phải tuân theo quy luật khách quan của đời sống xã hội Tính nghệthuật thể hiện ở chỗ, muốn cho hoạt động quản lý mang lại hiệu quả cao thì ngoàiviệc phải thực thi nó một cách khoa học thì cần phải vận dụng một cách linh hoạt,sáng tạo, phù hợp với các hàm biến số xác định Mặt khác quản lý là hoạt động gắnliền với con người cho nên trong nhiều trường hợp, đây là quá trình giải quyết cácmối quan hệ giữa những con người trong cùng một tổ chức Điều đó đòi hỏi sựmềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo đến tầm một nghệ thuật

Tính khoa học và tính nghệ thuật không loại trừ nhau mà chúng thống nhấthữu cơ với nhau Đó là mối quan hệ cộng sinh, cộng trưởng Tính khoa học thểhiện rõ nét hơn ở những khía cạnh liên quan tới các nguyên tắc quản lý, quy trình

Trang 5

quản lý; tính nghệ thuật thể hiện rõ nét hơn ở các khía cạnh liên quan đến phươngpháp quản lý, phong cách, nghệ thuật quản lý.

1.1.3 Chủ thể và đối tượng của Quản lý công

1.1.3.1 Chủ thể quản lý công

* Chủ thể quản lý

Là nhân tố đặc biệt quan trọng của mọi hoạt động quản lý và của mọi hệthống quản lý, chủ thể quản lý có những đặc trưng cơ bản:

- Chủ thể quản lý là nhân tố tạo ra các tác động quản lý

Các tác động quản lý tồn tại ở nhiều hình thức và cấp độ khác nhau Nó cóthể là mục tiêu, nội dung, phương thức quản lý; cũng có thể là các nguyên tắc,phương pháp, phong cách và nghệ thuật quản lý Hay ở một bình diện khác là cácquyết định quản lý Hiệu quả quản lý của các tổ chức tùy thuộc phần lớn vào chấtlượng của các tác động quản lý đó Việc tạo ra các tác động quản lý lại tùy thuộcvào điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Cách thức tạo lập các tác độngquản lý lại tùy thuộc vào điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Cách thức tạolập các tác động quản lý quy định tính chất và các mô thức quản lý xác định

- Chủ thể quản lý có một quyền lực nhất định

Quyền lực là sức mạnh được thừa nhận Nó là công cụ và phương tiện khôngthể thiếu của chủ thể quản lý Nhờ có quyền lực, chủ thể quản lý mới tạo ra đượccác tác động quản lý để điều khiển và điều chỉnh hành vi của thuộc cấp Tuy nhiênviệc sử dụng quyền lực như thế nào là một vấn đề quan trọng, có vai trò quyết địnhtới việc hình thành văn hóa quản lý và do đó ảnh hưởng tới hiệu quả của quản lý

- Chủ thể quản lý tồn tại ở nhiều quy mô và tầng nấc khác nhau

Trang 6

Chủ thể quản lý có thể là một người, một nhóm người hoặc là một tổ chức

và tồn tại ở các tầng nấc khác nhau Với các tổ chức nhỏ, chủ thể quản lý có thể làmột người; với tổ chức lớn chủ thể quản lý có thể là một nhóm người; với mộtquốc gia, khu vực… chủ thể quản lý là một tổ chức người Chủ thể quản lý tồn tạidưới các cấp độ: cấp cao, cấp trung, cấp thấp

Các hình thức và cấp độ tồn tại của chủ thể quản lý được biểu hiện ở cáctuyến quyền lực (ngang – dọc; trên – dưới) và có quan hệ tác động lẫn nhau từ đótạo nên tính phức tạp của cơ chế quản lý Việc thiết lập các mối quan hệ quyền lực

và phối hợp hoạt động giữa chúng một cách hợp lý là tạo ra cơ chế quản lý khoahọc và là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt dộng của các tổ chức

- Chủ thể quản lý phải có những năng lực và phẩm chất nhất định

Chủ thể quản lý có thể được phân thành ba cấp độ cơ bản (quản lý cấp cao,cấp trung và cấp thấp) song dù ở cấp nào, chủ thể quản lý cũng cần phải có nhữngnăng lực và phẩm chất cơ bản

Năng lực chuyên môn: Đó là những tri thức cơ bản về chuyên môn liên quantới lĩnh vực mà người quản lý phụ trách

Năng lực làm việc với con người: Đó là khả năng của họ và thừa nhậnnhững giá trị khác biệt

Năng lực tư duy, bản lĩnh và phương pháp tổ chức công việc khoa học: Đó

là khả năng nhìn xa, trông rộng, hay có tầm nhìn chiến lược và hiện thực hóa nótrong thực tiễn Chủ thể quản lý phải có tính quyết đoán, dám chịu trách nhiệm

Những nhóm năng lực và phẩm chất trên không phải do bẩm sinh mà chỉ cóthể được hình thành thông qua quá trình học tạp, nghiên cứu và trải nghiệm trongthực tiễn Vì vậy, trong quá trình đào tạo để có được các nhà quản lý vừa có tâm

Trang 7

vừa có tầm thì phải lưu ý tới các lĩnh vực tri thức khoa ọc phù hợp và phải chútrọng tới vai trò của thực tiễn quản lý.

- Chủ thể quản lý có lợi ích xác định

Lợi ích của chủ thể quản lý có thể thống nhất hoặc đối lập với lợi ích của đốitượng quản lý Điều đó tùy thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.Song, tính chất của quan hệ lợi ích đóng vai trò quyết định tới tính chất của hoạtđộng quản lý và hiệu quả của nó Thực tiễn quản lý đã chứng minh rằng, khi lợi íchcủa chủ thể đối lập với lợi ích của đối tượng thì hoạt động quản lý bị “biến dạng”thành hoạt động cai trị hoặc thống trị Khi lợi ích của chủ thể thống nhất với lợi íchcủa đối tượng thì hoạt động quản lý mới được biểu hiện theo đúng nghĩa của nó.Tuy nhiên, để có sự thống nhất về lợi ích giữa chủ thể và đối tượng thì phải trảiqua một quá trình vận động, biến đổi và phát triển lâu dài của xã hội

* Chủ thể quản lý công

Chủ thể quản lý công là nhà nước và tùy thuộc vào thể chế của mỗi quốc gia,chủ thể quản lý công có thể chỉ là chính phủ - cơ quan hành pháp của nhà nước, cóthể là sự gắn kết hỗn hợp các cơ quan quyền lực nhà nước

1.1.3.2 Đối tượng của Quản lý công

* Đối tượng của quản lý

Với tư cách là những con người hiện thực và là nhân tốt quan trọng của hệthống quản lý, đối tượng quản lý có những đặc trưng cơ bản sau:

- Đối tượng quản lý là những người tiếp nhận các tác động quản lý và có thểtham gia ở mức độ nhất định việc tạo lập các tác động quản lý

Trang 8

Khi tiếp nhận các tác động quản lý, đối tượng quản lý có thể “chấp nhận”hay “không chấp nhận” và dẫn tới “hưng phấn” hay “ức chế” điều đó phụ thuộcvào nội dung của những tác động quản lý mà chủ thể đưa ra Tuy nhiên, khôngphải cứ nội dung của những tác động quản lý khách quan, đúng đắn thì sẽ được đốitượng quản lý chấp nhận và tạo ra sự hưng phấn ở họ Chính vì vậy, chủ thể quản

lý ngoài việc lưu ý tới nội dung của các tác động quản lý thì còn phải quan tâm tớihình thức và phương thức tác động tới đối tượng quản lý

Khi tham gia ở mức độ nhất định việc tạo lập các tác động quản lý, đốitượng quản lý có thể không có đóng góp, đóng góp ít hoặc đóng góp nhiều, songviệc tham gia đó là hết sức có ý nghĩa Chủ thể quản lý nên sử dụng phong cáchquản lý dân chủ để phát huy trí tuệ của cấp dưới trong việc xây dựng quyết địnhquản lý vì việc thực hiện nó sẽ có hiệu quả cao hơn khi đối tượng quản lý được cọi

là “người trong cuộc”

- Đối tượng quản lý là những con người có khả năng tự điều chỉnh hành vicủa họ

Chủ thể quản lý không vì có quyền lực là sử dụng nó tùy tiện để tác độngvào đối tượng quản lý bởi vì họ không phải là những “công cụ biết nói”, chỉ biết

