REPORT ON MICROPROPAGATION EXPERIMENT OF SINNINGIA SPECIOSA, CHRYSANTHEMUM SP, LILIUM SP, ARTERMISIA DRACUNCULUSREPORT ON MICROPROPAGATION EXPERIMENT OF SINNINGIA SPECIOSA, CHRYSANTHEMUM SP, LILIUM SP, ARTERMISIA DRACUNCULUSREPORT ON MICROPROPAGATION EXPERIMENT OF SINNINGIA SPECIOSA, CHRYSANTHEMUM SP, LILIUM SP, ARTERMISIA DRACUNCULUSREPORT ON MICROPROPAGATION EXPERIMENT OF SINNINGIA SPECIOSA, CHRYSANTHEMUM SP, LILIUM SP, ARTERMISIA DRACUNCULUSREPORT ON MICROPROPAGATION EXPERIMENT OF SINNINGIA SPECIOSA, CHRYSANTHEMUM SP, LILIUM SP, ARTERMISIA DRACUNCULUS
Trang 1REPORT ON MICROPROPAGATION EXPERIMENT OF SINNINGIA SPECIOSA,
CHRYSANTHEMUM SP, LILIUM SP, ARTERMISIA DRACUNCULUS
Nguyễn Võ Minh Trung, Phạm Thanh Hiền, Phạm Tuấn Anh, Nguyễn Thị Anh Thi
Trường Đại Học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh
ABSTRACT: In this study, we conduct the micropropagation of 4 different plant species, each of which has unique output requirement: adventitious shoot formation for S.Speciosa, callus formation and weight for Chrysanthenum sp, PLBs formation for Lilium sp and lateral shoot induction for Artemisia Drancunculus or Tarragon for short The environment of each species is supplemented with different concentrations of BA and NAA or 2,4D , in which one PGR is kept constant whereas the other varies The requirement for each experiment on those plants are also unique The effects of the plant growth regulator on particular types of specimen of each species are recorded To S.Speciosa, the probable best PGR concentration is BA 2.5mg/l : NAA 0.1 mg/l for the stem sample and BA 1mg/l: NAA 0.1mg/l for the leaf sample To Chrysanthenum sp, the best result is obtained at BA 2mg/l and 2,4-D 1.5mg/l in darkness To Lilium sp, 0.5mg/l of BA and 0.5mg/l of NAA gives the best PLBs formation ratio To Tarragon, The highest shoot and root is formed at the explant with no BA whereas the highest shoot induction ratio is obtained at 0.1 mg/l BA All of this demonstrate to us the importance of PGRs presence and concentration in micropropagation of plant
Keyword: Sinningia Speciosa, Chrysanthemum sp, Lilium sp, Artermisia Drancunculus, Tarragon,
Plant Growth Regulator, micropropagation, adventitious root, adventitious shoot, lateral shoot, PLBs
1 Giới thiệu
Tử la lan ( Sinningia Speciosa) là 1 loài cây thân thảo mọng nước mọc quanh năm thuộc cho
Gesneriacea tìm thấy ở Nam Mỹ Nó được gọi là Gionxinia và được trồng rộng rãi khắp thế giới làm cây cảnh nhờ có lá rộng oval lụa, màu sắc sặc sỡ và hoa có hình chuông đặc sắc.Tuy vậy, khó có thể có được 1 lưộng lớn cây giống khỏe mạnh dù là dùng hạt ( do sự tự bất thụ) hay dùng thân củ ( do sức sống kém) Vì vậy việc vi nhân giống cây trở thành 1 phương pháp hữu hiệu để nhân giống rộng rãi loài ây này
