Safety-oriented vegetables production is a target of National Actions Program on Nutrition. Organic Vegetables produced by Households in Hanoi from 1999 with supports of inputs and outputs comsumption of Hanoi Organics Company. Although this research is simple and not really systematic it can provide information to answer the following questions: What is organic vegetables? Who produces organic vegetables? What are their conditions of production? How about types, seasonal calendar, cost and income of organic vegetables production? What are the advantages of organic vegetables compared to other cultivated crops. This article also suggests some issues needed to be researched in the future
Trang 1rau hữu cơ ở vùng phụ cận Hà Nội
Nguyễn Hùng Anh, Ngô Thị Thuận
Summary Safety-oriented vegetables production is a target of National Actions Program on Nutrition Organic Vegetables produced by Households in Hanoi from 1999 with supports of inputs and outputs comsumption of Hanoi Organics Company Although this research is simple and not really systematic it can provide information to answer the following questions: What is organic vegetables? Who produces organic vegetables? What are their conditions of production? How about types, seasonal calendar, cost and income of organic vegetables production? What are the advantages of organic vegetables compared to other cultivated crops This article also suggests some issues needed to be researched in the future
Keywords: Organic Vegetable, Hanoi Organics Company, Households, Vegetable Type,
Seasonal Calendar, Cost, Mixed Income
1 Đặt vấn đề
Ngộ độc thực phẩm, đặc biệt là ngộ độc do dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên rau là vấn đề
đang được xã hội đặc biệt quan tâm Thời gian gần đây, báo chí liên tục phản ảnh về tình hình ngộ
độc rau và sự lo ngại của người tiêu dùng trong sử dụng rau xanh, nhất là trong những ngày hè nắng nóng, nhu cầu tiêu thụ rau xanh rất lớn Trong tháng 05 năm 2004, trên địa bàn huyện Quốc Oai tỉnh
Hà Tây liên tiếp có nhiều người bị ngộ độc do ăn rau xanh Điển hình, ngày 14/05/2004 tất cả mọi người trong gia đình chị Phan Thị Hoà ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai đều bị đau bụng, buồn nôn và hơi khó thở sau khi ăn rau muống luộc (Báo Nhân Dân, 14/5/2004) Trước thực tế này, chương trình hành động Quốc gia về dinh dưỡng của Chính phủ đã đặt ra mục tiêu chung “giảm thiểu sự không
an toàn thực phẩm”
Hiện nay, rau hữu cơ được coi là hàng hoá nông nghiệp có giá trị cao, đảm bảo chất lượng vệ sinh, an toàn cho người tiêu dùng, giữ gìn môi trường sinh thái Ngoài ra, sản xuất rau hữu cơ là cơ hội cho người nông dân sản xuất nhỏ tăng thu nhập bằng cách đa dạng hoá sản xuất Mục đích của nghiên cứu này nhằm tìm hiểu tình hình sản xuất, tiêu thụ rau hữu cơ ở các vùng phụ cận Hà Nội và các biện pháp làm tăng hiệu quả sản xuất rau hữu cơ, góp phần thúc đẩy sản xuất rau hữu cơ phát triển
2 phương pháp nghiên cứu
