1. Trang chủ
  2. » Tất cả

bài soạn thảo luân lần 2

16 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 223 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA Ở VN I.Quan điểm của C.Mác-Ănghen và Lê nin về thời kì quá độ 1.Quan điểm của C.Mác-Ăngh

Trang 1

CÂU 7: TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH BỎ QUA CHẾ

ĐỘ TBCN Ở VN:

A CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA Ở VN

I.Quan điểm của C.Mác-Ănghen và Lê nin về thời kì quá độ

1.Quan điểm của C.Mác-Ănghen về thời kì quá độ

Trong quan điểm cách mạng của Mác, tiến hành cách mạng vô sản là con đường dẫn tới

sự thắng lợi của giai cấp công nhân đưa họ lên nắm chính quyền và thiết lập nền chuyên chính

vô sản đánh dấu sự mở đầu một giai đoạn lịch sử mới, giai đoạn đi vào xây dựng một xã hội mới, giai đoạn quá độ từ CNTB lên CNXH

Năm 1875, trong tác phẩm “phên phán cương lĩnh Gô ta”, Mác đã trình bày hệ thống

những quan điểm của mình về tính chất thời kì quá độ, về vai trò và sự tiến hóa của nhà nước chuyên chính vô sản và sự phân chia giai đoạn trong sự phát triển của xã hội cộng sản Mác

viết: “giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa có một thời kì cải biến cách mạng từ

xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kì đó là một thời kỳ quá độ chính trị, trong đó nhà nước không thể có cái gì khác hơn là chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản” Ở đây Mác

đã nêu rõ luận điểm về sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản và về hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản Khái niệm “thời kỳ quá độ” của Mác gắn liền với học thuyết hình thái kinh tế-xã hội, Mác nói thời kỳ quá độ giữa tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa, thời

kỳ quá độ là thời kỳ “cải biến cách mạng từ xã hội nọ, sang xã hội kia” Hai xã hội đó có hai hình thái kinh tế-xã hội khác nhau nhưng nối tiếp nhau, song về tính chất lại hoàn toàn đối lập nhau, giữa chúng phải có một thời kỳ quá độ “cải biến từ xã hội nọ, sang xã hội kia”

Theo Mác chủ nghĩa cộng sản không thể tạo dựng trong một lúc mà chỉ có thể là kết quả của những cải tạo cách mạng xã hội sâu sắc, trong một thời gian khá dài Bản thân xã hội cộng sản sẽ phát triển qua hai giai đoạn: giai đoạn thấp là CNXH, và giai đoạn cao gọi là chủ nghĩa cộng sản Mác đã phân biệt sự khác nhau giữa những cải tạo của thời kỳ quá độ từ xã hội tư bản lên chủ nghĩa xã hội với những cải tạo của thời kì sau

Tóm lại, từ những diễn giải trên ta có thể rút ra những kết luận sau:

- sự cần thiết phải có thời kỳ quá độ để chuyển từ xã hội cũ-xã hội tư bản sang xã hội mới-xã hội chủ nghĩa, bởi vì các quan hệ xã hội chủ nghĩa không thể hình thành được trong lòng

xã hội tư bản

- Nhà nước trong thời kỳ quá độ không phải cái gì khác hơn là sự chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản trong suốt thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNCS

- Thời kỳ quá độ vừa mang tính chất cách mạng của một sự chuyển biến sâu sắc vừa mang tính chất quá độ Mác đã nhấn mạnh đến sự chuyển biến cách mạng từ xã hội cũ sang xã hội mới trong thời kỳ quá độ Vì vậy, mọi hình thức đấu tranh giai cấp, mọi biện pháp, thủ đoạn hoạt động của giai cấp vô sản trong thời kỳ này nhằm tạo dựng được sự chuyển biến về chất của

xã hội Đồng thời chính Mác đã nhấn mạnh đến tính chất quá độ của thời kỳ này, trong đó cái gọi của xã hội cộng sản chưa phát triển trên cơ sở riêng của mình Đây là sự chuyển từ xã hội cũ dựa trên chế độ công hữu, nó không thể diễn ra nhanh chóng, mà phải rất lâu Nhưng cụ thể là bao lâu? Thì Mác chưa nêu ra được

Như vậy, Mác đã nêu lên một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận và thực tiễn rất lớn, muốn tiến lên chủ nghĩa cộng sản cần phải phân ra nhiều giai đoạn, tùy thuộc trình độ phát triển của trình độ sản xuất chứ không thể phát triển chủ nghĩa cộng sản dưới dạng hoàn chỉnh lý tưởng là xóa ngay lập tức mọi tư hữu, giai cấp và bóc lột

2.Quan điểm của Lê nin về thời kỳ quá độ

Những tư tưởng của Mác-Ănghen về thời kỳ quá độ đã được Lê nin tiếp tục phát triển sáng tạo trong thời kỳ mới Lê nin là người đầu tiên kế tục sự nghiệp của Mác và Ănghen trong điều kiện lịch sử mới, khi cuộc đấu tranh nhằm lật đổ CNTB và xây dựng CNXH đã trở thành sự nghiệp thực tiễn, Lê nin đã cụ thể hóa và làm phong phú thêm quan điểm Macxit về thời kỳ quá

độ Lê nin đã bổ sung luận điểm của Mác-Ănghen về thời kỳ quá độ thể hiện ở hai nội dung sau:

- Lê nin cho rằng cách mạng nổ ra và thắng lợi ở nước Nga (1917), sau đó nước Nga đã đánh thắng cuộc bao vây của 14 nước đế quốc và các thế lực phản động trong nước (1919-1922) Sau đó Lê nin đã đưa nước Nga vào thời kỳ quá độ đi lên CNXH Ông viết nhiều tác phẩm về thời kỳ quá độ ở nước Nga, trong đó ông viết “thời kỳ quá độ ở nước Nga là thời kỳ

Trang 2

quá độ trực tiếp, và phải trải qua hai giai đoạn và rất lâu dài (thời kỳ quá độ của quá độ) Lê nin

nói “bác những cây cầu nhỏ đi lên CNXH”.