Chi Cúc (danh pháp khoa học: Chrysanthemum sp) là một chi thực vật có hoa trong họ Cúc
(Asteraceae) Chrysanthemum có nhiều công năng hữu ích cho cuộc sống của con người như làm hoa trang trí, làm thuốc chữa bệnh, làm phong phú cho đời sống ẩm thực và thậm chí là làm thuốc trừ sâu Cúc có thể được nhân giống truyền thống bằng việc giâm cành, tuy nhiên phương pháp này rất lâu và đang được thay thế dần bằng nhân giống trong ống nghiệm với sản lượng cao hơn gấp nhiều lần
Lilium sp là 1 trong những loài hoa thân củ có giá trị thương mại cao nhất Loài này cũng có khả năng
nhân giống vô tính cao nhất đối với mọi phương pháp Việc vi nhân giống bằng PLB đã được giáo sư Dương Tấn Nhựt và cộng sự nghiên cứu và cho hệ số nhân giống rất cao, đồng thời thích hợp cho việc hình thành kiểu hình cũng như các nghiên cứu chuyển gene cho Lilium sp
Artemisia dracunculus L var sativa, hay cây ngải giấm hay Tarragon Pháp, là một loại thảo mộc bất
thụ thường xanh có chiều cao 2 feet và có thân cành dựng thẳng, có màu xanh lá cây đậm, lăng mạ và dài 1 đến 4 inch Lá Tarragon của Pháp chứa 0,25 đến 1% dầu thơm, trong đó 75% là methyl chavicol, nguồn gốc của hương cam thảo Các loại tinh dầu được sử dụng bởi các ngành công nghiệp thực phẩm
và nước hoa trong khi lá ngải giấm được sử dụng cả tươi và khô làm gia vị quan trọng Vì đặc tính bất thụ của loài cây này, việc nhân giống vô tính, đặc biệt là vi nhân giống là lựa chọn duy nhất Việc nuôi cấy mô sản xuất loài cây này còn có ưu thế hạn chế tổn thất do điều kiện tự nhiên và mầm bệnh Nghiên cứu sau đây được thực hiện trên cả 4 loài thực vật trên để tìm ra nồng độ chất điều hòa sinh trưởng thực vật tối ưu mà cụ thể là auxin và cytokinin cho việc nhân giống phổ thông các loài cây này
2 Vật liệu và phương pháp
2.1 Vật liệu
2.1.1 Môi trường nuôi cấy
Bao gồm môi trường căn bản Murashige Skoog bổ sung thêm PGRs ứng với mỗi loài
2.1.1.1 Murashige Skoog medium
Được pha từ các stock đa lượng, stock vi lượng, stock sắt, stock vitamin và stock inositol
o Stock đa lượng
Trang 2Potassium phosphate monobasic 170.000 mg/l
o Stock vi lượng
Cobalt chloride hexahydrate 0.025 mg/l Copper sulphate pentahydrate 0.025 mg/l Manganese sulphate monohydrate 16.900 mg/l Molybdic acid (sodium salt) 0.213 mg/l
o Stock sắt EDTA disodium salt dihydrate 37.300 mg/l Ferrous sulphate heptahydrate 27.800 mg/l
o Vitamin Nicotinic acid (free acid) 0.5 mg/l
o Stock Myo-Inositol (Meso-inositol) 100.000mg/l Được pha in situ theo công thức cho 1l môi trường
o 50ml stock đa lượng
o 1ml stock vi lượng
o 5ml stock sắt
o 5ml stock meso-inositol
