1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MARKETING THƯƠNG mại QUỐC tế

43 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 156,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến lược này cho phép các công ty nghiên cứu kỹ sở thích của người tiêu dùng ở thị trường các quốc gia khác nhau, đáp ứng nhanh chóng và có hiệu quả các sở thích mới

Trang 1

MARKETING THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

A Chiến lược toàn cầu hóa

Nếu một công ty chỉ sản xuất ra một hệ sản phẩm theo một tiêu chuẩn giống nhau, một kiểu dáng giống nhau , một chất lượng giống nhau, cùng một lúc chào hàng cho thị trường nội địa lẫn thị trường nước ngoài , cách làm này gọi là chiến lược sản phẩm toàn cầu hay còn gọi là tiêu chuẩn hóa sản phẩm.

Khái niệm

Chiến lược kinh tế toàn cầu là sự mở rộng thị trường ra ngoài biên giới quốc gia bằng cách tiêu chuẩn hóa các sản phẩm và dịch vụ Mục đích là để mở rộng thị trường, sản xuất được nhiều hàng hóa, có nhiều khách hàng và kiếm được lợi nhuận cao hơn Bên cạnh đó, việc thực hiện chiến lược toàn cầu giúp công ty khai thác và phát triển lợi thế cạnh tranh của mình.

Một là, để thực hiện chiến lược toàn cầu trước hết cần phải căn cứ vào những yếu tố nội bộ của doanh nghiệp như: đủ tiềm lực về tài chính, nguồn nhân lực có chuyên môn cao, trình độ quản lý chuyên nghiệp, có kinh nghiệm kinh doanh quốc tế như am hiểu về văn hóa, pháp luật và chính trị của quốc gia sẽ kinh doanh.

Hai là, dựa vào đặc tính của sản phẩm Với chiến lược toàn cầu, các sản phẩm của công ty tại mỗi thị trường là như nhau, nghĩa là với cùng một loại sản phẩm sẽ được công ty đưa đến toàn bộ các thị trường trong và ngoài nước mà sự thay đổi về hình dáng, mẫu mã, chất lượng, là không đáng kể thậm chí là không có Nói đúng hơn là nhu cầu về một loại sản phẩm của các khách hàng ở mỗi thị trường không có

sự khác biệt nhiều Tóm lại, chiến lược toàn cầu sẽ khả thi khi áp lực về đòi hỏi đáp ứng địa phương thấp.

Trang 2

Ba là, Sức ép giảm chi phí cao Khi hoạt động sản xuất kinh doanh tốn khá nhiều chi phí thì hoạt động theo chiến lược toàn cầu sẽ giúp tiết kiệm chi phí rất nhiều Sản phẩm được kinh doanh ở các thị trường là như nhau, do đó, doanh nghiệp san sẻ khối lượng sản phẩm giữa cácthị trường dễ dàng Sản phẩm được sản xuất ở thị trường này vẫn được bán ở thị trường khác một cách thuận lợi Các doanh nghiệp không cần phải đặt nhà máy sản xuất ở tất cả các thị trường.

Hơn thế nữa, với lợi thế về chi phí thấp chiến lược này sẽ giúp các công ty dễ dàng tấn công vào thị trường quốc tế, nhất là khi trên thế giới quan tâm đến vấn đề tiết kiệm chi phí.

Ngoài ra, chiến lược toàn cầu hóa sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn khi lĩnh vực kinh doanh của công ty nằm trong chính sách khuyến khích kinh doanh của các quốc gia mà công ty nhắm đến Sản phẩm được đưa đến các nước này là sản phẩm vốn có của doanh nghiệp, chúng không những không gặp nhiều rào cản thương mại mà còn nhận được sự ưu ái của chính phủ các nước này Đồng thời, cũng không chịu nhiều sự chống đối của các tổ chức và người dân của quốc gia đó.

Nói chung, để thực hiện chiến lược toàn cầu doanh nghiệp cần quan sát, nghiên cứu

kỹ về tình hình của chính doanh nghiệp, sản phẩm kinh doanh, tình hình thế giới cũng như tình hình kinh doanh, điều kiện kinh doanh ở nước ngoài.

VÍ DỤ của Nestlé:

Từ những năm đầu thành lập công ty đã không chiu bó buộc trong quy mô nhỏ của thị trường Thụy Sĩ ( quê nhà của Nestlé), Nest thành lập nhà máy chế biến sữa đặc và sữa bột cho trẻ em tại Mỹ và Anh vào cuối thế kỉ 19 tại Úc, châu Phi và châu Á vào

ba thập kỉ đầu thế kỉ 20.

Cuối thập niên 1990, N sỡ hữu 500 nhà máy tại 76 quốc gia và sản phẩm được bán tại 193 quốc gia, hầu như có mặt tại khắp các nước trên thế giới Sau đó , N bắt đâuù chuyển sự chú ý đến các thị trường mới nổi tại Đông Âu, châu Á và Mỹ la tinh về khả năng tăng trưởng Nhìn chung chiến lược của công ty là thâm nhập những thị trường mới nổi từ những ngày đầu trước những đối thủ cạnh tranh và xây dựng một

Trang 3

ví tri vững chắc bằn việc bán những thuwck phẩm cơ bản nhằm thu hút số đông dân chúng địa phương như là sữa bột cho trẻ em, sữa đặc mì , mì và đậu hũ

Bước đầu bằng cách thu hẹp thị trường chỉ tập trung nhãn hiệu chiến lược, N khẳng định công ty có thể đơn giản hóa cuộc sống, giảm thiểu rủi ro và tập trung nguồn lực tiếp thị của mình và những nỗ lược quản lý tại một số thị trường ngách trọng yếu Mục tiêu nhằm xây dựng vị trí dẫn đầu tại mỗi thị trường ngách này Nhờ theo đuổi chiến lược này , N đã chiếm được 80% thị phần cà phê hòa tan tại Mexico , 66% thị phần sữa đặc tại Philippin và 70% thị phần súp tại Chile Khi mức thu nhập tăng cao, công ty tích cực chuyển từ thị truowgf ngách sang những thị trường lớn hơn bằng việc giới thiệu những sản phẩm cao cấp hơn như nước khoáng , socola, bánh quy và thực phẩm chế biến sẵn Và một trong những nhãn hiệu quen thuộc của N nổi tiếng khắp thế giới là Nescafe Với chiến lược toàn cầu thì công ty đã có những thành công đáng kể

B Chiến lược địa phương hóa

Một thái cực khác đó là sản phẩm được sản xuất thích nghi với nhu cầu đặc thù của người mua hay một nhóm người mua hoặc thị trường nước ngoài thì được gọi là sản phẩm được sản xuất thích nghi với thị trường.

Khái niệm

Là chiến lược hướng đến việc tối đa hóa đáp ứng nhu cầu địa phương Đặc điểm của công ty thực hiện chiến lược đa thị trường nội địa là họ tùy biến sản phẩm và chiến lược marketing để phù hợp với yêu cầu địa phương Xảy ra đồng thời với xu hướng toàn cầu hóa, chiến lược đa thị trường nội địa có một xu hướng trái ngược lại khuyến khích các công ty thích ứng các hoạt động trãi rộng khắp trên thế giới với những đặc điểm và điều kiện cụ thể.

Ưu điểm

Ưu điểm chủ yếu của chiến lược đa nội địa là đáp ứng được yêu cầu địa phương Chiến lược này cho phép các công ty nghiên cứu kỹ sở thích của người tiêu dùng ở thị trường các quốc gia khác nhau, đáp ứng nhanh chóng và có hiệu quả các sở thích mới của người tiêu dùng Kết quả mà các công ty mong đợi khi đưa ra những sản phẩm mới là người tiêu dùng sẽ nhận biết được giá trị cao hơn so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, cho phép công ty theo chiến lược đa nội địa được định giá cao hơn

Trang 4

và giành được thị phần lớn hơn Chiến lược đa nội địa hợp lý khi có sức ép cao về phản ứng địa phương và sức ép thấp về giảm chi phí.

trường, vì vậy công ty khó có thể xây dựng tốt và rõ ràng các khả năng và các năng lực tiềm tàng xuyên suốt nhằm tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh quốc tế hay toàn cầu và các công ty địa phương của các công ty chủ nhà.

Điều kiện áp dụng

- Sự khác biệt về văn hóa và xã hội đòi hỏi phải có những thay đổi trong chiến thuật Các chính quyền của các nước trên thế giới cũng thường đòi hỏi rằng các hành động của các công ty là phải phù hợp với lợi ích của nước sở tại.

- Khi công nghiệp hóa phát triển, các nhà cạnh tranh nội địa tranh giành trong việc phục vụ từng phân khúc thị trường nhỏ, điều này ép công ty phải thích ứng với nó Với một nhà cung ứng địa phương có khả năng tạo ra sản phẩm đơn chiếc phù hợp với nhu cầu cụ thể, khách hàng sẽ không còn bị ép buộc phải chấp nhận các sản phẩm được thiết kế cho quốc gia khác Việc phân phối và bán hàng là hai yếu tố cần được thích nghi với mỗi nước Mặc dù tên nhãn và việc quảng cáo có thể giống nhau ở các nước nhưng sự phân phối và tổ chức bán hàng không thể tiêu chuẩn hóa được vì việc tiết kiệm do quy mô thì chẳng bao nhiêu mà để cho thích hợp thì có nhiều vấn đề.

- Khó khăn trong việc tiêu chuẩn hóa bởi vì những khác biệt giữa các quốc gia và bởi

vì tiềm năng có do tiết kiệm quy mô là rất ít Ngay việc dùng một cái tên chung cũng

Trang 5

có nhiều bất tiện vì sự liên kết về ngôn ngữ mỗi nơi mỗi khác Ví dụ xe tải của Ford hiện là Fiera lại có nghĩa là “bà già xấu xí” ở những nước nói tiếng Tây Ban Nha Một nhãn hiệu mang tính địa phương có thể kích thích sự tự hào, có thể kết nối với những truyền thông hay đặc điểm của địa phương Còn một tên nhãn mang tính toàn cầu có thể có ý nghĩa xấu ở một số địa phương hoặc có thể liên kết vào chính trị của một nước và do đó cũng thăng trầm theo những biến cố quốc tế.

Ví dụ: Chiến lược đa thị trường nội địa của Coca-cola và Matshushita

-Khi thâm nhập vào thị trường Nhật Bản, Coca – cola đã mở rộng hệ thống giao hàng tận nhà, điều mà các thị trường khác không có, và nó trở thành một lợi thế rất lớn dẫn đến vai trò thống trị của Coca – cola ở thị trường nước ngọt Nhật Bản.

- Một chuyên viên tiếp thị của Matsushita về lò viba đã nhận xét như sau: “ dân Anh thích mặt trên của miếng thịt phải giòn cho nên phải thêm một chi tiết làm cho nhiệt độ thật cao trong lò của họ Dân Đức muốn khoai tây phải thật chín còn dân Anh chỉ thích nhai nghe giòn, do đó phải thiết kế các nút kiểm soát khác nhau”.

VÍ DỤ NESTLE : Mặc dù công ty nổi tiếng khắp thế giới với một số nhãn hiệu quen thuộc như là Nescafe, công ty vẫn sử dụng các nhãn hiệu địa phương tại nhiều thị trường Công ty sở hữu 8.500 nhãn hiệu, nhưng chỉ có 750 trong số đó được đăng kí kinh doanh trên hơn một quốc gia và chỉ có 80 nhãn hiệu được đăng kí kinh doanh trên hơn 10 quốc gia Trong khi công ty sử dụng “những nhãn hiệu toàn cầu” giống nhau tại hầu hết các quốc gia phát triển, tại các nước đang phát triển công ty tập trung

nỗ lực tối ưu hóa các thành phần và công nghệ chế biến theo những điều kiện địa phương và sau đó sử dụng một nhãn hiệu mang âm hưởng địa phương Địa phương hóa hơn là toàn cầu hóa chính là chìa khóa chiến lược của công ty tại các thị trường mới nổi.

Toàn cầu hóa mang đến cho N cơ hội tái cấu trúc quy trình sản xuất cách hợp lí hơn

Do đó N có nhiều lợi thế từ quy mô kinh tế , sự tương đồng về nguyên liệu thô và sự tập trung sản xuất tại một điểm nhưng sản phẩm được phân phối đến nhiều quốc gia tuy nhiên việc toàn cầu hóa cũng có những hạn chế của nó, nhất là khi có một nhu cầu cụ thể của người tiêu dùng địa phương mà các nơi khác không có

Trang 6

Ví dụ như hoạt đọng của N tại VNcho thấy, chỉ bằng cách đưa ra sản phẩm thích ứng với nhu cầu, sỡ thích và truyền thống của người tiêu dùng địa phương mới có thể đảm bảo thành công của thương hiệu tại thị trường đó Đặc biệt là tại một trong những quốc gia có truyền thống tròng và xuất khẩu nhiều cà phê nhất thế giới như VN Và điển hình cho chiến lược này là sản phẩm “Nescafe- café Việt “ đã được N nghiên cứu và phhats triển theo đúng khẩu vị của người V cùng thói quen uống cà phê chậm rãi với đá, điều chỉ có tại VN

Để điều hành thành công chiến lược tại các thị trường đang phát triển đòi hỏi một mức độ lilnh hoạt nhất định, một khả năng thích ứng với những điều kiện địa phương khó đoán và một tầm nhìn dài hạn để xây dựng việc kinh doanh ổn định trước lợi nhuận ngắn hạn ví dụ tại Nigeria, hệ thống đường xá suống cấp , những chiếc xa tải

cũ kĩ và tình trạng bạo lực nguy hiểm buộc cong ty phải thay đổi suy nghĩ về các phương pháp phân phối truyền thốn thay vì xây dựng một kho hàng trung tâm , rất phổ biến ở hầu hết các nước, công ty đã xây dựng mạng lưới những nhà kho nhỏ ở khắp nước Vì lý do an toàn, những xe tải chở hàng N chỉ được phép chạy vào ban ngày và thường xuyên có bảo vệ được trang bị vũ trang khí hộ tống Việc tiếp thị tại Nigeria cũng gặp khá nhiều khó khăn Vì có ít cơ hội cho những quảng cáo trên tivi hay bẳng hiệu theo phong cách phương tây thường thấy, công ty đã thuê những ca sĩ trong nước đến những thị trấn và làng quê để trình diễn các tiết mục kết hợp giữa giải trí và trưng bày sản phẩm

Với cách này thì công ty phải tìm hiểu văn hóa , điều kiện địa lý của từng khu vực quốc gia để công ty có thể đưa ra những sản phẩm , những phương thức sản xuất cho phù hợp.

C CHIẾN LƯỢC THÍCH ỨNG SẢN PHẨM

1 Thích ứng sản phẩm là chiến lược cơ bản trong marketing quốc tế

Theo V.H.Kirpalani, thích ứng sản phẩm để phù hợp và thoả mãn mọi nhu cầu thị trường là chiến lược, ưu tiên và bao trùm cho bất kỳ giai đoạn nào, ở bất kỳ thị trường nước ngoài nào, bất kỳ công ty lớn nhỏ nào và bất kỳ chiến lược liên kết sản phẩm – thị trường nào Cụ thể hơn, thích ứng luôn luôn là cơ sở tồn tại và phát triển cho nhiều loại công ty như:

Trang 7

– Các công ty nhỏ, bước đầu đi theo định hướng mở rộng thị trường nội địa ra một vài thị trường nước ngoài lân cận, thường bán sản phẩm nội địa có thể sửa chữa không nhiều nên hiệu quả thấp.

– Các công ty quốc tế lớn thường chủ trương định hướng thị trường đa quốc gia theo khu vực hay châu lục, thực hiện chiến lược đa dạng hoá sản phẩm để đáp ứng nhu cầu đa dạng của từng thị trường nước ngoài.

– Các TNCs hàng đầu lại đi theo định hướng thị trường toàn cầu, thực hiện chiến lược sản phẩm toàn cầu, thường đem lại hiệu quả cao hơn.

Thích ứng sản phẩm còn là cơ sở cho các chiến lược phát triển sản phẩm như (1) bắt trước sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, (2) cải tiến sản phẩm hiện hữu của doanh nghiệp và (3) sáng chế sản phẩm hoàn toàn mới Trong số này, chiến lược thứ ba thường có khả năng thích ứng tốt nhất, đem lại hiệu quả cao nhất nhưng cũng phức tạp nhất.

2.Lý do phải thích ứng sản phẩm

Nhiều nghiên cứu, khảo sát cho thấy, dường như có tới ngàn lẻ một lý do để trả lời câu hỏi: “Tại sao phải thích ứng sản phẩm?” Tuy nhiên, có thể hệ thống một số yếu tố cơ bản buộc doanh nghiệp phải thích ứng sản phẩm, đó là:

a Nhu cầu thị trường

Theo ý kiến của những nhà quản lý thành đạt, bài toán kinh doanh hay là phải thoả mãn tốt nhất mọi nhu cầu thực tế của thị trường Nói đầy đủ hơn, nhu cầu ở đây là một tập hợp các nhu cầu mong muốn, tâm lý thị hiếu, tập tính và động cơ, kể cả tập quán và thói quen mua sắm hoặc tiêu dùng Đó là lý do cơ bản buộc sản phẩm phải được điều chỉnh để thích ứng Trên thực tế, nhu cầu thị trường thường xuyên thay đổi và phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ thu hẹp đến mở rộng Như vậy, bản thân nhu cầu thay đổi luôn luôn chi phối trực tiếp các đặc điểm sản phẩm Vì thị trường thường xuyên thay đổi cho nên sản phẩm cũng phải thường xuyên đổi mới để thích ứng Nhu cầu là tiêu điểm, nhưng là tiêu điểm động mà sản phẩm của mọi công ty đều phải kịp thời điều chỉnh để hướng tới tiêu điểm đó.

Trang 8

b Trình độ phát triển kinh tế Xét một cách logic, trình độ phát triển kinh tế gắn liền với mức sống và thu nhập của người tiêu dùng, do đó chi phối trực tiếp nhu cầu mong muốn của thị trường Đã có rất nhiều ví dụ thực tiễn cho thấy, nhu cầu của thị trường các nước phát triển luôn luôn đòi hỏi rất cao so với các nước đang phát triển Mức sống cao không chỉ đòi hỏi thuần tuý về chủng loại sản phẩm hay phẩm cấp (như gạo thơm đặc sản hay gạo 100% hạt dài) mà còn yêu cầu nghiêm ngặt về môi trường sinh thái và vệ sinh y tế (như lúa gạo phải được chăm bón chủ yếu bằng phân vi sinh chứ không phải bằng phân hoá học, không được vượt quá

tỷ lệ dư lượng kháng sinh cho phép từ thuốc trừ sâu hay của các loại thuốc bảo vệ thực vật khác).

c Trình độ phát triển công nghệ

Mỗi bước phát triển công nghệ đều làm cho sản phẩm bị lạc hậu nhanh chóng, bởi

lẽ trước khi hao mòn về vật chất, sản phẩm ( nhất là máy móc thiết bị) đã bị hao mòn tức thời về mặt tinh thần Trong khi đó, sự phát triển của cách mạng khoa học-công nghệ, trong điều kiện cạnh tranh cao của nền kinh tế tri thức, vẫn

thường diễn ra như vũ bão Có những phát minh công nghệ vừa mới được khai sinh trong phong thí nghiệm thì đã bị khai tử cũng tại đó, vì nó chưa kịp đem ứng dụng vào thực tế thì đã bị công nghệ phát minh sau phủ nhận bởi tính ưu việt vượt trội hơn Điều đó phản ánh khá sinh động trong công nghệ tin học hiện nay: nhiều sản phẩm phần mềm máy vi tính liên tục bị lỗi thời nhanh chóng với vòng đời không quá 1 năm, thậm chí còn rút ngắn hơn nữa Trong con lốc của những phát minh công nghệ như thế, sản phẩm buộc phải thay đổi nhanh để thích ứng kịp với đòi hỏi của thị trường.

d Qui định của chính phủ

Với vị trí và quyền hạn của mình, chính phủ của các nước ngày càng can thiệp mạnh mẽ vào các hoạt động kinh tế-thương mại trong xu thế toàn cầu hoá Sự can thiệp đó được thể hiện bằng các qui định của chính phủ thông qua các chiến lược kinh tế vĩ mô Chung quy lại, các qui định có thể là thông thoáng hoặc cấm đoán

Trang 9

theo những xu hướng và mức độ rất khác nhau Thực vậy, Chính phủ Mỹ thực hiện qui chế “đãi ngộ tối huệ quốc” (MFN) cho các đối tác chiến lược như Tây

Âu, Nhật Bản, úc và “điều kiện thương mại bình thường (NT) cho nhiều đối tác khác, trong khi đó lại thi hành cấm vận đối với Cuba và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên Các qui định khác nhau của chính phủ các nước thường rất phong phú như: tự do hoá thương mại, chính sách hạn ngạch, thuế xuất nhập khẩu, kể cả những qui định của chính phủ về bảo vệ môi trường sinh thái, về vệ sinh công nghiệp, về y tế nhằm đảm bảo sức khoẻ của người tiêu dùng…

Nhìn chung, các qui định rất đa dạng của chính phủ các quốc gia thường bao gồm: Luật pháp nói chung,

Chính sách thương mại cụ thể,

Hàng rào thuế quan và phi thuế quan,

Vệ sinh y tế, môi trường…

Chính vì vậy, sản phẩm của doanh nghiệp quốc tế không có cách nào khác là phải thay đổi để thích ứng với những qui định đó.

e Đặc điểm văn hoá của thị trường nước ngoài

Sản phẩm của các công ty quốc tế, điển hình là TNCs, muốn được tiếp nhận, tất yếu phải thích ứng với môi trường văn hoá rất đa dạng của các nước, nhất là ở cấp độ toàn cầu.

Đây chính là một trong những đặc trưng nổi bật của Marketing quốc tế so với Marketing quốc gia Sở dĩ như vậy là vì khái niệm văn hoá bao hàm nội dung rất rộng Theo các soạn giả Marketing quốc tế, các nhà chuyên môn và nhà nghiên cứu nhân loại học (Anthroplogist), văn hoá là sự tổng hoà các hành vi ứng xử (Behavior), kể cả thái độ, tư cách đạo đức và các giá trị truyền thống của con người có học thức với tư cách là những thành viên của cộng đồng xã hội [4].

Theo khái niệm văn hoá đó, người ta xác định có tới 73 lĩnh vực văn hoá phổ cập (Cultural universal Areas), trong đó phải kể đến các lĩnh vực chính sau:

Trang 10

Công nghệ và văn hoá vật thể (Material Culture),

Ngôn ngữ,

Thẩm mỹ (Aesthetics) như thiết kế, màu sắc, âm nhạc, tên thương hiệu,

Giáo dục,

Tôn giáo (Religion),

Thái độ, quan điểm (Attitude) và các giá trị truyền thống,

Gia đình và tầng lớp xã hội,

Các hệ thống tiêu thụ (Consumption Systems),

Động cơ, tâm lý tiêu dùng (Consumption Motivation, Psychology)…

Như vậy, sản phẩm và văn hoá là hai nội dung không tách rời nhau Theo P

Cateora, thị trường không chỉ yêu cầu đơn giản hình dạng vật chất và chức năng ban đầu của sản phẩm mà còn đòi hỏi ở sản phẩm những lợi ích khác thuộc phạm trù văn hoá như các giá trị truyền thống, phong tục, tâm lý, thị hiếu, thói quen,… Tất cả những lợi ích này thường gắn liền với đặc điểm văn hoá của từng thị

trường nước ngoài cá biệt, đồng thời cũng là những đòi hỏi thực tế mà các công ty quốc tế phải thích ứng sản phẩm Chính vì thế, P Cateora đã nhẫn mạnh: sản phẩm là tổng thể những sự thoả mãn vật chất và tâm lý mà nó mang lại cho người

ở các nước trong giao thông từ nơi này đến nơi khác, nếu không muốn đi bộ hoặc bằng xe đạp, xe ngựa Tuy nhiên, để thích ứng và thoả mãn tốt nhất nhu cầu khác nhau theo đặc điểm văn hoá mỗi nước, các chức năng ban đầu của sản phẩm phải có những thay đổi cần thiết về màu sắc, kích cỡ, kiểu dáng, bao bì và thương hiệu… Thí dụ:

Trang 11

– Về màu sắc, màu đen thường là sang trọng ở nhiều nước Bắc Mỹ, Tây Âu, nhưng lại là màu tang tóc ở Nhật Bản; màu xanh lá cây ở Malaisia lại được coi là màu ốm yếu.

– Về kích cỡ, hãng Toyota năm 1991 đã phải tăng kích cỡ ô tô Camry của mình là

3 inch khi thâm nhập vào thị trường Mỹ để cạnh tranh với hãng Ford và General Motors ngay tại nước này.

– Về kiểu dáng, nhiều hãng ô tô Nhật Bản, Bắc Mỹ và Tây Âu đã phải chuyển đổi hệ thống tay lái (vô lăng) từ bên phải sang bên trái khi thâm nhập vào Việt Nam và nhóm nước thuộc hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (cũ).

– Về bao bì và thương hiệu, sản phẩm Coca-cola tuy đã nổi tiếng toàn cầu nhưng khi vào thị trường Nhật Bản cũng phải thay đổi cụm từ “Diet Cok” (ăn kiêng) thành “Coke Light” để nhận mạnh eo chuẩnbởi lẽ phụ nữ Nhật Bản có tâm lý chung không thích thừa nhận mình đang phải ăn kiêng vì khái niệm ăn kiêng đồng nghĩa với bệnh tật, ốm yếu, thuốc thang, và như vậy sẽ bất lợi trước nam giới, do vậy, cụm từ “Coke light” rất hợp với mong muốn chống béo, nhẹ nhàng, ngoại hình đẹp và… “eo chuẩn”

Hãng nước hoa Cologne phải thay đổi hình ảnh “người đàn ông và con chó” trên biển quảng cáo và bao bì khi đưa sản phẩm vào nhiều nước Bắc Phi vì ở đây, chó là biểu tượng của vận đen và nhơ nhuốc, chó bị coi là đã ăn thịt một trong những tín đồ của Mohamed.

– Về quan niệm đối với các con số, trong văn hoá tiêu dùng ở các nước phương Tây, số 7 được coi là may mắn, số 13 là đen đủi, còn ở Nhật Bản và

Trung Quốc, số 4 là không may và chết chóc cho nên sản phẩm nếu đóng gói thành 4 chiếc một thì rất khó bán, trong khi con số 3 và 5 được coi là những con số may mắn.

Tóm lại, sản phẩm và văn hoá là một cặp phạm trù phức tạp và nhạy cảm Các công ty quốc tế cần phải tìm hiểu đầy đủ nội dung này để kịp thời thích ứng sản phẩm với các đặc điểm văn hoá của từng thị trường nước ngoài cụ thể.

Trang 12

Ngoài ra, còn nhiều yếu tố khác đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng sản phẩm, như yếu tố địa lý khí hậu, đối thủ cạnh tranh, kể cả những kỳ vọng, sở thích của khách hàng…

CHIẾN LƯỢC CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

Đặc điểm của thị trường hiện đại là cạnh tranh mang tính tòan cầu và ngày càng khốc liệt, cạnh tranh về giá đã nhường bước cho cạnh tranh về chất lượng và tốc độ, khách hàng ngày càng trở nên khó tính hơn, đòi hỏi cao hơn và được chiều chuộng hơn thông qua cạnh tranh Trong điều kiện này, lợi thế của SMEs là: (1) gần gũi với khách hàng; (2) nhanh chóng phản ứng nhanh với những nhu cầu của khách hàng; (3) luôn có sự hỗ trợ của nhà nước do vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế, và xã hội Vì vậy, SMEs cần biến những lợi thế này thành sức mạnh cạnh tranh của mình.

1 Sáng tạo ra các giá trị cao, độc đáo

Trong cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn, SMEs với một nguồn lực hạn hẹp luôn lo sợ lợi thế kinh tế theo qui mô và sức mạnh tài chính của các doanh nghiệp lớn Thực ra ngay cả các doanh nghiệp lớn cũng luôn tránh cuộc cạnh tranh đối đầu về giá vì cạnh tranh về giá luôn là cuộc cạnh tranh tàn phá dẫn tới sự lừa dối khách hàng bằng việc ăn cắp “chất lượng” Các SMEs cần phát huy những lợi thế của mình, biết bảo vệ tài sản trí tuệ (những bí quyết, những ý tưởng…) của mình

từ đó thoát khỏi cuộc cạnh tranh đối đầu về giá Nếu làm được như vậy, các

SMEs không hề ngại lợi thế chi phí thấp của các doanh nghiệp lớn.

Bản chất hoạt động kinh doanh là tạo ra giá trị cho công đồng, cho xã hội, và cụ thể là cho khách hàng của mình Giá tri được tạo ra càng lớn thì phần thưởng (lợi nhuận, uy tín, sự trung thành của khách hàng, nguồn lực…) mà công ty nhận được

từ khách hàng càng lớn Vì thế, SMEs phải có được một chiến lược kinh doanh của riêng mình bảo đảm tạo ra những giá trị cao, độc đáo cho khách hàng của mình Việc tìm hiểu nhu cầu của xã hội, của khách hàng, hiểu đúng những gì là quan trọng đối với khách hàng là rất quan trọng để có được một chiến lược kinh doanh thành công Lợi thế là gần gũi với khách hàng giúp ích rất nhiều trong việc hiểu biết nhu cầu của khách hàng để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng Trong thời gian qua, nhiều SMEs Việt Nam đã nổi

Trang 13

lên trong việc tạo ra chỗ đứng riêng cho mình như bưởi Năm Roi, tranh cát, hoa đất sét…Hiệu quả này chính xuất phát từ việc nắm bắt những nhu cầu của khách hàng, từ đó tạo ra giá trị làm thỏa mãn những nhu cầu cụ thể của khách hàng.

3 Có một tầm nhìn dài hạn về sự phát triển

Không có một ai lớn mà không bắt đầu từ bé, thậm chí bắt đầu từ con số không Những thành công vang dội của Google, Yahoo, Microsoft đi từ không đến có và trở thành người khổng lồ mà không hề ngần ngại khi các nhà khổng lồ đã hiện hữu SMEs cần có sự tự tin vào chính giá trị của bản thân mình rằng sự tồn tại của mình thực sự mang lại lợi ích cho xã hội và khách hàng Để làm tốt điều đó,

SMEs cần có một tầm nhìn cho sự phát triển của mình Ford đã có một tầm nhìn:

“Dân chủ hóa thị trường ô tô” – ông muốn mỗi người lao động bình thường với thu nhập trung bình trong xã hội cũng có thể có được một chiếc xe hơi Tầm nhìn này đã biến Ford từ một công ty gia đình trở thành một tập đoàn hùng mạnh ngày nay.

Tầm nhìn về xu thế phát triển và nhu cầu của khách hàng, về cạnh tranh, về định vị tương lai của doanh nghiệp sẽ giúp các SMEs hình thành được một hệ thống sản xuất kinh doanh phù hợp và từng bước nâng cao tính chuyên nghiệp trong sự phát triển của mình từ đó mới có thể bảo đảm có được năng lực quản lý các hệ

Trang 14

thống lớn trong tương lai không xa Tính chuyên nghiệp đang thực sự là một vấn

đề lớn của rất nhiều SMEs nay đã trở thành tương đối lớn hiện nay ở Việt nam Không giải quyết tốt vấn đề này, các doanh nghiệp Việt nam không thể bảo đảm được sự phát triển bền vững của mình và giữ vững được tốc độ phát triển cao như

đã diễn ra Thường xuyên học tập và phát triển năng lực cho doanh nghiệp, chuẩn bị cho một tương lai tươi sáng và tốt đẹp hơn là một nhiệm vụ cấp bách của SMEs hiện nay.

4 Tìm những phân khúc thị trường phù hợp

Khi qui mô và tiềm lực còn nhỏ, chiến lược thường được sử dụng của SMEs là chui vào các ngách của thị trường hoặc khác biệt hóa, ở đó những anh lớn không thể làm được hoặc không thể chui vào được Vì vậy, SMEs nên chú ý tới những ngành nghề, những “ngóc ngách” trên thị trường mà những công ty lớn không khai thác hoặc khó thâm nhập vào được Chiến lược thiết lập những “an toàn khu” hoặc “bám thắt lưng địch mà đánh” trong chiến tranh giải phóng dân tộc cũng có thể được áp dụng một cách sáng tạo trong kinh doanh ngày nay nếu phải đương đầu với những nhà khổng lồ mạnh hơn ta rất nhiều lần Đây thực sự là sự khởi đầu và sự chuẩn bị những nguồn lực một cách an toàn để đạt tới tầm nhìn của mình một cách an toàn và tiết kiệm.

5 Cạnh tranh về tốc độ

Các doanh nghiệp lớn luôn có bộ máy cồng kềnh, quy mô lớn, các qui trình và thủ tục phức tạp nên thường khó khăn hoặc chậm chạp trong chuyển đổi các sản phẩm hoặc dịch vụ của mình Trong khi đó, với lợi thế nhỏ và lại có quan hệ gần gũi với khách hàng hiểu rõ nhu cầu của khách hàng, SMEs có thể có một ưu thế hơn hẳn so với các doanh nghiệp lớn trong việc đáp ứng một cách nhanh chóng những nhu cầu có tính cá nhân rất cao và thay đổi rất nhanh của khách hàng.

Trong thời đại toàn cầu hóa và số hóa hiện nay, phần thắng luôn thuộc về các công ty kịp thời thỏa mãn tốt những nhu cầu thường xuyên thay đổi và thay đổi rất nhanh của các khách hàng Ai gần với khách hàng hơn, nắm bắt được những

Trang 15

nhu cầu thay đổi của họ nhanh hơn, phản ứng tốt hơn với sự thay đổi này và thỏa mãn khách hàng tốt hơn sẽ được khách hàng chọn lựa.

6 Thu hút nguồn lực cho sự phát triển thông qua liên minh chiến lược

Khó khăn lớn nhất của SMEs là thiếu nguồn lực Vì thế, chiến lược thu hút và sử dụng hợp lý những nguồn lực của thị trường là một yếu tố cốt lõi để đạt tới những mục tiêu chiến lược đã đề ra.

Trong việc thu hút nguồn lực, trước hết, SMEs cần có tư duy “hệ thống mở” trong việc phát triển của mình Toàn cầu hóa không chỉ làm cho biên giới giữa các quốc gia mờ đi mà còn làm cho biên giới các tổ chức kinh doanh cũng nhòe đi Vì thế, một hệ thống mở, tương tác và khai thác tốt hơn những nguồn lực bên ngoài cho

sự phát triển là rất cần thiết Những nguồn lực bên ngoài này là rất nhiều, có thể kể đến như: các hỗ trợ của chính phủ cho SMEs về vốn, đào tạo, quảng bá tiêp thị…, việc thuê mướn các chuyên gia giỏi theo giờ hoặc theo dự án, các hỗ trợ của các hiệp hội và các tổ chức quốc tế phi chính phủ cũng như chính phủ…

Trong điều kiện tư duy hệ thống mở, networking và liên minh chiến lược luôn là một việc làm quan trọng Việc liên minh, hợp tác, hình thành các dạng hợp tác, liên doanh, liên kết khác nhau để hỗ trợ, giúp đỡ cũng như bù đắp những mặt mạnh, mặt yếu của nhau là cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển của các SMEs Khi tiến hành liên minh chiến lược, các SMEs cần hiểu rõ “thuyết về nguồn lực tối thiểu” Thuyết này cho rằng để tối đa hóa lợi ích của mình, các “ông nhỏ” nên gắn với nhau chứ đừng chơi với “ông lớn” vì lợi ích thu được sẽ được phân chia theo nguồn lực đóng góp.

Bên cạnh đó, SMEs cần tận dụng tốt hơn nữa những cơ hội của thời đại ngày nay như những lợi thế của công nghệ hiện đại (Internet, vận tải, bưu điện…) mang lại.

Cụ thể là thông qua thương mại điện tử, các doanh nghiệp nhỏ vẫn có thể tiếp cận được thị trường, kể cả ở những nơi xa xôi nhất.

Như vậy, toàn cầu hóa, không phải chỉ là những đe dọa đối với các SMEs mà nó cũng mang lại những cơ hội to lớn cho sự phát triển của SMEs Sự tồn tại và phát

Trang 16

triển của SMEs và sự đóng góp của nó cho sự phát triển của đất nước phụ thuộc rất nhiều vào việc SMEs có hiểu những cơ hội của thị trường và những lợi thế của mình để từ đó có chiến lược phù hợp hay không Nếu làm tốt điều này thì chuyện

“bó đũa”, “châu chấu đá xe”, “O du kích nhỏ”, sẽ trở thành hiện thực trong hoạt động kinh doanh hiện đại.

Trang 17

2 GIÁ

Các yếu tố ảnh hưởng đến công việc định giá sản phẩm

Trong marketing, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc định giá sản phẩm, tuy nhiên, các yếu tố nàyđược chia thành 2 nhóm chính: nhóm yếu tố nội tại (bao gồm công đoạn định vị sản phẩm trong chiến lược marketing, chiến lược giá mà doanh nghiệp sử dụng, chi phí sản xuất, khả năng tài chính của doanh nghiệp) và nhóm yếu tố ngoại tại (cầu thị trường, cạnh tranh, đời sống tài chính của khách hàng mục tiêu, mùa vụ, lễ tết, sự kiện)

A Các yếu tố nội tại (bên trong doanh nghiệp) ảnh hưởng đến việc định giá sản phẩm

1 Công đoạn định vị sản phẩm trong chiến lược marketing

Thế nào là định vị sản phẩm?

Định vị sản phẩm, công đoạn cuối trong quá

trình xây dựng chiến lược marketing, quyết

định đến 2 yếu tố của sản phẩm: chất lượng và

giá cả Giả sử, doanh nghiệp chọn chiến lược

"more for more" trong marketing và định vị

cho sản phẩm A là sản phẩm cao cấp có chất

lượng cực kỳ tốt, tính năng vượt trội, thiết kế

đẹp mắt, sang trọng, thích hợp cho doanh nhân

và dĩ nhiên kèm theo đó là giá thành cao Hoặc

doanh nghiệp có thể chọn chiến lược "more for

less" trong marketing và định vị cho sản phẩm

A là sản phẩm có chất lượng tốt (so với đối thủ

cạnh tranh) nhưng lại đưa ra mức giá vừa phải

2 Chiến lược giá mà doanh nghiệp sử dụng cho

sản phẩm

Chiến lược giá trong marketing rất đa dạng, việc xác

định lựa chọn và áp dụng chiến lược giá sẽ ảnh

hưởng trực tiếp đến việc định giá sản phẩm Ví dụ

như sản phẩm xe máy Airblade trong giai đoạn đầu

Trang 18

của chiến lược giá hớt ván sữa mà Honda áp dụng trên thị trường Việt Nam sẽ có giá rất cao, hoặc sản phẩm mì gói Hảo Hảo trong giai đoạn đầu của chiến lược giá thâm nhập thị trường áp dụng bởiVinaacecook lại có giá rất thấp.

Xe máy Airblade FI có giá rất cao trong những ngày đầu ra mắt thị trường

3 Chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất là yếu tố không thể không kể đến khi định giá cho bất kỳ một sản phẩm Về mặt

cơ bản, để kinh doanh 1 mặt hàng có lời phải thỏa mãn điều kiện: giá sản phẩm - (chi phí sản xuất/

1 đơn vị sản phẩm + chi phí khác/1 đơn vị sản phẩm) > 0 Do yếu tố lợi nhuận ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp nên khiến việc xác định chi phí sản xuất đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc định giá Trong một số trường hợp, doanh nghiệp có thể tăng giá sản phẩm vượt cao mức chi phí nhằm khẳng định giá trị sản phẩm hoặc trong 1 số trường hợp khác, doanh nghiệp có thể tìm cách giảm chi phí để giảm giá thành để tăng khả năng cạnh tranh

4 Khả năng tài chính của doanh nghiệp

Khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng góp phần ảnh hưởng đến giá sản phẩm của doanh nghiệp đó Một doanh nghiệp có khả năng tài chính dồi dào sẽ có khả năng chấp nhận chịu lỗ để hạmức giá thành sản phẩm nhằm thâm nhập thị trường hoặc loại bỏ sản phẩm đối thủ khỏi thị trường.Ngược lại, những doanh nghiệp có khả năng tài chính yếu kém dù trong trường hợp đó sẽ vẫn giữ mức giá cơ bản và tìm cách thức khác để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm

B Các yếu tố ngoại tại (bên ngoài doanh nghiệp) ảnh hưởng đến việc định giá sản phẩm

1 Cầu thị trường

Theo quy luật giá cả và cầu thị trường trong trường hợp các yếu tố môi trường không thay đổi, nếugiá của 1 loại sản phẩm tăng sẽ khiến lượng cầu giảm, và ngược lại nếu giá sản phẩm đó giảm sẽ khiến lượng cầu tăng Bên cạnh đó, các yếu tố khác như lãi suất, thu nhập người tiêu dùng, giả cả và sự ra đời của các mặt hàng thay thế, v.v cũng ảnh hưởng đến cầu thị trường Theo đó, doanh nghiệp cần phải tính toán, xác định đúng lượng cầu thị trường hiện tại và xu hướng tăng giảm lượng cầu của sản phẩm để hỗ trợ cho việc định giá sản phẩm Giả sử, việc ra đời của đĩa CD và DVD đã làm giảm lượng cầu của loại băng ghi âm và ghi hình Vì thế của hàng A kinh doanh băngghi âm và ghi hình phải giảm giá thành của 2 mặt hàng này nhằm tăng lượng cầu Trong 1 trường hợp khác, công ty bất động sản A tính được rằng lượng cầu mua nhà ở tại TPHCM vào tháng sắp tới sẽ tăng mạnh do việc nhập cư của người dân từ các tỉnh và thành phố khác nên quyết định nângmức giá căn hộ nhằm tăng lợi nhuận

Trang 19

2 Cạnh tranh

Cạnh tranh đang trở thành một yếu tố lớn ảnh hưởng đến việc định giá thành sản phẩm trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay Sẽ không có gì đáng nói nếu doanh nghiệp bạn là doanh nghiệp có tiếng tăm, sản phẩm doanh nghiệp là sản phẩm chất lượng, được định giá theo giá trị sản phẩm Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp mới mở cửa, sản phẩm thuộc loại chất lượng tạm ổn với mức giá vừa phải, việc thay đổi giá của đối thủ cạnh tranh sẽ khiến doanh nghiệp ấy đau đầu Nếu giá mặt hàng của đối thủ cạnh tranh đột ngột giảm, doanh nghiệp ấy buộc phải giảm giá sản phẩm của mình để giữ chân khách hàng