- Lê nin cho rằng các nước kém phát triển nông nghiệp, lạc hậu, tiểu nông cũng có thể tiến lên CNXH không qua giai đoạn TBCN với điều kiện là những nước đó phải do Đảng cộng sản lãnh đạo và có một nước XHCN tiên tiến giúp đỡ Thời kỳ quá độ đó gọi là thời kỳ quá độ gián tiếp và rất lâu dài Lê nin gọi đó là thời kỳ quá độ đặc biệt của đặc biệt

Hiện nay, CNXH đang gặp khó khăn lớn, nhưng đó chỉ là tạm thời của một thoái trào do những nguyên nhân đã rõ ràng về cơ bản Kẻ thù tấn công về nhiều phía, tìm cách phá hoại sự nghiệp xây dựng CNXH ở các nước, xuyên tạc và phủ nhận những nguyên tắc cơ bản của CN Mác-Lê nin Song, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định ngày nay vấn là thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH mở đầu bằng cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại “CNXH hiện nay đang đứng trước những khó khăn, thử thách, lich sử thế giới đang trải qua những bước quanh co song loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”

Như vậy, quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở Việt Nam cũng là sự phù hợp với tính quy luật về lịch sử của thời đại, sự phát triển của thế giới ngày nay ngày càng nhanh, quy mô ngày càng lớn, điều đó đòi hỏi mỗi quốc gia dân tộc nếu không muốn phải tụt hậu thì phải chủ động, tích cực thực hiện những bước bỏ qua bằng phương thức rút gọn lịch sử Với sự tác động

to lớn do những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại làm cho quá trình phát triển ngày càng rút ngắn về mặt thời gian

3 Quan niệm của Đảng ta về sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Nhận thức là một quá trình Thông qua hoạt động thực tiễn, những yêu cầu và hoạt động thực tiễn nảy sinh và cùng với nó, những phương thức để giải quyết nhu cầu cũng xuất hiện Điều đó đòi hỏi người cách mạng phải nhận thức và triệt để lợi dụng

Cách mạng nước ta không nằm ngoài quy luật ấy, với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, hiệp định Giơnevơ được kí kết, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng cùng một lúc, đó là cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, trên thực tế đây là nét độc đáo của cách mạng chưa từng có từ trước tới nay, nhưng đồng thời cũng nói lên sự phức tạp của cách mạng Việt Nam Chưa từng có tiền lệ trong lịch sử mà chúng ta vẫn làm không có nghĩa là chúng ta sai, chúng ta mạo hiểm Thực tiến lịch sử đã chứng minh điều đó hoàn toàn đúng đắn trong hoàn cảnh lịch sử trong nước và quốc tế lúc bấy giờ Sau năm 1975 cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những thành tựu đạt được chúng ta đã mắc phải một số sai lầm trong nhận thức và chỉ đạo ví như: chúng ta đề ra chủ trương tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội trong khi đất nước còn thiếu những tiền đề cần thiết, thực hiện tập thể hóa nông nghiệp một cách gượng ép, không tự nguyện đối với nông dân,…kết quả là đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng Trong hoàn cảnh đó yêu cầu đặt ra là phải

có nhận thức đúng đắn về thời kỳ quá độ bỏ qua chế độ Vì thế đại hội IX của Đảng đã nhận định về thời kì quá độ ở Việt Nam như sau:

 Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

 Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của kiến trúc

thượng tầng tư bản chủ nghĩa

 Bỏ qua chế độ chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng phải tiếp thu, kế thừa thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại

Thực ra, nhân loại đã sáng tại ra cả một nền văn hóa, văn minh nhân loại, nhưng qua mỗi thời kỳ, mỗi quá trình, giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của sự phát triển lại đặt dấu ấn của mình,

đã “trạm khắc” vào những thành tựu chung ấy Giai cấp tư sản cũng không nằm ngoài quy luật chung đó Xét về một phương diện nào đó, giai cấp tư sản cũng có công nhất định trong lịch sử tiến hóa của nhân loại Song, tất cả những thành tựu có trong chủ nghĩa tư bản, đương nhiên không phải riêng của giai cấp tư sản mà là của cả nhân loại, trong đó có giai cấp tư sản Bởi vậy, đã là di sản văn hóa của nhân loại, chúng ta tuyệt đối không được quay lưng lại, thậm chí những gì cho dù là của riêng văn minh tư sản, thì cũng không được phép quay lưng lại mà phải biết tiếp thu, kế thừa Không bao giờ chúng ta được quên lời dặn của C.Mác và Ănghen: “đừng

Trang 3

vì căm ghét chủ nghĩa tư bản mà khi hắt chậu nước dơ, lại hắt luôn cả đứa trẻ vừa được tắm gội sạch sẽ” Những kinh nghiệm quản lý vốn, cơ sở hạ tầng, đặc biệt là khoa học-công nghệ mà nhân loại đã đạt được trong chủ nghĩa tư bản nhất thiết phải được tiếp thu và kế thừa để tăng thêm sức mạnh nội lực cho đổi mới và phát triển

B.CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỂ VIỆT NAM LỰA CHỌN CON

ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH BỎ QUA CHẾ ĐỘ TBCN

1 Xét trên phương diện lịch sử

Sự phát triển tuần tự theo từng nấc thang một là tính trên phạm vi toàn thế giới, nhưng đối với từng quốc gia không nhất thiết phải như vậy Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội cũng đã có những quốc gia quá độ bỏ qua một hay một vài hình thái kinh tế xã hội mà không đi tuần tự, ví như nước Mỹ sau cuộc nội chiến Nam-Bắc (1861-1865), nước Mỹ đã bỏ qua giai đoạn phát triển chế độ phong kiến mà tiến thẳng lên chủ nghĩa tư bản Ở Việt Nam không tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ với tư cách là một chế độ đặc trưng, mà Việt Nam chỉ tồn tại chế độ nô tỳ Như vậy, sự phát triển bỏ qua một giai đoạn đã có tiền lệ trong lịch sử

Thế giới sau cách mạng tháng Mười cũng đã có nhiều nước đi theo chế độ TBCN, nhưng những nước thành công không phải là nhiều ở những nước đó vẫn nghèo nàn và lạc hậu, bất bình đẳng Điều đó chứng minh rằng chủ nghĩa tư bản không phải là một chế độ có thể giải phóng triệt để con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân

2.Xét trên góc độ thời đại

Với thắng lợi của cách mạng tháng Mười (1917), cuộc cách mạng do công nông liên minh thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêcvích, cuộc cách mạng thắng lợi có ý nghĩa lịch sử to lớn, lần đầu tiên trong lịch sử trong một đất nước rộng lớn chiếm 1/6 diện tích thế giới quần chúng công nông đã giành được chính quyền và bắt tay vào xây dựng một chế độ mới-chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, dưới mới-chế độ đó con người được giải phóng hoàn toàn khỏi mọi

áp bức bất công, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc thực sự chứ không phải là cái khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bắc ái” mà bọn tư sản rêu rao Như vậy, là với thắng lợi của cách mạng tháng Mười thì nhân loại đã có thêm một con đường mới để lựa chọn đó là con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội Chế độ tư bản chủ nghĩa không còn là con đường lựa chọn duy nhất của các nước sau khi giành được độc lập dân tộc Và chế độ nào ưu việt hơn chế độ nào thì thực tế lịch sử đã chứng minh điều đó

Sau chiến tranh thế giới thứ hai thì một loạt các nước giành được độc lập dân tộc đã đi lên chủ nghĩa xã hội hay định hướng phát triển theo chế độ XHCN Đây là một sự khích lệ rất lớn các nước đang đấu tranh để giành độc lập dân tộc

Do quá trình quốc tế hóa nền kinh tế, do sự phát triển của nền khoa học-kỹ thuật, hợp tác quốc tế,…tạo nên sự hợp tác giữa các quốc gia, sự hợp tác tùy thuộc vào nhau và tạo lên sự hợp tác giúp đỡ giữa các nước đi trước với các nước đi sau

3 Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là phù hợp với điều kiện lịch sử của đất nước ta,

là sự lựa chọn tất yếu của chính lịch sử về con đường giải phóng dân tộc và phát triển đất nước của những phong trào yêu nước Việt Nam.

