1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội

109 743 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
Tác giả Ngô Thị Nga
Người hướng dẫn TS. Mai Thị Thơm
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 474,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp i

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã đ−ợc chỉ

rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 12 năm 2005 Tác giả luận văn

Ngô Thị Nga

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự lỗ lực của bản thân tôi luôn

nhận được sự giúp đỡ tận tình chu đáo của thầy hướng dẫn Phó giáo sư –

Tiến sĩ Nguyễn Hải Quân trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Phó giáo sư - Tiến sĩ

Nguyễn Hải Quân và các thầy cô giáo ở bộ môn Giống – Di truyền, Khoa

Chăn nuôi – Thú y, Trường Đại học Nông nghiệp I

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bắc Ninh, UBND huyện, Phòng Kinh tế,

Trạm Khuyến nông huyện Yên Phong đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá

trình học và hoàn thành luận văn

Sự quan tâm của các nhà khoa học, các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và

góp ý cho tôi trong quá trình hoàn thành luận án

Các hộ gia đình chăn nuôi ngan ở huyện Yên Phong – tỉnh Bắc Ninh đã

luôn giúp đỡ tôi về nhiều mặt để tôi hoàn thành đề tài

Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành các thầy cô đã giúp

chúng tôi nâng cao trình độ trong quá trình học tập

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đến gia đình, người thân, bạn

bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận án

Hà Nội, tháng 10 năm 2005 Tác giả luận văn

Ngô Thị Nga

Trang 4

Môc lôc

2.10 T×nh h×nh nghiªn cøu trong vµ ngoµi n−íc 37

3 §èi t−îng, néi dung vµ ph−¬ng ph¸p nghiªn cøu 44

Error! Bookmark not defined

Trang 5

4 Kết quả thảo luận 53

4.2 Kết quả khảo sát khả năng sinh sản của ngan Pháp dòng mẹ R51 phối với

4.3.2 Tốc độ sinh trưởng 77

4.5 Biện pháp kỹ thuật nuôi ngan pháp và phòng trừ dịch bệnh trong nông hộ

Trang 6

Danh môc c¸c b¶ng

B¶ng 4.1: Sè l−îng gia cÇm vµ ngan, vÞt ®−îc ch¨n nu«i ë tØnh B¾c Ninh vµ

Trang 7

Danh mục các đồ thị

Trang 8

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Giá trị sản lượng nông nghiệp chiếm hơn 20% tổng giá trị sản phẩm kinh tế quốc dân Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành sản xuất chính của sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi là nghề truyền thống Trong những năm gần đây Nhà nước rất quan tâm phát triển nghề chăn nuôi và tạo mọi điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển Nước ta có diện tích sông ngòi lớn, gắn với nền nông nghiệp lúa nước Đây là điều kiện tốt cho ngành chăn nuôi thủy cầm phát triển, là nguồn tiềm năng lớn để sản xuất thịt và trứng Tuy nhiên, chăn nuôi thuỷ cầm theo phương thức cổ truyền của người nông dân Việt Nam, thực chất là hệ thống chăn nuôi mang tính quảng canh, sử dụng các giống thuỷ cầm

địa phương kiêm dụng nên khả năng cho thịt, cho trứng và chống chịu bệnh tật rất thấp Vịt, ngan, ngỗng được người nông dân chăn thả chủ yếu để nhặt thóc rơi vãi trên các đồng lúa sau mỗi vụ thu hoạch, kiếm các động vật thủy sinh trên các ao, hồ, mương rạch, triền sông, bãi biển… Do đó vịt, ngan, ngỗng đều chậm lớn, tỷ lệ chết và tỷ lệ nhiễm bệnh cao Cũng do phương thức chăn nuôi quảng canh nên sản phẩm sản xuất ra chất lượng kém và mang tính chất thời

vụ rõ rệt, gây nhiều khó khăn trong việc chế biến, tiêu thụ sản phẩm Trong các loại thuỷ cầm con ngan có ưu thế riêng như tốc độ sinh trưởng nhanh, giá trị dinh dưỡng cao, thịt thơm ngon, có thể nuôi tập trung trong các nông hộ Song chăn nuôi ngan ở nước ta chưa được quan tâm đứng mức, chăn nuôi ngan chưa được phát triển với diện tích rộng mà thường được nuôi với quy mô nhỏ Với cơ chế thị trường hiện nay, vấn đề chuyển đổi cơ cấu vật nuôi trong nông nghiệp nước ta đang là vấn đề thời sự Việc đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi

Trang 9

nhằm khuyến khích kinh tế hộ phát triển là yêu cầu cấp bách Việc chọn và nuôi gia súc, gia cầm nào cho phù hợp với điều kiện chăn nuôi trong các nông

hộ để đạt hiệu quả kinh tế cao và an toàn dịch bệnh là những câu hỏi cần được giải đáp Để nâng cao năng suất chăn nuôi ngan trong nước, cần phải có những giống ngan có năng suất và chất lượng cao Chiến lược lâu dài là phải tạo ra những dòng, giống mới có sức sản xuất cao và chất lượng tốt Đồng thời lại phải thích ứng với những vùng sinh thái khác nhau

Để giải quyết vấn đề trên Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đã nhập các giống ngan Pháp cao sản như: R31, R51, R71 và Siêu nặng có ưu

điểm vượt trội so với ngan nội về khả năng sản xuất thịt cao gấp 2 – 2,5 lần, thời gian giết thịt sớm hơn 38 – 50 ngày, khả năng sinh sản cao hơn từ 2,0 – 2,5 lần các giống ngan này đã phát huy được đặc điểm của các dòng ngan cao sản trong điều kiện chăn nuôi ở ta Để góp phần đánh giá đầy đủ khả năng sản xuất của chúng và lựa chọn phương pháp nuôi an toàn dịch bệnh trong nông

hộ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá khả năng sản xuất của ngan Pháp dòng mẹ R51 phối với

đực R71 trong điều kiện nuôi ở nông hộ tại huyện Yên Phong – tỉnh Bắc Ninh”

1.1.1.Tính cấp thiết của đề tài

-Ngan Pháp mới nhập nuôi trong điều kiện nông hộ còn nhiều bất cập như: +Trình độ tiếp thu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của người dân còn nhiều hạn chế

+Đầu tư cơ sở hạ tầng để chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi ngan Pháp của người dân còn chưa thoả đáng

+Người dân chưa đầu tư và sử dụng đúng mức phương tiện kỹ thuật phục

vụ cho chăn nuôi

Trang 10

-Ngan Pháp mới nhập có khả năng sản xuất cao cho nên tính thích ngi trong nhiều điều kiện chăn nuôi khác nhau của các nông hộ là khác nhau Vì vậy khả năng phát triển và sản xuất của đàn ngan không đồng đều

-Vì vậy chăn nuôi ngan Pháp cần được nghiên cứu cụ thể bằng thực nghiệm trong nông hộ để giải quyết các vấn đề trên

1.1.2.Những điểm mới trong đề tài

-Nghiên cứu chăn nuôi ngan Pháp sinh sản và nuôi béo ngan lai lấy thịt trong điều kiện nông hộ

-Đề ra được biện pháp kỹ thuật chăn nuôi ngan Pháp sinh sản và nuôi béo ngan lai lấy thịt trong điều kiện nông hộ tại huyện Yên Phong-tỉnh Bắc Ninh

-Đề ra được biện pháp phòng trị bệnh cho ngan Pháp sinh sản và nuôi béo ngan lai lấy thịt trong điều kiện nông hộ tại huyện Yên Phong-tỉnh Bắc Ninh

1.2 Mục đích yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

-Đánh giá sức sinh sản của ngan Pháp mái R51 cho giao phối với ngan trống R71 nuôi tại nông hộ:

+Xác định mức đẻ trứng của dòng ngan nuôi trong nông hộ

+Xác định một số chỉ tiêu đánh giá sức sinh sản của ngan này

+Xác định hiệu quả sử dụng thức ăn và hiệu quả kinh tế nuôi ở nông hộ +Xác định một số chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt của con lai (bố R71 và mẹ R51)

-Khuyến cáo cho người nông dân cách lựa chọn con giống, kỹ thuật, phương thức nuôi, hướng nuôi con nào cho hiệu quả kinh tế cao nhất trong

điều kiện nông hộ

Trang 11

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

-Đánh giá đúng mức hiệu quả chăn nuôi ngan Pháp sinh sản và nuôi ngan lai thương phẩm (bố R71 x mẹ R51) nuôi trong nông hộ

-Số liệu phải chính xác, trung thực, đúng phương pháp nghiên cứu và sử

lý theo phương pháp thống kê sinh vật học

Trang 12

2 Cơ sở lý luận

2.1 Một số hiểu biết về con ngan

Ngan thuộc loài Cairina Moschata chủng Cairina họ Avatidea (Line 1758) có nguồn gốc ở Nam Mỹ Năm 1052 trong chuyến đi thám hiểm thứ tư Cristop Côlông đã tiến vào miền đất chưa biết đến của Nam Mỹ ông đã ngạc nhiên về thổ dân nơi đây đã thuần dưỡng những con vịt đặc biệt to như ngỗng, tiếng kêu không lớn, có mùi riêng, thường sống đậu trên những cành cây nhiệt

đới Người Tây Ban Nha là những nhà thám hiểm, nhà buôn thông minh và khôn khéo Họ đã bắt những con vật lạ đó về nuôi ở nước họ và đặt cho chúng những cái tên khác nhau như: Vịt xạ, vịt câm, vịt ấn Độ, còn ở Braxin người

ta gọi chúng là vịt Tây Ban Nha hay vịt Hoàng Gia (Pierre Romantzoff, 1985) Những con vịt này đến Pháp và Đức vào thế kỷ 16 Người Pháp thích nó hơn vịt Nàng tơ, còn người Đức thì người ta dùng nó để thay thế cho tất cả các giống vịt khác ở trong nước Người ta đặt tên cho nó là ngan Pháp (Dẫn theo Phùng Đức Tiến, 2004) [45]

Ngày nay, con ngan có mặt ở khắp các châu lục, nhưng phổ biến nhất là

ở các nước nhiệt đới trong đó có Việt Nam Các tỉnh ở Miền Bắc như: Hải Hưng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Yên Bái… là những vùng nuôi ngan