Thu thập các tài liệu về các qui trình sản xuất, ý nghĩa và đặc điểm rau hữu cơ, quá trình hình thành & cơ cấu tổ chức của công ty Hanoi Organics (HO) thông qua các thông tin trên báo và tạp chí chuyên ngành và từ phòng chuyển giao kỹ thuật của Công ty hữu cơ Hà Nội, năm 2003 Tình hình sản xuất, tiêu thụ, cũng như các vấn đề nảy sinh trong sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ của hộ nông dân ở các xã thuộc phụ cận Hà Nội được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 20 hộ nông dân tại 2 xã: Yên Nội huyện Từ liêm (13 hộ), Quyết Tiến, huyện Chương Mỹ (7 hộ) và Công ty Hà Nội Organics (HO) năm 2003, có lặp lại năm 2004
Số liệu được tổng hợp theo từng nhóm và xử lý phần mềm EXCEL Các phương pháp phân tích
số liệu được sử dụng chủ yếu là: phân tích thống kê (số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân), SWOT và lấy ý kiến của người dân
Trang 23 Kết quả nghiên cứu & Thảo luận
3.1 Điểm khác trong quy trình sản xuất rau hữu cơ so với rau thường
Rau hữu cơ là rau được canh tác bằng phương pháp canh tác hữu cơ, được kiểm soát chặt chẽ từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ ưu điểm nổi bật trong qui trình sản xuất rau hữu cơ là không dùng thuốc hoá học, không dùng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hoá học, sử dụng phân vi sinh hoặc phân ủ men vi sinh, nguồn nước tưới đảm bảo sạch, có cách ly với cây trồng khác và kết hợp bắt sâu bằng tay, bẫy hay thiên địch Những yêu cầu này đều được theo dõi bằng hệ thống kiểm tra giám sát nội bộ Trong quy trình kỹ thuật sản xuất rau hữu cơ, các khâu quan trọng như làm đất, chọn giống,
luân canh cây trồng, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón được đặc biệt chú ý (sơ đồ 1)
Phân bón
(Quản lý chặt chẽ quá trình sử dụng)
Cây trồng
Luân, xen canh phù hợp
Bảo vệ thực vật
Không sử dụng sản phẩm
có nguồn gốc tổng hợp
Bảo vệ cân bằng đất, môi
trường sinh vật trong đất
Hạt giống
Không sử dụng giống thay đổi gen
Đất (Tôn trọng thời kỳ chuyển đổi, ràng buộc
về vị trí)
Sơ đồ 1 Các khâu quan trọng trong quy trình sản xuất rau hữu cơ
3.2 Sản xuất, kinh doanh rau hữu cơ ở vùng phụ cận Hà Nội
Người sản xuất rau hữu cơ vùng phụ cận Hà Nội là các hộ nông dân tự nguyện, được hỗ trợ và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật bởi Công ty Hà Nội Organics (một công ty phi lợi nhuận) Công ty này
đã trợ giúp cho các hộ nông dân miền Bắc Việt Nam chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo phương pháp canh tác hữu cơ (hình 1) Các vùng sản xuất này nằm trong dự án “Phát triển nông nghiệp hữu cơ” của tổ chức “Hợp tác Đoàn kết” viết tắt là (CIDSE-Cooperation Iternational Development Solidalite)
do chính phủ Hà Lan tài trợ
Hình 1 Trụ sở và quầy bán rau của Công ty Hà Nội Organics
Trang 3Đến tháng 12 năm 2003, Hà Nội Organics có 4 thành viên sản xuất chính là bốn nhóm nông dân: Hợp tác xã sản xuất chè hữu cơ Thiên Hoàng, câu lạc bộ sản xuất hữu cơ Yên Nội, câu lạc bộ sản xuất hữu cơ Quyết Tiến, câu lạc bộ sản xuất hữu cơ Phổ Yên Hoạt động sản xuất rau hữu cơ