Ngay sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị trên lãnh thổ Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên chống Pháp Những cuộc đấu tranh khắp 3 miền Bắc-Trung-Nam, những ông vua đã đứng lên chống Pháp, rồi các phong trào theo xu hướng tư sản đầu thế kỷ XX do ảnh hưởng cách mạng dân chủ tư sản phương Tây và cách mạng Tân Hợi (Trung Quốc) nhưng cuối cùng đều thất bại

Cụ Phan Bội Châu về cuối đời đã nhận thức được con đường cách mạng Việt Nam, Cụ viết: “May thay, đang giữa lúc khói bụi, mây mù, thình lình có một trận gió xuân thổi tới Chính giữa lúc trời khuya đất ngủ, thình lình có một tia thái dương mọc ra Trận gió xuân ấy, tia thái dương ấy là chủ nghĩa xã hội vậy Chủ nghĩa xã hội là xe tăng của nhà triết học để xông vào thành lũy của chủ nghĩa đế quốc, mà cũng là toán quân vô địch của nhà nhân từ để phá tan đồ đảng của chủ nghĩa tư bản”

Trong hoản cảnh đất nước bị quân xâm lược dầy xéo, nước mất nhà tan, nhân dân khổ cực lầm than Bác Hồ của chúng ta đã ra đi tìm đường cứu nước, Người đã đi qua nhiều nước đế quốc, thuộc địa cũng như nửa thuộc địa Quá trình trình khảo sát cách mạng đầy gian khổ đó người đã rút ra nhận định rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào

Trang 4

khác ngoài con đường cách mạng vô sản”, bởi vì “chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người có cuộc sống tự do, bình đẳng, bắc ái thực sự”

Nhân dân Việt Nam đã từng sống dưới chế độ phong kiến, chế độ thực dân Pháp đã hiểu được bản chất của chế độ phong kiến, của chế độ tư bản chủ nghĩa, do vậy, đã chấp nhận hy sinh, mất mát để giành cho được độc lập dân tộc và tiếp đó tiến hành cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ để bảo bảo vệ chính quyền nhân dân Ngày nay, chúng ta phải giữ cho được chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Muốn thực hiện được điều đó chỉ có con đường duy nhất là đi lên CNXH

Thực tiễn cách mạng các nước XHCN trước đây đã tạo ra sự phát triển về kinh tế, chăm

lo tới nhu cầu kinh tế, giáo dục, nâng cao mức sống cho nhân dân lao động và thực tiễn phũ phàng do sự đổ vỡ của chế độ XHCN ở những nước này trong những năm qua đã đưa lại một hậu quả nặng nề cho nhân dân lao động như: chiến tranh, nghèo đói, thất nghiệp, mất an ninh,… càng củng cố quyết tâm đi lên CNXH của Việt Nam, chúng ta cần hiểu thực chất của quá độ “bỏ qua” chế độ TBCN, không phải là sự nhảy cóc, đốt cháy giai đoạn, phủ nhận sạch trơn những yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế TBCN mà bỏ qua hậu quả mà chế độ này tạo ra Giai đoạn là một nấc thang của sự phát triển, chúng ta không thể nhảy cóc bỏ qua các nấc thang

đó C.Mác đã khẳng định “Một xã hội, ngay cả khi phát hiện được quy luật tự nhiên của sự vận động của nó…cũng không thể nào bỏ qua các giai đoạn tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xóa bỏ những giai đoạn đó”

Trong thưc tiễn cách mạng Việt Nam, không thể tiến thẳng từ xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất còn thấp kém lên CNXH mà bỏ qua những khâu trung gian, những hình thức quá độ cần thiết để phát triển các yếu tố hợp thành xã hội tương ứng với trình

độ mà giai đoạn TBCN của sự phát triển đã đạt được Do đó, bước quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay cũng phải diễn ra theo cái logic tất yếu đó, phải thực hiện được những chuyển biến cơ bản Điều đó đòi hỏi chúng ta phải sử dụng và phát triển mọi phương diện của đời sống xã hội như: sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó có kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, sự áp dụng các hình thức quản lý theo cơ chế thị trường, có sự cạnh tranh như đấu thầu cổ phần, sử dụng một số hình thức pháp quyền tư bản chủ nghĩa,

4 Chúng ta kế thừa những yếu tố hợp lí của CNTB, không có nghĩa là đi lên TBCN Bởi vì:

- Các yếu tố tư bản được sử dụng và phát triển nhằm phục vụ cho mục tiêu xây dựng CNXH, nằm trong quỹ đạo của CNXH

- Chúng ta không nhất thiết và không thể áp dụng tất cả những hình thức lịch sử, những biện pháp, trình tự, bước đi với tất cả những đặc điểm lịch sử “đầy máu và nước mắt” của giai đoạn TBCN

- Điều quan trọng nhất là chúng ta không để cho các yếu tố, các thuộc tính TBCN chiếm

vị trí chủ đạo, chi phối đời sống xã hội, mà phải làm cho các yếu tố XHCN ngày càng vươn lên giữ vai trò đó

Như vậy, thực chất vấn để “bỏ qua chế độ TBCN” để đi lên CNXH là bỏ qua chế độ chính trị thống trị áp bức, là bỏ qua về mặt lịch sử, bằng phương thức “rút gọn” lịch sử, với những khâu trung gian, những hình thức quá độ, những biện pháp và bước đi thích hợp theo những định hướng cơ bản của CNXH Đó cũng là sự rút gắn giảm bớt những cơn đau đẻ về mặt lịch sử bằng hai nội dung: vừa rút ngắn quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, vừa bỏ qua chế độ TBCN, tiến lên chế độ CNXH