điển hình Tập quán nuôi ngan có từ lâu đời, ngan là đối tượng sinh vật học có thể cạnh tranh với các loại gia cầm khác về sức sống, khả năng tận dụng thức

ăn, tốc độ sinh trưởng nhanh và tính thích ứng rộng rãi cả trên cạn và dưới nước (không phụ thuộc vào tính chất thời vụ như vịt song cũng không đòi hỏi thức ăn công nghiệp như gà ở 84 ngày tuổi, ngan trống đã đạt khối lượng 4,6 – 4,8kg/con và ở 70 ngày tuổi ngan mái đã đủ bộ béo giết thịt, lúc này có khối lượng 2,6 – 2,8kg/con

Trang 13

Ngan là loài ăn tạp lên có thể sử dụng rất đa dạng các loại thức ăn như hỗn hợp thức ăn viên, các thức ăn đơn như rau, cám, ngô, thóc có sẵn ở các địa phương Mặt khác, ngan có thể nuôi nhốt thâm canh trong các xí nghiệp hoặc nuôi bán chăn thả tận dụng những sản phẩm dư thừa của địa phương đều đạt hiệu quả kinh tế cao So với gà, vịt thì tính mùa vụ của ngan không quá chặt chẽ ngan cho sản phẩm quanh năm Đặc điểm này nếu được người chăn nuôi phát huy thì con ngan sẽ chiếm lĩnh được thị trường thực phẩm và thay đổi tập quán chăn nuôi ngan ở nước ta hiện nay

Thịt ngan được xếp vào loại thịt đỏ, được khách hàng trong và ngoài nước rất ưa chuộng bởi chất lượng thịt tốt Theo kết quả nghiên cứu của Aladersanie, R.E và Farrell, DJ: Leclerg, B và De Carville, H (1995) thì thịt ngan có hàm lượng Protein hoàn toàn nó chứa tất cả các axit amin cần thiết cho cơ thể Hàm lượng Lipit 1,66% và Ca – Po 3%, Protein của thịt ngan là Protein toàn phần nó chứa tất cả các axit amin cần thiết Hàm lượng Lipit trong thịt ngan làm cho thịt vừa có giá trị năng lượng cao hơn, vừa góp phần làm tăng lượng vị thơm ngon của thịt Ngan có tỷ lệ thịt xẻ cao, nạc nhiều ngoài ra thịt ngan còn là một trong 6 loại thịt đỏ vừa có tác dụng chữa bệnh (P.Steven và B.Sauver) (Dẫn theo Vũ Thị Thảo, 1997) [29] Do thị hiếu và chất lượng sản phẩm, từ chỗ là nguồn đặc sản quý hiếm đến nay thịt ngan đã trở thành thịt gia cầm chủ yếu Hiện nay trên thị trường giá bán 1kg thịt ngan luôn cao 1,25 – 1,6 lần thịt gà và 1,7 – 1,8 lần thịt vịt Đây là nguồn động lực thúc đẩy chăn nuôi ngan phát triển

Ngan là đối tượng sinh vật học đáng được quan tâm phát triển ở nước ta vì nó có khả năng kiếm mồi tốt Nuôi ngan cũng cần có sự đầu tư chuồng trại

và thức ăn song cũng không đòi hỏi quá cầu kỳ mà chỉ cần có một nhà nuôi để ngan ấm trong mùa đông, thoáng mát về mùa hè, có vườn, sân chơi và bể bơi

là có thể phát triển chăn nuôi ngan Nuôi ngan đầu tư vốn ban đầu ít, thu hồi

Trang 14

nông hộ theo hướng VAC ở nước ta hiện nay Hơn nữa, nước ta lại có trên 3.200km bờ biển, ở Miền Bắc có hơn 100 triệu ha trồng lúa và 13ha có khả năng nuôi cá Đặc biệt với điều kiện khí hậu nhiệt đới rất thích hợp cho mô hình kết hợp nuôi ngan, thả cá, cấy lúa phát triển và chuyển đổi ruộng trũng, phát triển VAC theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta

2.2 Một số đặc điểm sinh học

Số lượng nhiễm sắc thể của ngan có nhiều quan điểm khác nhau theo Bloom S.E (1969) [52], Lê Thị Thúy (1994) [35], Lê Minh Sắc và cộng sự (1994) [17] cho biết lượng nhiễm sắc thể như sau:

Ngan trắng: 2n = 68

Ngan loang: 2n = 56

Ngan Pháp: 2n = 68

Theo Romantzoff (1981) dẫn theo Phùng Đức Tiến (2004) [45]

Theo H.Đơcacvin, A.Đơcrut (1978) [10] ngan có đặc điểm sau:

Tuổi thành thục sinh dục con trống 30 – 34 tuần, con mái 26 – 28 tuần, trọng lượng dịch hoàn thời kỳ sinh sản 25 – 30g, thời gian ấp 35 ngày Trọng lượng con cái bằng 51% trọng lượng con trống, tiếng kêu khàn như câm, bộ lông đuôi có 18 chiếc, lông trán dựng đứng, mống thịt ở gốc mỏ có màu đỏ kéo dài đến sau mang tai, hàm trên có 37 nếp gấp trong vòm trên và có 8 xương cụt cho nên có mỏm phao câu dài Ngan mọc lông đầy đủ vào tuần thứ

11 hay tuần thứ 12, với ngan sinh sản sự thay lông xỷ ra vào tháng tuổi thứ 4 –

5 Sau khi thay lông xong ngan bắt đầu vào đẻ Trong quá trình sinh sản một phần lông của ngan mẹ được gọi là lông từng phần, ngan có thể đẻ quanh năm nếu nuôi tốt Thời gian khai thác với ngan đẻ trong vòng 3 năm tuy nhiên sản lượng trứng cao nhất là ở năm đẻ thứ 1 Nuôi ngan thường ghép tỷ lệ 1 trống 4 mái khác với các loại thủy cầm khác, ở vịt tỷ lệ ghép phối 1 trống đến 8 mái

Trang 15

Ngan là loài có trọng lượng cơ thể cao, ngan trống có thể đạt 5,5kg/con, ngan mái có thể đạt trọng lượng 3,2kg/con

Bắt đầu từ năm 1970 trở đi bằng con đường chọn lọc, cải tạo và nhân giống, trong vòng 20 năm hãng nông nghiệp Grimand Fress đã tạo được 6 chủng ngan có kiểu hình tương đối thuần nhất, mỗi chủng có những đặc diểm sinh học riêng biệt

Sự phối hợp giữa các dòng thuần này cho ra các giống ngan thịt như

thị hiếu từng nơi có thể chọn cho mình loại ngan thích hợp để nuôi

2.3 Các giống ngan đang nuôi ở Việt Nam

2.3.1 Ngan nội

+Ngan trắng: Còn gọi là ngan gié, là loại nuôi khá phổ biến ở nước ta, màu lông trắng tuyền, tầm vóc trung bình lúc 4 tháng tuổi con mái nặng 1,70 – 1,75kg, con trống nặng 2,85 – 2,90kg Sản lượng trứng đạt 60 – 70 quả/mái/năm; Tỷ lệ phôi và tỷ lệ nở cao Đây là giống ngan chịu kham khổ, kiếm mồi tốt, có khả năng chống chịu bệnh tật tốt, sức đề kháng cao phù hợp

Trang 16

Nội), Châu Giang (Hải Dương)

+Ngan trâu (ngan đen): Giống ngan này còn rất ít, giống này không

được nuôi rộng rãi vì hầu hết đã bị pha tạp Giống ngan này toàn thân màu

đen tuyền, tầm vóc to, dáng đi nặng nề, tỷ lệ phôi thấp, tỷ lệ ấp nở thấp, nuôi con vụng

+Ngan sen (ngan loang đen trắng): Ngan có màu lông loang đen trắng, tầm vóc to lúc 4 tháng tuổi con mái nặng 1,7 – 1,8kg; con trống 2,9 – 3,0kg Sản lượng trứng đạt 65 – 66 quả/mái/con; Tỷ lệ phôi và tỷ lệ ấp cao, ngan nuôi con khéo Ngan loang được nuôi rộng rãi khắp nơi

2.3.2 Ngan Pháp nhập nội

+R31: Vằn ngang và sám đen vào lúc trưởng thành, R31 là con lai 3 máu (Dominant) x (Casablanca) x (Typique) Loại này chiếm 80% sản phẩm thịt ngan pháp Đây là giống có năng suất và sức sống tốt nhất,thân hình đẹp,

có độ đồng đều cao Theo thông báo mới nhất (9/1994) của Công ty Grimaud Freres năng suất của giống ngan này đạt như sau:

Tuổi giết thịt tốt nhất với con trống là 88 ngày khối lượng cơ thể đạt 4,7

- 4,8 kg, con mái 70 ngày đạt 2,5 - 2,6 kg, tỷ lệ thịt xẻ đạt 68% với con trống

và 66% với con mái, tiêu tốn thức ăn là 2,7 - 2,85kg thức ăn/kg tăng trọng

+R32: Được tạo ra do trống Dominant phối với con mái Typique Lúc nhỏ màu lông vàng và đen, lúc trưởng thành có màu đen Dáng vẻ loại này nặng nề, thích hợp với nuôi chăn thả

+R51: Được tạo ra do lai con trống Cabreur với con mái Casablanca, màu lông lúc nhỏ vàng, khi trưởng thành có màu trắng R51 chủ yếu để xuất khẩu cho Đức và Đan Mạch, loại này thích hợp cho yêu cầu của khách hàng vì sản phẩm không có vết đen trên da Con trống 88 ngày đạt 4,7 – 4,8kg; tỷ lệ thịt xẻ 68%; tiêu tốn thức ăn 2,85kg TA/kg tăng trọng; con mái 70 ngày đạt

Trang 17

2,5 – 2,6kg; tỷ lệ thịt xẻ đạt 66%, tiêu tốn 4,7 – 4,85kg thức ăn/kg tăng trọng Ngan có tuổi thành thục sinh dục 28 tuần tuổi, có tỷ lệ đẻ cao, 200 – 210 quả/mái/năm, tỷ lệ phôi 93 – 94%, tỷ lệ ấp nở 88%

