1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tự do báo chí Tiểu luận môn luật pháp và đạo đức báo chí

13 186 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 28,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận Phân tích những quy định của luật Báo chí 2016 để thấy được việc ghi nhận quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của Luật Báo chí Việt Nam?Quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, Chính sách của Nhà nước về phát triển báo chí

Trang 1

Đề bài: Phân tích những quy định của luật Báo chí 2016 để thấy được việc ghi nhận quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của Luật Báo chí Việt Nam?

Bài làm

Luật Báo chí năm 2016 này gồm 6 chương với 61 điều (tăng 25 điều so với Luật Báo chí năm 1999), trong đó có 32 điều xây dựng mới, 29 điều sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Báo chí hiện hành So với Luật Báo chí trước đây, Luật Báo chí 2016 có nhiều điểm mới cơ bản, gồm: Quy định về quyền tự do báo chí, quyền

tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; đối tượng thành lập cơ quan báo chí; quyền tác nghiệp của báo chí; đạo đức nghề nghiệp của người làm báo; liên kết trong hoạt động báo chí; hoạt động kinh doanh dịch vụ của cơ quan báo chí; cải chính và xử lý vi phạm trong lĩnh vực báo chí…

I Quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

Luật Báo chí 2016 khẳng định quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân (được quy định tại Chương II, các điều 10, 11, 12, 13) Cụ thể:

Điều 10 Quyền tự do báo chí của công dân

1 Sáng tạo tác phẩm báo chí.

2 Cung cấp thông tin cho báo chí.

3 Phản hồi thông tin trên báo chí.

4 Tiếp cận thông tin báo chí.

5 Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí.

6 In, phát hành báo in.

Điều 11 Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

1 Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới.

2 Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

3 Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác.

Điều 12 Trách nhiệm của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

1 Đăng, phát kiến nghị, phê bình, tin, bài, ảnh và tác phẩm báo chí khác của công dân phù hợp với tôn chỉ, mục đích và không có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5,

6, 7, 8, 9 và 10 Điều 9 của Luật này; trong trường hợp không đăng, phát phải trả lời và nêu rõ lý do khi có yêu cầu.

Trang 2

2 Trả lời hoặc yêu cầu tổ chức, người có thẩm quyền trả lời bằng văn bản hoặc trả lời trên báo chí về kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến.

Điều 13 Trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

1 Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền

tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình.

2 Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.

3 Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.

Chương II Luật Báo chí năm 2016 đưa ra những quy định cụ thể Điều 10 quy định công dân có quyền tự do báo chí, với nội dung chủ yếu: sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí; liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; in, phát hành báo in Đây là một điểm mới, một bước tiến quan trọng để luật hóa quyền tự do trên báo chí; từ đó xác lập các nội dung luật pháp tương ứng nhằm vừa tạo điều kiện, vừa bảo đảm để quyền tự do báo chí được tổ chức, quản lý một cách dân chủ, công bằng, văn minh, phù hợp với yêu cầu của tiến trình xây dựng, phát triển đất nước Luật này khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam tôn trọng, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền tự do báo chí

và sẽ tiếp tục phát triển, phát huy những thành tựu đã đạt được; bác bỏ những quan điểm lệch lạc, xuyên tạc công tác nhân quyền của Việt Nam nói chung, quyền tự

do báo chí nói riêng

Trên thực tế, Việt Nam đã đạt được thành tựu to lớn trong việc bảo đảm quyền tự

do báo chí của người dân Theo thống kê, tính đến năm 2016, cả nước có 857 cơ quan báo chí, gồm: 199 cơ quan báo chí in, 658 tạp chí (trong đó có 105 báo, tạp chí điện tử); 1 hãng thông tấn quốc gia; 67 cơ quan phát thanh truyền hình Hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội đều có báo, tạp chí hoặc trang thông tin, báo điện tử

Công dân được sáng tạo tác phẩm báo chí, được nói lên ý kiến, quan điểm của mình về các mặt của đời sống không những thể hiện được chính kiến trước dư luận

xã hội, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình mà còn giúp cho Đảng, Nhà nước trong việc giải đáp khúc mắc, khó khăn, nguyện vọng của nhân dân; xây dựng, chỉnh sửa và bổ sung các chính sách pháp luật phù hợp, đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước

Công dân góp vai trò quan trọng cung cấp thông tin cho báo chí về tất cả các mặt của xã hội Nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực của cán bộ nhà nước, các cá nhân,

Trang 3

doanh nghiệp được nhân dân phát hiện và cung cấp thông tin cho báo chí phản ánh, các cơ quan chức năng điều tra làm rõ Cơ quan có đường dây nóng, email, hộp thư tạo điều kiện cho người dân cung cấp thông tin một cách nhanh nhất tới các cơ quan báo chí và phát huy quyền tự do báo chí của công dân

Trong trường hợp công dân có căn cứ cho rằng cơ quan báo chí thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của mình hoặc gây hiểu lầm làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của mình thì có quyền nêu ý kiến phản hồi Đây là quyền chính đáng đảm bảo quyền tự do báo chí của công dân Không ít vụ báo chí đưa thông tin sai lệch, thiếu tính chính xác, thương mại hóa báo chí dẫn đến những phản ứng tiêu cực đối với xã hội Chính công dân đóng một vai trò quan trọng trong phát hiện và phản hồi thông tin sai lệch, giúp cơ quan báo chí đảm bảo tính đúng tính chính xác, chân thật, khách quan trong thông tin Bất cứ cơ quan báo chí nào, bất cứ toà soạn báo nào, dù là báo Đảng, báo đoàn thể chính trị xã hội; báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử đều phải có và bộ phận làm công tác bạn đọc, quan hệ công chúng với những người làm công tác tiếp dân giỏi nghề, có kiến thức, am hiểu pháp luật xử lý những vấn

đề công chúng đặt ra rốt ráo, kịp thời, đến cùng Đó chính là công tác tiếp nhận thông tin phản hồi, lắng nghe và thấu hiểu những vấn đề công chúng đặt ra

Tuy nhiên, hiện nay, có một số cơ quan công quyền còn coi nhẹ thông tin phản hồi của công chúng qua báo chí, không lắng nghe, không trả lời sự phản hồi thông tin trên báo chí Việc này cần phải chấn chỉnh, vì phản hồi thông tin không chỉ là quyền của công dân mà còn là trách nhiệm của người làm báo, của cơ quan báo chí

và của toàn xã hội

Ở Việt Nam, báo chí thực sự trở thành cầu nối giữa "ý Đảng, lòng dân", tạo đồng thuận xã hội, thúc đẩy công cuộc xây dựng, phát triển đất nước; là phương tiện để người dân kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật và đóng góp ý kiến phản biện đối với các chính sách, pháp luật của Nhà nước; là công cụ bảo vệ lợi ích xã hội, bảo

vệ quyền của người dân Đó là minh chứng sinh động cho việc bảo đảm quyền tự

do báo chí ở Việt Nam, phản bác luận điệu vu cáo Nhà nước Việt Nam

Điều 11 quy định công dân có quyền tự do ngôn luận trên báo chí, thể hiện qua nội dung chủ yếu: phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác

Trang 4

Điểm mới và bước tiến trên là cụ thể hóa một nội dung quan trọng của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 28/11/2013 tại Kỳ họp thứ 6, được khẳng định tại Điều 25: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” Với tính cách “luật cơ bản” của quốc gia, Hiến pháp là cơ sở

để xây dựng, ban hành các luật, pháp lệnh, nghị quyết, các văn bản thuộc hệ thống pháp luật Nhà nước Như vậy, sự ra đời Luật Báo chí năm 2016 (cũng như các Luật Báo chí ban hành trước đó) đều dựa trên một nội dung quan trọng của Hiến pháp

Tự do ngôn luận được thể hiện dưới nhiều góc nhìn khác nhau, các thể chế chính trị khác nhau và điều kiện chính trị cụ thể của mỗi quốc gia Tuy nhiên dù ở thể chế nào, điều kiện lịch sử, chính trị nào thì tự do ngôn luận cũng đều bị chi phối bởi các yếu tố như: Quyền tự do ngôn luận, sự thật của vụ việc và lợi ích của cộng đồng

