1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội

120 863 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kỹ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở Hà Nội và một số vùng phụ cận
Tác giả Vũ Thị Phượng
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Ngọc Thuận
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

trường đại học nông nghiệp i

-

Vũ thị phượng

Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan

và một số biện pháp kỹ thuật nuôi trồng lan Hồ điệp ở Hà Nội và một số vùng phụ cận

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ3 đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đ3 đ−ợc chỉ

rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Vũ Thị Ph−ợng

Trang 3

Lời cảm ơn

Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- PGS.TS Hoàng Ngọc Thuận, người hướng dẫn khoa học trực tiếp đ1

đóng góp nhiều ý kiến quan trọng từ những bước nghiên cứu ban đầu và cả trong quá trình thực hiện viết luận văn

- Tập thể các thầy cô giáo Khoa Nông học, đặc biệt các thầy cô trong

bộ môn Rau - Hoa - Quả – Trường Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội đ1 trực tiếp đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tác giả hoàn thành luận văn này

- Cảm ơn các nhà Khoa học trong ngành, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đ1 động viên giúp đỡ tôi trong quá trình công tác và học tập

Tác giả luận văn

Vũ Thị Phượng

Trang 4

Môc lôc

Trang 5

4.2 Khảo sát đánh giá một số loài Lan rừng chính đang được trồng phổ

4.3 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá thể đến

4.4 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của 1 số loại phân bón đến giai

4.5 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ bón phân pomior

4.6 Thí nghiệm 4:Thăm dò điều khiển ra hoa lan Hồ điệp bằng xử lý

4.7.Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón đến chất

Trang 6

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 7

Danh mục các bảng

Bảng 4.2: Một số loài Lan đang được nuôi trồng phổ biến ở Hà Nội và

Bảng 4.4a: Một số đặc điểm chính của các loài thuộc chi lan kiếm được

Bảng 4.4b: Một số đặc điểm lá của các loài lan kiếm được nuôi trồng

Bảng 4.4c: Một số đặc điểm cấu trúc hoa của các loài thuộc chi lan kiếm

Bảng 4.5a: Một số đặc điểm chính của các loài phong lan rừng được

Bảng 4.5b: Một số đặc điểm lá của các loài phong lan rừng được nuôi

Bảng 4.6a: Một số đặc điểm chính của các loài lan hài được nuôi trồng

Bảng 4.7: ảnh hưởng của một số loại giá thể đến động thái tăng trưởng

thân của lan hồ điệp (cây 6 tháng tuổi) Loài P.amabilis và P.Happy

Trang 8

Bảng 4.8: ảnh hưởng của 1 số loại giá thể tới động thái ra rễ cuả lan hồ

Bảng 4.9: ảnh hưởng của một số loại giá thể tới động thái tăng trưởng lá

hồ điệp ở 2 loài P.amabilis và P Happy Valentine ( Cây ở vườn sản

Bảng 4.10 ảnh hưởng của một số loại giá thể đến năng suất và giá trị

Bảng 4.11: ảnh hưởng của 1 số loại phân bón đến động thái tăng trưởng

Bảng 4.12: ảnh hưởng của 1 số loại phân bón đến động thái tăng trưởng

Bảng 4.13: ảnh hưởng chế độ bón phân đến động thái tăng trưởng đường

Bảng 4.14: ảnh hưởng của chế độ bón phân đến động thái tăng trưởng

Bảng 4.16: ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ đến sự ra hoa của lan hồ

Trang 9

Danh mục các biểu đồ

Biểu đồ 4.2: ảnh hưởng của một số loại giá thể đến động thái tăng

Biểu đồ 4.3 : ảnh hưởng của một số loại giá thể đến động thái tăng

trưởng thân của lan hồ điệp (cây 6 tháng tuổi) Loài P.Happy

Biểu đồ 4 4: ảnh hưởng của 1 số loại phân bón đến động thái tăng

Biểu đồ 4.5: ảnh hưởng của 1 số loại phân bón đến động thái tăng trưởng

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm gần đây, cùng với những thành tựu to lớn đạt được trong sản xuất nông nghiệp, ngành sản xuất hoa lan cũng có những bước tiến đáng

kể, năng suất cũng như quy mô phát triển hoa lan của các nước trên thế giới không ngừng tăng lên và tiềm năng phát triển mạnh mẽ nhất là ở các nước châu á, châu Phi và châu Mỹ La tinh ở một số nước trên thế giới, ngành trồng hoa cây cảnh nói chung, hoa lan nói riêng đang là một ngành sản xuất công nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế lớn

Hoa lan thực sự đ3 trở thành sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, nó thúc đẩy ngành sản xuất kinh doanh phát triển mạnh mẽ Đặc biệt là các nước thuộc châu á nhiệt đới như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia… Trong đó Thái Lan có kim ngạch xuất khẩu hoa lan cắt cành năm 1987 là 21 triệu USD, năm 1990 là 26 triệu USD, năm 1991 là 30 triệu USD Singapore thu lợi nhuận từ lan cắt cành mỗi năm 10 triệu USD Kim ngạch xuất khẩu hoa lan trên thế giới hàng năm đạt 1,8 tỷ USD (Theo Phan Thúc Huân-1989)[12]

ở Việt Nam, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, x3 hội, nhu cầu sử dụng hoa nói chung, hoa lan nói riêng cũng tăng nhanh Hoa không chỉ dùng trong những dịp lễ tết như trước đây mà nhu cầu về hoa trong cuộc sống thường ngày của người dân cũng rất lớn Bên cạnh nhu cầu về số lượng, thì chất lượng cũng đòi hỏi ngày càng cao Qua thống kê cho thấy, các loài hoa chất lượng cao xuất hiện trên thị trường đặc biệt là hoa lan chủ yếu là được nhập về từ Đài Loan, úc, Trung Quốc, Thái

Trang 11

Lan… qua con đường tiểu ngạch và được tiêu thụ mạnh nhất ở các đô thị, thành phố lớn Điều đó cho thấy, sản xuất hoa ở Việt Nam nói chung và sản xuất hoa lan nói riêng chưa đáp ứng được thị hiếu của người dân Chủng loại giống hoa còn ít, kỹ thuật trồng hoa còn yếu nên năng suất và chất lượng chưa cao

Việt Nam là quốc gia mà hệ thống rừng có độ che phủ lớn, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, thời tiết 4 mùa thay đổi, mùa nắng mưa nhiều, độ

ẩm cao, mùa lạnh ít mưa rất phù hợp với nhu cầu sinh thái của các loài lan, chính vì vậy mà chủng loại lan rừng Việt Nam rất phong phú Hầu hết các cây lan rừng (lan nguyên thuỷ) tập trung ở các khu rừng nhiệt đới ẩm ướt Trong

đó, có một số giống mang giá trị thẩm mỹ cao, đó là nguồn gen quý, là cơ sở cho việc tạo những giống lan mới có giá trị góp phần cho việc phát triển ngành công nghiệp hoa lan hiện đại sau này Bên cạnh những thuận lợi, nước ta còn

có những khó khăn do nạn phá rừng ngày một gia tăng, khai thác lan rừng tràn lan, nạn cháy rừng luôn đe doạ và rình rập đ3 làm nhiều loài lan có nguy cơ bị tiệt chủng

Trong mười năm gần đây một số loài lan lai đ3 được nhập nội : cát lan (Cattleya), hồ điệp (Phalaenopsis), hoàng thảo (Dendrobium), vũ nữ (Oncidium), lan kiếm( Cymbidium) … trong đó lan hồ điệp (Phalaenopsis) là một loại lan, được xếp vào bậc nhất Lan hồ điệp, hoa to, hình dáng đẹp, nhiều màu sắc, lâu tàn, có hoa quanh năm và dễ trồng, gọn nhẹ dễ vận chuyển Với những đặc điểm trên, lan hồ điệp được nhiều người ưa chuộng và cũng vì vậy

mà việc nuôi trồng của các nhà trồng lan Đài Loan, Nhật Bản, Mỹ, Hà Lan…

đ3 trở thành công nghệ với sản lượng hàng chục triệu cây mỗi năm Do đó giá lan hồ điệp không còn quá cao, phù hợp với mọi đối tượng tiêu dùng Mặt khác, trong quá trình nuôi trồng thử nghiệm, các loài lan lai tại Hà Nội cũng như thị trường tiêu thụ dễ nhận thấy lan lai hồ điệp có khả năng phát triển mạnh theo quy mô công nghiệp hơn các loài lan khác vì chúng dễ thích nghi

Trang 12

với các điều kiện sinh thái khí hậu của miền Bắc nói chung, Hà Nội nói riêng

và có hiệu quả kinh tế

Bên cạnh đó việc thu hái lan rừng, trao đổi và thuần dưỡng lan ở Hà Nội ngày càng đẩy mạnh Nhiều loài lan mới được phát hiện, nhiều loài lan phù hợp được nuôi trồng rộng r3i hơn Hiểu biết về lan nhập nội cũng như hiểu biết về lan rừng trong người dân ngày càng cần được nâng cao về nhiều mặt: phân loại, phân bố, sinh thái cũng như điều kiện nuôi trồng thích hợp để tiến tới mục đích duy trì sự phát triển ổn định lâu dài của nghề trồng lan

Hiện nay, nghiên cứu về khoa học ở nước ta chủ yếu tập trung nghiên cứu nhân nhanh các giống hoa lan nhiệt đới Nhưng kỹ thuật nuôi trồng trên quy mô công nghiệp thì hầu như còn ít Chưa có những nghiên cứu về kỹ thuật trồng, chọn những loài lan rừng thích hợp với điều kiện khí hậu Hà Nội nói riêng miền Bắc nói chung Để phát triển lâu dài bền vững thì các chủng loại lan rừng Việt Nam cần được nghiên cứu nhằm bảo tồn nguồn gen để phục

vụ cho việc lai tạo lan trong tương lai, tạo ra những loài lan đặc hữu chỉ có ở Việt Nam Mặt khác cần hoàn thiện nhanh chóng qui trình nuôi trồng lan công nghiệp nhằm đáp ứng thị trường trong nước cũng như dần hướng tới thị trường xuất khẩu