+R71: Lông màu trắng, thân thịt đẹp, khối lượng cơ thể cao, 84 ngày tuổi con trống 4,8 – 4,9kg; con mái 70 ngày đạt 2,5 – 2,6kg; tỷ lệ thịt xẻ trống 48%, con mái 66%, tiêu tốn thức ăn 2,6 – 2,75kg thức ăn/kg tăng trọng Ngan có tuổi thành thục sinh dục lúc 28 tuần tuổi, năng suất trứng đạt 210 quả/mái/2 chu kỳ đẻ với tỷ lệ phôi 93 – 94%, tỷ lệ nở/phôi 88%

+Ngan siêu nặng: Lông màu trắng, thân thịt đẹp, khối lượng cơ thể cao nhất, 84 ngày tuổi con trống 4,8 – 5,5kg; con mái 77 ngày đạt 2,8 – 3,0kg

Tỷ lệ thịt xẻ con trống 68 – 69%, con mái 66%, tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng là 2,75 – 2,85kg

Nhìn chung tất cả các giống trên đều có ưu thế về tốc độ sinh trưởng, tỷ

lệ thịt xẻ đạt 68 – 69% ở con trống và 66 – 67% ở con mái Các giống ngan nhập nội này có sản lượng trứng cao và ổn định từ 198 – 210 quả/mái/năm, tỷ

lệ phôi từ 93 – 94%, tỷ lệ ấp nở 88%

2.4 Tính trạng số lượng

Phần lớn các tính trạng sản xuất của vật nuôi là tính trạng số lượng, cơ

sở di truyền học của tính trạng số lượng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [28] tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sự sai khác nhau giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức

độ cao hơn, là sự sai về chủng loại, sự sai khác này chính là nguồn vật liệu cung cấp cho chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo

Tính trạng số lượng còn được gọi là tính trạng đo lường vì sự nghiên cứu chúng phụ thuộc vào sự đo lường Ví dụ như mức độ tăng trọng của con vật, kích thước các chiều đo cơ thể, khối lượng trứng… hay tính trạng số

Trang 18

lượng được xác định bằng cách đếm như số trứng đẻ ra trong năm, số trứng có phôi, số ngan con nở ra, số ngan con loại I Bộ phận di truyền có liên quan đến tính trạng số lượng được gọi là di truyền học số lượng Di truyền học số lượng

có khác với di truyền Men đen về hai phương diện: thứ nhất là các đối tượng nghiên cứu không chỉ dừng ở mức độ cá thể mà phải được nghiên cứu ở mức

độ quần thể, thứ hai là sự khác nhau giữa các cá thể không thể chỉ là sự phân loại mà nó còn đòi hỏi phải có sự đo lường các cá thể

Giá trị đo lường của tính trạng số lượng trên 1 cá thể được gọi là giá trị kiểu hình của giá thể đó (Phenotype Value), các giá trị có liên hệ với kiểu gen là giá trị kiểu gen và giá trị có liên hệ với môi trường, là sai lệch môi trường Như vậy, có nghĩa kiểu gen quy định một giá trị nào đó của cá thể và môi trường gây

ra, một sự sai lệch của giá trị kiểu gen theo hướng này hoặc hướng khác

P = G + E

Trong đó:

P: Là giá trị kiểu hình

G: Là giá trị kiểu gen

E: Là sai lệch môi trường

Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen nó cấu tạo thành

Đó là những gen tách riêng biệt thì có hiệu ứng nhỏ nhưng tập trung lại thì có

ảnh hưởng rất lớn đến tính trạng nghiên cứu Hiện tượng này gọi là hiện tượng

đa gen (Polygene) Giá trị gen có giá trị như sau:

G = A + D + I

Trong đó:

G: Là giá trị kiểu gen

A: Là giá trị cộng gộp

Trang 19

Ngoài kiểu gen, môi trường có ảnh hưởng lớn đến tính trạng số lượng và

được chia làm 2 sai lệch do môi trường Eg và Es

Eg: Sai lệch do môi trường chung là sai lệch do các nhân tố môi trường

có tính chất thường xuyên và không cục bộ, tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi

Es: Sai lệch môi trường đặc biệt là sai lệch do các nhân tố môi trường

có tính chất không thường xuyên và cục bộ tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong cùng một nhóm vật nuôi Tóm lại, khi một kiểu hình của một cá thể

được cấu tạo từ 2 lôcus trở lên thì giá trị kiểu hình được biểu thị bằng:

P = A + D + I + Eg + Es

Qua việc phân tích trên ta thấy muốn nâng cao năng suất vật nuôi ta cần phải:

-Tác động về mặt môi trường (G)

+Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc

+Tác động hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng phối tạp giao

Trang 20

-Tác động về môi trường E bằng cải tiến điều kiện chăn nuôi như thức

ăn, thú y, chuồng trại, sinh thái xung quanh khu vực nuôi…

Trong chăn nuôi, các giống vật nuôi luôn nhận được từ bố mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng nào đó và được xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền, tuy nhiên khả năng đó có phát huy tốt hay không còn phụ thuộc rất lớn vào điều kiện của vật nuôi

2.5 Cơ sở khoa học về sức sống, ưu thế lai về sức sống

Sức sống của vật nuôi thường thể hiện qua thể trạng Thể trạng là trạng thái chung của cơ thể, nó đặc trưng cho từng cá thể và được quyết định bởi tính di truyền và chịu ảnh hưởng của môi trường ngoài

Tỷ lệ nuôi sống là chỉ tiêu phản ánh sức sống của vật nuôi Tỷ lệ chết cao chứng tỏ sự giảm sức sống trong đàn (H Brandsche, H Bulchel; 1978) [13]

Theo tài liệu của Gavora J.F (1990) [55], hệ số di truyền có tỷ lệ là 0,07

và hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 0,25 Robertson và Lerner Trích theo Đoàn Xuân Trúc (1994) [44] Xác định hệ số di truyền tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh thấp phụ thuộc vào giống, dòng, giới tính cho nên tỷ

(1947)-lệ nuôi sống phụ thuộc vào nuôi dưỡng rất lớn ở điều kiện không thuận lợi, chăm sóc nuôi dưỡng kém tỷ lệ nuôi sống sẽ thấp Thông thường trong công tác lai tạo nhờ có ưu thế lai mà sức sống của vật nuôi tăng lên Đoàn Xuân Trúc (1994) [44] khi nghiên cứu về gia cầm đã có nhận xét con lai có sức sống hơn hẳn bố mẹ của chúng, công thức lai các dòng gà Hybro có ưu thế lai đạt 2,57 – 2,89% so với trung bình bố mẹ

Theo Bùi Quang Tiến và cộng sự [45] đã cho lai giữa ngan Pháp R51 và R31 con lai có tỷ lệ nuôi sống 97,14 – 100%, ưu thế lai thể hiện rõ rệt

Trang 21

Theo Hutt F B (1958) - dẫn theo Đỗ Văn Hoan (2004) [19] ưu thế lai làm tăng sức sống và tăng khối lượng cơ thể trong đó các cá thể khác loại, khác giống, khác dòng thường vượt cả hai bố mẹ chúng

Cũng theo Đỗ Văn Hoan (2004) [19] cho biết ưu thế lai về sức sống là rất cao và dao động từ 9 – 24% và không phải con lai nào cũng thể hiện ưu thế lai Ưu thế lai tính trạng sức sống của ngan là kết quả mối tương tác tổng hợp của các yếu tố ảnh hưởng, đặc biệt của một số bệnh và yếu tố stress Sức sống cao phụ thuộc bởi các yếu tố mầm bệnh hoặc các vi sinh vật gây bệnh khác nhau

2.6 Cơ sở khoa học về sinh sản

Sinh sản là quá trình duy trì nòi giống tạo ra thế hệ sau Sự phát triển hay huỷ diệt của một loài trước tiên phụ thuộc khả năng sinh sản của loài đó

2.6.1 Sinh lý sinh sản ở gia cầm mái

Gia cầm là loài đẻ trứng, con mái thoái hóa buồng trứng bên phải, chỉ còn lại buồng trứng và ống dẫn trứng bên trái tồn tại và phát triển Âm hộ gắn liền với tử cung và cùng nằm chung lỗ huyệt, do đó lỗ huyệt đảm bảo 3 chức năng: chứa phân, nước tiểu và cơ quan sinh dục Khi giao phối gai giao cấu của con trống áp sát vào lỗ huyệt của con mái và phóng tinh vào âm hộ

Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào loại gia cầm, sự hình thành buồng trứng và tuyến sinh dục xảy ra vào thời kỳ đầu của phát triển phôi Chức năng chủ yếu của buồng trứng là tạo trứng Quá trình phát triển của tế bào trứng trải qua 3 thời kỳ: tăng sinh, sinh trưởng và chín Trong giai đoạn phát triển lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào, tầng tế bào này phát triển thành nhiều tầng và tiến dần tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi là Follicum Bên trong Follicum có một khoang hở chứa đầy

Trang 22

nhiều Follicum chín dần làm thay đổi hình dạng buồng trứng trông giống như hình chùm nho Sau thời kỳ đẻ trứng, buồng trứng trở lại hình dạng ban đầu, các Follicum trứng vỡ ra quả trứng chín chuyển ra ngoài cùng với dịch của Follicum và rơi vào phễu ống dẫn trứng Sự rụng trứng đầu tiên báo hiệu sự thành thục sinh dục

Buồng trứng có chức năng tạo lòng đỏ, các ống dẫn trứng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, lòng trắng loãng, màng vỏ, vỏ và lớp keo mỡ bao ngoài

vỏ trứng Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20 – 24h, tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc biệt là lòng đỏ

Lòng đỏ được tạo thành trước khi đẻ 9 – 10 ngày, trong 3 – 14 ngày lòng đỏ chiếm 90 – 95% khối lượng tế bào trứng, thành phần chính gồm: phốt pho lipit, mỡ trung hòa, các chất khoáng và vitamin Tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ không tương quan đến cường độ đẻ trứng Quá trình hình thành trứng

và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp do sự điều khiển của hocmôn, thời gian từ khi đẻ trứng đến khi rụng quả trứng tiếp theo kéo dài từ 15 – 75 phút

2.6.2 Tuổi thành thục sinh dục khối lượng cơ thể ngan mẹ

-Tuổi thành thục sinh dục (tuổi đẻ quả trứng đầu) là một yếu tố cấu thành năng suất Tuổi đẻ trứng đầu được xác định bằng số ngày tuổi kể từ khi ngan nở đến lúc đẻ quả trứng đầu tiên (với con mái) và khả năng thụ tinh với con trống Trong một đàn ngan mái chỉ tiêu này được xác định bằng tuổi đẻ 5% số cá thể trong đàn, tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm (Khavecman), (1972) (Dẫn theo Phạm Thị Minh Thu, 1996) [34] Theo Siegel (1962) [57] thì khối lượng cơ thể và cấu trúc thành phần cơ thể là những nhân tố ảnh hưởng