5 Kiên trì con đường XHCN là sự lựa chọn duy nhất đúng trong điều kiện mới.

Đại hội lần thứ VI (12-1986)-Đại hội đổi mới của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước đang lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc Chính tại đại hội này, Đảng ta đã thông qua đường lối đổi mới nhằm khắc phục hậu quả của những sai lầm trong thời gian trước và tiếp tục đưa sự nghiệp xây dựng CNXH tiến lên Đại hội khẳng định, đổi mới không có nghĩa là từ bỏ mục tiêu CNXH đã được lựa chọn mà là tiếp tục tìm ra phương thức, con đường hợp lý, có hiệu quả hơn

để đi tới mục tiêu

Phân tích tình hình thực tế, ngay từ Hội nghị TW 7 (khóa VI), Đảng ta đã tiếp tục khẳng định tính tất yếu lịch sử của CNXH, khẳng định tính khách quan và phương hướng xã hội của quá trình cải tổ, cải cách và đổi mới Đại hội lần thứ VII của Đảng cũng đã khẳng định “nhân dân quyết không chấp nhận con đường nào khác ngoài con đường XHCN” Quả vậy, tiếp tục

Trang 5

phấn đấu vì mục tiêu chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn cần thiết và đúng đắn Điều đó thể hiện ở những lý do sau:

- Cuộc khủng hoảng ở các nước XHCN là cuộc khủng hoảng mô hình phát triển Chúng

ta biết rằng, khi nghiên cứu về sự phát triển của CNTB, Mác đã có những dự đoán về xã hội tương lai, xã hội cộng sản chủ nghĩa trên những nét đặc trưng nhất Trong mô hình xác định đặc trưng CNXH là sở hữu công cộng dưới hai hình thức quốc doanh và tập thể, việc quản lý kinh tế bằng một kế hoạch nhà nước, một hệ thống các chỉ tiêu pháp lệnh, một cơ chế quan liêu bao cấp trong tổ chức sản xuất cũng như phân phối Những yêu cầu này rất phù hợp với yêu cầu thời chiến trong việc huy động sức người, sức của, trong việc tổ chức quản lý lao động thời chiến

- Sự khủng hoảng của mô hình cũ nói lên rằng cần phải có một mô hình CNXH có thể phát huy mọi nguồn lực của xã hội cho sự phát triển vì lợi ích của toàn thể cộng đồng nhằm hiện thực hóa mục tiêu Ở Việt Nam, ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã có sự phát triển mới trong định hình CNXH ở Việt Nam, sự phát triển này được thể hiện trong cương lĩnh được đại hội VII thông qua

Trên cơ sở nhận thức mới về CNXH, Đảng và nhân dân ta đã đẩy mạnh công cuộc đổi mới đưa Việt Nam thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, tiếp bước đi lên theo định hướng, mục tiêu

đã xác định, đó là chủ nghĩa xã hội Như vậy là việc tiếp tục lựa chọn CNXH không có nghĩa là tiếp tục con đường cũ, mô hình cũ đã bị sụp đổ, mà là sự đổi mới, tìm phương cách mới để đi đến mục tiêu Cụ thể là chúng ta đã chuyển sang mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN

- Những hậu quả kinh tế-xã hội của Liên Xô và Đông Âu cho thấy tính cần thiết và đúng đắn của việc kiên trì con đường XHCN Liên xô thực hiện công cuộc cải tổ nhưng do nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân là không nhất quán, kiên trì mục tiêu lý tưởng XHCN đã lựa chọn Quá trình cải cách đã đi chệch hướng, Đảng cộng sản đã mất quyền lãnh đạo cách mạng, các lực lượng cơ hội ngóc đầu dậy giành quyền lực, đưa cuộc cải tổ theo xu hướng tư bản chủ nghĩa

- Việc một loạt các nước xã hội chủ nghĩa cũ rời bỏ con đường XHCN chuyển sang quỹ đạo TBCN không có nghĩa rằng thời đại ngày nay CNXH không còn là xu hướng phát triển của các dân tộc Trên thực tế, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài, CNXH ở một loạt nước sụp đổ “khiến CNXH tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất của thời đại; loài ngươi vẫn trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH”

- Chúng ta biết rằng, lịch sử của xã hội loài người là lịch sử vươn tới tự do CNXH chính

là xã hội vươn tới đảm bảo cho con người sự phát triển toàn diện, làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân, dựa trên chế độ tư hữu trong thực tế không thể có được Với việc khát khao tự do thì việc vận động đi lên, vượt qua CNTB là sự đương nhiên

- Từ khi ra đời CNXH trong thực tiễn với tư cách là sự phủ nhận CNTB, luôn bị giai cấp

tư sản tìm cách chống phá, sự sụp đổ của một số nước XHCN ngoài nguyên nhân bên trong, còn xuất phát từ sự chống đối, sự thù địch Song, sự sụp đổ này không nói lên rằng, CNTB là tiên tiến ưu việt hơn CNXH Đó chỉ là bước rích rắc trong con đường vận động, đi lên CNXH, một

xu hướng tất yếu của xã hội loài người

- Cùng với những điểm trên thì xu hướng hòa hoãn quốc tế đã và đang tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế Nhìn chung, các quốc gia hiện nay đều tập trung vào phát triển kinh tế, coi đó là mục tiêu chiến lược Điều này càng thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hợp tác, liên kết giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ Và qua đó các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển có thể hòa nhập nhanh vào tiến trình phát triển chung

- Một trong những đặc điểm của tiến trình lịch sử Việt Nam là: Đảng Cộng sản-Người đại biểu lợi ích cho giai cấp vô sản và dân tộc là người duy nhất có khả năng và thực tiễn đã lãnh đạo phong trào cách mạng Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, lịch sử đã đặt lên vai những người cộng sản nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ Trải qua quá trình đầy gian khổ,

hy sinh Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành được nhiều thắng lợi, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận người nô lệ lên làm chủ nước nhà Ngay từ khi thành lập, Đảng đã xác định làm cách mạng

tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để tiến lên xã hội cộng sản Trải qua hơn 80 năm qua khuynh hướng chính trị đó đã ăn sâu bám rễ trong xã hội Việt Nam, nó trở thành sức mạnh vật chất thúc đảy xã hội tiến lên Không có lý do gì, cho dù ngay cả sự sụp đổ của một số nước XHCN lại có thể thay đổi được xu hướng bắt nguồn từ trái tim, từ sức mạnh nội tại của cả dân

Trang 6

tộc vốn có truyền thống yêu chuộng tự do Chính vì vậy, việc tiếp tục lựa chọn con đường XHCN là sự phù hợp với mục tiêu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta

Có ý kiến cho rằng, xác định mục tiêu CNXH trong điều kiên một số nước XHCN bị sụp