Như vậy, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định quyền tự do ngôn luận của công dân, đồng thời thống nhất nguyên tắc coi thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân phải do “pháp luật quy định” Vì thế tự do ngôn luận là một quyền hiến định, do Hiến pháp đặt ra và không thể thay đổi Trong lĩnh vực báo chí, khẳng định quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí là một mặt của vấn đề, mặt khác là phải xây dựng, ban hành các điều luật bảo đảm những quyền này được thực hiện một cách dân chủ, phù hợp với yêu cầu ổn định và phát triển xã hội, có tác động tích cực đến sự phát triển của con người

Ngoài ra tại Điều 4 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí có quy

định báo chí có nhiệm vụ và quyền hạn “Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của Nhân dân.”, phản ánh tiếng nói, tâm tư, nguyện vọng của người dân, những ý kiến phản hồi từ thực tiễn cuộc sống sinh động của nhân dân về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Như Bác Hồ dạy: ”Báo chí mà không có tiếng nói của nhân dân, không có linh hồn của cuộc sống, không được nhân dân ham chuộng thì đó là một nền báo chí cằn cỗi, một nền báo chí không có sức sống”

Có thể thấy rằng, quyền tự do ngôn luận của công dân luôn được Đảng, Nhà nước và báo chí coi trọng, đảm bảo hành lang pháp lý, và tạo điều kiện thuận lợi để công dân phát huy quyền lợi của mình

Trang 5

Hiện nay, quyền tự do ngôn luận, báo chí ở Việt Nam không những được bảo đảm tốt mà còn là nhân tố tích cực trong cuộc đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong xã hội Nhiều vụ tham nhũng lớn được báo chí phanh phui, trước khi

cơ quan chức năng phát hiện, như: vụ án Trịnh Xuân Thanh bắt nguồn từ bài báo

“Xe tư gắn biển xanh” là một minh chứng Những năm gần đây, các tổ chức đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc tham gia tích cực việc giám sát, phản biện đối với chính sách của Nhà nước “Quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới”, tham gia phản biện, giám sát của cá nhân, tổ chức được Đảng, Nhà nước ta tôn trọng, khuyến khích Tuy nhiên, vấn đề là phản biện ở đâu và động cơ phản biện như thế nào để đảm bảo tính khách quan; tránh hiện tượng “bôi đen” xã hội, bị kẻ xấu lợi dụng gây tổn hại cho người dân, xã hội và đất nước

Điều 12 đề cập trách nhiệm của cơ quan báo chí, với nội dung chủ yếu: đăng, phát kiến nghị, phê bình, tin, bài, ảnh, tác phẩm báo chí khác của công dân phù hợp với tôn chỉ, mục đích ; trường hợp không đăng, phát phải trả lời, nêu rõ lý do khi

có yêu cầu; trả lời hoặc yêu cầu tổ chức, người có thẩm quyền trả lời bằng văn bản hoặc trả lời trên báo chí về kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến

Tuy nhiên, quy định này về cơ bản là đúng, nhưng liệu có khả thi khi báo chí thực hiện nhiệm vụ “công vụ” này, thường khá nhiều về số lượng, rộng về phạm vi

đề cập Trong khi đó, mỗi cơ quan báo chí thì nhân sự hạn chế và muốn giải quyết thấu đáo phải mất nhiều thời gian, trí lực, đôi khi vượt ra ngoài khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí

Luật Báo chí 2016 cũng quy đinh rõ trách nhiệm của Nhà nước với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân thể hiện ở Điều 13 qua nội dung chủ yếu: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện các quyền này và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình, đồng thời báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân

Những năm gần đây, xuất những vụ bạo động lật đổ chế độ thường diễn ra theo chuỗi: bắt đầu bằng đấu tranh “bất bạo động”, “bất tuân dân sự”, phát triển thành gây rối về an ninh trật tự dựa trên “hội chứng đám đông” và cuối cùng là gây bạo loạn lật đổ chính quyền từ cục bộ đến cả nước Không loại trừ những kẻ cầm đầu kêu gọi lực lượng nước ngoài can thiệp Đây là “kịch bản kinh điển” của những hoạt động lật đổ chế độ ở một số quốc gia trên thế giới trong những thập niên gần đây Những hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam của những “người bất đồng chính kiến” được các hãng thông tấn, báo chí phương Tây “tăng âm”, phát tán với các bình luận bao che, cổ súy cho các hành vi phạm tội của họ với luận điệu lặp đi, lặp