đến tính thành thục ở gà màu

Trang 23

Theo Vũ Thị Thảo (1997) đối với ngan R51 tuổi đẻ trứng đầu ở 25,4 tuần tuổi, đẻ 5% ở 26 tuần tuổi và đẻ đạt đỉnh cao ở 32 tuần tuổi

Theo tác giả C.F.H.F Korlang (1992) thì ngan Pháp đẻ trứng đầu ở tuần tuổi thứ 28 Theo Bùi Quang Tiến và cộng sự (1999) [40] ngan Pháp R51 có tuổi đẻ quả trứng đầu 165 ngày, tuổi đẻ đạt 5% 172 – 175 ngày, tuổi đẻ đạt 50% từ 242 – 245 ngày, tuổi đẻ đạt đỉnh cao 249 – 252 ngày

Tuổi đẻ quả trứng đầu có liên quan đến sản lượng trứng Nếu có thể làm cho gia cầm thành thục sớm thì thu được sản lượng cao bằng cách kéo dài thời gian đẻ trứng trong năm đầu Tuy nhiên, không ngoại trừ khả năng ngan chưa phát triển về thể vóc xong mà đẻ trứng sớm thì sẽ cho trứng bé trong một thời gian dài Giữa khối lượng quả trứng đầu tiên và khối lượng gia cầm có tương quan thuận với nhau nhưng không phải là tương quan tuyến tính

Ngan được nuôi với thời gian chiếu sáng dài và ăn quá đầy đủ thì bắt đầu

đẻ trứng sớm, nhưng lại nhiều trứng nhỏ vì vậy tốt nhất nên cho ngan đẻ vào thời gian thích hợp và thực hiện nghiêm ngặt chế độ dinh dưỡng với ngan hậu bị

Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Thuý (1991) [35] thì giống ngan loang (ngan nội) nuôi trong các nông hộ gia đình có tuổi thành thục là 235 ngày (33,5 tuần) dao động từ 220 – 260 ngày

Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Cương (2003) [5] ngan Pháp R51

đẻ trứng đầu là 182 ngày, đẻ đạt 5% ở 185 ngày, đẻ đạt 50% lúc 217 ngày và

đẻ đỉnh cao 244 ngày

2.6.3 Sản lượng trứng

Sản lượng trứng/mái là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của ngan Sản lượng trứng là số lượng trứng thu được trong khoảng thời gian sinh sản Sản lượng trứng của mỗi loài gia cầm phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố di truyền và ngoại cảnh Yếu tố di truyền ở đây phải kể đến đầu tiên là

Trang 24

tuổi thành thục, sau đó là thời kỳ kéo dài của chu kỳ đẻ và cuối cùng là độ dài của thời kỳ nghỉ đẻ và cường độ đẻ trứng Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trong một khoảng thời gian nhất định, cường độ này được xác định trong khoảng thời gian 30 ngày, 60 ngày hoặc 100 ngày trong giai đoạn đẻ

Theo Colonna – Cesiari dẫn theo Lê Thị Thúy (1994) khả năng di

0,19 ở 10 tuần tuổi Trong điều kiện chăn nuôi tại các nông hộ ngan thường đẻ tốt vào tháng 1 đến tháng 9 (âm lịch) Lúc này khí hậu ấm áp, thức ăn nhiều

đặc biệt là nguồn thức ăn đạm bổ sung (tôm, cua, ốc…)

Theo F B.Hutt (1978) trích dẫn theo Phạm Thị Minh Thu (1996) [34] thì hệ số tương quan giữa sản lượng 3 tháng đầu với sản lượng trứng cả năm rất chặt chẽ (từ 0,7 – 0,9); Levie và Tailer (1943) (Dẫn theo Phạm Thị Minh Thu, 1996) [33] do thời gian kéo dài đẻ trứng là yếu tố quyết định sản lượng trứng Theo khuyến cáo của hãng Grimaud Freress và các tác giả trong nước, sản lượng trứng của ngan được tính theo chu kỳ đẻ (pha đẻ) Ngan đẻ pha I kéo dài 8 tháng, sau khi nghỉ đẻ 10 – 12 tuần sẽ tiếp tục đẻ pha II kéo dài 7 tháng, sản lượng trứng đạt 180 – 210 quả/mái/2 chu kỳ đẻ

2.6.4 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng

2.6.4.1 Khối lượng trứng

Khối lượng trứng là một trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng, khối lượng trứng của các loài khác nhau thì khác nhau, trứng gà 55 – 56 gam, trứng vịt 90 – 110 gam, trứng gà tây 110 gam, trứng ngỗng 110 – 180 gam Khối lượng trứng cũng là một chỉ tiêu để đánh giá về hiệu quả trong chăn nuôi lấy trứng thương phẩm, đồng thời khối lượng trứng cũng phản ảnh sinh lực, sức sống của gia cầm non Ngoài yếu tố di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào các yếu tố như khối lượng cơ thể mái khi thành thục sinh dục, chế

Trang 25

Theo Wyatt (1953) [58] h2 = 45 – 75%, theo M.I Lerner và D.Cruden (1951) [56], theo Brandsch H, Buchel H (1978) [3] cho biết khối lượng trứng có hệ

nghiên cứu của Lê Hồng Mậu và cộng sự (2001) [22] cho biết: khối lượng trứng có tương quan âm với sản lượng trứng (r = -0,36); tương quan dương với tuổi thành thục sinh dục (r = 0,31) Do đó, khối lượng trứng phụ thuộc vào mức chọn lọc ở những dòng đã chọn lọc kỹ, khối lượng trứng trung bình cao hơn dòng chưa chọn lọc 10 – 15% Nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa khối lượng trứng và kết quả ấp nở đã xác định những trứng có khối lượng nằm trong khoảng trung bình của giống cho kết quả ấp nở cao Những trứng quá nhỏ, quá to luôn luôn cho kết quả thấp hơn với khối lượng trứng trung bình Schuberth L, Ruhland, R (1978) [28] cho dẫn chứng về điều này và đánh giá nguyên nhân sinh lý của nó là do sự mất cân đối giữa các thành phần của trứng Trứng quá to hoặc quá nhỏ đã phá hoại sự phát triển bình thường của phôi, thường trứng nhỏ có tỷ lệ (%) lòng đỏ cao và tỷ lệ (%) lòng trắng ít hơn

so với trứng to Ngoài ra, trứng nhỏ còn có tỷ lệ diện tích bề mặt lớn hơn so với khối lượng của nó, khối lượng trứng là đại diện cho chỉ tiêu phẩm chất giống nhưng sự chênh lệnh so với giá trị trung bình của giống là do những ảnh hưởng của điều kiện môi trường, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng và tuổi đẻ trong giai đoạn sinh sản

ở ngan bố mẹ khối lượng cơ thể qua các giai đoạn sinh sản ảnh hưởng rất lớn đến khả năng đẻ trứng của ngan và khối lượng trứng, khối lượng trứng

có tương quan dương với khối lượng cơ thể (R = 0,36) (Pingel, 1986) dẫn theo Mạc Thị Quý và cộng sự (1997)- Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học

kỹ thuật gia cầm và động vật mới nhập [51] khối lượng cơ thể càng chuẩn thì

so với giống thì sản lượng trứng càng cao

Carvin Dơ.H, Crut Dơ A (1985) [4] khi nghiên cứu trứng ngan Pháp

Trang 26

cho biết khối lượng trứng biến động từ 65 – 90 gam Theo Narahari Detall (1991) - dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân [7], kết quả ấp nở/trứng có phôi cao nhất đối với trứng vịt ấn Độ có khối lượng trung bình 65 -70 gam, tỷ lệ phôi tăng tuyến tính với khối lượng tăng

2.6.4.2 Hình dạng trứng

Trứng ngan có hình dạng phổ biến là hình ô van, một số tác giả cho rằng trứng ngan có chỉ số hình thái dao động từ 1,31 – 1,37 là lý tưởng nhất Trứng ngan có thể phân biệt rõ đầu to và đầu nhỏ, những trứng không có hình dạng như trên mà quá tròn, quá dài, thắt ngẫng ở giữa đều không được chọn làm trứng ấp do có ảnh hưởng không chỉ tới cấu tạo, chất lượng vỏ trứng mà còn ảnh hưởng đến vị trí đĩa phôi Theo M.V.Orlov (1974) - dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân (1998) [7] cho rằng chỉ số hình dạng có ý nghĩa nhất định đến sự phát triển của phôi vì nó ảnh hưởng đến vị trí đĩa phôi khi ấp và vị trí này ảnh hưởng đến quá trình nở của gia cầm Theo nghiên cứu của Bạch Thị Thanh Dân và CS [8] cho biết trứng ngan có chỉ số hình dạng 1,35 – 1,42 cho tỷ lệ nở/trứng ấp là 88,80%; nhỏ hơn 1,35 là 88,10%; lớn hơn 1,42 là 80,95% Theo

Lê Hồng Mận và cộng sự (1983) cho biết trứng gà Leghorn có chỉ số hình dạng 1,38; trứng gà Rhode.Island.Red và Leghorn là 1,4 Nguyễn Huy Đạt và cộng sự (1996) [51] nghiên cứu xác định tính năng sản xuất của gà Goldline

54 cho thấy chỉ số hình dạng là 1,32 – 1,36

Như vậy, mỗi loài đều có chỉ số hình dạng đặc trưng và những trứng có hình dạng trung bình sẽ cho tỷ lệ nở cao, càng xa giá trị trung bình thì tỷ lệ nở càng thấp

2.6.4.3 Độ dày vỏ trứng và mật độ lỗ khí

Vỏ trứng là lớp bảo vệ cho trứng tránh các tác động cơ học, tránh sự xâm nhập của vi khuẩn và còn là kho cung cấp canxi, phốt pho cho phôi phát triển, trao đổi chất trong quá trình ấp trứng Vỏ trứng được hình thành từ khi