đổ là không thể thực hiện được do không còn mẫu hình để noi theo và sẽ rơi vào ảo tưởng Thực chất của loại ý kiến này là muốn dân tộc ta từ bỏ mục tiêu CNXH-mục tiêu sẽ đưa lại sự giàu

có, hạnh phúc cho mọi người dân, mục tiêu mà bao thế hệ người Việt Nam đã hy sinh, cống hiến

cả cuộc đời Thực ra, sự sụp đổ CNXH ở một số nước lại cho thấy là những mô hình đó là không phù hợp và đương nhiên chúng ta không thể noi theo, mà phải đổi mới, cải cách, tìm ra hướng đi, mô hình phù hợp với thực tiễn của Việt Nam

Từ thực tiễn thành công và thất bại của phong trào XHCN trên thế giới, cũng như chính

từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, chúng ta hoàn toàn có thể tìm ra con đường đi lên CNXH CNXH với Việt Nam là một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh Đó chính là mục tiêu cần đạt đến Và lịch sử ngày nay đặt lên vai những người cộng sản và dân tộc Việt Nam, bằng chính thực tiễn xây dựng CNXH của mình tạo ra tấm gương

và cổ vũ các dân tộc khác vươn tới tự do, vươn lên CNXH

C NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH BỎ QUA CHẾ ĐỘ TBCN Ở VIỆT NAM

Khả năng con đường phát triển bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta, cần được xem xét trên các lĩnh vực sau:

1 Phương diện chính trị

Ngay từ năm 1921, chủ tịch Hồ Chính Minh đã nhận định, ở nước ta “sự tàn bạo của CNTB đã chuẩn bị đất rồi, CNXH chỉ còn phải làm cái việc là gieo cái hạt của công cuộc giải phóng mà thôi” Từ năm 1930 đến nay phong trào cách mạng Việt Nam trải qua những thời kỳ khác nhau đã trở thành một trào lưu hiện thực quyết xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, giành độc lập dân tộc, tiến lên CNXH, không chấp nhận chế độ TBCN Đó là sự lựa chọn chính trị tự nguyện của tuyệt đại đa số nhân dân và các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với xu thế của thời đại

Với những thành quả của cuộc cách mạng tháng Tám 1945, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân ta đã nêu lên một nguyên lý mới của thời đại Đó là: CNTB có thể đánh bại tại vùng ngoại vi, trước khi nó bị đánh bại tại chính quê hương nó Sau những cuộc chiến tranh chống xâm lược, nhân dân Việt Nam hơn ai hết, hiểu rõ thực chất của CNTB, nên không thể không tìm kiếm con đường phát triển đất nước bỏ qua chế

độ đó Bao nhiêu thành quả cách mạng giành được bằng xương máu của nhiều thế hệ người Việt Nam không thể lại đi theo con đương CNTB để rồi tự mình quay trở lại thân phận bị áp bức, bóc lột, nô lệ

Yếu tố chính trị có vai trò quyết định trong việc thu hút và chuyển hóa nhân tố thời đại thành nguồn lực bên trong để xây dựng CNXH ngay cả trong điều kiện không có chế độ XHCN

ở Liên xô (cũ) và Đông Âu Nói cách khác, trong điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay cái tất yếu chính trị giữ vị trí hàng đầu, nhưng xét đến cùng, trên quy mô thời đại thì nhân tố chính trị này cũng bắt nguồn từ nguyên nhân kinh tế Cái tất yếu chính trị ấy sẽ thúc đảy sự ra đời những cơ

sở kinh tế của chế độ mới ở nước ta

Bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất TBCN Điều đó có nghĩa là, quan hệ sản xuất TBCN, quan hệ bóc lột vấn còn, nhưng nó không phải là tuyệt nhiên, không phải là quan hệ sản xuất thống trị Điều này hoàn toàn đúng, cả về mặt lý luận cả về mặt thực tiễn Rằng với nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có cả thành phần kinh

tế tư bản tư nhân và tư bản nhà nước thì đương nhiên, quan hệ sản xuất TBCN, quan hệ bóc lột TBCN vẫn còn Song, do thành phần kinh tế nhà nước cùng với kinh tế hợp tác xã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, nên quan hệ sản xuất TBCN không thể trở thành quan hệ sản xuất thống trị được, mà trái lại, quan hệ sản xuất này càng được củng cố và ngày càng xác lập vị trí thống trị của mình

Trong hệ thống chính trị hiện nay ở đất nước ta nhân tố có vị trí hàng đầu là Đảng Đảng hoàn thành vai trò của mình thông qua xác định mục tiêu tiêu chính trị, định hướng sự phát triển đất nước bằng cương lĩnh, bằng đường lối chiến lược, bằng những nguyên tắc, chủ trương, đường lối đối ngoại

Trang 7

Bên cạnh vai trò của Đảng trong tiến trình phát triển đi lên CNXH, Nhà nước có vai trò quan trọng Để rút ngắn con đường đi lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Nhà nước phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân hoạt động trong khuân khổ pháp luật nhằm đem lại quyền lợi cho nhân dân

Con đường đi lên CNXH của nước ta hiện nay đang diễn ta trong thời kỳ đầy biến động, thời cơ lớn để phát triển đi liền với thách thức khó khăn Đó là trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh chóng, sự hợp tác giao lưu kinh tế giữa các nước trong khu vực và trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ Vì vậy, tính tất yếu của con đường quá độn lên CNXH bỏ qua chế

độ TBCN không có nghĩa là bỏ qua những thành tựu tiến bộ mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được

Thế giới ngày nay đang vận động theo xu thế hòa bình và phát triển Mọi quốc gia đều tập trung chú ý đến phát triển kinh tế Điều này cho phép các dân tộc trong đó có Việt Nam tranh thủ sự hợp tác, giúp đỡ của cộng đồng trên thế giới để phát triển đất nước

Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, một khu vực đang phát triển năng động trong những thập niên vừa qua và trong tương lai Với lợi thế về nguồn nhân lực có chất lượng cùng tiềm lực vật chất-tài chính, công nghệ Châu Á Thái Bình Dương sẽ là khu vực năng động trong những thập niên tới

2 Phương diện kinh tế

Theo V.I.Lê nin, không ai chờ đợi lịch sử cho ra đời một chủ nghĩa xã hội “hoàn bị”, một cách trơn tru, lặng lẽ, dễ dàng, đơn giản Chúng ta đã và đang kiên trì từng bước xây dựng cơ sở vật chất làm tiền đề cho bước quá độ lên CNXH với những nội dung sau