Xuất phát từ yêu cầu thực tế khách quan trên cũng như góp phần phát triển ngành nuôi trồng hoa lan ở Hà Nội, chúng tôi đ3 tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kỹ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở Hà Nội và một số vùng phụ cận”

1.2 Mục đích, yêu cầu

Trang 13

1.2.2.Yêu cầu

- Xác định được những chủng loại lan rừng cho năng suất chất lượng cao phù hợp với điều kiện sinh thái ở Hà Nội

- Xác định loại giá thể phù hợp với sinh trưởng phát triển của lan hồ

điệp trên quy mô công nghiệp

- Xác định chế độ bón phân thích hợp cho từng giai đoạn sinh trưởng của lan hồ điệp

- Thăm dò điều khiển ra hoa lan hồ điệp bằng xử lý nhiệt độ thấp

- Xác định loại phân bón để nâng cao năng suất chất lượng hoa lan hồ

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học về cây lan 1.3.2 ý nghĩa thực tiễn

- Toàn bộ kết quả nghiên cứu được vận dụng vào thực tiễn nuôi trồng lan hồ điệp, phục vụ thiết thực cho ngành sản xuất hoa lan ở Hà Nội và miền Bắc Việt Nam

- Tạo ra mô hình kiểu mẫu để chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong vùng nông nghiệp đô thị và ven đô

Trang 14

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Giới thiệu chung về cây hoa lan

2.1.1 Nguồn gốc lịch sử - vị trí phân bố - phân loại và đặc điểm thực vật học cây hoa lan

2.1.1.1 Nguồn gốc lịch sử

Cây hoa lan được biết đến đầu tiên ở Phương Đông Nói về hoa lan, phải nói đến người Trung Hoa, họ đ3 biết về lan vào khoảng 2500 năm về trước tức là ở thời đại của Đức Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) ở Phương Đông lan được chú ý đến vì vẻ đẹp duyên dáng của lá, hương thơm tuyệt vời của hoa, vì vậy Khổng Tử đề cao lan là Vua của những loài cỏ cây có hương thơm

Hoa lan, đa số thường mọc tại các vùng nhiệt đới nó đ3 được các thuỷ thủ, các lái buôn, nhà truyền giáo… mang về nên người châu Âu biết đến rất muộn, lan được chú ý trước hết để làm thuốc chữa bệnh ở đây người ta đ3 tiến hành nghiên cứu rất công phu tỉ mỉ về lan Có thể nói Theophara stus (376 -285 trước công nguyên) là cha đẻ ngành học về lan và ông cũng là người đầu tiên dùng từ Orchid để chỉ một loài lan có củ tròn Sau đó Robut Bron (1773-1858) là người đầu tiên đ3 phân biệt rõ ràng giữa họ lan và các họ khác (dẫn theo Trần Hợp 1990) [10] Đặt nền tảng hiện đại cho môn học về lan là John Lindley (1799-1865) Năm 1836 ông công bố sắp xếp các tông họ lan (A tabuler view of the tribes of orchidaler) Tên của họ là do ông đưa ra được dùng cho đến ngày nay (dẫn theo Trần hợp 1990) [10]

ở Việt Nam, dấu vết những nghiên cứu về lan ở buổi đầu không rõ rệt lắm, có lẽ người đầu tiên khảo sát về lan là nhà truyền giáo Bồ Đào Nha Joanisde Loureiro đến Nam kỳ vào năm 1743, ông sống ở đây 36 năm và đ3

Trang 15

mô tả cây lan Việt Nam trong cuốn “Flora de cochin chinesis’’ (1789) Trong tài liệu này có những loài hoa lan Aerides (giáng xuân hay giáng hương) và thrix spermum (Mao tử) Phaius và Sarcopodium mà đ3 được Ben Than và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera Plantarum” (1862-1883) (dẫn theo Nguyễn Hữu Huy – Phan Ngọc Cấp, 1995) [ 13] Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam thì mới có những công trình nghiên cứu được công bố đáng kể là Gagnedepain và Guillaumin, các tác giả đ3 mô tả 101 giống gồm 750 loài lan cho cả 3 nước Đông dương trong bộ “ Thực vật chí Đông dương” do Lecomte chủ biên, xuất bản từ những năm 1932-1934

Năm 1972, giáo sư Phạm Hoàng Hộ trong bộ “Cây cỏ Việt Nam” (quyển II ) đ3 mô tả kèm hình vẽ 289 loài lan gặp ở Nam Việt Nam

Sau năm 1975 các nhà khảo cứu Việt Nam, Liên Xô, Tiệp Khắc bắt đầu tìm kiểm và nghiên cứu về những giống lan tại Việt Nam

Năm 1992, giáo sư Gunnar Seidenfaden người Đan Mạch đ3 phát hành cuốn “Hoa Lan tại Đông dương” gồm 200 giống và 2000 loài, trong đó có khoảng 136 giống và 720 loài của Việt Nam

Đến năm 1993 theo giáo sư Phạm Hoàng Hộ, ở Việt Nam có tới 755 loài lan (Cây cỏ Việt Nam –quyển III, tập 2,1992) [8]

Gần đây nhất giáo sư Leonid Averyanov (người Nga) và các giáo sư Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Dương Đức Huyến đ3 lần lượt công bố trên

tờ nguyệt san Orchids của Hội hoa lan Hoa Kỳ những khám phá mới lạ đ3 phát hiện thấy 4 loài lan ở Việt Nam chưa được biết đến đó là Paphio pledilum helenae, Renamthera citrina, Paphiopedilum hiepii và Vanda bidupensis

2.1.1.2 Vị trí phân bố

Cây hoa lan mọc ở khắp mọi nơi trên thế giới, từ miền gió tuyết đến

sa mạc nóng bỏng khô cằn, từ miền núi cao rừng thẳm đến đồng cỏ của miền bình nguyên và ngay cả các vùng sình lầy cũng có lan Đa số lan mọc tập

Trang 16

trung ở các rừng cây nhiệt đới, ở các nước châu á như Thái Lan, Lào, Cam Pu Chia, Việt Nam… có Dendrobium, Vanda, Phalaenopsis, Archinis, Renanthera, ở Châu Nam Mỹ như Costarica, Venezuela, Colombia… có các giống Cattleya, Odontoglosum, Miltonia…

Theo Briger (1971), vùng trung sinh Bắc bán cầu có 75 chi và 900 loài, vùng trung sinh Nam bán cầu có 40 chi và 500 loài, toàn châu Âu có 120 loài, Bắc Mỹ có 170 loài Họ lan (Orchidaceac) thuộc vào một loài hoa đông đảo với khoảng chừng 750 chi và 30.000 loài nguyên thủy và khoảng một triệu loài lai ; là loài hoa có số lượng lớn đứng thứ 2 sau họ cúc (Asteraceac)

Theo Presley (1981) thì vùng châu á nhiệt đới có 250 chi và 6800 loài trong đó chi Dendrobium có 1400 loài, chi Coelogyne có 200 loài, chi Phalaenopsis có 35 loài, chi Vanda có 60 loài, vùng châu Mỹ nhiệt đới có 306 chi và 8266 loài, chi Cattleya có 60 loài, chi Epidendrum có 500 loài, chi Odontoglossum có 200 loài.Vùng châu Mỹ nhiệt đới có 306 chi và 8266 loài Trên thế giới có một số nước tập trung nhiều loài hoa như Colombia có 1300 loài và Tân Ghinê có 1450 loài, (Phan Thúc Huân-1989).[12]

Khảo sát sơ bộ ở Việt Nam, chi Dendrobium có khoảng 89 loài, Paphiopedilum có 25 loài, Aerides có 5 loài, chi Cymbidium có 20 loài, chi Phalaenopsis có 7-8 loài…

2.1.1.3 Phân loại hoa lan

Theo các tác giả Trần Hợp 1990 [10], Nguyễn Tiến Bân 1997 [6], Vô Văn Chi – Dương Đức Tiến 1978 [2], Phạm Hoàng Hộ (1992)[8], Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh (1991 [3] và Koopowitz (1986)[33], cây hoa lan thuộc họ lan (Orchidaceae), ở trong lớp đơn tử diệp, lớp 1 lá mầm (Monocotyledoneae), thuộc ngành ngọc lan - thực vật hạt kín Magnolio phyta, phân lớp hành Lilidae, bộ lan Orchidales

Theo Takhtajan (1980), họ lan bao gồm cả họ Apostasicideae và họ

Trang 17

Cypripedicideae chia thành 3 họ phụ khá minh bạch :

Gần đây, do phân tích hoa đầy đủ hơn và đi sâu vào đặc tính di truyền,các nhà khoa học đ3 chia họ lan thành 6 họ phụ:

có các khoá phân loại cho các đơn vị dưới loài, trong khi đó việc phân loại cho các đơn vị dưới loài lại hết sức quan trọng, nhất là trong công tác chọn giống cây trồng (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) [18], đối với họ lan cũng gặp những khó khăn này

2.1.1.4 Đặc điểm thực vật học của cây hoa lan

Họ lan (Orchidadeae) là một loại hết sức phong phú và phức tạp, nhiều

Trang 18

người lầm tưởng tất cả các loài hoa lan là phong lan nhưng không phải, thực ra hoa Lan mọc ở nhiều môi trường khác nhau và được chia làm 4 loại sau đây:

Epiphytes: Phong lan bám vào cành hay thân cây

Terestrials: Địa lan mọc dưới đất

Lithophytes: Thạch lan mọc ở các kẽ đá

Saprophytes: Hoại lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục

Rễ lan : ở nhóm lan đa thân, rễ thường được hình thành từ căn hành Nhóm đơn thân thì rễ mọc thẳng từ thân và thường xen kẽ với lá