Trang 27

trứng nằm trong tử cung từ chất dịch nhầy Cacbonatcanxi và Cacboprotein Thời gian tạo vỏ nhầy 9 – 12 giờ trong khi đó tạo lòng trắng chỉ mất 3 giờ, đó

là kết quả công bố của Nguyễn Mộng Hùng (1993) [14]

Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994) [15] cho biết trong vỏ theo

tỷ lệ so với toàn bộ vỏ thì hơn 98% là vật chất thô, trong đó 95% là các chất vô cơ, trong các chất vô cơ có khoảng 98% là canxi và 1% là phốt pho

Chất lượng vỏ trứng được thể hiện qua độ bền vững và độ dày của vỏ trứng Nhiều nhà nghiên cứu cho biết độ dày vỏ trứng gà chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền Marco A.S (1982) - dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân (1998) [7] cho biết hệ số di truyền tính được là 0,30 – 0,60 ngoài ra độ dày vỏ trứng còn phụ thuộc vào môi trường, không khí, dinh dưỡng, stress… Tuy vậy, hệ số di truyền của độ dày vỏ trứng tương đối cao

Theo J.Perdrix (1969) - dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân (1998) [7] độ dày

vỏ trứng gà là 0,229 – 0,373mm Lê Hồng Mận và cộng sự (1989) [21] độ dày

vỏ trứng vịt là 0,37 – 0,43mm Trên các vị trí của vỏ trứng độ dày không đồng nhất: dày nhất vùng đầu nhỏ và mỏng nhất vùng đầu to của trứng Theo Bennett C.D (1992) [52] độ dày của vỏ trứng có liên quan đến sự sống của phôi và kết quả ấp nở của chúng Trên bề mặt của vỏ trứng được bao phủ một lớp màng mỏng trong suốt gọi là vỏ Cutin (90% protein là những sợi muxin

đan xen kẽ, một ít Hydratcacbon và một ít mỡ Độ đày màng ngoài khoảng 0,005 – 0,01mm Màng cutin vừa có tác dụng bảo vệ, vừa có tác dụng ngăn cản thoát hơn nước của trứng, khi mất lớp vỏ này nhìn quả trứng nhẵn bóng,

đây là đặc điểm để phân biệt trứng mới và trứng cũ

Trên bề mặt vỏ cứng có các lỗ khí có khả năng khuyếch tán không khí các lỗ khí này cho phép nước bay hơi đi cũng như oxi từ bên ngoài thẩm thấu vào trong trứng, khí cacbonic từ trong thoát ra Mặt trong lớp vỏ canxi rất gồ ghề gồm nhiều mỏm nhô ra khỏi bề mặt vỏ các mỏm này mềm hơn mặt ngoài

Trang 28

và rễ hòa tan dưới tác dụng hóa học khi phôi phát triển, đây là nguồn cung cấp canxi, phốt pho cho phôi Vì vậy, trong quá trình ấp nở trứng mỏng dần và dễ

vỡ

Qua nhiều nghiên cứu cho thấy các loài khác nhau có số lỗ khí trên bề mặt khác nhau và phân bố không đều Theo OproBM.B (1970)-trích theo Bạch Thị Thanh Dân (1998) [7] trứng vịt có số lỗ khí nhiều hơn ở gà, sự phân bố lỗ khí trên vỏ trứng không đồng đều Đầu to có biến động lỗ khí từ 77 – 144

Nguyễn Ân (1979) [1] nghiên cứu trên trứng vịt bầu, vịt cỏ cho thấy vịt bầu có

Theo Schuberth L.Ruhland R (1978) [27] cho biết kết quả nghiên cứu của Raux trên cơ sở đã chứng minh được kích thước lỗ khí quá nhỏ, số lỗ khí trên bề mặt trứng quá ít dẫn đến phá hoại trao đổi khí Có tới 7.600 số lỗ khí trên bề mặt trứng, mật độ lỗ khí cũng phân bố không đều, đầu to có mật độ lỗ khí nhiều hơn vùng giữa và đầu nhỏ lỗ khí có kích thước 40 – 50 mioromet

Độ dày vỏ trứng và số lỗ khí có quan hệ chặt chẽ với nhau, trứng mỏng có số

lỗ khí nhiều hơn trứng dày và ngược lại

Lớp tiếp giáp phía trong vỏ cứng là màng vỏ, gồm hai lớp dính sát nhau

và tách nhau ra ở đầu to gọi là buồng khí Lớp này cũng cho không khí đi qua, chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ bền, độ chịu lực, độ xốp Theo Nguyễn Huy

Đạt (1991) [11] xác định độ chịu lực của vỏ trứng gà Leghorn nuôi tại Ba Vì

Mặc dù, độ dày vỏ trứng có hệ số di truyền rất lớn (yếu tố di truyền), 70% canxi cần cho vỏ trứng lại lấy trực tiếp từ thức ăn, do vậy điều kiện ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng vỏ trứng như dinh dưỡng, nhiệt

Trang 29

độ… Khi nhiệt độ tăng từ 20 – 300C thì độ dày vỏ trứng giảm 6 – 10%, không

vỏ hoặc bị biến dạng theo Nguyễn Duy Hoan (1999)-dẫn theo Nguyễn Quý Khiêm (2003) [19]

2.6.4.4 Chất lượng lòng trắng trứng

Lòng trắng trứng được tiết ra từ ống dẫn trứng, chứa nhiều chất dinh dưỡng và nước để cung cấp cho nhu cầu phát triển của phôi và bảo vệ phôi khỏi những tác động cơ học Lòng trắng trứng cấu tạo gồm 2 lớp: lòng trắng

đặc và lòng trắng loãng Chất lượng lòng trắng được thể hiện qua chỉ số lòng trắng Chỉ số này được tính dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa tỷ số chiều cao lòng trắng đặc và đường kính của chúng Theo Ngô Giản Luyện (1994) [25] cho biết kết quả nghiên cứu của Toscovasev (1968) đã tính được hệ số di truyền của khối lượng lòng trắng là 0,22 – 0,27; tỷ lệ lòng trắng đặc/lòng trắng chiếm 62 – 64,5% Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994) [15] thì chất lượng lòng trắng cũng là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng Theo Bạch Thị Thanh Dân (1998) cho biết kết quả nghiên cứu của Orlovm (1974) cho rằng chỉ số lòng trắng càng lớn thì tỷ lệ nở càng cao và trên cơ sở nghiên cứu được cho biết trứng mùa đông có chất lượng lòng trắng cao hơn mùa hè… Tác giả còn cho biết chỉ số lòng trắng cao quá 0,1 cũng không phải tốt Trứng của gà mái tơ và gà mái già có chỉ số lòng trắng thấp hơn trứng của gà mái

đang độ tuổi sinh sản, trứng để lâu chỉ số lòng trắng thấp hơn trứng mới đẻ Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ân (1979) [1] cho biết thì chỉ số lòng trắng ở trứng vịt bầu là 0,081 – 0,105; vịt cỏ là 0,082 – 0,10

Trứng có chất lượng tốt khi đổ ra một mặt phẳng nhẵn thì lớp lòng trắng

đặc gọn và còn giữ nguyên hình ovan bao quanh lòng đỏ Lớp này có màu hơi phớt xanh hoặc màu vàng cam, lớp lòng trắng loãng ở ngoài có giới hạn rõ ràng và cũng giữ hình ovan, tuy loãng nhưng vẫn có độ dày và không chảy thành dòng Dây chằng ở vị trí giữa theo chiều dọc trục lớn của quả trứng

Trang 30

Trứng có chất lượng kém quan sát thấy lòng trắng loãng không màu hoặc màu

đục, lòng trắng không giữ được hình dạng, chảy loang rộng ra và dây chằng nằm ở các vị trí khác nhau

Chất lượng lòng trắng còn được đánh giá bằng đơn vị Haugh là mối quan hệ giữa chiều cao lòng trắng đặc và khối lượng trứng Theo Ngô Giản Luyện (1994) [25] cho biết kết quả nghiên cứu của Xargava (1977) ở trứng ấp

có chất lượng lòng trắng tốt cần có đơn vị Haugh từ 75 – 90

Hiện nay, đơn vị Haugh được dùng phổ biến hơn Nguyễn Ân (1979) [2] đã cung cấp bảng tính sẵn đơn vị Haugh dựa trên thay đổi của chiều cao lòng trắng đặc và khối lượng trứng, chiều cao lòng trắng càng lớn thì chất lượng trứng càng cao

2.6.4.5 Chất lượng lòng đỏ

Lòng đỏ là tế bào trứng của gia cầm, có dạng hình cầu, đường kính khoảng 35 – 40mm và được bao bọc lớp màng lòng đỏ rất mỏng Màng có tính đàn hồi vừa giữ cho tế bào trứng ở dạng hình cầu, vừa có tính thẩm thấu chọn lọc để thực hiện việc trao đổi chất giữa lòng trắng trứng và lòng đỏ Chất lượng lòng đỏ được xác định thông qua chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng đỏ là tỷ số giữa chiều cao lòng đỏ và đường kính của nó Trứng có chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho kết quả ấp nở cao Chỉ số lòng đỏ biến đổi còn phụ thuộc vào mùa vụ, tuổi gia cầm, sức sản xuất và điều kiện nuôi dưỡng Theo Ngô Giản Luyện (1994) dẫn theo Nguyễn Quý Khiêm [20] chỉ rõ lòng đỏ của trứng gà tươi là 0,40 – 0,42 Theo Trần Thế Dị (1984) [9] cho biết chỉ số lòng đỏ của trứng vịt lại là 0,410 – 0,414 Theo Nguyễn Quý Khiêm (2003) [20] chỉ số lòng đỏ giảm còn 0,33 chứng tỏ lòng đỏ đã bị biến dạng

Hệ số di truyền chất lượng lòng đỏ là 0,43 (Marco A.S, 1982) - trích theo Bạch Thị Thanh Dân (1998) [7] Vì vậy, nếu được chọn lọc nó sẽ cho kết quả ấp nở cao Chỉ số lòng đỏ ít biến đổi hơn lòng trắng, nó bị giảm còn 0,25 -

Trang 31

0,29 nếu tăng nhiệt độ môi trường và bảo quản lâu

Chất lượng lòng đỏ còn có một chỉ tiêu cần xác định đó là tỷ lệ lòng trắng/lòng đỏ Chỉ tiêu này càng hẹp chất lượng trứng càng tốt Tỷ lệ lý tưởng giữa lòng trắng và lòng đỏ từ 1,8 – 2,0 Orlov M.V (1974) - trích theo Bạch Thị Thanh Dân (1998) [7] cũng cho biết trứng có tỷ lệ lòng trắng/lòng đỏ nhỏ hơn 2 cho kết quả ấp nở tốt Lê Xuân Đồng (1985) [12], Trần Thế Dị (1984) [9] cho biết tỷ lệ lòng trắng/lòng đỏ của vịt Đồng Đăng là 1,45 và vịt lai là 1,314 – 1,370

Màu sắc của lòng đỏ phụ thuộc vào lượng sắc tố trong máu, lượng caroten trong thức ăn Nói chung màu lòng đỏ ổn định trong suốt thời gian đẻ nếu thay đổi thành phần và khẩu phần ăn, đặc biệt là khẩu phần nhiều caroten thì màu lòng đỏ cũng thay đổi đậm hơn Tuy nhiên, màu sắc không biểu hiện

đầy đủ giá trị dinh dưỡng của lòng đỏ mà chỉ là đặc điểm hấp dẫn người tiêu dùng

2.6.4.6 Khả năng thụ tinh và ấp nở

Kết quả thụ tinh hay tỷ lệ phôi là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của ngan trống và ngan mái Tỷ lệ phôi phụ thuộc vào tuổi, tỷ lệ trống mái trong đàn, mùa chăn nuôi, chế độ dinh dưỡng và chọn đôi giao phối

Tỷ lệ nở phụ thuộc vào tỷ lệ trứng có phôi, chất lượng trứng và chế độ

ấp là chỉ tiêu đánh giá sự phát triển phôi và sức sống của gia cầm non Hệ số

sinh sản là chỉ tiêu được quan tâm hàng đầu và lâu dài trong công tác giống gia cầm nhằm tăng số lượng và chất lượng con giống, các tính trạng sinh sản của chúng như: Tuổi đẻ quả trứng đầu, năng suất trứng, khối lượng trứng và tỷ

lệ ấp nở… ở những gia cầm khác nhau thì đặc điểm sinh sản khác nhau rất rõ rệt

Trang 32

-Tuổi thành thục sinh dục có ít nhất 2 gen tham gia vào yếu tố này là E

và B.Sauveur ngan có thể đẻ sớm 22 – 23 tuần tuổi, nhưng tốt nhất tuổi thành thục đẻ là 10% lúc 29 – 30 tuần tuổi, nếu đẻ trước 27 – 28 tuần tuổi là không tốt

hành, cường độ đẻ trứng càng cao thì sản lượng trứng cao và ngược lại

-Bản năng đòi ấp: Do 2 gen A và C điều khiển, phối hợp với nhau Nếu phản xạ đòi ấp mạnh thì năng suất trứng ít do thời gian đẻ trứng ngắn Theo King và Hauddersson (Trích theo Trần Đình Miên 1981) [23] hệ số di truyền của bản năng đòi ấp là 31% Tuy nhiên, nó còn phụ thuộc yếu tố ngoại cảnh như thức ăn, nhiệt độ cao, bóng tối, sự có mặt của gia cầm con… đều tạo điều kiện kích thích sự ham ấp và nghỉ đẻ

-Thời gian nghỉ đẻ: Do các gen M và m điều khiển, sự thay đổi lông của ngan là quá trình sinh lý tự nhiên Thời gian thay lông càng dài thì sản lượng trứng càng thấp Sức đẻ trứng giảm ngay sau khi ngan rụng lông

-Thời gian kéo dài của chu kỳ đẻ: Do cặp gen P và p điều hành, ngoài ra người ta còn chú ý đến vấn đề độ dài trật đẻ, độ dài trật đẻ càng dài thì sản lượng trứng tăng

Trang 33

+Yếu tố ngoại cảnh như chế độ dinh dưỡng, ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ, không khí của chuồng nuôi Nếu dinh dưỡng và chế độ chăm sóc không hợp lý

sẽ ảnh hưởng đến sản lượng trứng, tỷ lệ phôi, tỷ lệ nở, đến sức khỏe đàn bố

mẹ Yếu tố dinh dưỡng quan trọng ở đây là protein, vitamin sau đó đến muối khoáng một số chất có hoạt tính sinh học… Theo Nguyễn Đức Hưng (1981) [23] hàm lượng protein trong khẩu phần chứa 12% đã ảnh hưởng xấu đến kết quả ấp nở

Gia cầm rất mẫn cảm với nhiệt độ và ẩm độ Khi nhiệt độ thấp thì nhu cầu tiêu thụ thức ăn cao để dùng cho việc sưởi ấm, khi nhiệt độ cao thì giảm mức tiêu thụ thức ăn thì không đáp ứng được nhu cầu gia cầm Theo các nghiên cứu khi nhiệt độ môi trường thay đổi thì nhu cầu năng lượng thay đổi 1,4%, độ ẩm quá cao (>80) làm không thoát được khí độc trong chuồng nuôi dẫn đến chuồng nuôi ngột ngạt nếu kéo dài tình trạng này thì gia cầm sẽ bị

ảnh hưởng đường hô hấp Độ ẩm quá thấp (<30%) làm cho gia cầm mổ lông, cắn đuôi nhau gây ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sản xuất của gia cầm

Chế độ chiếu sáng là yếu tố bên ngoài quan trọng nhất ảnh hưởng đến sản lượng trứng với ngan đẻ chế độ chiếu sáng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính, cường độ đẻ trứng, trật đẻ Vì chế độ chiếu sáng ảnh hưởng

đến Hypothalamus

2.6.5 Sự phát triển của phôi thai ngan

Thực chất của quá trình ấp là dưới tác dụng của nhiệt độ, độ ẩm đã chuyển hóa các chất dinh dưỡng có trong trứng để cung cấp cho phôi phát triển Lòng đỏ, lòng trắng, vỏ là những vật chất được phôi sử dụng cho sự sinh trưởng phát triển Trong những ngày đầu phôi sử dụng protein của lòng đỏ, nước và muối khoáng của lòng trắng

Trong 48 giờ đầu tiên hình thành dải nguyên thủy, dải nguyên thủy xuất hiện như một vùng dày dọc theo trục dài của vùng sáng Phần giữa của dải

Trang 34

nguyên thủy nhìn sáng hơn vì có rãnh nguyên thuỷ đi theo nó Đầu mút sau của dải nguyên thuỷ nằm ở gần vùng mờ, ở đó có một cụm tế bào sẫm hơn tạo nên mút nguyên thuỷ sát với đầu trước của dải nguyên thuỷ là tế bào ngoại bì

mà sau này sẽ tạo thành não trước và mắt Não sau và tuỷ sống ở giai đoạn này phần lớn thuộc lá giữa tách khỏi giải nguyên thuỷ và tạo lớp tế bào nằm giữa lá ngoài và lá trong Trong vùng mờ, các tế bào lá giữa tập hợp thành các nhóm nhỏ, các đảo máu từ đó sau này tạo thành hồng cầu và một số mạch máu

Hệ thống thần kinh nguyên thủy xuất hiện dưới dạng tấm thần kinh dẹt cuộn lại thành các bờ thần kinh và mảng thần kinh Xoang của ruột trước được tạo nên bởi việc lõm xuống của nếp đầu lá trước cong về phía sau tạo thành túi lá trong Vùng sáng dài ra nhiều, còn trong vùng mờ thấy nhiều đảo máu gọi

là vùng mạch máu Các vùng nối với các mạch máu chính của phôi tạo nên một hệ thống mạch máu khép kín

Dây sống đã xuất hiện như một mái sợi chạy từ phần đầu cho đến dải nguyên thuỷ ống thần kinh gần như khép kín toàn bộ và phần đầu có thể phân biệt rõ 3 phần: Não trước nguyên thủy với các bóng mắt, não giữa và não sau nguyên thuỷ Thân bị uốn cong sao cho bên trái đầu và vùng cổ quay về phía noãn hoàng Phần trước phổi ở bên ngoài được phủ một lớp kép mỏng cấu tạo từ lá thai ngoài phôi và các lá thành của lá giữa ngoài phôi Lớp trong của nếp này sẽ tạo thành màng ối còn nếp ngoài sẽ tạo thành mạng đệm túi niệu

Các động mạch noãn hoàn xuất phát từ phôi đi vào vùng mạch, ở đó chúng phân ra thành rất nhiều nhánh và lớp lá giữa của thành túi noãn hoàng Máu từ thành túi noãn hoàng tập trung vào những tĩnh mạch noãn hoàng và trở

về tim Tuyến giáp và gan là những mầm dưới dạng túi lồi của ruột Nếp ối đã phủ lên phần đầu và thân còn nếp đuôi chỉ mới được tạo thành

Cụm tế bào, đặc biệt là dải nguyên thuỷ nằm ngay trước nếp đuôi nhưng

Trang 35

Hệ thống mạch máu gồm có thành động mạch chủ với màng bao cơ tim

có thành dày và màng trong tim có thành mỏng Động mạch chủ ngắn nối với tất cả các cung động mạch chủ, các cung này đi qua các cung tạng và nối với các động mạch chủ lưng

Phôi 72 giờ tuổi: Đặc trưng của sự phát triển ở giai đoạn này là sự biệt hóa tăng tiết các cấu trúc đã ở giai đoạn trước, đồng thời xuất hiện một vài cấu trúc mới

Phôi trở nên nặng hơn, vùng mạch máu tiếp tục lan đồng tâm rộng ra trên vùng túi noãn hoàn Màng ối phủ lên phôi hoàn toàn Túi niệu tạo nên túi lồi của ruột sau

Phần trước nhất của não – não trước – nằm cạnh tâm thất của tim và từ nóc của nó bắt đầu lồi lên 2 báo cầu đại não Phần tiếp sau của não – não trung gian – có 2 mắt nằm 2 bên, tiếp theo não giữa dưới dạng một mái bóng lớn có chỗ hơi thắt với não trung gian Não sau chuyển dần sang hành tuỷ ở thân phát triển lên hàng loạt các cấu trúc mới nằm ngay sau tim có chồi cánh, gần với mút sau của phôi thấy các chồi chi sau Ruột sau đã hình thành khá lớn Từ túi lồi của thành ruột sau tạo nên túi niệu, đuôi phát triển cong ở phía bong

Quá trình hình thành phát triển của phôi trứng ngan thời gian tiếp theo: Ngày 4: Bọc não biệt hóa thành các phần rõ rệt, tim bắt đầu hình thành các ngăn, lớp ngoài là biểu mô tạo thành màng bao cơ tim Các mạch máu

Trang 36

hình thành và thực hiện tuần hoàn đầy đủ Phôi tách khỏi lòng đỏ, màng ối

được khép kín Xuất hiện các mầm tuyến giáp, khí quản, phổi, dạ dày tuyến, dạ dày cơ và tụy

Ngày 5: Não phân biệt thành 5 phần với các khí quản Tủy sống được bao bởi lớp trung mô Kết thúc việc phôi tách khỏi lòng đỏ và sự chuyển động của phôi quay về phía trái Đây cũng là thời kỳ tạo ống ruột Từ chỗ trồi ra ở mặt bên của thành ruột sau đã hình thành túi niệu, túi này lớn dần như một cái bao bọc lấy phôi Hoạt động của túi niệu như là một túi chứa nước giải và cũng là cơ quan thở của phôi

Ngày 6: Đầu lớn lên rất nhanh, các phần não được phân chia rõ ràng Mắt đã có sắc tố, xuất hiện mầm phát triển tuyến diều, dạ dày, gan tăng về số lượng tế bào

Ngày 7: Cổ hoạt động, kích thước thân bắt đầu to dần lên, mỏ hình thành Túi niệu phát triển đến bề mặt phía trong của vỏ, mạng lưới mạch máu phát triển tràn ra và kiêm cả chức năng hô hấp Phần vùng mạch máu của túi lòng đỏ đã chiếm nửa lòng đỏ

Ngày 8 – 9: Xương sống hình thành sụn xung quanh tủy sống Dạ dày tuyến tăng nhanh về chiều dài, thể tích Đã có sự biệt hóa về tính dục

Ngày 10 – 12: Thực quản phân rõ 3 lớp áo, niêm mạc ruột xuất hiện lông nhung Phân biệt được giới tính, màng bắt đầu chuyển động, sự xương hóa đã xuất hiện ở các ngón chân

Ngày 13 – 15: Túi niệu bao tất cả chất chứa của trứng và mép của nó

đóng kín ở đầu nhọn Thân đã hoàn chỉnh và hoạt động Lòng trắng bắt đầu xâm nhập vào xoang ối và trở thành protein bổ xung cho phôi Cấu trúc và hình thái của phôi đã chuyển sang giai đoạn thai Ruột có nhiều nếp gấp, lông nhung thành ruột thấp, thận phân 2 ống rõ rệt Giai đoạn này là bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của phôi

Trang 37

Ngày 16 – 20: Niêm mạc thực quản có nếp gấp, dạ dày tuyến đã phân biệt rõ hai dạng tuyến: Hình ống và hình túi, số ống nhung ở ruột nhiều và mảnh

Ngày 21 – 28: Dinh dưỡng của thai nhờ noãn hoàng Các cấu trúc giai

đoạn này chủ yếu ở ruột, dạ dày, gan và các tuyến nhờn, có lông mao khắp thân, xương ngón, có mầm xương hàm, mí mắt còn nhắm

Ngày 29 – 32: Túi niệu bắt đầu to và túi noãn hoàng kéo ra, mắt đã mở Cấu trúc khí quản của bào thao cơ bản hoàn chỉnh không khác gì ngan con trước khi nở Sự biến đổi hoàn chỉnh của thai giai đoạn này chuẩn bị chuyển chức năng hô hấp và trao đổi khí về phổi Lòng đỏ thu toàn bộ vào xoang bụng, ngan con đã xoay chiều thuận về hướng buồng khí Ngày thứ 30 – 31 bắt đầu có tiếng kêu và mổ vỏ

2.7 Cơ sở khoa học của sinh trưởng và phát triển

Sinh trưởng trước hết là quá trình phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào

để tạo nên sự sống

Sinh trưởng chính là sự tích lũy các chất, chủ yếu là protein, nên tốc độ

và khối lượng các chất, tốc độ và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt

động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên và cộng sự, 1992) [24]

Tuy nhiên, có khi tăng trọng không phải là sinh trưởng (chẳng hạn béo chủ yếu là do tích nước không có sự phát triển của mô cơ) Sự sinh trưởng thực

sự phải là các tế bào của mô cơ tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều Vậy cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm 2 quá trình: Tế bào sinh sản và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính Tất cả các đặc tính của gia súc, gia cầm như ngoại hình, sức sản xuất, thể chất đều không phải đã sẵn có trong tế bào sinh dục, trong phôi cũng không phải đầy đủ khi hình thành và hoàn chỉnh

Trang 38

suốt trong quá trình sinh trưởng tuy là một sự tiếp tục, thừa hưởng các đặc tính

di truyền của bố mẹ nhưng hoạt động mạnh hay yếu còn do tác động của môi trường

Sinh trưởng là một quá trình sinh học phức tạp, duy trì từ khi phôi thai

được hình thành đến khi con vật thành thục về tính Để có được các số đo chính xác về sinh trưởng ở từng thời kỳ không phải là sự dễ dàng Chambers J.R (1990) [54] Khi nghiên cứu về sinh trưởng không thể không nói đến phát dục, phát dục là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các chất, chức năng của bộ phận cơ thể Phát dục của cơ thể con vật bắt nguồn từ khi trứng thụ tinh trải qua các giai đoạn phức tạp đến khi trưởng thành Quá trình sinh trưởng và phát dục luôn tồn tại song song với nhau trong từng cơ thể sống Với gia cầm sinh trưởng, phát triển, phát dục của phôi thai là sự lập lại tất cả các chi tiết cấu tạo cơ thể gia cầm trưởng thành Quá trình này gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn phôi thai và giai đoạn sau khi nở

Giai đoạn phôi thai sau khi trứng rụng được thụ tinh ở loa kèn thì hợp tử bắt đầu phân chia thành phôi bì Thời kỳ này phôi phát triển theo từng nhóm tế bào nhưng chưa phân hóa và chưa mang đặc điểm của tổ chức ở giai đoạn này phôi nằm ở phía trên lòng đỏ, tiếp xúc trực tiếp với lòng đỏ, ở thời kỳ này phôi phát triển được là do lấy ôxy và dinh dưỡng từ lòng đỏ nhờ sự phá vỡ các liên kết hóa học trong lòng đỏ Sự phát triển mạnh mẽ đến thời kỳ phôi vị trứng được đẻ ra ngoài cơ thể mẹ, các điều kiện môi trường thay đổi thì phôi lại tiếp tục phân hóa tế bào để tạo thành các cơ quan, bộ phận cho cơ thể gia cầm con Vậy khi trứng gia cầm đẻ ra phải coi trứng như một cơ thể sống và

có chế độ bảo quản thích hợp để cho phôi tiếp tục phát triển

Còn với giai đoạn sau khi nở, khi gia cầm con mới nở ra nó đồng thời chịu sự thay đổi của các điều kiện ngoại cảnh như: nhiệt độ, ẩm độ, dinh dưỡng… nên gia cầm con cần có sự chăm sóc tốt Đặc biệt gia cầm con rất

Trang 39

nhạy cảm với nhiệt độ, khi gia cầm con mới nở da thân nhiệt không ổn định nên không tự điều chỉnh thân nhiệt được và như thế nó phụ thuộc rất nhiều vào

tỷ lệ chết của gia cầm con lên tới 35 – 40%, những con sống sót thì sau này trở lên còi cọc, chậm lớn

Giai đoạn này gia cầm con có quá trình sinh trưởng rất nhanh nhưng các cơ quan vẫn chưa hoàn thiện nhất là bộ máy tiêu hóa, vì vậy việc chăm sóc gia cầm con cần chú ý hết sức về khẩu phần ăn và cách chăm sóc Trong giai đoạn này gia cầm con diễn ra quá trình thay toàn bộ lông tơ thành lông trưởng thành nên cần chú ý bổ sung các axit amin chứa lưu huỳnh

Sinh trưởng là một quá trình sinh học phức tạp, duy trì từ khi phôi thai

được hình thành đến khi con vật thành thục về tính Để có được các số đo chính xác về sinh trưởng ở từng thời kỳ không phải là sự dễ dàng (chambers J.R 1990) các nhà làm giống luôn có xu hướng đơn giản hóa và thực tế hóa các phép đo đó là:

+Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát (T.C.V.N, 2.39, 1977) [46], sinh trưởng tuyệt đối thường tính bằng gam/ngày hoặc gam/con/tuần Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng Parabol, giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn

+Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ phần trăm tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích cơ thể, lúc kết thúc khảo sát so với đầu khảo sát (TCVN, 2.40, 1997) [47] Đồ thị sinh trưởng có dạng Hyperbol, ngan còn non có tốc độ sinh trưởng tương đối tăng sau đó giảm dần theo tuổi

+Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng không chỉ biểu hiện tốc độ sinh trưởng của ngan mà cả của gia cầm nói chung

Trang 40

ngan thịt có 4 đặc điểm chính, gồm 4 pha:

-Pha sinh trưởng tích lũy tăng tốc nhanh sau khi nở

-Điểm uốn các đường cong tại thời điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất -Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn

-Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi ngan trưởng thành

Thông thường người ta sử dụng khối lượng cơ thể ở các tuần tuổi thể hiện bằng đồ thị sinh trưởng tích lũy cũng cho biết một cách đơn giản nhất về

đường cong sinh trưởng

Theo Trạm Nghiên cứu gia cầm – Sở Động vật chân màng – Viện Nghiên cứu Nông nghiệp quốc gia Pháp, tốc độ phát triển của ngan trống và ngan mái từ sơ sinh trở đi rất khác nhau Trọng lượng con cái so với trọng lượng con đực là 100% khi mới nở, đến 70 ngày tuổi là 58% Giới tính ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, khối lượng của con đực và con cái Sự khác nhau được giải thích thông qua gen liên kết giới tính Các gen này tác động mạnh hơn ở con trống với 2 nhiễm sắc thể giới tính hoặc con trống tiết A.drogen làm cho quá trình trao đổi chất mạnh hơn cho nên tốc độ sinh trưởng của con trống lớn hơn con mái Thông thường gà, vịt có khối lượng con trống lớn hơn con mái 50 – 70%, ngỗng 20 – 30%

Tốc độ sinh trưởng phát dục của ngan đạt cao nhất lúc 2 – 7 tuần tuổi với con cái và 2 – 8 tuần tuổi với con đực Trong khoảng thời gian này con cái

có thể tăng trọng 400g và con đực 800g trong 1 tuần sau đó tốc độ sinh trưởng chậm đi và dừng lại ở tuần thứ 9 với con cái, tuần thứ 10 với con đực Phương pháp chăn nuôi theo kiểu giới tính tách biệt sẽ có lợi về mặt kỹ thuật và mang lại hiệu quả kinh tế Vì vậy, muốn đạt được mục đích này các nhà kỹ thuật phải biết phân biệt giới tính, cụ thể theo Lê Thị Thúy và cộng sự (1995) [30] cho thấy ngan có cường độ sinh trưởng rất mạnh, so với lúc sơ sinh, sau 4 tuần

Ngày đăng: 02/08/2013, 16:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ân (1979), Nghiên cứu một số tính trạng di truyền về năng suất của vịt bầu ở một số địa phương vùng đồng bằng Miền Bắc Việt Nam, Luận văn Phó Tiến sĩ Sinh học, trang 19 – 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số tính trạng di truyền về năng suất của vịt bầu ở một số địa ph−ơng vùng đồng bằng Miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ân
Năm: 1979
2. Nguyễn Ân (1979), Nghiên cứu một số tính trạng về năng suất của vịt bầu ở một số địa phương Miền Bắc Việt Nam, Luận án PTS Khoa học Sinh học, trang 30 – 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số tính trạng về năng suất của vịt bầu ở một số địa ph−ơng Miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ân
Năm: 1979
3. Brandsch. H, Biichel.H (1978), Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi d−ỡng gia cầm, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Nông nghiệp, trang 151 – 158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi d−ỡng gia cầm
Tác giả: Brandsch. H, Biichel.H
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Nông nghiệp
Năm: 1978
4. Cacvin Dơ.H, Crut Dơ A (1985), Ngan – vịt. Ng−ời dịch Nguyễn Hữu Thanh, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, trang 67 – 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngan – vịt
Tác giả: Cacvin Dơ.H, Crut Dơ A
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 1985
5. Trần Thị C−ơng (2003), Nghiên cứu khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa 2 dòng ngan Pháp R51 và siêu nặng, Luận văn Thạc sĩ Khoa học nông nghiệp – Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, trang 40-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa 2 dòng ngan Pháp R51 và siêu nặng
Tác giả: Trần Thị C−ơng
Năm: 2003
6. Trần Thị C−ơng (2003), Nghiên cứu khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa 2 dòng ngan Pháp R51 và siêu nặng, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp – Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam, trang 67-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa 2 dòng ngan Pháp R51 và siêu nặng
Tác giả: Trần Thị C−ơng
Năm: 2003
7. Bạch Thị Thanh Dân (1998), Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nở trứng ngan bằng ph−ơng pháp ấp trứng nhân tạo, Luận văn Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam – Trang 11 – 13. 36- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh h−ởng đến tỷ lệ nở trứng ngan bằng ph−ơng pháp ấp trứng nhân tạo
Tác giả: Bạch Thị Thanh Dân
Năm: 1998
8. Bạch Thị Thanh Dân và cộng sự (1998), Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật gia cầm và động vật mới nhập 1989 – 1999, Nhà xuất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật gia cầm và động vật mới nhập 1989 – 1999
Tác giả: Bạch Thị Thanh Dân và cộng sự
Năm: 1998
9. Trần Thế Dị (1984), Lai kinh tế vịt Anh Đào x vịt cỏ, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, trang 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lai kinh tế vịt Anh Đào x vịt cỏ
Tác giả: Trần Thế Dị
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam
Năm: 1984
10. Dơcacvin H, Dơcrut A (1978), Ngan vịt (ng−ời dịch Đào Hữu Thanh, D−ơng Công Thuận, Mai Phụng,1985), Nhà xuất bản Nông nghiệp, trang 34 – 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngan vịt
Tác giả: Dơcacvin H, Dơcrut A
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1978
11. Nguyễn Huy Đạt (1991), Nghiên cứu một số tính trạng năng suất của dòng gà thuần bộ giống Leghoru trắng nuôi trong điều kiện Việt Nam, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp, trang 109 – 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số tính trạng năng suất của dòng gà thuần bộ giống Leghoru trắng nuôi trong điều kiện Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt
Năm: 1991
12. Lê Xuân Đồng (1985), Khảo sát chất l−ợng trứng ấp của các giống vịt, Trung t©m KHKT CN2, 1985 – Trang 5 – 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát chất l−ợng trứng ấp của các giống vịt
Tác giả: Lê Xuân Đồng
Năm: 1985
13. H.Brandche, H. Bulchel (1978), Cơ sở của sự nhân giống và di truyền giống gia cầm (Nguyễn Chí Bảo, dịch), Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, trang 22 – 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của sự nhân giống và di truyền giống gia cầm
Tác giả: H.Brandche, H. Bulchel
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 1978
14. Nguyễn Mộng Hùng (1993), Bài giảng sinh học phát triển, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, trang 55 – 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sinh học phát triển
Tác giả: Nguyễn Mộng Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
Năm: 1993
15. Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Thị Mai và cs (1994), Chăn nuôi gia cầm, Nhà xuất bản Nông nghiệp, trang 99 – 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Thị Mai và cs
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1994
16. Nguyễn Mạnh Hùng (2003), Kinh tế – xã hội Việt Nam h−ớng tới chất l−ợng tăng tr−ởng hội nhập phát triển bền vững, Nhà xuất bản Thống kê - Hà Nội, trang 8 – 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế – xã hội Việt Nam h−ớng tới chất l−ợng tăng tr−ởng hội nhập phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê - Hà Nội
Năm: 2003
17. Nguyễn Đức H−ng (1981), Nghiên cứu các tổ hợp lai giữa gà nhập nội với gà ri, Luận văn khoa học cấp I - Đại học Nông nghiệp II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các tổ hợp lai giữa gà nhập nội với gà ri
Tác giả: Nguyễn Đức H−ng
Năm: 1981
18. Nguyễn H−ng (1996), Khả năng sản xuất con lai xa giữa ngan với vịt ở nông thôn Miền Bắc Việt Nam, Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp – Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất con lai xa giữa ngan với vịt ở nông thôn Miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn H−ng
Năm: 1996
19. Đỗ Văn Hoan (2004), Nghiên cứu khả năng sản xuất của ngan Phảp R51, Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp – Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, trang 23, 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Văn Hoan (2004), Nghiên cứu khả năng sản xuất của ngan Phảp R51
Tác giả: Đỗ Văn Hoan
Năm: 2004
20. Nguyễn Quý Khiêm (2003), Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở trứng gà Tam Hoàng, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp – Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, trang 20-21, 30 – 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh h−ởng đến kết quả ấp nở trứng gà Tam Hoàng
Tác giả: Nguyễn Quý Khiêm
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Số l−ợng gia cầm và ngan, vịt đ−ợc chăn nuôi ở tỉnh Bắc Ninh  và huyện Yên Phong giai đoạn 1997 – 2004 - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.1 Số l−ợng gia cầm và ngan, vịt đ−ợc chăn nuôi ở tỉnh Bắc Ninh và huyện Yên Phong giai đoạn 1997 – 2004 (Trang 61)
Bảng 4.2: Tuổi thành thục của ngan Pháp dòng mẹ R51 phối với đực R71 - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.2 Tuổi thành thục của ngan Pháp dòng mẹ R51 phối với đực R71 (Trang 65)
Bảng 4.3: Khối l−ợng cơ thể ngan Pháp bố, mẹ trong giai đoạn sinh sản  Trèng R71 (n = 20)  Mái R51 ( n = 45) - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.3 Khối l−ợng cơ thể ngan Pháp bố, mẹ trong giai đoạn sinh sản Trèng R71 (n = 20) Mái R51 ( n = 45) (Trang 66)
Bảng 4.4: Tỷ lệ đẻ và sản l−ợng trứng giống  TuÇn - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.4 Tỷ lệ đẻ và sản l−ợng trứng giống TuÇn (Trang 68)
Đồ thị 4.1: Tỷ lệ đẻ qua các tuần tuổi - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
th ị 4.1: Tỷ lệ đẻ qua các tuần tuổi (Trang 69)
Bảng 4.5: Hiệu quả sử dụng thức ăn  Tuần tuổi  n - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.5 Hiệu quả sử dụng thức ăn Tuần tuổi n (Trang 71)
Bảng 4.6: Khối l−ợng trứng ngan  qua các tuần tuổi. - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.6 Khối l−ợng trứng ngan qua các tuần tuổi (Trang 73)
Bảng 4.7: Chỉ số hình dạng trứng ngan. - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.7 Chỉ số hình dạng trứng ngan (Trang 76)
Bảng 4.8: Chất l−ợng trứng ngan(n = 60) - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.8 Chất l−ợng trứng ngan(n = 60) (Trang 77)
Bảng 4.9: Kết quả ấp nở trứng ngan qua các đợt ấp - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.9 Kết quả ấp nở trứng ngan qua các đợt ấp (Trang 80)
Bảng 4.10: Khối l−ợng ngan Pháp lai th−ơng phẩm (bố R71 x mẹ R51) - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.10 Khối l−ợng ngan Pháp lai th−ơng phẩm (bố R71 x mẹ R51) (Trang 82)
Đồ thị 4.2: Khối l−ợng ngan Pháp lai th−ơng phẩm (bố R71 x mẹ R51) - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
th ị 4.2: Khối l−ợng ngan Pháp lai th−ơng phẩm (bố R71 x mẹ R51) (Trang 83)
Bảng 4.11: Tốc độ sinh trưởng ngan Pháp lai (bố 71 x mẹ R51) - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.11 Tốc độ sinh trưởng ngan Pháp lai (bố 71 x mẹ R51) (Trang 84)
Đồ thị 4.3. Tốc độ sinh trưởng ngan Pháp lai (bố R71 x mẹ R51) - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
th ị 4.3. Tốc độ sinh trưởng ngan Pháp lai (bố R71 x mẹ R51) (Trang 85)
Đồ thị 4.4:  Sinh trưởng tương đối của ngan Pháp lai (bố R71 x mẹ R51) - Đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại một số vùng phụ cận hà nội
th ị 4.4: Sinh trưởng tương đối của ngan Pháp lai (bố R71 x mẹ R51) (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w