Thứ nhất, những cơ sở kinh tế-kỹ thuật mà chúng ta giành được quyền làm chủ từ tay

các thế lực xâm lược, cùng với những giá trị đã xây dựng được, do sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây là những tiền đề kinh tế-kỹ thuật cho phép nước ta quá độ lên CNXH,

bỏ qua chế độ TBCN

Thứ hai, bằng cách chuyển nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà

nước và mở rộng kinh tế đối ngoại, nền kinh tế nước ta đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao hơn Điều đó chứng tỏ khẳ năng thừa kế những kinh nghiệm của thế giới, vận dụng thực hiện theo định hướng xã hội chủ nghĩa và phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam

Thứ ba, bằng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước

đóng vai trò chủ đạo, chúng ta đã từng bước giải phóng được sức sản xuất, phát huy các động lực, đạt hiểu quả kinh tế cao hơn và cải thiện đời sống nhân dân

Thứ tư, khả năng phát triển kinh tế của nước ta đang đứng trước những điều kiện mới, cơ

hội mới Ngày nay, với ý chí độc lập, tự chủ, tự cường được phát huy cao độ và đường lối đối ngoại đúng đắn, chúng ta đang nhận được sự hợp tác có hiệu quả với nhiều quốc gia trên thế giới

Thứ năm, những yếu tố quốc tế đang tạo cơ hội cho chúng ta phát triển, đồng thời cũng

buộc chúng ta đối phó với những cạnh tranh quyết liệt vươn lên trong quá trình hội nhập của xu thế quốc tế hóa, khu vực hóa

Với tính chất như vậy:

- Nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng, phải chứa đựng những yếu

tố của nền kinh tế thị trường hiện đại

- Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo

- Phát triển kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội

Trong CNTB, giai cấp tư sản đã tiến hành công nghiệp hóa để phát triển kinh tế Trong điều kiện nước ta hiện nay, tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, muốn phát triển kinh tế, chúng ta không thể nào thị trường hóa và công nghiệp hóa Đối với Việt Nam, đây là hai quá trình, hai bộ phận cấu thành điều kiện kinh tế bảo đảm cho kinh tế phát triển rút ngắn:

Thị trường hóa, lịch sử loài người đã chứng tỏ rằng, con đường phát triển tuần tự

không phải là con đường phát triển duy nhất từ phương thức sản xuất này sang phương thức sản xuất kia Hơn nữa khi nhận thức của con người về xã hội ngày càng phát triển, thì khả năng đi tắt, rút ngắn lại ngày càng hiện thực Sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, nước ta chỉ có một con đường lựa chọn là

đi lên CNXH Nhưng lực lượng sản xuất ở nước ta còn ở trình độ thấp kém, không thể thực hiện

Trang 8

cách mạng xã hội chủ nghĩa bằng việc cải tạo quan hệ sản xuất cho phù hợp với lực lượng sản xuất như đối với chủ nghĩa tư bản phát triển Vì vậy, nhiệm vụ hàng đầu của nước ta trong giai đoạn này là phát triển lực lượng sản xuất Nhưng lực lượng sản xuất không tự nó phát triển được, lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển được thông qua quan hệ sản xuất nhất định, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của nó

*Thực hiện rút ngắn quá trình công nghiệp hóa

Trong điều kiện nền văn minh nông nghiệp chuyển sang nền văn minh công nghiệp, muốn phát triển rút ngắn, chúng ta không thể không tiến hành công nghiệp hóa Chúng ta thực hiện công nghiệp hóa trên cơ sở tái tạo thiên nhiên với mục đích tối cao là vì con người Nói cách khác đó là quá trình công nghiệp hóa bền vững

Tóm lại, với những nội dung đã trình bày ở trên, chúng ta có cơ sở khoa học tin tưởng rằng con đường quá độn lên CHXH bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta trong điều kiện hiện nay là tất yếu và có khẳ năng thực hiện

Trước đây, các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lê nin đã chỉ ra điều kiện quan trọng để thực hiện quá độ bỏ qua chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội với các nước tiền tư bản:

Phải có được tấm gương của cuộc cách mạng đã thắng lợi

- Có được sự giúp đỡ, ủng hộ tích cực của các nước tiên tiến và giai cấp công nhân ở các nước đó

- Có một chính đảng vô sản đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo đất nước tiến lên CNXH Với những điều kiện trên, trong tình hình hiện nay, nước ta hoàn toàn có đủ điểu kiện thực hiện sự phát triển “rút ngắn” để đi tới CNXH

Thứ hai ,nếu các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lê nin chỉ rõ ra rằng cần phải có sự

giúp đỡ tích cực của các nước tiên tiến và giai cấp vô sản các nước đó thì ở Việt Nam hiện nay,

có thể thấy rằng Đảng và Nhà nước ta, hơn bao giờ hết đã có đủ kinh nghiệm và bản lĩnh trong việc thu hút sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của các nước phát triển cũng như giai cấp vô sản quốc tế để xây dựng đất nước theo định hướng XHCN

Ngày nay, từ khi “chiến tranh lạnh” kết thúc, tính chất của sự giúp đỡ quốc tế đã có ít nhiều thay đổi Xu thế của thời đại đã mở ra một giai đoạn mới cho những quan hệ quốc tế Đảng và Nhà nước ta đã sớm nắm bắt và xử lí thành công các quan hệ quốc tế của mình với thế giới bên ngoài Và đây chính là một trong những nguyên nhân lớn có ý nghĩa quan trọng trong

sự nghiệp xây dựng đất nước

Thứ ba, nếu như các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lê nin luôn luôn nhấn mạnh vai

trò của Đảng, của giai cấp vô sản trong việc lãnh đạo cách mạng nói chung và trong việc thực hiện quá trình “rút ngắn” ở các nước tiền tư bản nói riêng, thì ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam rõ ràng nhân tố có vai trò quyết định với việc đẩy mạnh, sự phát triển của đất nước theo định hướng XHCN

Với những điều kiện vừa nêu trên, đối với nước ta, việc xác định con đường “rút ngắn”

bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội rõ ràng là một thực tế khách quan

Tóm lại, với những nội dung đã trình bày trên, chúng ta có cơ sở khoa học tin tưởng rằng con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta trong điều kiện hiện nay là tất yếu và có khẳ năng thực hiện

D KẾT LUẬN

Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là tất yếu khách quan, là sự lựa chọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của toàn Đảng và toàn dân tộc ta, là sự lựa chọn hợp quy luật Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng từ Đại hội VI (12-1986) là sự nghiệp cải biến cách mạng nhằm khơi dậy và phát huy mọi nguồn lực cho sự phát triển, đem lại sự biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đó là sự khẳng định mạnh mẽ nhất quán quan điểm của Đảng và dân tộc ta trong việc lựa chọn và hiện thực hóa con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội Đại hội VIII của Đảng đã cụ thể hóa một cách toàn diện về sự phát triển quá độn lên chủ nghĩa

xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Đây là nhận thức một cách đúng đắn mới đồng thời cũng

là khẳng định cụ thể hóa con đương tiến lên chủ nghĩa xã hội của nươc ta trong thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước

Xây dựng chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tạo sự biến đổi về chất của

xã hội trên tất cả các lĩnh vực Đây là sự nghiệp rất khó khăn phức tạp, cho nên phải trải qua

Trang 9

một thời kỳ quỏ độ lõu dài với nhiều chặng đường, nhiều hỡnh thức khỏc nhau Sự lựa chọn con đường này thuộc về loại hỡnh “phỏt triển rỳt ngắn” đó được C.Mỏc và Ănghen dự bỏo và được

Lờ nin phỏt triển

Hiện nay, ở nước ta vấn cú đầy đủ điều kiện về phương diện kinh tế và chớnh trị để cú thể tiến lờn chủ nghĩa xó hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Việc bỏ qua này đảm bảo quy luật phỏt triển tất yếu của lịch sử, và khiến cho con đường đi lờn của chỳng ta được rỳt ngắn hơn trong bối cảnh thế giới ngày nay

CÂU 8: SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN NỀN KT NHIỀU TP Ở VN HIỆN NAY:

Đổi mới kinh tế Việt Nam là một cao trào của toàn dân ta do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xờng và lãnh đạo công cuộc đổi mới thực sự bắt đầu năm 1986

Năm 1986 trở về trớc nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế sản xuất nhỏ mang tính tự cung tự cấp vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Mặt khác do những sai làm trong nhận thức và mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế n ớc ta ngày càng tụt hậu, khủng hoảng trầm trọng kéo dài, đời sống nhân dân thấp

Đứng trớc bối cảnh đó con đờng đúng đắn duy nhất để đổi mới đất n ớc là đổi mới kinh tế Từ1986, trên cơ sở quan điểm toàn diện nhận thức rõ về thực trạng đất n ớc cùng với những thành tựu trong những năm đầu đổi mới đến năm 19991 tại Đại hội lần VII Đảng ta đã đi tới quyết

định kiên quyết xoá bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh

tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nớc

Đờng lối đó đợc thực hiện trên mời năm đổi mới đã đem lại những thành tựu đngs khích

lệ chứng tỏ đờng lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc là hoàn toàn đúng đắn Nhng phía sau những thành tựu đó còn không ít những khó khăn nổi cộm Co đó cần nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện những quan điểm, biện pháp để nền kinh tế nớc ta phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa và giữ vững định hớng đó Đây là việc làm thiết thực và rất cần thiết đối với vận mệnh đất n ớc vì vậy tôi đã quyết định chọn đề tài "Quan điểm toàn diện với việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta trong giai đoạn hiên nay" để nghiên cứu Hơn nữa, đây là đề tài mang giá trị thực tiễn và giá trị khoa học lớn góp phần làm sáng tỏ quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác-Lênin Do đó sự tồn tại quá lâu của cơ chế kinh tế cũ đã

ăn sâu bám rễ vào t duy nhận thức, vào quan điểm và cách thức điều hành quản lý kinh tế của chính phủ nên việc chuyển từ nề kinh tế nhỏ sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đòi hỏi phải có sự xem xét một cách toàn diện, cụ thể những điều kiện của n ớc ta Đây là lần đầu tôi làm tiểu luận nên không thể tránh khỏi những thiếu sót về nội dung cũng nh hình thức, kính mong thầy giáo cùng bạn đọc tận tình sửa chữa và góp ý cho tôi để tôi có thể hoàn thành bài luận tốt hơn

I- Lý luận chung về quan điểm toàn diện với việc phát triển nền kinh

tế hàng hoá nhiều thành phần théo định hớng xã hội chủ nghĩa.

Nói đến quan điểm toàn diện với vấn đề trên tr ớc hết ta phải hiểu đợc nền kinh tế hàng hoá là gì ? xã hội chủ nghĩa là gì ? thế nào là thành phần kinh tế và tại sao phải phát triển nền kinh tế theo định hớng xã hội chủ nghĩa mà không theo một hớng khác

1.1 Khái niệm về xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Vào tháng 6-1996 tại đại hội Đảng lần VIII đã xác định:

Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một xã hội do nhân dân lao đọng làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lợng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về t liệu sản xuất, chủ yếu

có nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, con ngời đơc giải phóng khỏi áp bức bóc lột, mọi ngời

có quyền làm chủ bản thân mình và làm theo năng lực h ởng theo lao động Là xã hội mà ng ời dân có cuộc sống ám no hạnh phúc, tự do trong khuôn khổ pháp luật, có điều kiện để phát triển toàn kện cá nhân các dân tộc trong nơc sđoàn kết, bình đẳng và giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến

bộ, có quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân tất cả các nớc trên thế giới

Theo Mác, XHCN đáng lẽ phải ra đời từ các n ớc t bản văn minh có nền kinh tế phát triển cao song do lịch sử Việt Nam đã chịu ách thống trị của phong kiến và thực dân, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc đ a đaats nớc đi lên XHCN Vì vậy, Việt Nam-một nớc kinh tế ch phát triển còn nghelò nàn, lạc hậu đã đi theo con đờng XHCN, định hớng XHCN ở nớc ta ngày càng đợc giữ vững và không ngừng phát triển

đặc biệt và định hớng về chính trị xã hội và kinh tế

1.2 Thế nào là nền kinh tế hàng hoá?

Nền kinh tế hàng hoá là kiể tổ chức kinh tế-xã hội mà xản phẩm sản xuất ra để bán, trao

đổi-tiêu dùng, sản xuất ra cái gì, cho ai đều thông qua mua bán và hệ thống thị tr ờng và do thị trờng quyết định

{Trích Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Nhà

XB chính trị quốc gia Hà Nội-1996 trang 79}

Do kinh tế Nhà nớc giữ vai trò định hớng kém hiệu quả, cha làm tốt vai trò chủ đạo Kinh

tế hợp tác chậm đổi mới, số tổ chức hợp tác tr ớc kia chỉ còn tồn tại 10% Nhiều hình thức hợp tác mới ra đời nhng cha đợc tổng kết, đánh giá, Nhà nớc lại cha có sự giúp đỡ nên phơng hớng hoạt động còn nhiều vớng mắc lúng túng Để kinh tế hợp tác để tạo hành lang pháp lý cho quá trình hoạt động của thành phần kinh ftế này Không có sự định h ớng của Nhà nớc, nó sẽ không

Trang 10

liên kết hợp tác với kinh tế Nhà n ớc, xa rời Nhà nớc và xa dần định hớng mục tiêu xã hội chủ nghĩa

Do việc quản lý các doanh nghiệp còn rất nhiều sơ hở Phần lớn kinh tế t bản nhà nớc chỉ tập trung vào lĩnh vực và kinh doanh bất động sản Sự liên doanh của Nhà n ớc với t bản t nhân rất ít Việc quản lý các liên doanh có vốn đầu t của nớc ngoài còn nhiều sơ hở nghiêm trọng dẫn

đến cacs hiện tợng tiêu cực nh: Giao công nghệ lạc hậu, khai man giá thiết bị máy móc, trốn lậu thuế trở thành phổ biến Những thành phần kinh tế tiêu biểu cho lực l ợng quyết định định hỡng xã hội chủ nghĩ còn non dém Chúng ch phát huy đợc tính u việt so với nền sản suất nhỏ Sự non kém đó cùng với năng lực quản lý điều hành yết kém là nguy cơ dẫn đến chệch h ớng xã hội chủ nghĩa

Kinh tế, xã hội cần nhận thức tính chất nhiều thành phần của nền kinh tế là một tất yếu khách quạn từ đó có thái độ đúng đắn trong việc khuyến khích sự phát triển của chúng theo định hớng XHCN

1.3 Việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định h ớng xã hội chủ nghĩa.

Đi theo định hớng xã hội chủ nghĩa là đi đến mục tiêu không còn áp bức bóc lột, đi tới chế độ công hu các t liệu sản xuất thực hiện đợc công bằng xã hội và xã hội có mức sống cao

Về mặt kinh tế công bằng không có nghĩa là bình quân Đó là một mặt kinh tế công bằng không

có nghĩa là bình quân Đó là một quá trình tiến dần dần thông qua các biện pháp kinh tế-xã hội tổng hợp Điểm khác nhau cơ bản của cơ chế kinh tế của XHCN so với cơ chế kinh tế t bản chủ nghĩa là khả năng từng bớc rút ngắn khoảng cách giàu-nghèo trong khi chủ nghĩa t bản chỉ có thể dẫn đến phân cực Trong thời kỳ quá độ chúng ta thừa nhận còn có bóc lột, đây là hiên t ợng không hợp lý cần xoá bỏ

Thực hiện mục tiêu đó là một nhiệm vụ lâu dài của nhiều thế hệ, phải giải quyết vằng nhiều biện pháp không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của công dân B ớc đầu chìa khoá để giải quyết nhiệm vụ đó là xã hội hoá XHCN trong thực tế nền sản xuất xã hội

Định hớng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế đòi hỏi phải giải quyết đúng đắn mối quan

hệ giữa phát triển lực lợng sản xuất xây dựng quan hệ sản xuất mới Phải khắc phục đ ợc nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế và xây dựng thành công cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Vừa hình thành đợc cơ cấu kinh tế đặc trng cho xã hội mới Quá trình chuyển hớng và đổi mới nền kinh tế theo định hớng xã hội chủ nghĩa là một nguyên tắc, một vấn đề chiến l ợc quan trọng nhất, cơ bản nhất của t duy kinh tế mới của Đảng ta

II Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở n ớc ta trong giai

đoạn hiện nay

2.1 Tính tất yếu khách quạn dẫn đến việc tồn tại và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ỏ nớc ta.

Sau khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành chính quyền tiếp quản nền kinh tế chủ yếu duựa trên chế độ t hữu về t liệu sản xuất Thực tế có hai loại t hữu: T hữu lớn bao gồm nhà máy, hầm mỏ, doanh nghiệp của các chủ t bản trong và ngoài nớc Đó là kinh tế t bản chủ nghĩa t hữu nhỏ gồm những ngời nông dân cá thể, những ngời buôn bán nhỏ Đó là sản xuất nhỏ cá thể

Để xác lập cơ sở kinh tế của chế độ mới, Nhà nớc ta xây dựng và phát triển các thầnh phần kinh tế mới Đối với t hữu lớn Kinh tế t bản t nhân chỉ có phơng pháp duy nhất là quốn hữu hoá Lý luận về quốc hữ hoá của chủ nghĩa Mac-Lênin khẳng định không nên quốc hữu hoá ngay một lúc mà phải tiến hành từ từ theo từng giai đoạn và bằng hình thức ph ơng pháp nào là tuỳ điều kiện cụ thể cho nên doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế t bản chủ nghía còn tồn tại

nh một tất yếu kinh tế đồng thời hớng chủ nghĩa t bản và con đờng Nhà nớc hình thành thành phần kinh tế t bản Nhà nớc

Việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định h ớng xã hội chủ nghĩa

Đối với t hữu nhỏ thì chỉ có thông qua con đ ờng hợp tác hoá theo các nguyên tắc mà Lênin đã vạch ra là tự nguyện dân chủ cùng có lợi đồng thời tuân theo các qui luất khách quan

Do đó trong thời kỳ quá độ còn tồn tại thành phần kinh tế cá thể

Hơn nữa các thành phần kinh tế cũ còn có khả năng phát triển, còn có vai trò đối với sản xuất và đời sống bởi vậy không thể bỗng chốc xoá bỏ ngay đ ợc Trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế cần phải thu hút các nuồn lực từ bên ngoài Nhà n ớc xã hội chủ nghĩa có thể liên doanh hợp tác với t bản t nhân trong nứoc và nớc ngoài làm hinh thành kinh tế t bản Nhà nớc

Mặt khác sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia do đặc điểm lịch sử, điều kiện chủ quan, khách quan nên tất yếu có sự phát triển không đồng đều về lực l ợng sản xuất giữa các ngành, các doanh nghiệp chính sự phát triển không đồng đều đó quyết định quan hệ sản xuất, tr ớc hết hình thức, qui mô và quan hệ sử hữu phải phù hợp với nó nghĩa là tồn tại những quan hệ sản xuất không giống nhau Đó là cơ sở hình thành các cơ sở kinh tế khác nhau Sự tồn tại các thành phần kinh tế ở nớc ta có ý nghĩa lý luận và thực tế to lớn

Trên đây là nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại và phát triển nhiều thành phần kinh tế ở Việt Nam còn có cơ sở khách quan của sự tồn tại và phát triển kinh tế hàng hoá là do: phần công lao

động xã hội với t cách là cơ sở kinh tế của sản xuất hàng hoá chẳng những không mất đi trái lại ngày càng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu ở n ớc ta ngày càng có nhiều ngành nghề cổ truyền có tiềm năng lớn trớc đây bị cơ chế kinh tế cũ làm mai một nay đ ợc khôi phục và phát triển Sản phẩm đa ra trên thị trờng phong phú, đa dạng chất l ợng cao, mẫu mã đẹp hơn Sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá lao động đã vợt khỏi phạm vi quốc gia, trở thành phân công lao

Ngày đăng: 10/04/2019, 22:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w