o 1ml stock vitamin 2.1.1.2 Môi trường cho từng loại mẫu cấy
Với tử la lan: MS + NAA 0.1 mg/l + BA (1; 1,5; 2; 2,5 mg/l) Nhóm được giao làm khảo sát ở nồng độ BA 1mg/l
Với cúc : MS +BA 2mg/l + 2,4-D (1;1,5; 2; 2,5 mg/l) Nhóm được giao làm ở nồng độ 1mg/l
Với Lili : MS + BA (0,3; 0,4; 0,5; 0,6 mg/l) + NAA 0,5 mg/l Nhóm được giao làm ở nồng độ 0,3 mg/l
Với ngải giấm : MS + BA (0; 0,05; 0,1; 0,15 mg/l) Nhóm được giao làm ở nồng độ 0mg/l 2.1.1.3 Sucrose và agar
Sucrose được cho vào sau khi đã cho khoáng MS và PGRs vào Sucrose được cho với hàm lượng 30 g/l
Chỉnh pH bằng NaOH 0.1M và HCl 0.1M lên tới 5.8±0.02
Agar được cho vào sau cùng với hàm lượng 5.5g/l
2.1.2 Mẫu cấy
Mẫu cấy được cung cấp từ các cây con trong ống nghiệm của phòng thí nghiệm công nghệ tế bào, Khoa Kĩ Thuật Hóa Học, trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.3 Dụng cụ
Ống nghiệm Ø30 20
Becher 1000ml 1
Trang 3 Becher 25 ml2
Ống đong 100ml 1
Tủ cấy UV
Đèn cồn
Giếng khử trùng
2.2 Phương pháp tiến hành
2.2.1 Yêu cầu cho từng loại mẫu cấy
2.2.2 Chuẩn bị môi trường
200ml môi trường được chuẩn bị theo công thức trên Đun khuấy bằng cá từ cho tan agar rồi phân phối vào 20 ống nghiệm cho 1 nhóm có 4 người ( mỗi người có 5 ống nghiệm cho mỗi loài cây)
2.2.3 Khử trùng môi trường, mẫu cấy
Môi trường được đem khử trùng ở 121oC 1at trong 15 phút
Mẫu cấy không cần được khử trùng do đã được nuôi cấy vô trùng sẵn trong ống nghiệm
2.2.4 Thao tác cắt và cấy mẫu
Khử trùng UV tủ cấy: Bật đèn UV trong 30 phút Sau đó tắt đèn và để thêm 5 phút
Bật giếng khử trùng cho đến khi đạt đến nhiệt độ 250oC
Khử trùng tay và chuyển môi trường petri vào tủ cấy
o Mặc áo blouse, xắn tay áo, tháo đồng hồ và các vật dụng có thể gây nhiễm
o Thấm cồn 76o đầy một miếng bông thấm và xoa đều từ bàn tay lên trên khuỷu tay
o Xịt cồn và đem bao môi trường vào tủ cấy Bật đèn cồn
o Khử trùng dụng cụ trong 2 phút: Tiến hành lấy ra và thao tác trên các mẫu như sau :
Tử la lan : cắt 4 mẫu lá, 4 mẫu cuống lá và 2 mẫu thân
Lá: chọn phần lá vừa lớn, cắt đôi và xén viền để tạo nhiều vị trí vết thương tiếp xúc với môi trường và mẫu có kích thước 0,5x0,5 cm2 Đặt 2 mẫu lá trong cùng 1 ống nghiệm sao cho mặt dưới tiếp xúc môi trường và các vết thương tiếp xúc với môi trường và 2 mẫu lá cách đều nhau và thành ống
Cuống: Cuống được cắt ở vị trí giao giữ lá và thân, tỉa sạch các phần lá với thân còn dính 2 mẫu cuống được đặt nằm trong cùng 1 ống nghiệm sao cho cách đều nhau và thành ống
Thân : Chọn phần thân giữa, xén đầu và gốc cho mẫu có chiều dài 1cm Lưu ý tránh các vị trí nách lá để tránh sai số do chồi bên 2 mẫu thân dài 1 cm được đặt nằm trong cùng 1 ống nghiệm: cách đều nhau và thành ống