Khi sống ở đất chúng thường có củ giả, rễ to mập tương đối ít phân nhánh, nó thuộc tổ chức có chất thịt, cấu tạo của nó có thể chia làm 3 tầng: tầng ngoài, tầng giữa, tầng trong Tầng ngoài là lớp vỏ rễ, tác dụng chủ yếu là thu hút và giữ nước Tầng giữa là thịt rễ, phần lớn là tổ chức tế bào sống, chứa rất nhiều nấm rễ cộng sinh Tầng trong là gân rễ có sự liên kết tương đối dẻo dai

Khi sống bám vào cành hoặc thân cây, bề mặt của rễ có phủ lớp mạc làm nhiệm vụ hút và giữ nước rất tốt cho nên các cây lan này chịu hạn tốt, rễ của chúng thường chui ra khỏi chậu không ưa ẩm ướt mà thích thoáng,ở đầu rễ luôn luôn có mầu xanh của diệp lục dùng quang hợp như lá nên chúng không trốn ánh sáng như ở nhóm lá sống dưới đất ở các loại lan này, hệ rễ khí sinh phát triển rất phong phú, mọc rất dài, to, khoẻ vừa giữ cho cây khỏi bị gió làm lung lay, vừa làm cột chống đỡ cho thân vươn cao

Với giống lan sống hoại bộ rễ có hình dạng, cấu trúc khá độc đáo, nó có dạng búi nhỏ với nhiều vòi hút ngắn, dày đặc để lấy được dinh dưỡng từ những đám rêu, lá mục thông qua hoạt động của nấm Mặc dù sự “cộng sinh” với nấm nội sinh vốn là đặc điểm cơ bản của họ lan trong giai đoạn nảy mầm, nhưng ở một số loài vẫn tồn tại mối quan hệ này trong suốt quá trình sống, tuy nhiên có một số ít loài tuy sống hoại nhưng cây có thể dài đến vài chục mét có khả năng leo bò rất cao Ngược lại, có một số loài lan sống hoại khác lại nằm

Trang 19

sâu trong lòng đất như Rhilanthella, Gardneri… cơ thể chỉ là 1 thân nhỏ, không rễ, không lá,đến mùa nó sinh ra một cụm hoa, chúng sống được là nhờ vào sự hoạt động của nầm và gốc mục của những thân gỗ khác

Thân cây họ lan: theo Pfizer (1882) (dẫn theo Trần Hợp, 1990) [10],

ông sắp xếp đa số lan tập trung vào 2 nhóm: nhóm đa thân (Sympodial) và nhóm đơn thân (Monopodial)

_ Nhóm đa thân (Sympodial) gồm các chi Cattleya, Dendrobium Cymbidium… những cây trong nhóm này thì không sinh trưởng liên tục mà có thời gian nghỉ Căn cứ vào thời gian ra hoa, chia làm 2 nhóm phụ:

+ Nhóm có hoa bên nách lá như các chi: Dendrobium, Oncidium, Phaius…

+ Nhóm có hoa ở đỉnh như các chi: Catheya, Laelia…

_ Nhóm đơn thân (Monopodial) gồm các giống Vanda, Phalaenopsis,Rhynchostylis… cây thuộc nhóm này tăng trưởng theo chiều cao

và chia thành 2 nhóm phụ:

+ Nhóm lá mọc đối (Sareathirae) như : Phalaenopsis…

+ Nhóm lá dẹp phẳng hay tròn (Campylocentrinae) như một số loài thuộc chi: Vanda, Luisia…

Ngoài giống lan thuộc hai nhóm đa thân và đơn thân còn có một số giống trung gian giữa hai nhóm trên như giống Pachyphyllum…

Chiều cao thân của lan cũng thường biến động rất lớn từ 10-20cm như với các loài ascocentrum, miniatum, aecidesmultifora và có thể cao 3-4 mét như các loài Papilionantheteres arachnis hoặc khổng lồ như acampe, A.vanilla

ở lan thuộc nhóm đa thân có nhiều đoạn phình lớn tạo củ giả, giả hành

Nó là một bộ phận dự trữ nước và chất dinh dưỡng để nuôi cây trong điều kiện khô hạn khi sống bám trên cao Giả hành rất đa dạng hoặc hình cầu, thuôn dài

Trang 20

xếp sát nhau hay rải rác đều đặn (Bulbophylun), hình trụ xếp chồng chất nên nhau thành thân giả (Dendrobium) Kích thước giả hành cũng biến động rất khác nhau có loài khổng lồ như giống Peristeriaelata, Specisoum… nhưng có loài bé gần như tiêu giảm như giống Bullbophyllum minutiss

Cấu tạo giả hành gồm nhiều mô mềm chứa đầy dịch nhày, phía ngoài

có lớp biểu bì với vách tế bào dày nhẵn bóng bảo vệ để tránh sự mất nước do hơi nóng mặt trời Đa số giả hành đều có mầu xanh bóng nên cùng với lá, rễ

nó cũng làm nhiệm vụ quang hợp

Lá lan: hầu hết các loài lan là cây tự dưỡng nó phát triển rất đầy đủ hệ thống lá, lá mềm mại duyên dáng và hấp dẫn Lá mọc đơn độc hoặc xếp dày

đặc ở gốc hay xếp cách đều trên thân, giả hành Hình dạng lá đa dạng từ loài lá mọng nước, nạc, dài hình kim, hình trụ dài, tiết diện tròn hay có r3nh đến loại lá hình phiến mỏng dài, rất hiếm loại lá hình tròn thuôn dài thành bẹ ôm lấy thân Phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung, những lá dưới sát gốc thường tiêu giảm đi còn những bẹ không có phiến hay giảm hẳn thành các vẩy

Về màu sắc, phiến lá thường có màu xanh biếc hoặc xanh thẫm, nhưng

đôi khi hai mặt lá có màu khác nhau, thường mặt dưới có màu xanh đậm hay tía, mặt trên lá có màu sắc khác Nhiều loài lan lại có lá màu hồng và nổi lên các đường vẽ trắng theo các gân rất đẹp

Một số loài lan đến mùa khô là rụng hết thân cây trơ trụi như đ3 chết (chỉ còn các chồi mắt) khi gặp độ ẩm môi trường thích hợp thì chúng lại đâm chồi và ra lá xanh tươi Như bầu rượu (Calanthevest) hoặc chúng chỉ rụng lá một phần hay vẫn tươi tốt như lan hài (Paphiopedilum), địa lan (Cymbidium) Một số loài sống trong đất có chu kỳ sống rất đặc biệt, xen mùa lá với mùa hoa Khi cây ra hoa toàn bộ lá đều chết khô khi hoa tàn giả hành sẽ cho chồi lá mới…

Hoa lan: họ lan là họ lớn thứ nhì sau họ cúc sở dĩ chúng đông đảo như

Trang 21

vậy là vì hoa lan có cấu tạo cực kỳ phong phú và hấp dẫn Ta có thể gặp nhiều loài mà mỗi mùa chỉ có một đoá hoa nở hoặc có nhiều cụm hoa mà mỗi cụm chỉ đơm một bông Tuy nhiên đa số các loài lan đều nở rộ nhiều hoa tập hợp thành chùm (đôi khi phân nhánh thành chuỳ), phân bố ở đỉnh thân hay nách lá, gốc cuống chính thường có lá bắc dạng vẩy hay dạng mo Cuống chính đôi khi rút ngắn lại làm cụm hoa có dạng tán giả, hay cuống chính lại vừa ngắn,vừa mập, làm cụm hoa có dạng gần như hình đầu ở nhiều loài hoa có cuống rất ngắn nên chùm hoa có dạng bông hay cuống chính vặn xoắn để hoa xếp theo đường xoắn ốc

Mặc dù cấu trúc của hoa rất đa dạng và phong phú, mầu sắc, hình dáng rất khác nhau nhưng nhìn chung hoa có một tổ chức đồng nhất của hoa mẫu 3(hoa đặc trưng của lớp một lá mầm), nhưng đ3 biến đổi rất nhiều để có cấu trúc đối xứng qua một mặt phẳng Bên ngoài có 6 cánh hoa, 3 cánh ngoài gọi

là 3 lá đài, thường có cùng màu sắc và kích thước Nằm kề bên trong xen kẽ với 3 lá đài là 3 cánh hoa: 2 cánh bên thường giống nhau về màu sắc, hình dạng, cánh còn lại nằm ở phía dưới của hoa gọi là cánh môi, có hình dáng và màu sắc khác hẳn 2 cánh kia Cánh môi quyết định phần lớn giá trị thẩm mỹ của hoa, chúng có màu sắc sặc sỡ và phân chia thuỳ, điểm thêm nhiều phần phụ như các vệt sọc, tua,cựa, móc, túi… ở gốc cánh môi thường có một cựa mang tuyến mật thu hút côn trùng để thực hiện sự thụ phấn ở giữa hoa có một trụ nổi lên, đó là bộ phận sinh dục của hoa, giúp duy trì nòi giống cây lan.Trụ gồm cả phần sinh dục đực và sinh dục cái nên được gọi là trục hợp nhị Phần đực nằm ở bên trên của trụ,thường có nắp che chứa khối phấn màu vàng, số lượng khối phấn biến đổi từ 2, 4, 6 đến 8 có dạng thuôn hay cong hình lưỡi liềm đôi khi thuôn dài có đuôi Khối phấn do nhiều hạt phấn dính lại với nhau Số lượng,hình dạng,kích thước của khối phấn thay đổi tuỳ theo giống và loài lan Thường mỗi khối phấn còn có thêm một phụ bộ mà hình dạng của nó có thể dùng để phân loại trong các cây lan Phụ bộ ấy có thể là vĩ