được Công ty HO triển khai chủ yếu tại xã Yên Nội huyện Từ Liêm, Hà Nội và Quyết Tiến huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây, ngoài ra làm thử tại huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên (sơ đồ 2) HO ký hợp đồng sản xuất rau hữu cơ với hộ nông dân theo tiêu chuẩn Food Link của Thái Land do tổ chức kiểm tra chất lượng nông nghiệp Thái Land (ACT) thực hiện với thời gian 2 năm (Food Link, 2002)
HO chịu trách nhiệm tập huấn kỹ thuật, cùng với hộ nông dân lên kế hoạch sản xuất, hỗ trợ mua giống, phân vi sinh thời gian đầu, hỗ trợ khi gặp rủi ro và bao tiêu sản phẩm HO sẽ giám sát toàn
bộ quy trình sản xuất theo hợp đồng được ký Nếu hộ nào vi phạm hợp đồng, tuỳ theo mức độ mà
HO xử lý theo các hình thức như: cảnh báo hoặc mua rau với giá rẻ hơn trong một thời gian hoặc không mua rau trong một thời gian và khai trừ Trong thực tế HO đã trích 5 % doanh thu hàng năm cho hoạt động giám sát (Hanoi Organics, 2002; Laurent Dini, 2003)
Sơ đồ 2: Quá trình hoạt động của Hà Nội Organics
Sản phẩm chè hữu cơ
Chế biến chè hữu cơ
Bảo quản chè hữu cơ
HTX Thiên Hoàng
Sản phẩm bao gồm
- Rau hữu cơ
- Dược thảo hữu cơ
- Hoa quả hữu cơ
- Khoai tây hữu cơ
- Lúa hữu cơ
Yên Nội, Quyết Tiến
Hanoi Organics
Kho bảo quản rau quả, dược thảo, khoai tây, gạo, đậu tương,
đậu xanh hữu cơ
Đóng gói gạo, đậu tương, khoai tây, đậu xanh
Tiêu thụ trên thị trường nội địa thông qua kế hoạch
tổ chức thu mua (bán buôn và lẻ)
Kho bảo quản chè
hữu cơ
Đóng gói chè
Hợp đồng phụ
Bảo quản chè đóng
gói
Xuất khẩu
Sản phẩm bao gồm
- Rau hữu cơ
- Đỗ tương hữu cơ
- Đậu xanh hữu cơ
Phổ Yên
Sơ đồ 2 Quá trình hoạt động của Hanoi Organics
Trang 43.3 Đặc điểm của hộ nông dân sản xuất rau hữu cơ
Nhìn chung, các hộ sản xuất rau hữu cơ phần lớn có chủ hộ là nam (100% ở Yên Nội và 80%
ở Quyết Tiến), tuổi trung bình 45 tuổi, có trình độ văn hoá 7/10 Các hộ này thường là những hộ
thuần nông có diện tích đất canh tác không nhiều (Yên Nội là 6,3 sào, Quyết Tiến là 5,5 sào/hộ),
trong đó trung bình mỗi hộ có 2,4 sào rau hữu cơ và có thâm niên sản xuất rau từ 10-20 năm Các hộ
sử dụng lao động gia đình là chủ yếu Do rau hữu cơ rất cần nước tưới sạch, nên hầu hết các hộ đều
có máy bơm, giếng khoan và 40% số hộ điều tra sản xuất rau hữu cơ trong nhà lưới (hình 2) Phương
tiện vận chuyển của các hộ chủ yếu bằng xe máy thồ
Các hộ nông dân trồng rau ở 2 xã này biết hạn chế sâu bệnh, lên kế hoạch sản xuất hợp lý,
ước tính đuợc sản lượng và năng suất thực thu của mỗi loại Thời vụ cây trồng bố trí hợp lý Tuy
nhiên còn sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật do thói quen
Hình 3 Chủng loại rau hữu cơ ở Quyết Tiến
Thu Đông năm 2003
Hình 2 Trồng rau trong nhà lưới ở Yên Nội
3.4 Tình hình sản xuất rau hữu cơ của các hộ nông dân
Rau sản xuất theo phương pháp canh tác hữu cơ có chủng loại rất đa dạng, trung bình 1 hộ
nông dân ở Quyết Tiến trồng 10 loại rau/vụ, Yên Nội là 20 loại rau/vụ Mặc dù mức độ chuyên canh