Cúc: cắt 4 mẫu lá , 4 mẫu cuống và 2 mẫu thân Thao tác cắt như tử la lan Mỗi nhóm có 1 nửa số mẫu để ngoài sang theo điều kiện phòng, một nửa nhóm cũng để trong điều kiện phòng nhưng không được chiếu sang
Lili: cắt 6 mẫu lá và 4 mẫu vảy
Lá: chọn phần lá vừa lớn, cắt đôi hoặc tư, tạo nhiều vết thương hơn bằng cách xen viền cho mẫu có kích thước 0,5x0,5 cm2 Đặt 2 mẫu
lá trong cùng 1 ống nghiệm sao cho mặt dưới tiếp xúc môi trường
và các vết thương tiếp xúc với môi trường và 2 mẫu lá cách đều nhau và thành ống
Vảy: Vảy được róc từ gốc Chọn phần vảy non nằm ở các lớp phía trong, cắt đôi và tạo vết thương, kích thước 0,5x0,5 cm2 Đặt 2 mẫu vảy trong cùng 1 ống nghiệm sao cho các vết thương tiếp xúc với môi trường và 2 mẫu cách đều nhau và thành ống
Ngải giấm: Cắt 2 mẫu chồi ngọn, 3 mẫu chồi bên
Trang 4 Chồi ngọn: Tỉa hết ngọn lá Cắt và đặt cắm thẳng vào môi trường
Chồi bên: Chọn khoảng 2-3 đốt cây rồi cắt, tỉa hết ngọn lá và đặt cắm thẳng vào môi trường
2.2.5 Nuôi cấy
Sau khi được cắt và cấy vào môi trường như trên Các mẫu cấy của các loài được nuôi ở phòng có độ
ẩm 70%, cường độ chiếu sáng 4000 lux, và quang chu kỳ (photoperiod) 12h /ngày
Tử la lan được nuôi cấy trong 4 tuần, cúc được nuôi cấy trong 3 tuần, lili được nuôi cấy trong 3 tuần, ngải giấm được nuôi cấy trong 2 tuần
3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Tử la lan
0
0.51
1.52
2.53
3.54
4.5
2.67
2 1.5
1
0
4
1.4 1.25
0
3.43
Figure 1 :Số chồi bất định tạo theo tỷ
lệ BA/NAA ngoại mô
Chồi lá Chồi cuống Chồi thân
BA/NAA ratio
Mẫu cấy tử la lan của tôi có tần suất ra chồi bất định rất thấp: Đa số tạo sẹo, 1 ống mẫu lá
bị nhiễm nấm, 1 ống mẫu thân có ra chồi bên ( được tính vào figure 1)
So sánh với các thành viên trong nhóm : chị Nguyễn Thị Anh Thi có tần số tạo chồi cao nhất, các cộng sự còn lại có tần số tạo chồi thấp hơn và gần bằng tôi
So sánh với các nhóm khác :
o Tần suất tạo chồi và tỷ lệ sống sót mẫu chồi lá cao nhất: nhóm BA/NAA =10
o Tần suất tạo chồi và tỷ lệ sống sót mẫu chồi cuống cao nhất: Nhóm BA/NAA=25
o Tần suất tạo chồi thân cao nhất: BA/NAA =25 ;Tỷ lệ sống sót mẫu chồi thân cao nhất: Nhóm BA/NAA=10
Các nguyên nhân có thể dẫn đến sai số
o Kích thước mẫu cấy khác nhau dẫn đến độ tăng sinh khác nhau
o Tính luôn chồi bên của mẫu thân vào kết quả chung: VD: tôi đã cắt 1 phần thân có mang 1 nách
lá Sau này mẫu thân đó nhanh chóng đâm chồi bên sớm nhất và trong khoảng 4 tuầnđã ra thành cụm có 8 lá Việc tính luôn chồi bên gây sai lệch kết quả vì yêu cầu trong đề tài là chồi bất định
o Cắt không kĩ mẫu cuống: dẫn đến việc còn dính 1 ít tế bào lá hoặc thân Các tế bào lá hay thân này
có khả năng phát triển đồng thời hoặc nhanh hơn mẫu cuống