Trang 22

phấn nối các khối phấn với nhau và mang tận cùng là gót phấn có khi có dĩa nhầy để dính vào một chỗ lồi của trụ gọi là mỏ Phần cái bắt đầu ngay dưới

mỏ, đó là một hốc lõm chứa chất nhày để giữ hạt phấn khi chúng chạm vào Hốc lõm gọi là nuốm tức là phần đầu của bộ phận cái nơi tiếp nhận phấn hoa của bộ phận đực để hình thành quả về sau Tiếp nối với trụ về bên dưới của hoa là phần nhỏ dài hình trụ gọi là bầu no3n và cọng hoa Bên trong bầu no3n chia làm ba ô gọi là ba tâm bì, có chứa vô số hạt nhỏ li ti gọi là tiểu no3n nằm trên ba đường dọc theo chiều dài của ba mép tâm bì dính lại với nhau Sau khi thụ phấn, thụ tinh các tiểu no3n sẽ biến đổi và phát triển thành hạt, bầu no3n

to dần thành quả

Quả lan: Thuộc loại qủa nang, nở ra theo 3-6 đường nứt dọc, có dạng

củ cải dài(Vanilla) đến dạng hình trụ ngắn phình ở giữa (ở đa số các loài khác) Khi chín quả nở ra, mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc.ở một số loài quả chín nở theo 1-2 khía dọc, thậm chí không nứt mà hạt chỉ ra khỏi quả khi vỏ quả bị mục nát

Hạt lan: hạt rất nhiều, nhỏ li ti (họ lan còn goi là họ vi tử) hạt chỉ cấu tạo bởi một khối chưa phân hoá, trên một mạng lưới nhỏ xốp, chứa đầy không khí Phải trải qua 2-18 tháng hạt mới chín (tuỳ từng loài) Trong tự nhiên, phần lớn hạt thường chết vì khó gặp nấm cộng sinh Chỉ ở những khu rừng già vùng nhiệt đới ẩm ướt mới đủ điều kiện cho hạt lan nẩy mầm Vì vậy việc bảo

vệ khu rừng đầu nguồn, rừng nguyên sinh là tạo điều kiện làm phong phú nguồn lan nguyên thuỷ cung cấp nguồn gen cho sản xuất lan thương mại sau này

2.1.1.5.Đặc điểm thực vật học của chi lan hồ điệp(Phalaenopsis)

Hồ điệp (Phalaenopsis) có tên từ chữ Hy lạp Phalaina- bướm và opsis- giống Đa số loài của chi có hoa giống như con bướm

Chi lan hồ điệp hiện được biết có trên 58 loài phát sinh, ưa bóng, có ở

Trang 23

bán đảo M3 lai,Indonesia,Philipin, các tỉnh phía đông ấn Độ và châu úc mọc

ở độ cao 200 – 400m so với mặt biển, yêu cầu khí hậu ẩm ướt, nhiệt độ cao từ

Hồ điệp là cây đơn thân nhưng rất ngắn, có lá mọc khít nhau nên không có lóng Lá tương đối dày mập, thường rộng ở phần trên, hẹp ở phần dưới Phát hoa ở nách lá, thường hay đứng, có thể phân nhánh Hoa nhỏ hay khá to, mỗi hoa bền khoảng 2 – 3 tháng Vì vậy, cành hoa nở liên tiếp hơn nửa năm Lá đài và cánh hoa gần như nhau, đôi khi cánh hoa lớn hơn, nhưng nổi bật là cánh môi Môi gắn vào chân của trụ và không có cựa ở đáy, ba thuỳ với phụ bộ hay cục u ở đáy thuỳ giữa hay thuỳ bên Một trong những phụ bộ ấy là hai sợi râu của môi hay hai phiến nhỏ dựng đứng ở thuỳ môi Trụ tương đối dài và nhỏ, hai khối phấn tròn hay hình trứng, vĩ phấn kéo dài, rộng ở phần trên và hẹp ở phần dưới, gót dẹp Nhiều loài thường cho cây con trên cọng phát hoa, nhiều loài có vân màu trên lá

Hiện nay có nhiều chi lan khác được lai với Phalaenopsis và lai ngay trong cùng chi, tạo ra 40.000 loài lai ( Nguyễn Thiện Tịch và cộng sự, 1996) [22] Chi lan hồ điệp có thể chia ra thành 5 nhóm trong đó có 2 nhóm quan trọng đó là:

- Nhóm Euphalaenopsis : Chúng có đặc điểm nổi bật là cánh hoa dài và rộng hơn lá đài Cánh môi rộng và có hai phụ bộ riêng biệt ở phía trước, bộ lá thường có màu lục đậm hơn ở mặt trên nâu sẫm ở mặt dưới Hoa nhiều, mảnh mai Một vài loài tiêu biểu : Phalaenopsis amabilis, P.philippinensis, P.schilleriana

- Nhóm Stauroglottis chúng có đặc điểm khác biệt như sau : Lá đài và cánh hoa cùng một cỡ Cánh môi hẹp và không có phụ bộ ở phía trước Bộ lá có màu xanh lục nhạt ở cả mặt trên và mặt dưới lá Hoa nhỏ hơn và cánh dày hơn, thường có màu hoa văn Một vài loài tiêu biểu là P.amboinensis, P.gigantea, P.lindenii…

Trang 24

Theo (Phạm Hoàng Hộ,2 000) [9] Việt Nam có 7 loài Phalaenopsis : P.amabilis (L), P.cornucervi, P.lobbi, P.gibbosa, P.mannii Reichb.f, P.petelotiiMansf, P.fuscata Reichb.f

2.1.2 Yêu cầu đối với các điều kiện môi trường sinh thái của cây hoa lan 2.1.2.1 Yêu cầu về nhiệt độ

Nhiệt độ là một nhân tố có tính chất quyết định đến sự phân bố, sinh trưởng, phát triển của các loài lan trên thế giới Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự ra hoa của lan, ví dụ: ở lan bạch câu (Dendrobium crumenatum) nếu giảm đột

loạt ở loài Paphiopedilum insingnes và Dendrobium nobile chỉ ra hoa khi

dinh dưỡng Phalaenopsis chỉ ra hoa khi nhiệt độ ban đêm giảm xuống dưới

Phalaenopsis nở hoa do sự thọ hàn Nghiên cứu này được bà Trần Thanh Vân

bổ sung vào năm 1974, bằng kỹ thuật sử lý nhiệt độ tại Gif sur Yvêtt ( Pháp )

Bà đ3 điều khiển thành công sự ra hoa của Phalaenopsis amabilis và Phalaenopsis schilleriana dưới một năm tuổi, bằng cách đặt cây vào nơi sử lý

kỳ thay đổi 6 – 24 giờ chiếu sáng tuỳ điều kiện nuôi cây Trong thời gian 2 – 3 tháng cây sẽ nở hoa toàn bộ Bình thường từ khi trồng đến khi ra hoa thì phalaenopsis cần 2 – 4 năm, nhưng kỹ sư Nguyễn Công Nghiệp và cộng sự (

1998 )[17] cho rằng có thể rút ngắn thời gian trên nếu ta bón phân và các chất kích thích sinh trưởng phù hợp để thúc đẩy quá trình sinh trưởng ở vườn ươm, cây con sẽ nhanh chóng ra hoa

Theo Powel et al (1988) thì cây lan hoàng hậu ( Cattleya ) sinh trưởng

Trang 25

( Phalaenopsis ) và lan hài ( Paphiopedilum ) sinh trưởng dinh dưởng ở 21oC

(Joseph và Arditti 1985 ) [34]

Theo Joseph và Arditti 1985, Roton 1952, Wang và Lee 1994 [34] nhiệt

hợp với cường độ ánh sáng mạnh với ánh sáng ngày dài thì ra hoa sớm hơn so với cây đối chứng Lan kiếm( Cymbidium ) ở nhiệt độ chênh lệch ngày/đêm (

Ngoài yêu cầu về nhiệt độ trung bình, biên độ nhiệt độ giữa ngày và

đêm có ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng phát triển của lan Biên độ nhiệt độ ngày đêm càng lớn thì trồng lan càng lý tưởng, vì cây tăng trưởng nhanh do nhiệt độ ban đêm thấp làm giảm cường độ hô hấp và nhiệt độ ban ngày tăng làm tăng cường độ quang hợp, cây tích luỹ chất khô nhiều hơn

2.1.2.2 Yêu cầu về ánh sáng

Cây lan sống không thể thiếu ánh sáng vì ánh sáng cung cấp năng lượng

Trang 26

cho cây tạo lập thức ăn thông qua quá trình quang hợp ánh sáng còn ảnh hưởng đến sự hình thành hoa và nở hoa Hầu hết các loài thuộc chi Cattleya, Dendrobium… Nếu thiếu ánh sáng cây không ra hoa nhưng nhu cầu về ánh sáng lại khác nhau tuỳ thuộc vào từng loài lan,(Lin, WC và CS, 1983)[35], Wang – Y, T…1995) [ 40]

Dựa vào nhu cầu ánh sáng của từng loài người ta chia thành 3 nhóm Nhóm ưa sáng: Cần ánh sáng nhiều ≈ 100% ánh sáng trực tiếp như các loài Vanda, Renanthera…

Nhóm ưa sáng trung bình: bao gồm các loài có nhu cầu ánh sáng khoảng 50 → 80% như các loài Cattleya, Dendrobium…(Widiastaety,D và CS 1995) [ 41]

Nhóm ưa ánh sáng yếu: bao gồm các loài có nhu cầu ánh sáng khoảng

30 → 40% như Phaleanopsis, Paphiopedilum…

Như vậy tuỳ theo từng loài lan cụ thể mà làm giàn che cho phù hợp 2.1.2.3 Yêu cầu về độ ẩm

ẩm độ là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng,

và phát triển của các loài lan Đa số các loài lan ưa ẩm, việc chọn địa điểm thích hợp cho vườn lan sẽ giúp cho cây lan sinh trưởng và phát triển tốt, đồng thời giảm được rất nhiều công chăm sóc Khi trồng lan chúng ta cần lưu ý 3 loại độ ẩm sau: ẩm độ của vùng, ẩm độ của vườn, và ẩm độ cục bộ trong chậu