chưa cao, song phần nào thể hiện được tính hợp lý trong xen canh nhiều loại rau Các loại rau chủ
yếu được trồng là: cải ngọt, cải xanh, cải bắp, rau muống, xúp lơ, su hào (80% số hộ điều tra đều
trồng) Các loại rau trồng ít là cần tây, cải mơ, cải thìa, mướp hương, cải bao, bí xanh, đậu bở (20%
số hộ điều tra trồng) (hình 3) Các loại rau này phần lớn là giống của Trung Quốc do HO cung cấp
với giá rẻ, được gieo trồng ở 2 vụ chính: Vụ Xuân Hè từ tháng 3 đến tháng 8; vụ Thu Đông từ tháng
8 đến tháng 3 Vụ Thu Đông do thời tiết mát mẻ hơn, ít sâu bệnh, năng suất cao nên trồng được
nhiều loại rau, tuy nhiên phải mất nhiều công tưới do thời tiết khô hanh Tất cả các hộ trồng rau đều
thực hiện biện pháp luân canh, xen canh cao trên từng luống (ở Yên Nội là 40 m2/luống và Quyết
Tiến 20 m2/luống) Rau lấy lá trồng xen với rau lấy củ, không trồng một loại rau trên một diện tích
trong hai vụ liên tiếp Các hộ trồng rau đều tuân thủ chặt chẽ các biện pháp cách ly Bắt sâu bằng tay
hoặc sử dụng bẫy vào sáng sớm hoặc tối Phân bón hữu cơ, nguồn nước tưới đều được kiểm tra
thông qua hệ thống kiểm tra giám sát nội bộ của HO
Chi phí bằng tiền trên một sào canh tác rau hữu cơ ở Yên Nội là 805.03 ngàn đồng, ở Quyết
Tiến là 757 ngàn đồng, trong đó chi phân bón là cao nhất (chiếm 46,11% ở Yên Nội và 42,97% ở
Quyết Tiến so với tổng chi), chi phí giống chiếm từ 20 đến 24,16% (bảng 1) Sở dĩ chi phí phân bón
là nhiều nhất vì sản xuất rau hữu cơ, các hộ phải sử dụng nhiều phân vi sinh và phân chuồng ủ để
bón lót (bảng 3 và hình 4)
Trang 5Bảng 1 Các khoản chi phí cho 1 sào rau hữu cơ
(tính chung cho các loại rau xen canh trên 1 sào canh tác)
Các khoản chi SL(1000đ) Cơ cấu (%) SL(1000đ) Cơ cấu (%)
(Nguồn: Điều tra hộ trồng rau hữu cơ năm 2003; 2004)
Yên Nội
Phân lỏng qua lá
4.23%
Phân vi
sinh
30.77%
Phân chuồng 65.01%
Quyết tiến
Phân chuồng 61.73%
Phân vi sinh 30.59%
Phân lỏng qua lá
7.69%
Hình 4 Cơ cấu chi phí phân bón trên 1 sào rau hữu cơ
So sánh chi phí bằng tiền bình quân 1 sào của rau hữu cơ với lúa và màu (bảng 2) cho thấy: so
với lúa và ngô thì tổng chi phí bằng tiền của rau hữu cơ đều cao hơn, song so với đậu tương thì thấp
hơn Như vậy, nếu lúa, ngô, đậu tương sản xuất theo phương pháp canh tác hữu cơ có thể luân canh
với rau với các thời vụ thích hợp là vấn đề cần nghiên cứu và khuyến cáo cho hộ nông dân
Bảng 2 Các khoản chi phí bình quân 1 sào của một số cây trồng ở 2 điểm điều tra
ĐVT: 1000 đồng
Các khoản mục
(Nguồn: Điều tra hộ sản xuất rau hữu cơ 8/2003, lặp lại 3/2004)
Sản xuất rau hữu cơ cần đầu tư công lao động rất nhiều, hầu như ngày nào người trồng rau
cũng phải có mặt trên ruộng Bình quân 1 sào rau hữu cơ, hộ nông dân ở Yên Nội đã chi hết 102
ngày công (tương đương 3 tháng), ở Quyết Tiến là 123,6 ngày công (tương đương với 4 tháng),
tromg đó chủ yếu chi cho khâu làm cỏ, chăm sóc và thuỷ lợi (bảng 3) Như vậy, nếu thực sự rau hữu
Trang 6cơ có năng suất và chất lượng cao, lại tiêu thụ hết thì việc bỏ công để làm lãi cũng là điều phù hợp với việc tận dụng lao động nhàn rỗi trong từng nông hộ