o Sự xơ cứng và chậm phát triển mẫu do: [1]
1 Nhiễm vi sinh vật, virus pha tiềm tàng: Mẫu khi nhiễm vi sinh vật có thể không biểu hiện
ra ngoài nhưng theo thời gian, mẫu xuất hiện các triệu chứng bị xơ cứng, giảm sự phát chồi và rễ,chậm phát triển
2 Nhiễm vi sinh vật, nấm biểu hiện: gây chết mẫu
0.00%
10.00%
20.00%
30.00%
40.00%
50.00%
60.00%
70.00%
80.00%
37.50% 37.50%
16.67% 25.00% 12.50% 12.50%
0.00%
21.43% 71.43% 66.67%
0.00%
58.30%
Figure 2 : Tỷ lệ sống sót theo
tỷ lệ BA/NAA ngoại mô
Chồi lá Chồi cuống Chồi thân BA/NAA ratio
Trang 53 Nhựa hóa mẫu tại vết cắt:cản sự hấp thu dinh dưỡng
Các nguyên nhân gây nhiễm mẫu
o Quên xắn tay áo, tháo các vật dụng đeo tay
o Để tay ra ngoài tủ cấy mà không xịt cồn khi đưa lại vào
o Thao tác cấy lâu và rườm rà
o Ho và sổ mũi trong tủ cấy
o Nói chuyện khi đang cấy
o Mẫu bị nhiễm sẵn: pha tiềm tang của virus hay vi khuẩn
BIỆN LUẬN
Nhìn chung không có quy luật cho các yếu tố đang xét với tỷ lệ BA/NAA
Tỷ lệ cytokinin/auxin là 1 chuẩn để đánh giá khả năng tạo chồi hay rễ Theo quy ước: Với C/A<1 : mẫu có
xu hướng tạo rễ C/A=1 :sẹo C/A>1 mẫu được kích thích tạo chồi Tất nhiên với mỗi loài cây khác nhau
thì chuẩn trên có thể không chính xác
Với tỷ lệ BA/NAA=10 ta thấy số chồi bất định trên mẫu lá cao nhất cùng với tỷ lệ mẫu sống sót
Với tỷ lệ BA/NAA=15, các thông số có xu hướng giảm
Với tỷ lệ BA/NAA=20, Tất cả các thông số đo được là thấp nhất Nguyên nhân có thể là do sai số do xơ
cứng hóa và nhiễm mẫu
Với tỷ lệ BA/NAA=25, thông số đáng chú ý
nhất là chồi từ cuống lá cao nhất về cả số
lượng và tỷ lệ sống sót, tiếp đó là thông số
thân về mặt số lượng chồi
Nguyên nhân: Do sự đáp ứng kích thích bởi
PGRs ngoại mô khác nhau trên các loại
mẫu cấy mà cơ bản do sự khác nhau về loại
tế bào, cấu trúc mô, nồng độ dinh dưỡng và
chất điều hòa Với mẫu lá, cấu trúc phiến
mỏng khiến khả năng hấp thu dinh dưỡng
và PGRs là tốt nhất Với mẫu cuống, sự
tăng sinh hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện
dinh dưỡng ngoại mô Mẫu thân với loại tế
bào cấu trúc cho mạch dẫn nên cần tỷ lệ
cytokinin/auxin cao cho sự kích thích tạo
chồi
Hình 1 Tử la lan được xếp với thứ tự các nhóm ứng với thứ
tự tăng dần nồng độ BA
Trang 63.2 Tạo sẹo từ cúc
0
0.01
0.02
0.03
0.04
0.05
0.06
0.07
0.08
0.09
0.1
0.0365
0.0437
0.0286
0.0881
0.0073 0.0047 0.0051
0.015 0.02
0.0318
0.0086
0.034
Figure 3 :khối lượng tươi của mô
sẹo trong sáng theo tỷ lệ BA/2,4-D
Sẹo lá Sẹo cuống Sẹo thân
BA/2,4-D ratio
0 0.005 0.01 0.015 0.02 0.025 0.03 0.035 0.04 0.045
0.05 0.0455
0.0350
0.0471
0.0250
0.0059
0.0138
0.0059 0.0062
0.008
0.0062
0.0143 0.0137
Figure 4 :khối lượng tươi của mô sẹo trong tối theo tỷ lệ BA/2,4-D
Sẹo lá Sẹo cuống Sẹo thân
BA/2,4-D ratio
0.00%
20.00%
40.00%
60.00%
80.00%
100.00%
120.00%
88%
100%
88%
58%
100%
75%
63%
100%
88%
50%
75%
100%
Figure 5 : số mẫu cấy tạo sẹo trong sáng theo tỷ lệ
BA/2,4-D
Sẹo lá Sẹo cuống Sẹo thân BA/2,4-D ratio
Trang 7Mẫu cấy cúc của tôi đặc biệt có tần số tạo sẹo thấp nhưng lại có nhiều mẫu tạo chồi bất định
Nguyên nhân có thể do mẫu được đặt ở điều kiện sáng và có chất điều hòa nội sinh cộng tác với PGRs ngoại sinh thích hợp cho việc tạo sẹo
So sánh với các thành viên trong nhóm, các cộng sự khác để trong tối thì tỷ lệ mẫu tạo sẹo lớn hơn Cộng sự cùng để ngoài sáng cũng báo cáo tạo sẹo chứ không tạo chồi bất định
So sánh giữa các nhóm thì đa số cũng tạo sẹo tốt trong tối
Nguyên nhân gây nhiễm: giống tử la lan
BIỆN LUẬN
Kích thước mẫu cấy ảnh hưởng đến khả năng tạo sẹo
Thông thường sự tạo mô sẹo diễn ra tốt hơn trong tối [2]
Các mẫu cấy trong sáng có khối lượng tươi lớn hơn trong tối do có khả năng quang hợp một phần
Đồng thời trong tối, diệp lục tố bị phá hủy và mẫu bị cháy đi 1 phần
3.3 PLB từ cúc
Mẫu cấy lá của tôi hầu như không
có dấu hiệu tạo PLB, trong khi một
khoảng 1 mẫu vảy có tạo PLB và 1
ống bị nhiễm nấm sợi
Nguyên nhân: có thể do thao tác
lâu, rườm rà gây nhiễm bào tử nấm
tiềm tang
So sánh với các cộng sự khác: chị
Nguyễn Thị Anh Thi có số mẫu ra
vảy cao nhất trong khi anh Phạm
Tuấn Anh tạo được PLB lớn từ 1
mẫu lá Cộng sự còn lại không có gi nổi bật
So sánh với các nhóm khác: So sánh các nhóm khác cũng cho mẫu cấy vảy tạo PLB nhiều hơn mẫu cấy lá Tỷ lệ BA/NAA tối ưu =1 cho tỷ lệ ra PLB cao ở cả 2 mẫu lá
Hình 2 Cúc được xếp với thứ tự các nhóm ứng với thứ tự
tăng dần nồng độ NAA
Trang 8BIỆN LUẬN
Theo nghiên cứu của Nhut et al [5], nồng độ TDZ=0.5 và NAA=0.2 mg/l (tỳ lệ C/A=2.5) cho 23 PLB trên 1 mẫu cấy
Thí nghiệm trên cho thấy để tạo PLB, ta nên chọn những mô nằm gần thân củ của các loài cây tạo thân
củ như lan, lili hay nghệ,…
3.4 Ngải giấm
Loại mẫu cấy Số chồi/số
mẫu Chiều cao chồi (cm) Số lá / mẫu Sự tạo rễ và chiều dài rễ Hình thái chồi Đỉnh sinh
trưởng 2/2 6.5; 6 17;13 2/2 mẫu4cm;4,5cm Cao, xanh nhiều lá
;0,3 17;12;12 2/3 mẫu4,5cm; 0,5
cm
Thấp hơn, xanh , nhiều lá, phân nhiều chồi
Mẫu cấy của tôi với 2 mẫu cấy chồi ngọn và 3 mẫu nách chồi bên cho ra cả 5 mẫu đều phát triển rất tốt về chiều cao, 4/5 mẫu ra rễ
0
0.51
1.52
2.53
1.8
2.61 2.75
2.3
Số chồi trên 1 mẫu cấy theo nồng độ BA
Số chồi/mẫu
BA concentration mg/l
Hình 3 PLB lili sau 3 tuần nuôi cấy, được xếp với thứ tự các
nhóm ứng với thứ tự tăng dần nồng độ BA
Trang 9Nguyên nhân: do cây ngải giấm có nồng độ chất PGR nội sinh dồi dào Auxin từ nách lá hay đỉnh chồi thúc
đẩy sự vươn cao của chồi và rễ trong khi cytokinin được tổng hợp nhiều ở đỉnh rễ thúc đẩy sự ra chồi