ẩm độ của vùng: là ẩm độ của một vùng sinh thái nhất định do điều kiện địa lý, địa hình nói chung quy định Ví dụ ẩm độ của vùng có kênh rạch, sông suối cao hơn ẩm độ ở vùng trống, nhiều gió, ẩm độ ở vùng đồi trọc thấp hơn ẩm độ của vùng trồng cây ăn quả, rừng…

ẩm độ vườn: là độ ẩm của chính vườn lan, độ ẩm này có thể cải tạo

được theo ý muốn như đào ao, xây bể làm mương rạch, trồng cây, làm giàn che, tưới nước…

Trang 27

ẩm độ trong chậu: là độ ẩm cục bộ do cấu tạo của giá thể, thể tích chậu,

số lần tưới quy định ẩm độ này hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ thuật của người trồng lan

Trong thực tế ẩm độ của vùng cao thì tốt hơn ẩm độ cục bộ trong chậu cao, do đó cần lưu ý hạn chế tưới nước trong mùa mưa và thời tiết có mưa phùn, mưa giầm khi ẩm độ không khí cao

2.1.2.4 Yêu cầu về độ thông gió

Do xuất xứ của các loài lan chủ yếu sống trên cây cao, dưới tán lá rừng nên độ thông gió, độ thoáng đối với lan có ý nghĩa đặc biệt Nếu vườn lan không thoáng khí ẩm độ tăng, nhiệt độ cũng tăng làm cho lan dễ bị bệnh Ngựơc lại nếu vườn lan quá thoáng gió làm giảm độ ẩm, lượng nước bốc hơi nhanh, cây dễ héo kém phát triển

2.1.2.5 Yêu cầu về dinh dưỡng

Theo các tác giả Ajchara – Boonrote (1987) [28];Richard – HW (1985) [36]; Soebijanto và CS (1988) [38 ], dinh dưỡng đối với lan hết sức quan trọng,

nó không đòi hỏi số lượng lớn nhưng phải đầy đủ các thành phần dinh dưỡng Tuy nhiên còn tuỳ thuộc vào từng thời kỳ sinh trưởng của cây lan mà nhu cầu dinh dưỡng khác nhau

Vai trò của các nguyên tố đối với cây lan:

Nhóm 1: gồm các nguyên tố cacbon (C), Hyđrô (H) Oxy (O) những nguyên tố này thường có sẵn trong không khí và nước mà cây sử dụng trong quá trình quang hợp

Nhóm 2: các nguyên tố đa lượng: N, P, K vai trò của nitơ (N): là một trong 3 nguyên tố cần thiết cho cây lan, giúp cho sự tăng trưởng của lá, làm cho cây xanh tốt, mặt khác N còn giúp cho quá trình điều hoà P, nếu thiếu N lá nhỏ hơi vàng, mầm yếu ít hoa

Vai trò của P : là nguyên tố quan trọng thứ hai sau N, dùng kết hợp với

Trang 28

N giúp cho cây nẩy mầm khoẻ, ra hoa nhanh, ra rễ nhiều P còn giúp cho quá trình thụ phấn dễ dàng hơn, đậu quả nhiều, quả mập, hạt chắc tỷ lệ nẩy mầm cao Nếu tỷ lệ P quá lớn kích thích cho sự ra hoa sớm lá ngắn, cứng

Vai trò của K: cũng như P, K giúp cho cây hấp thụ N một cách dễ dàng giúp cho sự phát triển của chồi mới, K còn giúp cho sự vận chuyển nước và chất dinh dưỡng trong cây K giúp cho cây cứng, thúc đẩy sự ra hoa, hoa có mầu sắc tươi hơn, cây đề kháng với bệnh tốt hơn Nếu thiếu K cây cằn cỗi, khô đầu lá đậu quả ít hạt lép, tỷ lệ nẩy mầm thấp, khả năng chịu hạn kém

Nhóm 3: bao gồm các nhân tố Ca, Mg, S

Vai trò của Ca : là nhân tố cần thiết để tạo lập vách tế bào, giúp cho tế bào hoạt động một cách điều hoà trong việc tạo lớp Prôtêin, giúp cây hấp thụ nhiều đạm bộ rễ phát triển khoẻ Nếu cây hấp thụ quá nhiều Ca, cây không hấp thụ được Fe nhưng lại hấp thụ nhiều N dẫn đến cây có mầu xanh khác thường, thiếu Ca rễ lan chậm phát triển, lá nhỏ

Vai trò của Mg: là một trong những nguyên tố tạo nên diệp lục, giúp cây phát triển cân đối, hài hoà Phân bón có nhiều Mg, lá lan to xanh nhưng quá nhiều mầu sắc lá lại nhạt đi, ngọn lá sẽ bị héo, thiếu Mg thì biểu hiện ngay ở rễ, rễ phát triển rất tốt, nhưng thân lá lại không phát triển, tỷ lệ rễ, thân, lá không cân đối

Vai trò của S: là nguyên tố không kém phần quan trọng là thành phần của nguyên sinh chất trong tế bào Thiếu S cây cằn cỗi, lá vàng, mép lá đen kích thước lá nhỏ

Các nguyên tố vi lượng: bao gồm Fe, Cu, Zn, Mn, Bo, Mo… Cây lan cần các nguyên tố vi lượng với lượng rất nhỏ nhưng không thể thiếu được Thường chúng có sẵn trong nước tưới, trong phân bón, nhưng cũng cần bổ sung thêm các nguyên tố này miễn sao không gây độc cho cây

Trang 29

Năm 1922, Knudson ở Mỹ đ3 thành công trong việc thay thế nấm bằng

đường ở môi trường thạch để gieo hạt Ông nhận thấy sự nẩy mầm của hạt còn phụ thuộc vào thời gian hái quả, môi trường gieo cấy khác nhau, thích hợp với từng loài lan khác nhau(Nguyễn Thiện Tịch và cộng sự, 1996) [24] Phương pháp này cho hệ số nhân giống cao nhưng phẩm chất không đồng đều, thời gian từ khi mọc đến ra hoa phải mất 3 – 4năm (phalaenopsis) có những chi phải mất đến 5 – 6năm ( cattleya, cymbidium…) phương pháp này chỉ tạo

được những cây mang tính trạng theo ý muốn qua quá trình lai tạo, chọn lọc chứ không giải quyết được vấn đề cây giống

Nhân giống vô tính: là sự phân chia, tăng trưởng liên tục của các tế bào

từ một tế bào ban đầu hoặc của các cây từ cây mẹ ban đầu nên chúng giống nhau về mặt di truyền Nhân giống vô tính gồm các phương pháp sau:

- Tách chiết: được áp dụng vào thời kỳ đầu của ngành lan chủ yếu ở lan kiếm và sau đó được phát triển rộng ở những chi đa thân(Cattleya, Dendrobium…), nhưng số lượng cây nhân giống không nhiều

- Nhân giống vô tính bằng nuôi cấy mô tế bào: Phương pháp này có ưu

điểm là hệ số nhân giống cao, cho phép tạo được một quần thể cây đồng đều, rút ngắn thời gian sản xuất cây giống, có thể áp dụng nhân giống trên quy mô công nghiệp

Trang 30

2.1.2.7 Yêu cầu của lan hồ điệp đối với điều kiện ngoại cảnh

(2005) [24], quá trình sinh trưởng của lan hồ điệp có thể chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn dinh dưỡng, giai đoạn xuân hoá và giai đoạn hình thành cành hoa Cây được chuyển từ giai đoạn dinh dưỡng sang thời kỳ phân hoá mần hoa khi chúng có ít nhất 3-4 lá với chiều dài lá ít nhất 20 cm là lúc cây có đủ kích cỡ

để kích thích sự ra hoa đồng đều bằng cách xử lý nhiệt độ thấp

- Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng: nhiệt độ thích hợp ban ngày là

2.1.3 Các điều kiện cơ bản để trồng lan

Qua tìm hiểu sơ bộ về hoa lan, ta thấy chúng vô cùng phong phú và đa dạng Chính vì vậy, kỹ thuật trồng trọt chúng cũng phong phú không kém Tuy nhiên cây lan cũng yêu cầu một số kỹ thuật trồng chính sau:

2.1.3.1 Chậu và giá thể

Tuỳ theo loài lan, độ tuổi của cây mà lựa chọn chậu sao cho phù hợp

Có thể trồng bằng chậu đất nung, chậu nhựa.Chậu nhựa, hay dùng hơn cả vì rẻ tiền, bền Chậu đất nung thấm nước, mau khô và thoáng khí cho nên cần tưới thường xuyên hơn chậu nhựa Ngoài ra, còn trồng vào chậu gỗ, thân cây,phù hợp với những loài lan cần thoáng gió như: Vanda, Aerides, Rhynchostylis

…Đặc biệt, với lan hồ điệp, do bộ rễ thuộc loại rễ thịt nên chậu trồng tốt nhất

là chậu nhựa có lỗ thoát nước ở đáy và đường kính chậu chỉ được phép bằng

Trang 31

1/2 đường kính tán lá[39] Thông thường,những cây lan con thường được trồng chung vào một chậu, sau 3-4 tháng thì trồng chuyển sang chậu lớn hơn, sau 1-2 lần chuyển chậu thì giữ nguyên cho đến khi ra hoa

Giá thể: là khái niệm dùng để chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây trồng Việc sử dụng các giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt đối với cây trồng nhất là cây ở giai đoạn vườn ươm Các giá thể được sử dụng hiện nay gồm: than củi, gạch nung, rêu, xơ dừa, rễ bèo tây, vỏ cây, rễ dương xỉ…

Than củi: dùng để giữ ẩm Là một giá thể tốt vì không chứa mần bệnh, không mục nát và có khả năng giữ nước, hấp thụ dinh dưỡng tốt Phù hợp với rất nhiều loại lan như Cattleya, Rhychostylis, Oncidium…