“vâng lệnh” và tuân phục mà đối tượng quản lý là những chủ thể hoạt động có ýthức, có động cơ và mang tính sáng tạo Chính vì vậy chủ thể quản lý phải tác độngtới đối tượng quản lý một cách có ý thức, bằng quyền lực và theo quy trình Đồngthời, chủ thể quản lý phải căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, tâm tư nguyện vọng,trình độ của đối tượng quản lý để đưa ra các tác động phù hợp Có như vậy thì mớithiết lập được sự thống nhất giữa vai trò điều chỉnh của chủ thể với khả năng tựđiều chỉnh của đối tượng quản lý

- Đối tượng quản lý là một tổ chức xác định

Trang 9

Tổ chức là sự tập hợp và liên kết của các thành viên theo một cách thức xácđịnh, là sự phối hợp các hoạt động để thực hiện mục tiêu chung Tổ chức có thểphân chia thành tổ chức chính thức – phi chính thức; tổ chức kinh tế - chính trị -văn hóa – xã hội …

Bất cứ tổ chức nào đều có những yếu tố cơ bản: Mục tiêu, cơ cấu, nguồnnhân lực, hệ thống chính sách, hệ thống thông tin, hệ thống cơ sở vật chất – kỹthuật, công nghệ và văn hóa tổ chức

Chủ thể quản lý tác động tới đối tượng quản lý với tư cách là tổ chức nhưvậy sẽ bao chứa nhiều nội dung và nhiều cấp độ Tuy nhiên, tổ chức là một hệthống toàn vẹn song nhân tố con người đóng vai trò quyết định Vì vậy, hệ thốnghợp tác xã hội với các nhân tố chức năng xã hội và tâm lý xã hội cần được đặc biệtlưu ý Việc tạo lập các chức năng xã hội và tâm lý xã hội hợp lý đóng vai trò quyếtđịnh đối với thành công của quản lý

- Đối tượng quản lý là những con người có phẩm chất và năng lực nhất định.Những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của đối tượng quản lý phải căn cứvào mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Để có những năng lực đáp ứngcông việc tổ chức, đối tượng quản lý không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm, thóiquen, mà phải được đào tạo ở những nội dung và hình thức phù hợp Chỉ có nhữngngười có tri thức, kỹ năng, thái độ và trách nhiệm cao mới có thể đáp ứng được yêucầu của công việc

- Đối tượng quản lý có lợi ích xác định

Đối tượng quản lý là những con người khác nhau về tình cảm, nhu cầu, lợiích … Song, khi làm việc trong một tổ chức, họ sẽ được liên kết lại để thực hiệnmục tiêu chung của tổ chức Lợi ích của các thành viên có thể đối lập hoặc thống

Trang 10

nhất với lợi ích của chủ thể quản lý Điều đó tùy thuộc vào việc xác lập nội dungcủa mục tiêu chung Chỉ có sự thống nhất về lợi ích giữa đối tượng quản lý với chủthể quản lý thông qua mục tiêu chung thì mới tạo nên động lực cho sự phát triểncủa tổ chức, và ngược lại.

* Đối tượng của quản lý công

Đối tượng của quản lý công là khu vực công bao gồm hai phân hệ và mốiquan hệ biện chứng giữa các phân hệ này, trong đó bao gồm: Các cơ quan chứcnăng quản lý cung ứng dịch vụ công và hàng hóa công cộng và các tổ chức côngtrực tiếp tạo ra dịch vụ công và hàng hóa công cộng – đại diện cho bên cung vềdịch vụ công và hàng hóa công cộng; Khách hàng tiêu dùng dịch vụ công, đó làtoàn bộ cư dân xã hội với các nhu cầu về dịch vụ công và hàng hóa công cộng –đại diện cho bên cầu về dịch vụ công và hàng hóa công cộng

1.1.4 Vai trò của quản lý công

Quản lý công của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ và hàng hóacông có vai trò vô cùng quan trọng, nó liên quan đến sự sống còn và phát triển củanhà nước, của chế độ xã hội, góp phần chủ yếu vào việc thực hiện các mục tiêuphát triển chung của đất nước Vai trò này thể hiện như sau:

- Quản lý công hiệu quả sẽ tạo ra được niềm tin, lý tưởng, sự gắn kết mọingười dân với nhà nước và chế độ xã hội, đặc biệt là việc cung ứng các dịch vụphối hợp

- Quản lý công góp phần trực tiếp nâng cao đời sống của nhân dân, pháttriển sức sản xuất

- Quản lý công góp phần điều chỉnh sự phát triển chênh lệch trong nước tạothế phát triển bền vững cho quốc gia

Trang 11

- Quản lý công góp phần tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước

- Quản lý công góp phần tạo ra nguồn nhân lực to lớn cho xã hội, một tàinguyên vô giá cho sự phát triển của tương lai

- Quản lý công góp phần tạo ra cơ chế hoạt động tích cực của hệ thống các

cơ quan chức năng quản lý công, các tổ chức công và đội ngũ cán bộ công chứcphục vụ trong các cơ quan và tổ chức này, nhờ đó tạo ra được sự đồng thuận của xãhội, sự gắn kết giữa người dân và nhà nước

1.1.5 Phân biệt quản lý công với các khái niệm có liên quan

1.1.5.1 Quản lý công với Hành chính công

Thuật ngữ ‘hành chính’ (administration) có nghĩa hẹp hơn so với thuật ngữ ‘quảnlý’ (management) Trong lĩnh vực công, ‘hành chính công’ (public administration)

và ‘quản lý công’ (public management) cũng có ý nghĩa khác nhau Hành chínhcông đề cập đến thủ tục, quy trình để thực hiện chính sách đã được hoạch định bởingười khác thành hành động cụ thể trong thực tế quản lý, điều hành Trong khi đóquản lý công được hiểu theo nghĩa rộng hơn, ngoài việc bao gồm quy trình, thủ tụchành chính, quản lý công còn liên hệ tới việc xác định ai, tổ chức nào sẽ thực hiện

và chịu trách nhiệm về việc đảm bảo đạt được mục tiêu, kết quả mà nhà hoạch địnhchính sách đã đề ra Vì vậy, sự thay đổi từ ‘hành chính công’ sang ‘quản lý công’được coi là sự thay đổi lớn về học thuyết và thực tế trong việc quản lý đối với lĩnhvực công Ngày nay, thuật ngữ Quản lý công được sử dụng phổ biến, ngược lạiHành chính công ít được sử dụng hơn Hành chính công cũng được dùng để chỉQuản lý công truyền thống phát triển trong thể kỷ 20 đối lập với Quản lý công mớinỗi lên từ cuối những năm 1980

Trang 12

1.1.5.2 Quản lý công với Quản lý tư

Vấn đề tranh luận về sự khác biệt giữa quản lý công và quản lý tư dù đã kéodài khá lâu nhưng cho đến nay, những tranh luận này vẫn có nguy cơ kéo dài bấttận Thông thường, người ta cho rằng “Phương thức quản lý tư thì hướng về thànhtích của hiệu năng kinh tế như được quy định ở thị trường còn phương thức quản lýcông thì hướng về lợi ích công cộng như được quy định ở các cuộc hội thảo chínhtrị” Hiện nay, khi phân biệt quản lý công và quản lý tư, có nhiều tiêu chí nhưng về

cơ bản người ta nhấn mạnh mặt kinh tế, chủ yếu là những quan hệ của những tổchức và những nhà lãnh đạo với thị trường, theo đó chỉ ra rằng: đối với các xínghiệp tư doanh thì chính thị trường có mặt khắp nơi, nó vừa là nơi tiêu thụ sảnphẩm, vừa là nguồn cung cấp nguyên liệu, vừa là tiêu chuẩn mang lại thành cônghay thất bại Đối với những tổ chức công thì mối quan hệ với thị trường được nớilỏng hơn nhiều vì tuân thủ một qui tắc logic khác biệt dựa hoàn toàn vào quyền lựcnhà nước, tức là khả năng áp đặt những điều kiện một cách đơn phương Ngườiviên chức nhà nước chỉ có thể hành động khi được phép do một đạo luật hoặc donhững quy chế, không những đề ra những mục tiêu làm phương hướng mà còn chỉnhững những biện pháp để đạt tới đích nữa Người viên chức không thể khởixướng sáng kiến kể cả nếu khi viên chức đó tin chắc là sáng kiến này cho phép đạtđược dễ dàng những mục tiêu mà Chính phủ đề ra Sự cần thiết phải luôn luôn dựatheo một cái khung hợp pháp trong lĩnh vực quản lý thông thường những chươngtrình công, áp đặt một sự cứng rắn không có ở doanh nghiệp tư

Bên cạnh yếu tố kinh tế, quản lý công và quản lý tư còn được phân biệt vớinhau bởi yếu tố pháp lý và yếu tố chính trị của nó

Cũng phải nói rằng, nếu như trong quá khứ, người ta có thể phân biệt dễdàng những phương thức hoạt động cũng như những mục tiêu của khu vực công và

Trang 13

khu vực tư thì từ vài năm nay, người ta chứng kiến một sự thâm nhập lẫn nhau mộtcách có ý nghĩa giữa hai phương thức hoạt động của hai khu vực Một mặt, cácdoanh nghiệp tư không còn theo đuổi lợi nhuận tối đa với nhiệt tình mạnh mẽ nhưtrước kia nữa, thậm chí những doanh nghiệp này còn tiến tới chỗ thừa nhận có mộttrách nhiệm xã hội kéo chúng lại gần với những mục tiêu phục vụ lợi ích công.Mặt khác, chính phủ khi phân tích một cách tương đối về thành tích kinh tế củamình trong cách phân phối những dịch vụ công của mình đang tìm cách phỏngtheo cách thực hành quản lý của khu vực tư kể cả việc ủy thác cho các doanhnghiệp tư sản xuất những của cải công với những điều kiện nào đó nữa.

Mặc dù có những hiện tượng xích lại gần nhau như vậy, thì vẫn có một sựkhác biệt chủ yếu, tức là phía tư doanh đang tìm kiếm mức sống sung túc cho một

cá thể hoặc cho một nhóm nhỏ hẹp những cá thể, trong khi cơ cấu công thì lạinhằm thỏa mãn lợi ích tổng thể và mức sống sung túc của đa số trong cộng đồng,khi mà sự khác biệt này thể hiện trên bình diện quản lý bằng những thái độ rất khácnhau

1.2 KHÁI QUÁT VỀ KHOA HỌC QUẢN LÝ CÔNG

1.2.1 Quan niệm Khoa học quản lý công

Quản lý công là một môn học nghiên cứu toàn bộ các vấn đề nảy sinh vàphát triển trong khu vực công

Khoa học quản lý công là một ngành khoa học quản lý chuyên ngành baogồm hệ thống những khái niệm, phạm trù, những quan nhiệm về ngành quản lýcông được phân bổ, sắp xếp theo một trình tự logic nhất định cấu thành khoa họcquản lý công

Trang 14

Quản lý công là một khoa học nghiên cứu toàn bộ những vấn đề cơ bản cóliên quan đến thực tiễn quản lý trong lĩnh vực công, quan hệ giữa chủ thể và đốitượng quản lý để tìm ra những quy luật của các quá trình và hiện tượng này, từ đógiúp cho các chủ thể quản lý có thể tìm ra những biện pháp, công cụ, phương thức

để nâng cao hiệu quả của hoạt động này

1.2.2 Đối tượng nghiên cứu

Bất kỳ một bộ môn khoa học nào cũng đều có đối tượng nghiên cứu, hệthống phạp trù và phương pháp nghiên cứu, đó là những cơ sở để phân biệt khoahọc này với khoa học khác Ngày nay, xu thế phân chia và tổng hợp các bộ mônkhoa học đã hình thành nhiều bộ môn khoa học khác nhau với đối tượng nghiêncứu khác nhau

Đối tượng của khoa học quản lý công là các quan hệ quản lý, tức là quan hệgiữa người với người trong quản lý, quan hệ giữa chủ thể với đối tượng quản lý.Quản lý công có nhiệm vụ nghiên cứu tìm ra quy luật và tính quy luật của hoạtđộng quản lý, từ đó xác định các nguyên tắc, chính sách, công cụ, phương pháp,các hình thức tổ chức quản lý để không ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lượngquản lý, đảm bảo quản lý một cách khoa học

Có thể khái quát lại, đối tượng nghiên cứu của khoa học quản lý công là cácvấn đề mang tính quy luật giữa hai phân hệ cầu về dịch vụ công, cung về dịch vụcông và mối quan hệ biện chứng giữa hai khu vực này để tìm ra những cách thức tổchức và đáp ứng tốt nhu cầu về dịch vụ công của xã hội mà nhà nước là chủ thểbên cung phải đáp ứng

1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của khoa học quản lý công

1.2.3.1 Chức chăng

Trang 15

- Phát hiện, dự báo những quy luật phát sinh và biến động trong quá trìnhquản lý, đặc biệt là trong quan hệ giữa các chủ thể quản lý với đối tượng của nó.

- Hình thành hệ thống tri thức có tính lí luận, có căn cứ khoa học và thựctiễn về những sự kiện, hiện tượng nảy sinh trong quá trình quản lý

1.2.3.2 Nhiệm vụ

* Đối với các nhà quản lý

Khoa học quản lý cung cấp những tri thức cơ bản, cốt lõi về quản lý liênquan tới: yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người quản lý; vị trí, vai trò, chứcnăng, nhiệm vụ cơ bản của nhà quản lý; trang bị những kiến thức về nguyên tắcquản lý, về quy trình quản lý (những bước cơ bản của quá trình lập kế hoạch, raquyết định, những nội dung cơ bản của công tác tổ chức, những phương pháp quản

lý và phong cách quản lý, những loại hình và phương pháp kiểm tra được sử dụngtrong thực tiễn); những nội dung cơ bản của quy trình thông tin trong quản lý…

* Đối với việc nghiên cứu và giảng dạy ngành khoa học quản lý công

Khoa học quản lý công trang bị hệ thống tri thức để làm cơ sở nền tảng choviệc đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực quản lý chuyên sâu hoặc là các lĩnh vực củakhoa học quản lý chuyên ngành

Trong công tác nghiên cứu và giảng dạy nói chung và trong lĩnh vực nghiêncứu và giảng dạy ngành quản lý công, thường người ta vẫn phải áp dụng phươngpháp đi từ cái chung đến cái riệng, hay đi từ cái trừu tượng đến cái cụ thể, vì đó làphương pháp nhận thức hữu dụng nhất Chính vì vậy, để chiếm lĩnh các lĩnh vựcquản lý chuyên sâu và các lĩnh vực thuộc khoa học quản lý chuyên nganh thì phảinắm vững lý luận chung về quản lý Khoa học quản lý là một trong những môn

Trang 16

khoa học giúp các nhà khoa học có được một trong những phương pháp đặc biệtquan trọng đã nêu ở trên.

1.2.4 Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý công

Quản lý công với tư cách là một khoa học xã hội, cũng như các khoa họckhác, muốn nhận thức được đối tượng của nó nhất thiết phải vận dụng nhữngphương pháp nghiên cứu chung và những phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp trừu tượng hóa

Các phương pháp này đều được các khoa học khác sử dụng trong nghiên cứu

để nhận thức bản chất đối tượng của chúng Tuy nhiên, trong quá trình vận dụngcác phương pháp này, mỗi khoa học đều có cách tiếp cận riêng

* Phương pháp biện chứng duy vật

Phương pháp biện chứng duy vật là phương pháp xem xét các sự vật, hiệntượng và quá trình của thế giới quan trong mối liên hệ tác động qua lại, trong sựvận động biến đổi và phát triển theo quy luật của chúng

Quản lý là một trong những hiện tượng, quá trình của thể giới hiện thực Đểnhận thức bản chất và quy luật của quản lý, Khoa học quản lý công cần thiết phảivận dụng phương pháp biện chứng duy vât

Trang 17

Bằng phương pháp biện chứng duy vật, quản lý công chỉ ra rằng: quản lý làmột trong những dạng hoạt đọng hoặc lao động đặc biệt của con người Nhưng nókhông tồn tại biệt lập mà có quan hệ mật thiết với điều kiện kinh tế xã hội ở nhữnggiai đoạn phát triển nhất định Nói cụ thể hơn, hoạt động quản lý không phải là mộtdạng hoạt động quản lý thuần túy tự nó và vì nó Hoạt động quản lý gắn liền vớicác dạng hoạt động cụ thể của con người Tuy nhiên, trong vô lượng các hoạt độngcủa con người thì hoạt động sản xuất vật chất đóng vai trò quyết định đối với sựtồn tại và phát triển của con người, của xã hội, đồng thời, nó có ý nghĩa quyết địnhđối với tính chất của hoạt động quản lý.

Mặt khác, với tư cách là một dạng hoạt động có tính độc lập tương đối, quản

lý luôn gắn với một tổ chức hay một hệ thống xác định Hệ thống này bao gồm cácnhân tố bên trong và chịu sự tác động của những yếu tố bên ngoài Sự tương táccủa chúng tạo nên quy luật vận động biến đổi và phát triển của quản lý Đó là sựbiệu hiện của mối liên hệ biên trong của hệ thống quản lý và mối liên hệ giữa hệthống quản lý với môi trường quản lý

Mối quan hệ quản lý được tạo nên bởi sự tác động qua lại giữa chủ thể quản

lý với đối tượng quản lý thông qua các công cụ, phương tiện quản lý để đạt tới mụctiêu quản lý xác định Thông qua mối quan hệ quản lý mà hình thành quy luật quản

lý và tính quy luật của quản lý

Quy luật quản lý thực chất là thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa mục tiêuquản lý, nội dung quản lý và phương thức quản lý Tính quy luật quản lý được biểuhiện ở việc xây dựng và thực thi các nguyên tắc quản lý, quy trình quản lý, cácphương pháp quản lý, phong cách quản lý và nghệ thuật quản lý

Quy luật quản lý và tính quy luật quản lý xem xét đến cùng là sản phẩm của

“quy luật hoàn cảnh” hay nói cụ thể là sản phẩm của sự kết hợp giữa những điều

Trang 18

kiện khách quan và nhân tố chủ quan Nhận thức đúng đắn và vận dụng sang tạoquy luật quản lý trong thực tiễn là nhân tố cốt lõi quyết định sự phát triển của quảnlý.

Phương pháp lịch sử là phương pháp xem xét các sự vật, hiện tượng của thếgiới qua các giai đoạn phát sinh, hình thành, phát triển và tiêu vong của chúng(xem xét sự vật về mặt lịch đại của nó, hoặc xem xét sự vật về mặt thời gian)

Để nhận thức được bản chất và quy luật của sự vận động, biến đổi và pháttriển của sự vật thì phải kết hợp cả hai phương pháp: phương pháp logic và phươngpháp lịch sử, hay là phương pháp logic – lịch sử

Bằng phương pháp logic – lịch sử, quản lý công chỉ ra rằng mỗi một loạihình và cấp độ quản lý đều có quá trình phát sinh, hình thành, phát triển và mất đicủa nó; đồng thời các loại hình quản lý khác nhau (quản lý kinh tế, quản lý hànhchính, quản lý nhân lực …) đều có mối liên hệ nhất định với nhau, đều có nhữngcái chung, cái giống nhau, cái lặp lại hay là tính quy luật của chúng Tính quy luậtcủa chúng được biểu hiện ở chỗ bất cứ loại hình quản lý nào cũng đều phải xác lập

và thực thi mục tiêu quản lý phù hợp, nội dung quản lý đúng đắn và phương thứcquản lý hợp lý Bất cứ loại hình quản lý nào cũng phải xây dựng và thực hiện các

Trang 19

nguyên tắc quản lý, quy trình quản lý, phương pháp quản lý, phong cách quản lý vànghệ thuật quản lý… Tuy nhiên, những cái chung, cái lặp lại, cái giống nhau đókhi vận dụng vào các loại hình quản lý cụ thể lại mang những nét đặt thù.

* Phương pháp trừu tượng hóa

Phương pháp trừu tượng hóa là phương pháp xem xét các sự vật hiện tượngcủa thế giới khách quan không phải ở tất cả các mặt, các yếu tố, các thuộc tính của

nó, mà nó gạt bỏ những hiện tượng bên ngoài đa dạng, phong phú những yếu tốngẫu nhiên để hướng tới các điển hình, cái cốt lõi nhằm vạch ra bản chất và cáccấp độ bản chất của sự vật

Phương pháp trừu tượng hóa nếu được vận dụng một cách đúng đắn sẽ làsức mạnh của tư duy khoa học phương pháp này không làm cho tư duy xa rời hiệnthực mà giúp hiểu rõ hiện thực ở cấp độ bản chất, quy luât vận động của hiện thực– điều mà nhận thức cảm tính không làm được

Nhờ có phương pháp trừu tượng hóa, khoa học quản lý giúp chúng ta nhậnthức được rằng: trong sự đa dạng, phong phú, muôn hình muôn vẻ của các loạihình và cấp độ quản lý nhưng bản chất của quản lý là biểu hiện mối quan hệ tácđộng giữa con người với con người Tuy nhiên, mối quan hệ đó không phải là mốiquan hệ giữa con người với con người nói chung mà là quan hệ giữa chủ thể quản

lý (người quản lý) với đối tượng quản lý (người bị quản lý) Mặt khác, trong quan

hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý thì quan hệ quyền lực là hạt nhân cốtlõi…

Vận dụng phương pháp trừu tượng hóa, quản lý công đã xác lập những

“mẫu số chung” cho tất cả các lĩnh vực và cấp độ quản lý ở các nội dung liên quantới chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, nguyên tắc quản lý, quy trình quản lý,phương pháp quản lý…

Trang 20

Chính vì vậy, hệ thống tri thức chung của quản lý công đóng vai trò là cơ sở

lý luận và phương pháp luận cho tất cả các khoa học quản lý chuyên ngành

1.2.4.2 Các phương pháp cụ thể

Ngoài những phương pháp chung như đã trình bày ở trên, quản lý công còn

sử dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp phân tích – tổng hợp,Phương pháp quy nạp – diễn dịch, Phương pháp hệ thống, Phương pháp mô hìnhhóa và một số phương pháp khác

1.2.5 Đặc điểm của Khoa học quản lý công

- Khoa học quản lý công là một hệ thống tri thức phản ánh thực tiễn hoạtđộng và các quan hệ trong quản lý công

- Khoa học quản lý công là một khoa học xã hội hành vi

- Khoa học quản lý công mang đậm tính thực tiễn

- Khoa học quản lý công là một khoa học tổng hợp, có quan hệ với nhiềulĩnh vực tri thức khoa học khác

Trang 21

Chương 2 CHỨC NĂNG VÀ NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ CÔNG 2.1 CHỨC NĂNG QUẢN LÝ CÔNG

2.1.1 Quan niệm về chức năng trong quản lý công

a Khái niệm: Do đối tượng và không gian quản lý rộng lớn nên hoạt độngquản lý rất đa dạng và phức tạp Để thuận lợi cho việc thực hiện các chức năng cầnphải phân định thành các nhóm hoạt động chuyên biệt và giao cho cá nhân, bộphận, tổ chức có chuyên môn phù hợp đảm nhận Đây là quá trình phân công,chuyên môn hóa lao động và kết quả là hình thành lên các chức năng quản lý Nhưvậy có thể nói, chức năng quản lý là kết quả của chuyên môn hóa và quá trình phâncông lao động

Chức năng quản lý hành chính nhà nước là những phương diện hoạt độngchuyên biệt của quản lý, là sản phẩm của quá trình phân công, chuyên môn hóahoạt động trong lĩnh vực thực thi quyền hành pháp Chức năng quản lý công là lý

do để tồn tại việc quản lý công của nhà nước Nói cách khác, vì phải thực hiện cácchức năng quản lý khu vực công mà xã hội mới cần có sự xuất hiện và điều hànhcủa nhà nước đối với khu vực công

Để quản lý khu vực công, nhà nước phải thực hiện rất nhiều nhiệm vụ khácnhau, các nhiệm vụ này được nhóm lại để hình thành nên các chức năng quản lýcông Như vậy, có thể hiểu: Chức năng quản lý công của nhà nước là tập hợp tất cảcác nhiệm vụ mà nhà nước phải thực hiện để quản lý khu vực công

b Đặc điểm:

- Chức năng quản lý của mỗi quốc gia là khác nhau tùy thuộc vào chế độchính trị, địa vị pháp lý của hệ thống hành pháp trong mối tương quan với cơ quanlập pháp và tư pháp

Trang 22

- Các chức năng quản lý được quy định chặt chẽ bằng hệ thống văn bản quyphạp pháp luật.