Trang 6

lại rằng: Việt Nam đang “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận, báo chí, internet”; “vi phạm quyền con người”,… Điều này hoàn toàn phi lý và ngang ngược

Thực tế cho thấy, một số người lợi dụng quyền tự do ngôn luận, để viết, đã đăng tải, phát tán nhiều video/clip trên internet, những nội dung xuyên tạc sự thật, chống phá chế độ xã hội, Nhà nước, phỉ báng chính quyền, phao tin bịa đặt, xuyên tạc sự thật; lợi dụng các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận để xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong xã hội, trên mạng internet Điển hình là: Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điển, Trần Hoàng Phúc, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,…và họ đã nhận những bản án thích đáng về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 88, Bộ luật Hình sự (1999) Đó là minh chứng cho cái giá phải trả của việc lợi dụng tự do ngôn luận, báo chí để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam

Vì vậy, Điều 13 của Luật Báo chí 2016 không chỉ tạo điều kiện mà còn bảo đảm cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận được thực hiện đúng theo khuôn khổ của pháp luật, giúp phát huy hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc

Từ các nội dung trên, có thể nói Luật Báo chí năm 2016 đã tạo khung pháp lý rộng nhưng nghiêm khắc, bảo hộ mạnh mẽ bằng các định chế cần và đủ để công dân thực hiện quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí; để các cơ quan báo chí và nhà báo có thể tự do tác nghiệp trong khuôn khổ luật định Đây là một phương diện quan trọng thể hiện tính chất dân chủ, công bằng, văn minh trong

tổ chức, quản lý xã hội của Nhà nước Việt Nam, đồng thời cũng là một bằng chứng chứng minh hệ thống pháp luật ở Việt Nam đã và đang ngày càng hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với trình độ phát triển của thế giới hiện đại Đồng thời đây cũng là cơ sở để bác bỏ luận điệu

mà các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí vẫn thường sử dụng để vu cáo, vu khống, bịa đặt về vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam

Tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí thuộc các quyền cơ bản của con người trong một xã hội phát triển Song thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí như thế nào lại là vấn đề cần đề cập một cách cụ thể, căn cứ vào sự lựa chọn con đường phát triển của mỗi quốc gia và hệ thống luật pháp của quốc gia ấy, cùng với các tiêu chí của nền văn hóa mà trực tiếp là đạo đức Nên dù thực hiện các quyền này, trong khuôn khổ pháp luật, để phù hợp với truyền thống văn hóa, phục vụ lợi ích của đất nước, của dân tộc, của cộng đồng, báo chí không thể lợi dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí được quan niệm một cách cực đoan mà xâm phạm tới quyền và lợi ích của mọi tổ chức, cá

Trang 7

nhân, của đất nước Đó là những vấn đề tất yếu mà chỉ từ nhận thức đầy đủ, nghiêm túc thì mỗi công dân, mỗi cơ quan báo chí, mỗi người làm báo mới có thể

sử dụng quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí một cách thiết thực, hiệu quả, có ý nghĩa tích cực với xã hội và con người, qua đó thể hiện tinh thần “Sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật”

II Chính sách của Nhà nước về phát triển báo chí

Một điểm mới trong quy định về chính sách của Nhà nước về phát triển báo chí

Cụ thể:

Điều 5 Chính sách của Nhà nước về phát triển báo chí

3 Đặt hàng báo chí phục vụ nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, thông tin đối ngoại, phục vụ thiếu niên, nhi đồng, người khiếm thính, khiếm thị, đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo và các nhiệm vụ trọng yếu khác phù hợp với từng giai đoạn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

4 Hỗ trợ cước vận chuyển báo chí phục vụ nhiệm vụ, đối tượng và địa bàn quy định tại khoản 3 Điều này.

Luật này đảm bảo quyền tự do báo chí về tiếp cận các tác phẩm báo chí của mọi

công dân trên lãnh thổ Việt Nam, được nêu tại Điều 10 Quyền tự do báo chí của

công dân Góp phần nâng cao nhập thức về các chủ trương, chính sách, pháp luật

của Đảng và Nhà nước; nêu gương người tốt việc tốt, nâng cao tinh thần yêu nước, phát huy ý chí kiên cường bảo vệ tổ quốc của các đối tượng ở các địa bàn được nêu

cụ thể trong luật Do đó, báo chí góp phần gia tăng, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị

III.Liên kết trong hoạt động báo chí

Luật quy định cụ thể lĩnh vực, nội dung các cơ quan báo chí được phép liên kết với cơ quan báo chí khác, pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh phù hợp với lĩnh vực liên kết; thời lượng tối đa được phép liên kết trong kênh phát thanh, kênh truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu theo quy định và kênh thời sự-chính trị tổng hợp; thời lượng tối đa mà cơ quan báo nói, báo hình có hoạt động liên kết sản xuất toàn bộ kênh phát thanh, kênh truyền hình

Việc liên kết trong báo chí được quy định cụ thể lĩnh vực, nội dung các cơ quan báo chí được phép liên kết với các cơ quan báo chí khác, pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh phù hợp với lĩnh vực liên kết

Nội dung và hình thức của hoạt động liên kết phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật Việt Nam, đảm bảo các chương trình liên kết trên kênh phát thanh, kênh

Trang 8

truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin, tuyên truyền thiết yếu theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông và kênh thời sự-chính trị tổng hợp không vượt quá 30% tổng thời lượng chương trình phát sóng lần thứ nhất của kênh này Các chương trình phát thanh, chương trình truyền hình giải trí, trò chơi truyền hình, truyền hình thực tế có bản quyền, kịch bản chương trình nước ngoài phải được Việt hóa, phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam

Cơ quan báo chí chủ động thực hiện, chịu trách nhiệm mà không phải xin phép

cơ quan quản lý nhà nước về báo chí, nhằm cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm

tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ quan báo chí Cụ thể tại Điều 37 Chương

IV Hoạt động báo chí, Mục 1 Thực hiện thêm loại hình, sản phẩm báo chí; liên kết trong hoạt động báo chí.

Điều 37 Liên kết trong hoạt động báo chí

1 Cơ quan báo chí được phép liên kết trong hoạt động báo chí với cơ quan báo chí khác, pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh phù hợp với lĩnh vực liên kết theo quy định của pháp luật.

Người đứng đầu cơ quan báo chí chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động liên kết trong lĩnh vực báo chí theo quy định của pháp luật.

2 Cơ quan báo chí được phép liên kết trong các lĩnh vực sau đây:

a) Thiết kế, trình bày, in, quảng cáo, phát hành báo chí và nội dung thông tin quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản này;

b) Khai thác hoặc mua bản quyền về măng sét, nội dung các ấn phẩm báo chí thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, thể thao, giải trí, quảng cáo và thông tin kinh tế của báo chí nước ngoài để xuất bản tại Việt Nam;

c) Tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép liên kết khai thác hoặc mua toàn bộ bản quyền về măng sét, nội dung các ấn phẩm báo chí hợp pháp của Việt Nam để xuất bản tại nước ngoài;

d) Sản xuất chương trình, kênh phát thanh, kênh truyền hình thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, thể thao, giải trí, quảng cáo, an sinh xã hội;

đ) Sản xuất các sản phẩm báo in, báo điện tử thuộc các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, thể thao, giải trí, quảng cáo, an sinh xã hội.

3 Các chương trình liên kết trên kênh phát thanh, kênh truyền hình phục vụ nhiệm

vụ chính trị, thông tin, tuyên truyền thiết yếu theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông và kênh thời sự - chính trị tổng hợp không vượt quá ba mươi phần trăm tổng thời lượng chương trình phát sóng lần thứ nhất của kênh này.

4 Việc liên kết các chương trình phát thanh, chương trình truyền hình giải trí, trò chơi truyền hình, truyền hình thực tế có bản quyền, kịch bản chương trình nước ngoài phải được Việt hóa, phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam.

Trang 9

5 Trường hợp cơ quan báo nói, báo hình có hoạt động liên kết sản xuất toàn bộ kênh phát thanh, kênh truyền hình thì số kênh liên kết không vượt quá ba mươi phần trăm tổng số kênh phát thanh, kênh truyền hình được cấp giấy phép sản xuất.