Gạch nung: Trồng lan rất tốt nhưng phải nung già, ngăn rêu mọc, luôn tạo độ thoáng thích hợp cho bề mặt rễ bám, nhược điểm là nặng chỉ phù hợp trồng chậu thích hợp với nhiều loài lan thuộc chi Cymbidium…

Rêu: có dạng sợi, dai, thoáng xốp giữ ẩm rất tốt, hấp thụ dinh dưỡng tốt rất phù hợp với nhiều loài lan khác nhau, nhất là lan Hồ điệp, nhưng giá thành rất cao, đây cũng là nguyên nhân làm tăng giá thành sản phẩm

Xơ dừa: là giá thể rẻ tiền, dễ kiếm Tuy nhiên cũng có nhược điểm thoát nước nhanh, chóng mục, vì vậy dễ bị sâu bệnh Đối với giá thể này cần phải thường xuyên phun thuốc phòng trừ sâu bệnh

Rễ bèo tây(lục bình): giữ ẩm tốt, dễ kiếm, rẻ tiền, trong rễ bèo có chứa một phần dinh dưỡng Chính vì vậy, từ xa xưa con người đ3 dùng để bó bầu cành chiết nhanh ra rễ, nhưng chóng mục, dễ bị sâu bệnh vì vậy cũng phải thường xuyên phun phòng trừ sâu bệnh

Mút xốp : dễ kiếm, giữ nước rất nhanh nhưng thoát cũng nhanh vì vậy khi sử dụng giá thể này cần chú ý đến chế độ tưới nước, phân

2.1.3.2 Tưới nước

Nước cần cho sự sống của cây lan, nhất là lúc nó đang ở giai đoạn phát triển dinh dưỡng, thiếu nước lan sẽ khô héo dần và chết, nhưng thừa nước lại

Trang 32

làm cho chúng dễ thối và chết

Người ta thường nói rằng nhiều cây lan bị chết do tưới nước không đúng hơn là bất cứ lý do nào khác Có người còn tính xa hơn một bước và nói là” còn hơn các nhân tố khác cộng lại” Đó là những nhận xét mạnh mẽ Tiếc thay, những nhận xét ấy đều đúng, bởi vì nước và cách tưới nước là nguyên do của nhiều vấn đề [1] Tuy nhiên có một số yếu tố cần xem xét khi tưới nước cho lan đó là: Lượng nước và chất lượng nước tưới

- Lượng nước tưới phụ thuộc vào các yếu tố sau:

+ Theo mùa: nước ta nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, sự thay đổi theo mùa là tương đối rõ rệt.Về mùa mưa, độ ẩm không khí tương đối cao thích hợp cho sự phát triển của cây lan Mùa này, cây lan cần lượng nước nhiều nhưng mưa đ3 cung cấp cho nó Mặt khác nếu cây lan ở nơi thông thoáng cần

được tưới nước nhiều hơn Vào các ngày nắng to, nhiệt độ cao, cũng phải gia tăng số lần tưới nhưng chủ yếu làm mát môi trường xung quanh và tưới vào sáng sớm, chiều mát

+Theo loài lan : tuỳ theo giống, loài lan mà nhu cầu nước khác nhau Cây nhiều lá, lá lớn, dễ mất nước cần tưới nhiều Cây mập, dầy trữ nước tốt, chịu hạn tốt thì tưới ít Những cây nhiều rễ gió cần tưới thường xuyên vào thời

kỳ tăng trưởng (ra hoa, rễ, đâm chồi) cây cần nhiều nước nên phải tưới nhiều hơn Thời kỳ nghỉ : không tưới nước cho cây nhưng vẫn cần ẩm, lúc đó chỉ cần tưới xung quanh vườn lan

+Theo giá thể, chậu trồng, môi trường trồng : cường độ ánh sáng, độ thông thoáng không khí, giá thể, loại chậu… Tất cả đều liên quan đến độ ẩm ở cây lan giúp chúng ta quyết định lượng nước tưới cho cây lan

- Chất lượng nước tưới : Nước tưới đối với lan cực kỳ quan trọng, nước phải sạch (không nhiễm mặn, phèn, độ pH thích hợp là 5,5 – 6,5) Các nguồn nước tưới dùng cho lan là :

+ Nước mưa : là nguồn nước lý tưởng đặc biệt rất phù hợp cho lan, nước

Trang 33

mưa có pH = 6 – 7 Tuy nhiên, ngày nay nước mưa chỉ tốt ở những vùng không bị ô nhiễm môi trường còn ở những vùng công nghiệp, nước mưa có chứa nhiều axit, hoá chất gây ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng, phát triển của cây lan Do nước mưa có nhiều ưu điểm nên các vườn lan thường trữ nước mưa nhưng lưu ý đồ chứa nước, cũng như mặt bằng trên đó nước mưa chảy xuống (những mặt bằng tráng Zn, Cr, những sản phẩm nhựa đường hoặc những thuốc bảo quản có độc tố không nên dùng)

+ Nước sông suối : rất tốt cho lan, nhưng lưu ý độ phèn, độ mặn, độ phù sa + Nước máy : phải để bay hơi Clo

+ Nước giếng : cần loại bỏ những kim loại nặng như Mg, Mn, Fe … Với lan con chế độ tưới nước hết sức thận trọng Sau trồng 1-2 ngày không nên tưới vào cây mà chỉ cần giữ ẩm môi trường vì khi trồng giá thể còn ẩm Nếu tưới nước ngay, tạo độ ẩm cao cây trồng dễ bị thối Thường với người mới trồng tỷ lệ chết ở giai đoạn này tương đối cao.Vì vậy, yêu cầu người trồng lan phải biết quan sát giá thể, cây, thời tiết, môi trường xung quanh.Thường xuyên tưới nước 3-4 lần mỗi ngày nếu trời quá khô Theo nguyên tắc phải giữ ẩm cho lan con nhưng không quá ướt (Nguyễn Xuân Linh- kỹ thuật trồng hoa, 1998 ) [16] Theo Goh và Arditti (1985) thì hồ điệp(Phalaenopsis),lan hài (Paphiopedilum) cần 2 ngày tưới 1 lần, lan kiếm(Cymbidium) chỉ cần 3 ngày tưới 1 lần, Cattleya cần 5 ngày tưới 1 lần Tuy nhiên,tác giả cũng cho rằng cần phải xem xét đến thời tiết khi tưới và nhất là chất trồng và chậu trồng Theo h3ng G & B orchid Laboratory & Nursery Inc [39] thì với lan Dendrobium và Phalaenopsis việc tưới nước tuỳ thuộc vào mùa, ẩm độ của từng vùng trồng, nói chung độ ẩm không khí phải luôn luôn đạt ít nhất là 60%

Phần lớn cây lan trồng là có hệ thống rễ khí sinh, để hệ rễ khô ráo giữa hai lần tưới là cần thiết, vì vậy không nên để chúng ẩm ướt liên tục

Việc tưới nước bằng cách nhúng từng chậu vào thùng nước hay bể nước

có lợi là giá thể thấm đều và môi trường trong chậu được rửa sạch nhưng nguy

Trang 34

hiểm là bệnh dễ lây lan từ cây này sang cây khác và cũng hay bị tổn thương ở

đầu rễ,cách làm này chỉ thích hợp cho số lượng cây lan ít mà thôi

- Dụng cụ tưới : vòi tưới bông sen + máy bơm nước hợp với những vườn lan lớn Khi tưới, lật ngược vòi phun thành hình cầu vồng hạt nước rơi xuống nhẹ nhàng, với những vườn lan nhỏ có thể dùng bình bơm tay Khi tưới không phải tưới đậm ngay một khu vực mà tưới đi tưới lại cho giá thể ngấm nước dần

và phải tưới thật đậm (quan sát nước chảy xuống đáy chậu ra ngoài là được)

- Thời gian tưới : thường tưới vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát Nếu trời nắng nóng, ẩm độ không khí thấp buổi trưa có thể tưới mát môi trường xung quanh, không nên tưới trực tiếp vào cây

2.1.3.3 Bón phân

Phân bón đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất, phẩm chất cây trồng nông nghiệp Đặc biệt phân bón lá chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong nền nông nghiệp sạch nhất là rau, hoa, quả Cây hoa lan cũng không ngoại trừ ảnh hưởng này Nhiều người cho rằng cây hoa lan trong thiên nhiên mọc hoang dại được tận hưởng nguồn nước, nguồn dinh dưỡng từ nước mưa, vỏ lá mục, rêu, dương xỉ ở các hộc cây khe núi Vì thế khi mang cây lan

về trồng nguồn nước, muối khoáng bị cắt đứt, các giá thể để trồng lan hầu như giữ ẩm, đỡ cây nên việc bón thêm phân là cần thiết nhất là trong sản xuất kinh doanh hiện nay

Cách tốt nhất để bón phân cho lan là dùng phân bón lá( phân lỏng) Phân bón khô khó sử dụng đồng đều, nếu nó dễ hoà tan có thể gây hại cho các

rễ non Phân bón lỏng dễ sử dụng và phân được phân tán khắp trong chậu mau chóng thấm xuống rễ, lá Phân bón bọc nhựa, giải phóng chậm, cũng có thể dùng được cho lan

Theo Nguyễn Hạc Thuý-2001[25], hiện nay trên thị trường Việt Nam

có khoảng trên 40 loại phân bón lá khác nhau trong đó có rất nhiều loại phân bón lá vô cơ dùng cho lan mà phần lớn là các sản phẩm ngoại nhập hoặc sản

Trang 35

xuất theo quy trình nước ngoài như Grow more (Hoa Kỳ), Yogen (Nhật), Agricomik (Thái Lan)… Chính vì có những chủng loại như vậy cho nên bón phân gì? Bón như thế nào có lợi cho sinh trưởng phát triển của cây và đạt hiệu quả kinh tế cao đó là một bài toán khó Do nhu cầu về dinh dưỡng ở mỗi giai