3 Đời sống tài chính của khách hàng mục tiêu/ người tiêu dùng

Thu nhập của khách hàng mục tiêu/người tiêu dùng là được xem là yếu tố lớn nhất tác động đến cầu thị trường, và kéo theo đó là sự ảnh hưởng đến việc định giá sản phẩm Khi thu nhập của khách hàng mục tiêu/người tiêu dùng tăng sẽ, doanh nghiệp có thể tăng giá sản phẩm và ngược lại

4 Mùa vụ, lễ, tết, sự kiện

Đối với 1 số sản phẩm như sản phẩm nông nghiệp, hải sản , yếu tố mùa vụ có ảnh hưởng lớn đến giá thành của chúng Chúng ta có thể thấy rõ là 1 kg măng cụt vào thời gian trái mùa sẽ có giá thành cao hơn nhiều so với 1 kg măng cụt vào thời gian mùa thu hoạch Một số các yếu tố khác như lễ, tết, sự kiện cũng sẽ tác động đến giá thành sản phẩm Ví dụ như vào thời gian trước tết 1 tháng, các nhà trồng kiễng đồng loạt tăng giá của các loại kiễng ngày tết như hoa mai, phát tài Gần đây, sự kiện Việt Nam thắng Malaysia trong trận bán kết lượt đi cúp AFF khiến giá vé trận bán kết lượt về tăng cao

CÁC NHÂN TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỊNH GIÁ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Trang 20

• Các khía cạnh nổi bật và cần cân nhắc kĩ lưỡng:

• Sự cảm nhận của khách hàng: sức hấp dẫn của sản phẩn đối với khách hàng, có thể đưa ra mứcgiá trần khi căn cứ vào sự cảm nhận của khách hàng

• Mức thu nhập của dân cư: phản ánh số lượng và loại sản phẩm, dịch vụ được tiêu dùng

• Tính đa dạng của các thị trường: sự khác nhau giữa các nước tạo ra những đoạn thị trường tự nhiên lớn hơn

• Trong điều kiện độc quyền và cạnh tranh không hoàn hảo công ty có thể thay đổi chất lượng sản phẩm, các chính sách khuếch trương và phân phối để định giá phù hợp với đoạn thị trường đã chọn

 Số lượng và loại đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng lớn đến chiến lược định giá trên một thị trường nhất định

• Khi một công ty đang đối phó với những đối thủ cạnh tranh địa phương thiếu nguồn lực để mởrộng các hoạt động quốc tế thì việc định giá ở một địa phuowngcos thể sẽ ít ảnh hưởng đối với những nơi khác

• Khi công ty đang đối phó với nhiều đối thủ cạnh tranh như nhau ở nhiều hơn một khu vực thì những quyết định về giá cần phải được nghiên cứu như là chiến lược cạnh tranh toàn cầu

3 NHÂN TỐ CHI PHÍ

 Chi phí là nhân tố chủ yếu trong việc định giá Giá cả dựa trên chi phí không những là cần thiết mà còn có tác dụng đưa ra các mức giá công bằng và hợp lý cho các dịch vụ được thực hiện

 Căn cứ vào chi phí có thể có các phương pháp tính giá khác nhau:

• Giá giới hạn: mức giá bằng chi phí trực tiếp hoặc chi phí khả biến;

• Gia kỹ thuật: mức giá đảm bảo bù đắp chi phí hay hòa vốn;

• Giá mục tiêu: mức giá đảm bảo có lãi theo mục tiêu

Trang 21

 Các loại chi phí tạo ra sản phẩm cho người mua trong nước hay nước ngoài đều giống nhau nhưng tầm quan trọng của chúng khi được xem xét như những yếu tố quyết định của giá lại hết sứckhác nhau Vì định giá trong thương mại quốc tế thường phát sinh các chi phí khác và tính vào giá bán ở thị trường nước ngoài, gây ảnh hưởng tới mức giá sàn của sản phẩm.

• Chi phí vận tải: marketing quốc tế thường đòi hỏi việc giao hàng qua những quãng đường dài, chi phí vận chuyển chiếm một phần trong tổng số chi phí

• Thuế quan: khi sản phẩm vận chuyển qua biên giới quốc gia phải trả thuế quan, thuế quan tác động làm tăng giá sản phẩm lên một mức đáng kể đối với người tiêu dùng cuối cùng

• Chi phí kênh phân phối: có mối quan hệ với độ dài của kênh, lợi nhuận và Logistic nên làm tăng chi phí sản phẩm đưa vào thị trường thương mại quốc tế

• Chi phí sản xuất địa phương: các công ty có khuynh hướng sản xuất tại những nơi địa phương có lợi thế về cước phí, thuế quan Nhờ đó, việc quản lý sáng suốt các nguồn lực có thể giảm chi phí sản phẩm và khả năng định giá linh động lên

4 MỤC TIÊU VÀ CHÍNH SÁCH CỦA CÔNG TY

• Mục tiêu của công ty ở những thị trường nước ngoài thường khác nhau

• Ở những thị trường đang tăng trưởng cao, công ty quan tâm đén tăng thị phần và thường áp dụng chiến lược thâm nhập thị trường

• Ở những thị trường đình trệ, công ty cố gắng duy trì chiến lược để giũa vững doanh số bằng việc đưa ra những mức giá phù hợp

• Vấn đề tổ chức nội bộ cũng rất quan trọng bên cạnh nhân tố chi phí khi hình thành giá cho sản phầm quốc tế trong một công ty có rất nhiều quan điểm như:

Giám đốc marketing quốc tế luôn tìm giá cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Giám đốc sản xuất muốn giá mà họ đưa ra cho phép sản xuất lâu dài

Giám đốc tài chính muốn định giá vừa mang lại lợi nhuận vừa có thể cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại…

5 CÁC NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG

• Sự dao động của tỷ giá hối đoái: nhân tố không dự đoán được, có ảnh hưởng tới giá cả rất lớn

• Tỷ lệ lạm phát: lạm phát là hiện tượng mức giá chung tăng liên tục, nên tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng tới chi phí sản phẩm và buộc công ty phải có những thay đổi đặc biệt

Ngày đăng: 05/04/2019, 21:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w