6 Nội dung các chương trình liên kết phải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam.

IV Đối tượng thành lập cơ quan báo chí

Trường đại học cũng được quyền thành lập cơ quan báo chí Đây là quy định mới được bổ sung vào quy định đối tượng được quyền thành lập cơ quan báo chí

Theo đó, Luật báo chí 2016 nêu rõ tại Chương III Tổ chức báo chí, Mục 1 Cơ

quan chủ quản báo chí:

Điều 14 Đối tượng được thành lập cơ quan báo chí

1 Cơ quan của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo từ cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam được thành lập cơ quan báo chí.

2 Cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Luật giáo dục đại học; tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện theo quy định của Luật khoa học và công nghệ; bệnh viện cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên được thành lập tạp chí khoa học

Quy định này phù hợp với thực tiễn vì hiện nay nhiều trường đại học cũng như

tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đều cho ra đời những tạp chí khoa học mang tính tham khảo, ứng dụng và hỗ trợ rất nhiều cho thực tiễn cuộc sống Luật này tạo điều kiện, cổ vũ phát huy tinh thần sáng tạo của sinh viên, giảng viên, đồng thời giúp họ tiếp cận thông tin nhanh hơn, cụ thể, thiết thực hơn về những vấn đề có liên quan đến chính ngành, chuyên ngành mà mình đang học

VI.Nhà báo

Quyền và nghĩa vụ của báo chí được nêu rõ tại Điều 25, Mục 4, đảm bảo pháp lý cho nhà báo trong hoạt động báo chí của mình

Điều 25 Quyền và nghĩa vụ của nhà báo

1 Nhà báo là người hoạt động báo chí được cấp thẻ nhà báo.

2 Nhà báo có các quyền sau đây:

a) Hoạt động báo chí trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động báo chí ở nước ngoài theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp;

Trang 10

b) Được khai thác, cung cấp và sử dụng thông tin trong hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật;

c) Được đến các cơ quan, tổ chức để hoạt động nghiệp vụ báo chí Khi đến làm việc, nhà báo chỉ cần xuất trình thẻ nhà báo Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cung cấp cho nhà báo những tư liệu, tài liệu không thuộc phạm vi bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác theo quy định của pháp luật;

d) Được hoạt động nghiệp vụ báo chí tại các phiên tòa xét xử công khai; được bố trí khu vực riêng để tác nghiệp; được liên lạc trực tiếp với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để lấy tin, phỏng vấn theo quy định của pháp luật;

đ) Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ báo chí;

e) Khước từ việc tham gia biên soạn hoặc thể hiệntác phẩm báo chí trái với quy định của pháp luật.

3 Nhà báo có các nghĩa vụ sau đây:

a) Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân;

b) Bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát hiện, tuyên truyền và bảo vệ nhân tố tích cực; đấu tranh phòng, chống các tư tưởng, hành vi sai phạm;

c) Không được lạm dụng danh nghĩa nhà báo để sách nhiễu và làm việc vi phạm pháp luật;

d) Phải cải chính, xin lỗi trong trường hợp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;

đ) Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người đứng đầu cơ quan báo chí về nội dung tác phẩm báo chí của mình và về những hành vi vi phạm pháp luật;

e) Tuân thủ quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo.

Quyền của nhà báo đã tạo điều kiện tốt nhất cho nhà báo tác nghiệp để tiếp cận, khai thác, được cung cấp và sử dụng thông tin đồng thời được bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ.Việc cung cấp thông tin cho nhà báo cũng được quy định tại

Điều 38 Cung cấp thông tin cho báo chí “ 1.Trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ

của mình, các cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm có quyền và nghĩa vụ cung cấp thông tin cho báo chí và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin

đã cung cấp Việc cung cấp thông tin cho báo chí có thể bằng văn bản, trên trang thông tin điện tử tổng hợp, họp báo, trả lời phỏng vấn và các hình thức khác Cơ quan báo chí phải sử dụng chuẩn xác nội dung thông tin được cung cấp và phải nêu

rõ xuất xứ nguồn tin.”

Tất cả những quyền này giúp phát huy quyền tự do báo chí của nhà báo trên báo chí, giúp truyền tải thông tin đến công chúng một cách nhanh nhất, chính xác nhất

và chất lượng, hiệu quả nhất nhằm góp phần năng cao quyền tự do báo chí, quyền

Ngày đăng: 08/05/2019, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w