Bảng 3 Chi phí lao động cho các khâu sản xuất rau hữu cơ trung bình 1 sào của nông hộ
ở 2 điểm điều tra
Khâu canh tác Rau hữu cơ Lúa Đậu tương Rau hữu cơ Lúa Ngô
(Nguồn: Tổng hợp điều tra hộ nông dân tháng 8 năm 2003)
3.4 Tình hình tiêu thụ rau hữu cơ
77.0
60.0
7.0
24.0
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
Yen Noi Quyet Tien
Dùng nội,bộ,
bỏ đi Bán ngoài Bán cho HO
Như đã thoả thuận trong hợp đồng với HO, mong muốn của các hộ sản xuất rau hữu cơ
là bán được hết sản phẩm mà họ làm ra, song trên thực tế họ rất bị động Sản lượng rau họ sản xuất ra phần lớn bán trực tiếp cho HO (77% ở Yên Nội, 60% ở Quyết Tiến) với giá cao hơn gấp 2-3 lần giá bán rau thông thường ngoài thị trường Phần nhỏ sản lượng mà HO không mua hết (7% ở Yên Nội, 24% ở Quyết Tiến), hộ nông dân bán ra ngoài và tiêu dùng (hình 5; sơ đồ 3) Vì bán rau cho HO với giá cao hơn giá thị trường nên các hộ trồng rau hoàn toàn không phàn nàn về giá bán, mà ngược lại
họ mong muốn bán được hết sản lượng rau sản xuất ra cho HO
Hình 5 Cơ cấu khối lượng rau theo các hình
thức tiêu thụ của hộ trồng rau hữu cơ
Xem xét tính độc lập của hộ trong sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ thì hầu như 100% hộ được phỏng
vấn đều cho rằng họ chưa thể tự sản xuất, tiêu thụ, tự quảng cáo, tự chứng nhận chất lượng cho sản phẩm hữu cơ trên thị trường mà rất cần có một tổ chức có uy tín đứng ra bao tiêu sản phẩm HO là công ty đang thử nghiệm mô hình này Vì đang trong quá trình thử nghiệm nên lượng hàng thu mua của HO chưa nhiều, khách hàng còn chưa nhận biết được rau hữu cơ, nên hộ sản xuất rau hữu cơ tự tiêu thụ như tiêu thụ rau thông thường Hướng lâu dài của HO sẽ chuyển giao công nghệ cả trong sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ cho hộ
Trang 7
Các loại rau hữu cơ
(đa dạng)
Bán lẻ ở chợ Thôn Bán cho những
người mua buôn
ệ Đem ra chợ bán buôn
ệ Người mua buôn mua
ngay tại ruộng
ệ Bán cho người quen
ệ Giá bán thị trường
ệ Dùng làm thức ăn
ệ Chăn nuôi
Tiêu dùng gia
đình
77%
Bán cho HO theo
kế hoạch thu mua
16%
7%
Sơ đồ 3 Kênh tiêu thụ rau hữu cơ ở Yên Nội
3.5 Hiệu quả sản xuất rau hữu cơ mang lại cho hộ nông dân
Hiệu quả do sản xuất rau hữu cơ mang lại được xem xét theo 3 khía cạnh là thu nhập, bảo đảm sức khoẻ và cải tạo đất
Về thu nhập: Bình quân thu nhập hỗn hợp 1 hộ trong năm ở Yên Nội là 11 triệu đồng, trong
đó thu từ trồng rau hữu cơ chiếm 46%; ở Quyết Tiến là 9,02 triệu đồng, trong dó từ trồng rau hữu cơ chiếm 33,27% (bảng 4) Thu nhập từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác cũng chiếm tỷ trọng lớn (ở Yên Nội là 40%; ở Quyết Tiến là 43,79%) ở giai đoạn đầu sản xuất rau hữu cơ, thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp khác có vai trò rất quan trọng giúp cho sản xuất rau hữu cơ trong hộ phát triển ổn định, bền vững
Bảng 4 Cơ cấu thu nhập hỗn hợp bình quân 1 hộ/năm ở 2 điểm điều tra
Yên Nội Quyết tiến
Các hoạt động
sản xuất SL (triệu đ) Cơ cấu (%) SL (triệu đ) Cơ cấu (%)
(Nguồn: Tổng hợp điều tra tháng 8/2003)
Thăm dò ý kiến của hộ trồng rau hữu cơ (bảng 5), đa số các ý kiến đều cho rằng, canh tác hữu cơ không chỉ mang lại thu nhập mà còn bảo đảm sức khoẻ và cải tạo đất đai Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xuất hiện các hộ từ bỏ hợp đồng sản xuất rau hữu cơ Nguyên nhân chủ yếu là do hộ thiếu lao
động; hộ chưa tự tiêu thụ được và không kiên trì thực hiện quy trình canh tác hữu cơ Điều này có thể minh hoạ qua sơ đồ sau (sơ đồ 4)
Trang 8Bảng 5 ý kiến của người dân về hiệu quả hai phương thức canh tác rau
Canh tác rau hữu cơ Canh tác rau thông thường Những hộ điều tra Hiệu quả kinh tế cao hơn Hiệu quả kinh tế thấp hơn 100% đồng ý
Sức khoẻ trong sản xuất được bảo
đảm
Nguy hiểm đến sức khoẻ do phải sử dụng thuốc trừ sâu
100% đồng ý
Đất đai được cải tạo tốt Đất đai bị thoái hoá dần 100% đồng ý
Chi phí vật chất giảm dần Chi phí vật chất tăng lên 100% đồng ý
Chi phí lớn
Khối lượng tiêu thụ nhỏ
Trong sản xuất
ệ Sâu bệnh nhiều
ệ Kinh nghiệm sản
xuất thiếu
ệ Năng suất thấp
ệ Chất lượng thấp
Từ bỏ hợp
đồng
Sơ đồ 4 Các nguyên nhân từ bỏ hợp đồng sản xuất rau hữu cơ
4 Kết luận
Những kết quả bước đầu trong nghiên cứu thực trạng sản xuất & tiêu thụ rau hữu cơ một số xã phụ cận Hà Nội đã mang lại nhiều nguồn thông tin về sản xuất của người nông dân trồng rau hữu cơ thông qua sự hỗ trợ của Hà Nội Organics Các số liệu khảo sát ở những hộ sản xuất rau hữu cơ của
HO (Yên Nội, Quyết Tiến) đã thể hiện cái nhìn tổng quát về sản xuất rau hữu cơ, qua đó thấy được
sự khác nhau giữa quy trình sản xuất rau hữu cơ với sản xuất rau bình thường Tại Yên Nội, canh tác rau hữu cơ đã bắt đầu từ năm 1999 và tiếp tục phát triển Tại Quyết Tiến canh tác rau hữu cơ được bắt đầu từ cuối năm 2002 và đã xong thời kỳ chuyển đổi sang canh tác hữu cơ Chủng loại rau phong phú, đa dạng, thời vụ trồng quanh năm Chi phí trong canh tác rau hữu cơ có cao hơn, kết quả
và hiệu quả chưa rõ nét nhưng tác dụng cải tạo đất, an toàn thực phẩm thì đã thấy rõ rệt Hà Nội Organics đang thí điểm mô hình này và cố gắng mở rộng hỗ trợ cho nhiều vùng nông dân canh tác hữu cơ Là một phương thức canh tác mới, HO và các hộ nông dân sản xuất rau hữu cơ đang được sự chú ý rất nhiều từ các chương trình an toàn khác, các dự án phát triển nông nghiệp, cải tạo môi trường và chính sách an toàn thực phẩm Để triển khai rộng mô hình này cần có nhiều nghiên cứu và tuyên truyền rộng rãi kiến thức về rau hữu cơ cho người tiêu dùng cũng như các biện pháp quản lý chặt chẽ quy trình sản xuất để có thể sớm khẳng định chất lượng rau hữu cơ trên thị trường Hà Nội
Tài liệu tham khảo
Báo Nhân dân số ra ngày 14/05/2004
Food Link (2002) Basis Standards for Organics production and processing Vietnam Association for Organics Agriculture
Hanoi Organics (2002) Internal Control system Manual for Hanoi Organics Project- Hanoi Organics Company
Laurent Dini (2003) Quản lý chất lượng vệ sinh trong phân phối rau ở Hà Nội Báo cáo kết quả nghiên cứu trong chương trình hợp tác Việt Pháp (CIRAD)