đoạn sinh trưởng là khác nhau nên phân bón cũng thay đổi tuỳ từng giai đoạn sinh trưởng của cây

Phân bón qua lá gồm : phân hoá học (Vô cơ), phân hữu cơ(xác b3 động, thực vật…) và phân phức hữu cơ

- Cách sử dụng với phân hoá học: tuỳ theo từng loài và tuỳ theo giai

đoạn sinh trưởng phát triển của cây ;

Phân có tỷ lệ đạm cao (30 :10 :10): rất phù hợp cho cây con, những cây

đang nảy chồi mới, những cây sau khi cắt hoa

Phân có tỷ lệ lân cao: kích thích ra rễ, hoa, làm cho lá bớt màu xanh, giảm lượng nước ở trong lá, tăng khả năng đề kháng của cây

Việc sử dụng phân có hàm lượng lân cao cần thận trọng vì nếucây đang

ở giai đoạn sung yếu (do sâu bệnh, thiếu dinh dưỡng…) càng làm cho cây chậm lớn và ra hoa cũng xấu

Phân có tỷ lệ kali cao : giúp cây khoẻ, chống hạn, sâu bệnh tốt So với cây trồng khác thì cây lan cần lượng kali tương đối nhiều vì mục đích chính của nuôi trồng lan là thưởng thức hoa, kali giúp hoa có màu sắc đẹp, bền thường sử dụng phân kali vào lúc cây lan có hoa

Với lan hồ điệp dùng phân bón vô cơ là tốt nhất và chỉ nên bón vào mùa mưa(từ tháng 5- tháng 8) Sau khi cây hết hoa có thể thúc cho cây ra khi phun

3 lần liên tục hỗn hợp 0,5% của (Ure +KH2PO4+ FeSO4) theo tỷ lệ (1:1:1)[39]

Theo BFC (Bangkok Flower Centre) chế độ dinh dưỡng cho cây, khi cây con còn nhỏ thì phun NPK dạng10:10:10, khi cây ở giai đoạn sinh trưởng mạnh thì phun NPK dạng 20:20:20, để cây ra hoa thì phun NPK dạng

Trang 36

10:20:10 hoặc 10:20:20 Như vậy, qui trình trồng hoa lan của họ đạt đến mức hoàn hảo

Nhiều tác giả của các nước có ngành lan phát triển đêù có chung một nhận xét: Để cây lan sinh trưởng tốt ra hoa đúng lúc, hoa bền thì việc nghiên cứu từng yếu tố ảnh hưởng cho từng loài lan là cả một vấn đề công phu và nghệ thuật

Theo Keithly (1991) thì ở giai đoạn cây con (bồn mạ) lan Dendrobium

và Phalaenopsis phun 50 ppm N tổng số+ 4,5 ppmP+8,2 ppmK+ Chelat Sắt +Vi lượng là tốt nhất

Poole và Seeleing (1978) cho biết nồng độ 100 ppmN +50-100 ppm PK +25 ppm Mg là tốt nhất cho lan kiếm và hồ điệp phát triển

Theo way và Lee 1994, cây con hồ điệp phun loại NPK tỷ lệ 20: 20: 20

là tốt nhất

Theo H3ng G & B orchid Laboratory & NurseryInc [39], cây con hồ

điệp sinh trưởng tốt nhất khi phun loại N P K tỷ lệ 20: 20: 20 kết hợp với phun phân hữu cơ ngâm từ xác b3 động vật

Theo trung tâm kỹ thuật Rau- Hoa- Quả Thường Tín, giai đoạn cây con (15 ngày sau trồng) phun dinh dưỡng NPK có tỷ lệ30:10:10 với nồng độ 0.2%,5 ngày 1 lần cây con sinh trưởng rất tốt

- Cách sử dụng phân hữu cơ: Ngoài nguồn phân bón vô cơ ra,phân hữu cơ cũng rất tốt cho lan, phân hữu cơ dễ chế biến, nguyên liệu dồi dào Trong phân hữu cơ chứa đầy đủ các dưỡng chất cần thiết cho cây như axít amin, vi-ta-min, vi lượng Điều chú ý là các dạng phân hữu cơ dùng cho hoa lan phải hoàn toàn hoai mục, không có mùi

Phân hữu cơ ở các dạng: Nước tiểu người và động vật, phân động vật, xác b3 động vật, than xương…Sự pha chế phân nay dễ dàng nhờ nguyên liệu sẵn có, dễ tìm nhưng thành phần của phân không rõ rệt

+ Nước tiểu: hoà lo3ng nước tiểu 1:10 hay lo3ng hơn, tưới cách nhật tốt

Trang 37

nhất 1tuần tưới 2 lần Phù hợp với tất cả các loài lan Hoặc100ml nước tiểu+

100 g b3 đậu phụ ngâm với 0, 8 lít nước cho lên men từ 7-10 ngày để lắng lọc lấy phần nước trong (nguyên chất) Mỗi tháng tưới 1 – 2 lần pha tỉ lệ 1: 4 rất thích hợp với Dendrobium, Phalaenopsis, Paphiopedilum, Oncidium, Renather…

+ Xác b3 động vật: theo các nhà trồng lan Đài Loan thì nước ngâm lông

gà, vịt, bột cá là tuyệt hảo đối với lan hồ điệp mà không mọc rêu xanh

+ Theo các nhà vườn Thái Lan, họ đ3 chế phân hữu cơ như sau: 3 kg rác thực vật (rau, củ, quả, hoa, lá…)+ 1kg đường đen Để trong bình không rỉ, đậy nắp nhưng không cần kín,để chỗ râm mát Sau 1 tháng chắt lấy nước để sử dụng: Hoà 1/1000 tưới cho rau, 1/5000 tưới cho hoa lan rất tốt

Cách tưới phân : việc lựa chọn phân cho lan rất quan trọng nhưng cách tưới phân cũng không kém phần quan trọng Tưới phân sao cho cây hấp thụ

được nhiều nhất.Tưới phân sao cho có hiệu quả kinh tế nhất

Rễ là cơ quan chính giúp lan hấp thụ nước và muối khoáng ngoài ra lá thậm chí có loài thân cũng có khả năng hấp thụ nước và muối khoáng Vì vậy tưới làm sao cho ướt toàn bộ cây mà vẫn tiết kiệm phân người ta làm như sau :Trước khi tưới phân, tưới nước qua một lượt sau đó mới tưới phân như vậy cây hấp thụ phân được dễ dàng hơn.Thường tưới vào buổi sáng sớm và chiều mát, tuyệt đối tránh tưới vào buổi trưa

Ta biết rằng phân được sử dụng hiệu quả qua đường lá khi: Phân ở dạng dung dịch, dung dịch ấy bám vào rễ, lá và giá thể Các chất tan dù ở dạng phân tử hay i-on sẽ xuyên qua màng tế bào chất để vào bên trong nguyên sinh chất của tế bào Cho nên phân mà ta tưới vào lá sẽ xâm nhập liên tục vào bên trong tế bào chừng còn ở dạng dung dịch Ngược lại tưới không lâu đ3 thấy chúng khô đọng lại các vệt trắng ở ngoài của lá thì chỉ ít phân được hấp thụ vào lá

Khoảng cách giữa những lần tưới: Tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu, giá

Trang 38

thể, tình trạng cây, loại phân, nồng độ phân…, việc tưới nên tiến hành từ nồng độ thấp đến cao, như vậy sẽ tốn công lao động nhưng không nguy hại cho lan

Với lan con 5 ngày tưới 1 lần, lan trưởng thành7 ngày /1lần (mùa hè),

từ 7-10 ngày (mùa đông) Sau khi tưới phân, ngày hôm sau nên gia tăng lượng nước tưới với mục đích nếu lượng phân chưa hấp thụ hết thì vẫn có thể tiếp tục

đồng thời giúp rửa sạch muối đọng trên lá và trong giá thể

- Cách sử dụng phân phức hữu cơ:

Là sản phẩm phức hữu cơ có nguồn gốc từ EDTA và các Aminoacid thuỷ phân từ các chất hữu cơ giàu protein(pomior- polymicroelements organic).Sản phẩm ở dạng dung dịch màu xanh lá mạ,trong,đặc sánh; tỷ trọng

từ 1,18-1,22; độ PH 6,5-7.Kết quả phun phân bón lá pomior với nồng độ 0,4%, 5 ngày 1 lần đ3 làm tăng năng suất và chất lượng hoa Cúc đồng tiền rất

rõ rệt, tỷ lệ hoa loại I đạt 31,2% (Hoàng Ngọc Thuận, 2005.) [23].Phân bón Pomior cũng làm tăng năng suất chất lượng hoa hồng, hoa cúc một cách rõ rệt 2.1.3.4 Giàn che

Mục đích của làm giàn che là điều chỉnh cường độ ánh sáng cho phù hợp với nhu cầu của cây lan đang trồng ở các nước tiên tiến người ta trồng lan trong nhà kính có hệ thống điều chỉnh ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm ngay cả chế độ chăm sóc cũng đều tự động cho nên cây sinh trưởng, phát triển rất tốt

ở Việt Nam ngành trồng lan mới bắt đầu cùng với điều kiện kinh tế chưa cho phép hiện đại hoá, chúng ta có thể tự làm giàn che bằng nguyên liệu sẵn có tại địa phương nhưng phải đạt một số tiêu chuẩn sau :

Giàn cao 2,5 – 4m, mái nằm ngang hay xiên nhưng phải theo hướng Bắc – Nam để khi mặt trời di chuyển theo hướng Đông – Tây ánh sáng không