- Các chức năng quản lý đều được phân cấp trong các cơ quan hành chínhnhà nước, các tổ chức sự nghiệp công và các doanh nghiệp nhà nước

- Phân công chức năng quản lý luôn gắn liền với hợp tác Phân công, chuyênmôn hóa càng sâu đòi hỏi sự hợp tác càng cao, mối liên hệ càng phải chặt chẽ đểthực hiện các chức năng quản lý

2.1.2 Các chức năng trong quản lý công

2.1.2.1 Chức năng lập kế hoạch trong quản lý công

Lập kế hoạch là một trong những chức năng cơ bản nhất, phổ biến nhất củaquản lý công Chức năng này tồn tại và bắt buộc phải tồn tại trong mọi tổ chứccông dù đó là các tổ chức sản xuất, kinh doanh hay các doanh nghiệp, các công tyxuyên quốc gia Đó cũng là chức năng của mọi tổ chức, không phân biệt tổ chức đóhoạt động trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa

Lập kế hoạch là một trong những công việc khó khăn nhất, phức tạp nhất vàcũng là nơi thể hiện cao nhất năng lực của những nhà quản lý công Chức năng lập

kế hoạch đòi hỏi vận dụng nhiều loại kiến thức khác nhau về chính trị, kinh tế, xãhội cũng như một số kỹ năng về lập kế hoạch Trong chức năng lập kế hoạch, phântích và dự báo là kiến thức không thể thiếu được của các nhà quản lý công

* Tầm quan trọng của việc lập kế hoạch

Trong hoạt động quản lý công, việc lập kế hoạch đóng vai trò quan trọng.Không có kế hoạch tốt, một tổ chức công không thể xác định chính xác mục tiêu

Trang 23

mà mình muốn đạt được và cách thức mà tổ chức công cần làm để đạt tới mục tiêu.Lập kế hoạch luôn gắn liền với việc lựa chọn phương hướng hành động để đạt tớimục tiêu của bất kỳ tổ chức nào Lập kế hoạch không chỉ là chức năng cơ bản củacác nhà quản lý công ở mọi cấp độ mà nó còn liên quan đến tất cả các chức năngcòn lại của quá trình quản lý Những chức năng khác đều phải dựa trên nền tảngcủa các kế hoạch đã được vạch ra từ trước Như vậy, chức năng lập kế hoạch baogiờ cũng phải được thực hiện trước khi thực hiện các chức năng khác Tầm quantrọng của việc lập kế hoạch được thể hiện ở những mặt cơ bản sau đây: Kế hoạchchỉ ra con đường đi tới mục tiêu một cách chính xác; kế hoạch cụ thể làm tăng hiệuquả của công việc; kế hoạch giúp nhà quản lý công hạn chế rủi ro khi ra quyếtđịnh; kế hoạch là cơ sở của việc kiểm tra; kế hoạch giúp nhà quản lý công ứng phóvới những thay đổi diễn ra bên trong và bên ngoài tổ chức Như vậy, lập kế hoạch

là một tiến trình kết hợp của tất cả các mặt hoạt động của nhà quản lý, là việc xácđịnh chủ thể quản lý mong muốn cái gì và làm thế nào để đạt được mong muốn đó.Hay nói cách khác, lập kế hoạch là trả lời câu hỏi làm cái gì, làm như thế nào, ailàm, làm khi nào và làm ở đâu

* Phân loại kế hoạch

- Phân loại theo tính chất của kế hoạch

Trong một tổ chức, kế hoạch được chia thành kế hoạch chiến lược và kếhoạch thực thi hay kế hoạch hoạt động

+ Kế hoạch chiến lược: Là các kế hoạch áp dụng cho toàn bộ cơ quan, tổchức, các cấp hành chính, thiết lập các mục tiêu tổng thể và xác định vị trí tươnglai của cơ quan, tổ chức hoặc địa phương trong môi trường hoạt động cụ thể

Trang 24

+ Kế hoạch thực thi là các kế hoạch chỉ rõ các chi tiết cụ thể về cách thức đểđạt được các mục tiêu trong kế hoach chiến lược Đó là những kế hoạch hoạt độnghàng tuần, hàng tháng, hàng quí.

- Phân loại theo thời gian của kế hoạch

+ Kế hoạch dài hạn: Đề ra các chương trình, mục tiêu và các hoạt độngnhằm tạo ra thay đổi cơ bản trong đời sống kinh tế - xã hội ở cơ quan, tổ chức, đề

ra những giải pháp lớn để thực hiện những mục tiêu Kế hoạch dài hạn có thể đượcxác định từ 5 năm, 10 năm, 20 năm tùy theo yêu cầu và hoàn cảnh cụ thể của từng

cơ quan, đơn vị

+ Kế hoạch trung hạn: Được xây dựng để phục vụ cho việc thực hiện cácmục tiêu của các kế hoạch dài hạn Kế hoạch trung hạn thường có thời gian thựchiện từ 1 năm đến dưới 5 năm

+ Kế hoạch ngắn hạn: là những chương trình hành động cụ thể, thường là kếhoạch tháng, quí hoặc 6 tháng đến dưới 1 năm Kế hoạch ngắn hạn có thể là kếhoạch tổng hợp hoặc kế hoạch đặc thù ngành

Phân loại kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn thường gắn với qui mô củacác mục tiêu cần đạt được Kế hoạch càng dài hạn thì việc xây dựng càng phức tạp,đòi hỏi sự nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng hơn các kế hoạch ngắn hạn

* Phân loại theo đối tượng điều chỉnh:

- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội: Là kế hoạch phát triển các lĩnh vựckinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ, giaothông vận tải v.v.; Các lĩnh vực xã hội như chính sách phát triển văn hóa – giáodục, trật tự an toàn xã hội, chính sách đối ngoại

Trang 25

- Kế hoạch nhân sự: Là kế hoạch xác định nhu cầu nhân sự tương lai chomột cơ quan, tổ chức, về số lượng, chất lượng và thời điểm cung cấp nguồn nhânlực cho việc thực hiện các chương trình hành động cụ thể Kế hoạch nhân sự cũngxác định những biện pháp cần thiết để đáp ứng nhu cầu nhân sự nhằm đảm bảo cho

cơ quan, tổ chức hoàn thành những chức năng, nhiệm vụ của mình

- Kế hoạch tài chính (ngân sách): Là kế hoạch xác định khả năng thu và nhucầu chi ngân sách, bảo gồm tổng thu, tổng chi và các khoản mục thu, chi trong kỳngân sách Đồng thời, kế hoạch tài chính xác định các biện pháp để tăng các nguồnthu và chi ngân sách có hiệu quả cho từng dự án, từng thời gian thích hợp

- Kế hoạch dự án: Là kế hoạch lập và thực hiện một dự án tại cơ quan, đơn

vị, bao gồm việc xác định mục tiêu, các công việc và hoạt động cần phải tiếnhành, cách thức thực hiện, quản lý công việc và nguồn lực cần thiết cho các hoạtđộng đó nhằm hoàn thành dự án

* Các thành phần của kế hoạch

- Mục tiêu của kế hoạch: Xác định những kết quả tương lai mà nhà quản lýcông mong muốn đạt được Các mục tiêu này cần căn cứ vào các nguồn lực của tổchức, kết quả đã đạt được trong quá khứ, có thể là những mong muốn của nhà quản

lý công, là những sức ép từ phía xã hội

- Phương hướng và các biện pháp thực hiện: Phương hướng là xác định địnhhướng những hành động chủ yếu trong tương lai Biện pháp là xác định những hoạtđộng cụ thể được dự kiến triển khai để đạt những mục tiêu đã đặt ra

- Các nguồn lực: Bao gồm nguồn lực hiện có và nguồn lực tiềm năng.Nguồn lực hiện có là nguồn lực đã có sẵn, chỉ cần đưa chúng vào sử dụng Nguồnlực tiềm năng là những nguồn lực có thể có trong tương lai Các nguồn lực của một

Trang 26

tổ chức, cơ quan bao gồm: Nguồn lực vật chất; tài chính; nguồn nhân lực; nguồnlực tổ chức; nguồn lực trí tuệ…

- Dự kiến phân công thực hiện và thời gian thực hiện kế hoạch: Đó là việcphân công công việc và giao trách nhiệm cho các cá nhân, bộ phận, ai là ngườihướng dẫn và chỉ đạo họ thực hiện kế hoạch Trao quyền và thiết lập các mối quan

hệ giữa các cá nhân và bộ phận có liên quan trên cơ sở mối quan hệ quyền hành vàchức năng

Bốn thành phần trên của kế hoạch có mối quan hệ mật thiết với nhau Cácmục tiêu phải được xác định phù hợp với các nguồn lực của cơ quan, đơn vị Cácnguồn lực của cơ quan, đơn vị có thể phát huy được hay không lại phụ thuộc vàonhững biện pháp mà nhà quản lý công áp dụng

* Các nguyên tắc trong việc lập kế hoạch

- Nguyên tắc phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật củanhà nước và đạt mục tiêu

Kế hoạch của các cơ quan, tổ chức phải phù hợp, không trái với chủ trương,chính sách của Đảng; hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấptrên

Mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều phải hướng tới những mụctiêu nhất định, trong đó hoạt động lập kế hoạch cũng vậy Do đó, mục đích của mọi

kế hoạch là phải hướng mọi nỗ lực của các cá nhân, bộ phận vào việc hoàn thànhcác mục tiêu chung của tổ chức

- Nguyên tắc hiệu quả

Trang 27

Các nguồn lực của chúng ta là có hạn trong khi mong muốn của chúng ta là

vô hạn Vì vậy, một yêu cầu cơ bản trong mọi hoạt động của tổ chức là phải đảmbảo tính hiệu quả, tức là với một nguồn lực nhất định phải đem lại kết quả cao nhấthoặc đạt một kết quả nhất định nhưng với mức chi phí các nguồn lực thấp nhất

- Nguyên tắc phù hợp và cân đối

Để đảm bảo tính khả thi của kế hoạch khi xây dựng kế hoạch phải dựa trên

cơ sở khoa học và phù hợp với điều kiện thực tế, tránh tình trạng chủ quan duy ýchí, xây dựng những kế hoạch viển vông, không thể thực hiện được

Khi xây dựng kế hoạc cần đảm tính cân đối giữa các yếu tố cấu thành, mụctiêu phải phù hợp với nguồn lực, các hoạt động phải được tiến hành nhịp nhàng,phải cân đối giữa nguồn lực với các biện pháp, giữa các phương tiện thực hiện vớicon người để tránh tình trạng dư thừa, lãng phí các nguồn lực

- Nguyên tắc linh hoạt

Các kế hoạch cũng chỉ là những dự định về các hoạt động trong tương lai,trong khi đó tương lai luôn thay đổi, chính vì vậy các kế hoạch cũng chỉ mang tínhtương đối Do đó, các kế hoạch được xây dựng phải đảm bảo tính linh hoạt đểgiảm bớt rủi ro do các ảnh hưởng không mong đợi xảy ra

* Căn cứ để lập kế hoạch

- Căn cứ vào các nguồn lực của cơ quan, đơn vị

Xác định khả năng, tiềm lực trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch làviệc xác định các nguồn lực của cơ quan, đơn vị Khả năng chính là nguồn lực thực

tế hiện có, những nguồn lực có sẵn, có thể đưa vào sử dụng ngay Tiềm lực chính

là những nguồn lực tiềm năng – những nguồn lực được xác định là có thể có trong

Trang 28

tương lai Những nguồn lực tiềm năng cần phải được tính đến đặc thù không chắcchắn của nó, đồng thời phải tính đến khả năng huy động những nguồn lực này vào

sử dụng

Để đạt được những mục tiêu đặt ra thì việc xác định khả năng, tiềm lực làmột công việc quan trọng Vì nếu không xác định được hoặc xác định không chínhxác các nguồn lực của cơ quan, đơn vị thì việc xây dựng kế hoạch sẽ thiếu cơ sởkhoa học và không thực tế

- Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị

Mỗi cơ quan, đơn vị được thành lập nhằm thực hiện một mục đích nhất địnhhay có sứ mệnh nhất định Chính mục đích hay sứ mệnh này quy định mọi hoạtđộng của các cơ quan, đơn vị đó trong suốt quá trình tồn tại của nó Mục đích hay

sứ mệnh này được cụ thể hóa thành các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn xácđịnh và chính những điều đó quy định phạm vi hoạt động của cơ quan, đơn vị vàtrở thành những căn cứ trực tiếp khi lập kế hoạch

- Căn cứ vào tình hình thực hiện kế hoạch của cơ quan, đơn vị

Khi lập kế hoạch cần căn cứ vào kết quả thực hiện kế hoạch của các thời kỳtrước đó Trong trường hợp các kỳ kế hoạch vừa qua thực hiện không đạt mục tiêu

kế hoạch đặt ra có thể cho chúng ta thấy việc xác định các mục tiêu của kỳ kếhoạch đó quá cao so với khả năng, hoặc trong trường hợp kỳ kế hoạch trước thựchiện vượt mức rất cao, thì cũng có nghĩa là khi xây dựng kế hoạch cho kỳ đó đãxác định được mục tiêu quá thấp, dưới khả năng thực tế của cơ quan, đơn vị

- Căn cứ vào dự báo về tính hình phát triển kinh tế - xã hội

Giữa lập kế hoạch và dự báo có mối quan hệ tiền đề Dự báo cung cấp thôngtin để các nhà lập kế hoạch xây dựng mục tiêu, phân tích những điểm mạnh và

Trang 29

điểm yếu về các nguồn lực, những cơ hội và thách thức của cơ quan, đơn vị trong

kỳ kế hoạch Dự báo càng chính xác, càng đầy đủ thì chất lượng của các kế hoạchcàng cao và vì vậy việc thực hiện kế hoạch càng thuận lợi Chính các kế hoạch vàviệc thực hiện kế hoạch cũng cung cấp các thông tin để đánh giá chất lượng củacông tác dự báo, là căn cứ cho các lần dự báo tiếp theo

- Căn cứ vào kế hoạch của cấp trên

Khi xây dựng kế hoạch cần căn cứ vào kế hoạch của cấp trên trực tiếp đểtránh sự mâu thuẫn và theo đường lối chung Khi lập kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội hằng năm, bên cạnh việc căn cứ vào định hướng kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội của cấp trên, cần dựa vào các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xãhội của Nhà nước, đặc biệt là nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm do Đạihội Đảng đề ra

* Quy trình của việc lập kế hoạch

Bước 1: Nghiên cứu, phân tích nội bộ, phân tích môi trường và dự báo

Nghiên cứu, phân tích và dự báo là điểm đầu của việc lập kế hoạch Phântích các điều kiện về môi trường trong đó tổ chức sẽ vận động và phát triển trongtương lai để xác định cụ thể những cơ hội và thách thức, cản trở mà tổ chức sẽ gặpphải Phân tích nội bộ để xác định các nguồn lực, những điểm mạnh, điểm yếu của

tổ chức hiện tại và tương lai Đây là những thông tin rất quan trọng của việc xâydựng kế hoạch Chúng ta cũng phải dự báo được các yếu tố không chắc chắn sẽxảy ra để đưa ra các phương án đối phó Lập kế hoạch đòi hỏi phải có những dựbáo thực tế về cơ hội và thách thức

Bước 2: Xác định các mục tiêu

Trang 30

Xác định các mục tiêu là nền tảng cơ bản cho công tác lập kế hoạch Thiếuhoặc chưa làm rõ các mục tiêu chúng ta chưa thể tiến hành việc lập kế hoạch Mụctiêu là cơ sở để nhà quản lý công xác định các cách thức, biện pháp để đạt đượcchúng, là cơ sở để đánh giá tổ chức Mặt khác, mục tiêu là căn cứ để cá nhân vàcác bộ phận trong tổ chức cùng cam kết với nhau thực hiện.

Xác định mục tiêu là khâu quan trọng của chức năng lập kế hoạch Mục tiêu

là cái đích mà mọi hoạt động của tổ chức phải hướng tới Mục tiêu bao gồm mụctiêu chung của tổ chức công và mục tiêu của từng bộ phận

Xác định mục tiêu phải căn cứ vào nguồn lực của tổ chức Cần xác định cácmục tiêu rõ ràng, có thể đo lường được Khi xác định mục tiêu cần xem xét tầmquan trọng của các mục tiêu, xem đâu là mục tiêu quan trọng, mục tiêu cần ưu tiên

Xét tổng quát, mục tiêu của các tổ chức thường được biểu hiện rất đơn giản

Tổ chức công có mục tiêu chung là cung cấp một cách hiệu quả các loại dịch vụ.Tuy nhiên, đó mới chỉ là mục tiêu chung của tổ chức Đi sâu phân tích từng tổchức, các mục tiêu của tổ chức rất đa dạng và được mô tả dưới nhiều hình thứckhác nhau Tính phức tạp của mục tiêu thường được biểu diễn thông qua cây mụctiêu – là sự tập hợp của tất cả các mục tiêu và các mục tiêu được phân thành cáchnhóm và các nhánh

Bước 3: Đề ra phương hướng và giải pháp

Phương hướng và xác định các hướng đi và chính sách chủ yếu trong tươnglai của tổ chức Giải pháp là cách thức để giải quyết vấn đề Để giải quyết một vấn

đề có thể có nhiều giải pháp khác nhau Nhiệm vụ của nhà quản lý là:

- Liệt kê tất cả các giải pháp có thể có để giải quyết vấn đề

- Tiến hành phân tích những điểm tích cực và tiêu cực của từng giải pháp

Trang 31

- Xác định những lợi ích thu được và những chi phí để thực hiện giải pháp

- Công cụ sử dụng là “cây giải pháp” và ma trận phân tích các giải pháp.Bước 4: Xây dựng các phương án

Thực chất của bước này là xây dựng các kế hoạch cụ thể, các bước đi cụ thểnhằm đạt tới mục tiêu trong một thời gian nhất định của một tổ chức công Khi xâydựng các phương án cần sử dụng phương pháp phân tích chi phí – lợi ích Trongtrường hợp, tổ chức có đầy đủ thông tin để xác định được các chi phí thực hiện giảipháp và những lợi ích bằng tiền do việc thực hiện giải pháp này mang lại thì chúng

ta nên sử dụng phương pháp phân tích chi phí – lợi ích để phân tích và đánh giácác giải pháp đã xác định

Phương pháp này bao gồm các bước sau:

- Thống kê tất cả những kết quả tích cực và tiêu cực đối với tổ chức từ việcthực hiện một giải pháp

- Ước tính lợi ích và chi phí đối với tổ chức và các kết quả tích cực hoặc tiêucực này bằng tiền

Tính lợi ích ròng của từng giải pháp theo công thức:

Lời ích ròng = tổng lợi ích – tổng chi phí

Nhà quản lý công sẽ lựa chọn những giải pháp nào có lợi ích ròng lớn hơn 0.Trong trường hợp có nhiều giải pháp có lợi ích ròng lớn hơn 0 thì phải pháp nào cólợi ích ròng cao nhất sẽ được lựa chọn

Bước 5: Trao đổi, thẩm định, phê duyệt kế hoạch

Trang 32

Sau khi trao đổi, thẩm định các phương án, phương án tối ưu sẽ được lựachọn, phê duyệt.

2.1.2.2 Chức năng quản lý và phát triển tổ chức công

Cơ cấu tổ chức công là một chỉnh thể gồm các bộ phận có chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn khác nhau được bố trí thành từng cấp, từng khâu, thực hiện các chứcnăng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã xác định

Trong mỗi tổ chức có hai mối quan hệ cơ bản: quan hệ theo chiều ngang vfquan hệ theo chiều dọc Theo quan hệ ngang, hệ thống tổ chức quản lý chia thànhcác khâu quản lý khác nhau Mỗi khâu quản lý là một cơ quan độc lập, thực hiệnmột số chức năng quản lý nhất định Giữa các khâu là quan hệ hợp tác trong sựphân công lao động quản lý Theo quan hệ dọc, hệ thống quản lý được chia thànhcác cấp quản lý Cấp quản lý là một thể thống nhất ở trong hệ thống các cấp quản

lý khác nhau: trung ương, địa phương, cơ sở; ban giám đốc, các vụ, viện, ban,phòng…

* Vai trò của chức năng quản lý và phát triển tổ chức công

Sự phát triển của xã hội đã chứng minh rằng, chức năng quản lý và pháttriển là một nhu cầu không thể thiếu trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội, quyếtđịnh sự thành bại của một tổ chức Khi những hoạt động kinh tế - xã hội ngày càngrộng lớn và phức tạp thì vai trò của tổ chức ngày càng tăng Nó là nhân tố quantrọng dẫn tới thành công trong hoạt động của một tổ chức Chức năng quản lý vàphát triển tổ chức công có vai trò to lớn vì;

Thứ nhất, tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động quản lý đượcthực hiện có hiệu quả

Trang 33

Thứ hai, căn cứ vào cơ cấu tổ chức, khối lượng công việc của từng bộ phận,nhà quản lý công xác định biên chế, sắp xếp nhân lực phfu hợp.

Thứ ba, tạo điều kiện cho việc kiểm tra, đánh giá và tiến hành các điều chỉnh

về tổ chức, nhân lực khi xét thấy cần thiết

* Các nội dung cơ bản của chức năng quản lý và phát triển tổ chức côngViệc xây dựng và duy trì một hệ thống các bộ phận, chức vụ với các chứcnăng, nhiệm vụ nhất định được gọi là chức năng quản lý tổ chức công Nhiệm vụcủa quản lý tổ chức là thiết kế một cơ cấu tổ chức thích hợp; phân công lao độngphù hợp và thiết lập môi trường làm việc tập thể để liên kết các hoạt động của các

cá nhân, bộ phận trong tổ chức

Chức năng quản lý và phát triển tổ chức công gồm các nội dung cơ bản sau:

- Xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý: thiết kế cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, phù hợpvới mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, phân định rõ trách nhiệm rõ ràng

và tạo thuận lợi cho việc chỉ đạo phối hợp

- Phân công công việc cho từng cá nhân, bộ phận, qua đó xác định cấu trúccác bộ phận Phân công công việc cho cá nhân phù hợp với năng lực; phân côngcông việc cho bộ phận theo chức năng một cách hợp lý

- Xây dựng các mối liên hệ bên trong, bên ngoài; các mối quan hệ trực thuộc(trên – dưới), quan hệ phối hợp

* Quy trình xây dựng tổ chức công

Bước 1: Phân tích, xác định thực trạng cơ cấu của tổ chức hiện hành

Cơ cấu tổ chức công được hình thành, tồn tại, vận động và phát triển khôngphải vì mục đích tự thân mà vì các mục tiêu cần hướng tới Vì vậy, việc xây dựng

Trang 34

hệ thống tổ chức công luôn phải xuất phát từ thực trạng đối tượng quản lý và cơcấu tổ chức hiện hành.

- Xác định đúng đối tượng quản lý là một căn cứ quan trọng giúp việc xâydựng hệ thống tổ chức phù hợp, thiết thực Tuy nhiên, việc xác định không chỉdừng lại ở việc đánh giá thực trạng mà còn nhằm mục đích nhìn nhận chúng theoquan điểm toàn diện, cụ thể, vận động và phát triển

- Xác định đúng đắn cơ cấu tổ chức hiện hành cho phép chỉ ra những điểmmạnh, điểm yếu và là cơ sở để đề ra các biện pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức đó.Xác định đúng cơ cấu tổ chức hiện hành và đối tượng quản lý giúp nhà quản lýcông có thể thiết kế cơ cấu tổ chức mới một cách hợp lý trên cơ sở cơ cấu tổ chứchiện hành

Đây là giai đoạn rất quan trọng, là cơ sở của việc thiết kế hệ thống tổ chứccông Khi phân tích thực trạng cơ cấu tổ chức hiện hành cần chú ý:

- Xác định và làm rõ mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động của tổ chức

- Kiểm tra một cách chi tiết cơ cấu tổ chức hiện hành

- Xác định chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, đồng thời xác định biện pháp

và phương tiện để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức

Trang 35

- Số lượng và trình độ chuyên môn của nhân sự ở từng cấp, từng khâu, từng

bộ phận

- Các mối quan hệ giữa các bộ phận và giữa các cá nhân với nhau

Bước 2: Thiết kế tổ chức

Bước này bao gồm những công việc chuẩn bị và tính toán các thông số của

hệ thống tổ chức dự kiến được thiết kế số lượng các bộ phận, số lượng cán bộ,công chức, viên chức, khối lượng công việc…

Bước 3: Tổ chức tạo ra cơ cấu tổ chức mới

Trong hệ thống tổ chức quản lý mới phải đặc biệt chú ý đến việc xác địnhchính xác quyền hạn, trách nhiệm của từng bộ phận, từng nhân viên; quy chế phốihợp hoạt động của các cấp, đồng thời dự báo khả năng biến động của tổ chức trongquá trình hoạt động

Một tổ chức công tốt khi nó đáp ứng được tính tối ưu, tính linh hoạt về tínhkinh tế Trong đó:

- Tính tối ưu:

+ Tổ chức công đó được xây dựng có chủ đích, gọn nhẹ, hợp lý

+ Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong tổ chức được quy định cụthể, đầy đủ, không chồng chéo và cũng không bỏ sót nhiệm vụ

+ Các bộ phận được chuyên môn hóa nhưng có sự liên kết chặt chẽ giữa các

bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống, hoạt động nhịp nhàng như một cơ thể thốngnhất

Trang 36

+ Mỗi cá nhân được bố trí công việc phù hợp với năng lực và sở trường củamình, có thể làm việc trôi chảy, đạt hiệu quả cao.

- Tính linh hoạt: cơ cấu tổ chức phải có khả năng phản ứng linh hoạt với mọitình huống có thể xảy ra

- Tính kinh tế: tổ chức công đó hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, thực hiện tốtcác mục tiêu của tổ chức với mức chi phí tối thiểu

* Phát triển tổ chức công

Phát triển tổ chức công là một quá trình làm cho tổ chức thích ứng một cáchhiệu quả nhất với những thay đổi môi trường bên trong và bên ngoài của tổ chức,nhằm làm cho tổ chức phát triển bền vững cả trước mắt và lâu dài

Phát triển tổ chức công là một trong những nhiệm vụ quan trọng để hoànthiện tổ chức Phát triển tổ chức công chỉ ra rằng, thay đổi là một hiện thức kháchquan và là cơ hội của tổ chức chứ không phải là sự đe dọa hay cản trở đối với tổchức Môi trường bên ngoài luôn luôn thay đổi đòi hỏi các tổ chức công cũng phảithay đổi thích ứng

Thay đổi tổ chức cũng có thể diễn ra cở cấp độ rộng lớn, cũng có thể chỉdiễn ra ở một hoặc một số bộ phận phòng, ban Thay đổi cũng có thể xảy ra nhanhnhư một cuộc cách mạng, nhưng cũng có thể diễn ra chậm như một quá trình tiếnhóa Những tahy đổi của tổ chức công có thể khác hoàn toàn với cái đã có, nhưngcũng có thể cái mới chỉ là một phần rất nhỏ của cái đã có

Phát triển tổ chức công gắn liền với con người, nhóm và cơ cấu tổ chức Conngười trong tổ chức công thường có hai xu hướng:

Trang 37

- Mong muốn được đóng góp nhiều nhất cho tổ chức và luôn cố gắng đểhoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của mình.

- Mong muốn vươn lên để khẳng định mình và phát triển chức nghiệp

Phát triển tổ chức công rất cần quan tâm, khuyến khích để cả hai xu hướngnày của cá nhân có thể được thực hiện

Nhòm và làm việc nhóm trở thành yếu tố quan trọng trong hoạt động quản lýcủa các tổ chức công Phát triển tổ chức công cũng chính là giải quyết vấn đề liênquan đến tạo nhóm, phát triển và quản lý nhóm Mọi vấn đề trong nhóm đều ảnhhưởng đến tâm lý, tình cảm và khả năng phát huy năng lực của mỗi cá nhân

Khi phát triển tổ chức công cần chú ý đến thiết kế và điều hành tổ chức.Những nội dung về phân tích, thiết kế tổ chức cần được nhà quản lý công chú ý

2.1.2.3 Chức năng quản lý và phát triển nhân sự trong khu vực công

* Nội dung quản lý và phát triển nhân sự trong quản lý công

** Quy hoạch nhân sự

- Dự báo số lượng, cơ cấu và chất lượng nhân sự cần thiết cho tổ chức, xácđịnh nguồn bổ sung, phương thức đào tạo và chính sách đối với nhân sự

- Xây dựng kế hoạch đào tạo, bổ sung, luân chuyển nhân sự một cách chi tiết

- Đặt chương trình cụ thể như trẻ hóa đội ngũ, định kỳ đào tạo, bồi dưỡng,nâng cao trình độ cho nhân sự hiện tại…

- Tuyển chọn nhân sự;

Tuyển chọn nhân sự cần quán triệt các yêu cầu sau:

Trang 38

- Tuyển chọn nhân sự phải trên cơ sở bảng mô tả công việc với các nội dung

cụ thể: công việc sẽ đảm nhiệm là gì? cần người như thế nào? Kiến thức cơ bản và

kỹ năng cần thiết là gì? Phẩm chất tâm lý, đạo đức, lứa tuổi, giới tính?

Khi thiết kế bảng mô tả công việc cần chú ý những điểm sau:

+ Công việc phải tương xứng với từng vị trí

+ Công việc phải gắn với thử thách để tìm người phù hợp

- Người lãnh đạo tổ chức công phải có toàn quyền trong việc tuyển chọnnhân sự Nhà nước quy định mức trần về số nhân viên hoặc mức trần ngân sách đểnhà lãnh đạo, quản lý được linh hoạt trong việc tuyển dụng nhân sự

Phương pháp tuyển chọn nhân sự cần phải linh hoạt và thích hợp với từng vịtrí Có thể dùng hình thức thi tuyển, phỏng vấn, thực hành…

** Đào tạo, huấn luyện và phát triển nhân sự

Quá trình đào tạo, nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức cần được chiathành từng bước cụ thể, xem xét nhu cầu đào tạo trong công việc hiện tại và đápứng công việc trong tương lai

- Công việc hiện tại: cần phân tích các mục tiêu cần đạt được với khả năngthực hiện Sự chênh lệch giữa yêu cầu và khả năng thực tế chỉ ra rằng, cán bộ, côngchức đang thiếu kiến thức gì để đề ra chương trình đào tạo thích hợp

- Công việc tương lai; dựa vào dự báo về những thay đổi trong tương lai của

tổ chức trong quan hệ với những thay đổi của môi trường bên ngoài để kết hợp các

kế hoạch đào tạo

Trang 39

Đào tạo phải theo kế hoạch, kết hợp đào tạo ở trường, lớp với đào tạo trongthực tiễn, đào tạo kiến thức cơ bản với đào tạo kiến thức chuyên ngành và các kỹnăng quản lý.

** Bố trí, sử dụng nhân sự

Việc bố trí nhân sự phải chú ý các yêu cầu sau:

- Phải vì việc để bố trí người chứ không vì người mà bố trí việc

- Quan tâm đến nhu cầu, tính cách, năng lực của từng cá nhân nhằm tạo điềukiện cho mỗi cá nhân phát huy tối đa trình độ, năng lực của họ

- Khi bố công việc cần làm cho cán bộ, công chức đó nhận thức rõ chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn, trash nhiệm và các mối quan hệ công tác của mình Bốtrí nhân sự có tính đến sự ổn định lâu dài kết hợp với việc luân chuyển cán bộ,công chức phù hợp

- Không bố trí cán bộ trùng lặp chức năng hoặc tạo khoảng trống về nhiệmvụ

- Không bố trí những cán bộ có tác phong, tính cách dễ tạo ra xung đột trongcùng một đơn vị

Sử dụng nhân sự bao gồm các công việc sau: sắp xếp công việc; đề bạt,thăng tiến; thuyên chuyển, luân chuyển; khen thưởng, kỷ luật; cho thôi việc, nghỉhưu Trong sử dụng nhân sự cần:

- Công khai, công bằng trong khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức

- Sử dụng khéo léo, linh hoạt các hình thức tạo động cơ làm việc (vật chất,tinh thần) để khuyến khích, động viên tính tích cực của cán bộ, công chức

Trang 40

- Xây dựng môi trường làm việc, xây dựng truyền thống tốt đẹp của tổ chức.Trong chính sách sử dụng nhân sự cần hết sức lưu ý đến chính sách tiềnlương, tiền thưởng Tốt nhất để các tổ chức tự quyết định mức lương cho cán bộ,công chức của mình thay vì phải tuân thep chính sách lương quốc gia Để khắcphục tính không đồng nhất về tiền lương trong khu vực công, nhà nước cần phải cóhướng dẫn và phân công một tổ chức chuyên trách ở trung ương theo dõi, đánh giá,

Để đánh giá nhân sự công bằng, khách quan cần xây dựng hệ thống thẩmđịnh trong đó nhấn mạnh đến tính hiệu quả trong thực thi công vụ Một số quốc gia

đã xây dựng hệ thống thẩm định rất có hiệu quả Các nhà quản lý công cũng nhưcác viên chức đều có vai trò trong đánh giá nhân sự Mục tiêu của đánh giá nhânsự:

- Đánh giá mức độ hoàn thành và hiệu quả công việc và tiềm năng của nhân

sự để trả lương và phát triển chức nghiệp

- Đặt ra mục tiêu cá nhân đối với công việc sẽ được thực hiện

- Khuyến khích các thành viên tham gia vào việc hoàn thành các mục tiêucủa tổ chức

Ngày đăng: 08/05/2019, 14:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w