( nhưng với tần suất thấp hơn khi có cytokinin ngoại mô)
Các cộng sự khác cũng có cùng kết quả như vậy
So sánh giữa các nhóm với nhau : Nồng độ BA càng tăng thì số chồi ra càng tăng nhưng chiều cao chồi
cũng như số mẫu tạo rễ (không được ghi ở đây) lại giảm
Cây ngải giấm cho dù vi nhân giống chồi đỉnh và bên chỉ
trong 2 tuần nhưng thu được kết quả cao hơn hẳn các thí
nghiệm khác: 100 % mẫu ra chồi và có mẫu còn ra rễ
BIỆN LUẬN
Theo kết quả trên, có vẻ nồng độ cytokinin ngoại sinh có
tác động đối kháng tác dụng với auxin: Ngăn ưu thế
đỉnh, tăng sự ra chồi bên, cản sự ra rễ Nhiều tài liệu hợp
thức cũng khẳng định tác dụng đó [3]
Nồng độ cytokinin cần cho sự tăng sinh chồi phụ thuộc
vào loại mẫu cấy và độ tuổi cây mẹ Mẫu cấy càng già,
nồng độ cytokinin cần cho sự phát sinh hình thái càng
nhiều
Với nồng độ cytokinin quá ao thì kích thích sự ra rất
nhiều chồi nhỏ nhưng không thể kéo dài, hoặc làm cho lá
bị biến dạng hoặc làm cho chồi chứa nước [4]
4 KẾT LUẬN
Tỷ lệ BA/NAA là 25 với nồng độ NAA là 0.1 mg/l thì thích hợp nhất trong việc tăng sinh chồi bất định ở
tử la lan trong khi để thúc đẩy ra sẹo tốt cần nuôi cấy trong tối với nồng độ chất điều hòa tốt cho việc tạo
mẫu là BA 2mg/l và 2,4-D là 1,5 mg/l PLB được tạo từ vảy của lilium phát triển tối ưu khi tỷ lệ BA/NAA
=1 với NAA là 0.5 mg/l Đối với ngải giấm, muốn mẫu cấy phát triển cao thì không cần bổ sung PGR
nhưng đễ kích ứng ra chồi bên nhiều, BA 0.1 mg/l là tốt nhất Kết quả này chưa phải là tối ưu do mới chỉ
thao tác trên 1 lượng giới hạn mẫu, thời gian rất giới hạn, không có tính thống kê tuy điều kiện nuôi cấy có
thể coi là chuẩn
5 LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin cảm ơn thạc sĩ Võ Thanh Phúc, thầy Nguyễn Minh Thiện đã tận tình hướng dẫn cũng như tạo
điều kiện cho chúng tôi sử dụng cơ sở vật chất của BioLab 117 B2 trường Đại học Bách Khoa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bhojwani, S S., & Dantu, P K (2013) Micropropagation In Plant Tissue Culture: An Introductory Text (pp
245–274) Springer India https://doi.org/10.1007/978-81-322-1026-9_17
[2], [4] Nguyễn Đức Lượng, Lê Thị Thủy Tiên Công nghệ tế bào (pp.166, 109) Nhà xuất bản Đại học Quốcg ia
Thành phố Hồ Chí Minh
[3] Edwin F George et al Plant Propagation by Tissue Culture 3rd Edition
Volume 1 The Background (Chapter 6) Springer
[5] an Nhut, Duong & Nguyen, Trinh-Don & Nguyen, Vu & Nguyen, Thien &
Thi Thu Thuy, Dang & Duy, Nguyen & Teixeira da Silva, Jaime (2006)
Advanced technology in micropropagation of some important plants
(pp.325-335).
Hình 4 Ngải giấm sau 2 tuần nuôi cấy,được xếp với thứ
tự các nhóm ứng với thứ tự tăng dần nồng độ BA