ảnh hưởng liên tục làm hại cây

Tuỳ theo nhu cầu ánh sáng của từng giai đoạn sinh trưởng của cây mà

có chế độ chiếu sáng thích hợp.Với lan con để sinh trưởng phát triển tốt cần

Trang 39

nhận được 100% ánh sáng từ lúc bình minh cho đến 8 h sáng, với lan trưởng thành nhu cầu ánh sáng tăng lên Tuỳ theo nhu cầu ánh sáng của từng cây mà

có chế độ chiếu sáng thích hợp.Ví dụ:Phalaenopsis, Paphiopedilum cần 30 – 40% ánhsáng Dendrobium, Cattleya cần 50 – 60% ánh sáng.Vanda cần 60 – 70% thậm chí có loại cần chiếu sáng 100%

Hiện trên thị trường có bán các loại lưới che với chế độ che phủ 40, 50,

60, 70 – 80% ánh sáng rất nhẹ và tiện lợi Bên cạnh đó có thể dùng giàn che bằng phên nứa đan có ưu điểm mát rẻ tiền nhưng không bền và khó có được lượng ánh sáng phù hợp

2.1.3.5 Phòng trừ sâu bệnh

Trong tự nhiên mỗi cây có một số sâu và bệnh tấn công riêng Cây lan cũng không nằm ngoài quy luật này Sâu bệnh là một vấn đề lớn và nan giải trong quá trình sản xuất, nhân giống và nuôi trồng hoa lan Vì vậy để tránh những thiệt hại không đáng có việc phòng trừ sâu bệnh ngay từ đầu là cần thiết Trước hết cần phải có biện pháp quản lý sâu bệnh một cách tổng hợp đó là:

- áp dụng cách làm vườn tối ưu trong việc trồng các giống lan

+ Cách trồng không đúng có thể làm cây dễ nhiễm bệnh Tưới nước cần thiết và tưới vào thời điểm làm cho lá mau khô Bón phân thường xuyên, để giữ cho cây sinh trưởng phát triển bình thường Sang chậu lan khi cần thiết (ít nhất 2 năm một lần)

+ Chọn giống sạch bệnh

+ Cần phải kiểm tra cây định kỳ Xem xét tất cả các cây mới nhập về, cây ở những chỗ tiếp xúc với không khi bên ngoài lối đi cũng như những chỗ trồng đầy kín lan

- áp dụng biện pháp vệ sinh đối với những cây sâu bệnh và cả vườn lan Dùng thuốc trừ sâu bệnh khi cần thiết

Tuy nhiên hoa lan thường bị một số sâu bệnh hại sau:

Trang 40

* Bệnh đốm vòng - thán thư (Colletotrichum gloeosporioides) Triệu chứng đầu tiên là lá màu nâu và giả hành có vết dạng hình tròn, lõm không

đều, màu sắc vàng hơi xanh nhạt, nhận thấy rất rõ Lá già nhất thường nhiễm bệnh nặng nhất, các lá chưa hoàn toàn trưởng thành cũng bị tấn công

Phòng trừ : cắt bỏ lá bị bệnh, xử lý thuốc như Zi-neb, Ridomil, An- vil

* Bệnh thối rễ, căn hành, giả hành do vi khuẩn (Erwinia Carotovorasub

sp và Erwinia chrysanthemi)

Triệu chứng khi nhiệt độ tăng kết hợp với độ ẩm cao, các vi khuẩn này

là loài ký sinh trên lá và xâm nhập vào những mô đ3 bị thương tổn Các vùng

bị bệnh sẽ úa mềm, có màu nâu và mùi khó chịu Những vết úa thường lan nhanh trong lá, rễ và chậm hơn ở căn hành và giả hành

Phòng trừ: bằng thuốc diệt khuẩn như Physan, Caviben 50 HB, Thiram, Kitazin, thuốc diệt nấm gốc Sunphat đồng 1% cũng có kết quả với vi khuẩn Ngoài ra có thể dùng Steptomicin+ Penicilin

*Bệnh thối trắng rễ (Rhizoctnia solani): Phá hoại trên nhiều giống như Van da,Dendrobium, Cattleya,Oncidium.Bệnh phân bố ở khắp mọi nơi trên thế giới Bệnh nặng làm cây sinh trưởng chậm lại Nấm gây bệnh có thể tấn công vào bất kỳ tuổi nào của cây nhưng thích hợp nhất với cây con, do vậy cây con trong vườn ươm thường bị hại nặng nhất Bệnh thường tiến triển chậm cây bị thối rễ mất sinh lực nếu cây không phòng trừ kịp thời sẽ bị chết (W.Simone, 1995) [29]

*Virus :

Virus có thể làm thay đổi hình thái của cây hoa lan từ chóp rễ đến đỉnh ngọn ảnh hưởng dễ thấy nhất là sự chuyển màu vàng (chlorosis) và mô bị chết (necrosis) Các triệu chứng virus biến đổi nhiều tuỳ thuộc nòi virus và

điều kiện môi trường như ánh sáng, nhiệt độ, dinh dưỡng Thời gian giữa quá trình nhiễm bệnh và sự phát hiện cũng tuỳ thuộc vào nòi virus và điều kiện môi trường Virus không những làm đổi màu sắc trong mô tế bào cây chủ, mà

Ngày đăng: 06/12/2013, 19:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Cơ cấu các loại Lan ở các điểm điều tra  (Số liệu điều tra tính đến Tháng 04 Năm 2005) - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.1 Cơ cấu các loại Lan ở các điểm điều tra (Số liệu điều tra tính đến Tháng 04 Năm 2005) (Trang 57)
Bảng 4.2: Một số loài Lan đang đ−ợc nuôi trồng phổ biến   ở Hà Nội và phụ cận - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.2 Một số loài Lan đang đ−ợc nuôi trồng phổ biến ở Hà Nội và phụ cận (Trang 60)
Bảng 4.3: Các mẫu hoa lan rừng đã thu thập đ−ợc từ năm 2003- 2005 - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.3 Các mẫu hoa lan rừng đã thu thập đ−ợc từ năm 2003- 2005 (Trang 63)
Bảng 4.4b: Một số đặc điểm lá của các loài lan kiếm - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.4b Một số đặc điểm lá của các loài lan kiếm (Trang 66)
Bảng 4.4c: Một số đặc điểm cấu trúc hoa của các loài   thuộc chi lan kiếm đ−ợc nuôi trồng phổ biến ở Hà Nội Cánh đàiCánh bênCánh môi STTTên loài - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.4c Một số đặc điểm cấu trúc hoa của các loài thuộc chi lan kiếm đ−ợc nuôi trồng phổ biến ở Hà Nội Cánh đàiCánh bênCánh môi STTTên loài (Trang 67)
Bảng 4.5a: Một số đặc điểm chính của các loài phong lan rừng - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.5a Một số đặc điểm chính của các loài phong lan rừng (Trang 69)
Bảng 4.5b: Một số đặc điểm lá của các loài phong lan rừng - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.5b Một số đặc điểm lá của các loài phong lan rừng (Trang 70)
Bảng 4.5c: Một số đặc điểm cấu trúc hoa của các loài phong lan rừng  đ−ợc nuôi trồng phổ biến ở Hà Nội Cánh đàiCánh bênCánh môi TTên loàiChiều dàichùm hoa (cm) - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.5c Một số đặc điểm cấu trúc hoa của các loài phong lan rừng đ−ợc nuôi trồng phổ biến ở Hà Nội Cánh đàiCánh bênCánh môi TTên loàiChiều dàichùm hoa (cm) (Trang 72)
Bảng 4.6a: Một số đặc điểm chính của các loài lan hài - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.6a Một số đặc điểm chính của các loài lan hài (Trang 73)
Bảng 4.6b: Một số đặc điểm lá của các loài lan hài   đ−ợc nuôi trồng phổ biến ở Hà Nội - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.6b Một số đặc điểm lá của các loài lan hài đ−ợc nuôi trồng phổ biến ở Hà Nội (Trang 74)
Bảng 4.6c: Một số đặc điểm cấu trúc hoa của các loài Lan Hài   đ−ợc nuôi trồng phổ biến ở Hà Nội - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.6c Một số đặc điểm cấu trúc hoa của các loài Lan Hài đ−ợc nuôi trồng phổ biến ở Hà Nội (Trang 76)
Bảng 4.7: ảnh hưởng của một số loại giá thể đến động thái tăng trưởng  thân của lan hồ điệp (cây 6 tháng tuổi) Loài P.amabilis và P.Happy - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.7 ảnh hưởng của một số loại giá thể đến động thái tăng trưởng thân của lan hồ điệp (cây 6 tháng tuổi) Loài P.amabilis và P.Happy (Trang 78)
Bảng 4.9:ảnh hưởng của một số loại giá thể tới động thái tăng trưởng lá hồ điệp ở 2 loàiP.amabilis   và P - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.9 ảnh hưởng của một số loại giá thể tới động thái tăng trưởng lá hồ điệp ở 2 loàiP.amabilis và P (Trang 83)
Bảng 4.10. ảnh hưởng của một số loại giá thể đến năng suất và giá trị  kinh tế của lan Hồ điệp ở v−ờn sản xuất - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.10. ảnh hưởng của một số loại giá thể đến năng suất và giá trị kinh tế của lan Hồ điệp ở v−ờn sản xuất (Trang 84)
Bảng 4.11: ảnh hưởng của 1 số loại phân bón đến động thái tăng trưởng - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.11 ảnh hưởng của 1 số loại phân bón đến động thái tăng trưởng (Trang 86)
Bảng 4.12: ảnh hưởng của 1 số loại phân bón đến động thái tăng trưởng lá của lan hồ điệp (cây 6 tháng tuổi)  3/3 3/4 3/5 3/6  Công  thức Dài lá  (cm) - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất hoa lan và một số biện pháp kĩ thuật nuôi trồng lan hồ điệp ở một số vùng phụ cận hà nội
Bảng 4.12 ảnh hưởng của 1 số loại phân bón đến động thái tăng trưởng lá của lan hồ điệp (cây 6 tháng tuổi) 3/3 3/4 3/5 3/6 Công thức Dài lá (cm) (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm