Mục đích nghiên cứu Luận án đặt mục đích tìm hiểu, chỉ ra đặc điểm của các từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê trên các phương diện: đặc điểm định danh, đặc điểm ngữ nghĩa.. Nhiệm vụ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ QUỲNH THƠ
TỪ NGỮ CHỈ ĐỘNG VẬT TRONG SỬ THI Ê-ĐÊ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9229020
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
Hà Nội, 2019
Trang 2Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Đặng Hảo Tâm
2 PGS.TS Đoàn Thị Tâm
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Văn Chính
Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQG Hà Nội
Phản biện 2: PGS.TS Vũ Thị Thanh Hương
Viện ngôn ngữ - Viện KHXH Việt Nam
Phản biện 3: PGS.TS Hà Quang Năng
Viện từ điển học & Bách khoa thư Việt Nam
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Các từ ngữ chỉ động vật là lớp từ cơ bản lâu đời, thuộc hạt nhân
của hệ thống từ vựng trong mỗi ngôn ngữ, gắn với sự trải nghiệm của con người với thế giới khách quan Do đó, từ ngữ chỉ động vật là nhóm từ xuất hiện được người bản ngữ nhận thức từ rất sớm, có thể nói ngay từ khi con người nguyên thuỷ xuất hiện
1.2 Sử thi Ê-đê ra đời từ rất sớm, phản ánh các mặt đời sống vật chất
và tinh thần của dân tộc Ê-đê trong giai đoạn tiền sử Do vậy, tên gọi các con vật xuất hiện trong sử thi Ê-đê là lẽ tự nhiên Nghiên cứu lớp từ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê có thể hiểu được đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc bản ngữ ở thời tiền sử chưa có chữ viết ghi lại Đây là công việc có ý nghĩa lí luận và thực tiễn
1.3 Việc nghiên cứu từ ngữ định danh động vật đã được các nhà khoa
học quan tâm từ lâu Rất nhiều nhà ngôn ngữ đã dành nhiều công trình nghiên cứu về định danh động vật Tuy nhiên, vấn đề từ ngữ định danh động vật chỉ mới được khảo sát chủ yếu trong văn học dân gian như thành ngữ, tục ngữ, ca dao của người Việt Vì vậy, vấn đề từ ngữ chỉ động vật trong sử thi của dân tộc Ê-đê vẫn còn là khoảng trống chưa được quan tâm nghiên cứu
Với những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Từ ngữ chỉ động vật
trong sử thi Ê-đê” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án đặt mục đích tìm hiểu, chỉ ra đặc điểm của các từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê trên các phương diện: đặc điểm định danh, đặc điểm ngữ nghĩa Qua đó giải thích, làm rõ đặc trưng tư duy của người Ê-đê trên hai phương diện thế giới quan và nhân sinh quan
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
(i) Hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài như các nghiên cứu về nghĩa của từ, lí thuyết định danh, mối quan hệ giữa ngôn ngữ
và văn hoá
(ii) Khảo sát, thống kê, xác lập và phân tích hệ thống từ ngữ định danh động vật trong sử thi Ê-đê h ng tôi c ng thống kê, xác lập và lý giải tần số xuất hiện của các nhóm từ ngữ định danh động vật ơ sở lý giải này được tiến hành trên góc độ văn hoá, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
- Từ (i) và (ii), ch ng tôi chỉ ra và lí giải đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ, nghĩa của từ trong hệ thống và trong hoạt động giao tiếp
3 Đối tượng, phạm vi và ngữ liệu khảo sát, nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 4- Phạm vi nghiên cứu: Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu các từ ngữ chỉ
động vật (các danh từ và danh ngữ) thuộc trường từ vựng ĐV trong sử thi
Ê-đê, chỉ về mặt định danh ngữ nghĩa
- Ngữ liệu nghiên cứu: Trong khuôn khổ của luận án, ch ng tôi chỉ tập
trung khảo sát trong một số bộ sử thi tiêu biểu có tần số từ ngữ định danh
động vật xuất hiện tương đối nhiều, cụ thể là các bộ sử thi sau: (Anh em Klu Kla, Dăm Băng Mlan, Sum Lum, Hbia Mlin, Dăm Yi chặt đọt mây, Mdrong Dăm)
4 Các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả là phương pháp chính c ng với phương pháp phân tích thành tố nghĩa để giải quyết các vấn đề của luận án Từ những nguồn ngữ liệu đã thu thập, ch ng tôi tiến hành phân tích miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa và giá trị của từ ngữ định danh động vật trong sử thi Ê-đê
4.2 Phương pháp phân tích thành tố nghĩa
Phương pháp phân tích thành tố nghĩa được vận dụng để phân tích cấu trúc thành tố nghĩa của từ, các nét nghĩa khu biệt của từ chỉ động vật trong
sử thi Ê-đê
4.3 Thủ pháp thống kê, phân loại, hệ thống hóa
ông việc đầu tiên của tác giả là làm công tác thống kê Để thống kê hoàn chỉnh, tác giả khảo sát các văn bản, hệ thống hoá tài liệu, phân tích tổng hợp…nhằm đạt được mục đích đề ra
ác phương pháp trên sẽ được sử dụng một cách thống hợp trong quá trình nghiên cứu đề tài
5 Đóng góp về khoa học
5.1 Theo nét nghĩa phạm tr , những biểu thức ngôn ngữ phản ánh,
các loại động vật này được chia thành 5 nhóm: côn tr ng, cá, chim, th và động vật lưỡng cư Từ thao tác miêu tả, phân tích, luận án đã xây dựng những mô hình định danh động vật cơ sở, mô hình định danh động vật phái sinh Đặc biệt luận án đã chỉ ra và mô hình hoá được những mô hình định
danh động vật phái sinh có sự pha trộn kết hợp nhiều yếu tố
5.2 Từ các thao tác phân tích ngôn ngữ học thuộc (5.1) luận án trước
đều minh chứng được đặc điểm tư duy của người Ê-đê Khi tri nhận về động vật, ch ng tôi đã chỉ ra thế giới quan, nhân sinh quan của người Ê-đê, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, con người và xã hội và con người với tôn giáo, tín ngưỡng
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần c ng cố lí thuyết về nghĩa của từ, lí thuyết định danh, xác nhận thêm giá trị của lý thuyết về mối quan
hệ giữa ngôn ngữ - văn hoá từ tư liệu của một ngôn ngữ dân tộc thiểu số là
sử thi Ê-đê Đồng thời, luận án góp phần củng cố thêm lí thuyết về ngôn ngữ tâm lí học tộc người
Trang 56.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án là một tài liệu tham khảo hữu ích trong việc dạy học thể loại sử thi ở nhà trường, đặc biệt đối với trường đại học Tây Nguyên; xây dựng chuyên đề Ngôn ngữ và văn hoá cho sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ, Sư phạm Ngữ văn, Việt Nam học, Dân tộc học
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm định danh từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê Chương 3: Từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê và đặc trưng văn
hoá tộc người
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
ho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu trường nghĩa về động vật như Nguyễn Đức Tồn [110], Nguyễn Thuý Khanh [62]… ác tên gọi động vật c ng đã được một số tác giả xem xét ở những khía cạnh khác nhau như: Tác giả Nguyễn Đức Tồn [110]; Nguyễn Thuý Khanh [62]; Trần Hoàng Anh [1]; Nguyễn Thị Bạch Dương [30] Qua thu thập tài liệu, tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, ch ng tôi nhận thấy trường nghĩa động vật
đã bước đầu được nghiên cứu trên một số bình diện và ở những phạm vi khác nhau Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào đề cập đến trường
nghĩa động trong sử thi Ê-đê Do đó, ch ng tôi chọn đề tài: “Từ ngữ chỉ
động vật trong sử thi Ê-đê” để nghiên cứu
1.2 Cơ sở lí luận
Với đề tài “Từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê”, chúng tôi vận
dụng kết hợp lí thuyết về nghĩa của từ, lí thuyết định danh của ngôn ngữ học với những vấn đề lí luận về thể loại sử thi và lí thuyết về mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hoá trong quá trình nghiên cứu Vì vậy, luận án vận dụng cơ sở lí thuyết là cơ sở ngôn ngữ học, cơ sở văn hoá học để định hướng cho quá trình triển khai đề tài
1.2.1 Lý thuyết về nghĩa của từ
1.2.1.1 Từ
Từ là một đơn vị quan trọng của ngôn ngữ, một trong những đối tượng
cơ bản của ngôn ngữ học, là đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn như: ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học, phong cách học, văn bản học, phương ngữ học, từ điển học…Khi nghiên cứu về từ, một trong những phương diện quan trọng của từ là nghĩa của từ
1.2.1.2 Nghĩa của từ
Ở Việt Nam, kế thừa quan niệm của F Saussure, Đỗ Hữu hâu cho rằng: Dấu hiệu ngôn ngữ kết liền thành một không phải một sự vật
Trang 6với một tên gọi, mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh Từ
cơ sở này, các tác giả Ogden, Richards, rồi đến Gustaf Stern, Stephen Ullmann và J Lyons đã xây dựng nên “tam giác nghĩa” Theo mô hình tam giác nghĩa sự vật, khái niệm về sự vật, từ, ngữ âm là phần tạo nên
ý nghĩa của từ Khi nghiên cứu về nghĩa của từ, Đỗ Hữu hâu đã vận dụng một số lí thuyết của các nhà ngôn ngữ học đi trước và phát hiện
“tam giác nghĩa” có một số nhược điểm ở cả ba thành tố tạo nên nghĩa Đỗ Hữu hâu đã thay thế tam giác nghĩa bằng một hình tháp nghĩa hình học không gian
Như vậy, mô hình hình tháp nghĩa hình học không gian này, có được hai ưu điểm là tách được những thành tố như từ, sự vật ra khỏi nhau; chỉ ra được mối quan hệ giữa các thành tố Cụ thể, Đỗ Hữu Châu [15] cho rằng: “Từ mối quan hệ giữa từ và sự vật hình thành ý nghĩa biểu vật, từ mối quan hệ của từ với khái niệm sẽ hình thành các ý nghĩa biểu niệm, từ mối quan hệ với nhân tố người dùng hình thành các ý nghĩa phong cách và liên hội; từ mối quan hệ với chức năng sẽ hình thành các giá trị chức năng của từ; từ mối quan hệ với cấu trúc của ngôn ngữ sẽ hình thành ý nghĩa cấu trúc và từ quan hệ giữa ý nghĩa với các thành phần hình thức mà hình thức các ý nghĩa cấu tạo từ, cấu tạo ý nghĩa ngữ pháp” [15, tr.102]
Trong luận án này, tác giả kế thừa các quan điểm khoa học về nghĩa của từ của Đỗ Hữu hâu được ghi lại trong các công trình của chính ông hoặc các tác giả chịu ảnh hưởng của ông
1.2.1.3 Các thành phần ý nghĩa của từ
(i) Ý nghĩa biểu vật
Sự vật, hiện tượng, đặc điểm ngoài ngôn ngữ được từ biểu thị tạo nên ý nghĩa biểu vật của từ Ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật, hiện tượng trong thực tế vào ngôn ngữ Hiểu biết về ý nghĩa biểu vật của từ chính là cách thức, phương tiện để ch ng tôi xác lập cụ thể số lượng từng đơn vị trong trường từ vựng động vật trong sử thi
(ii) Ý nghĩa biểu niệm
Ý nghĩa biểu niệm là phần nghĩa của từ liên quan đến hiểu biết về ý nghĩa biểu vật của từ hay là tập hợp của một số nét nghĩa riêng và chung, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định
(iii) Ý nghĩa biểu thái
Sự vật, hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật, hiện tượng được nhận thức bởi con người, nên con người thường kèm theo những đánh giá của mình về sự vật hiện tượng đó, từ đó hình thành nên ý nghĩa biểu thái
1.2.1.4 Chức năng định danh của các tín hiệu ngôn ngữ
Đỗ Hữu hâu trong công trình: “Từ vựng ngữ nghĩa, tuyển tập, tập
Trang 7một” [14] đã bàn về chức năng định danh của từ dựa trên 2 chức năng cơ bản của ngôn ngữ: hức năng giao tiếp và chức năng tư duy Tác giả khẳng định “vì ngôn ngữ đồng thời thực hiện cả chức năng giao tiếp và chức tư duy trừu tượng bằng một loại tín hiệu - từ - cho nên chức năng định danh mới là tất yếu [14, tr.799] Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của chức năng định danh như sau: “ hức năng định danh là cái cầu nối liền chức năng giao tiếp với chức năng làm công cụ tư duy trừu tượng của ngôn ngữ [14, tr.799] Ở một chỗ khác, Đỗ Hữu hâu dựa trên luận đề của K.Marx
về tên gọi của sự vật với kinh nghiệm của con người để chỉ ra vai trò của tên gọi Theo ông, tên gọi vừa là kết quả của sự phân biệt, đồng thời c ng
là phương tiện để củng cố sự phân biệt, mà phân biệt được là nhận thức được Phân biệt là bước đầu của nhận thức của tư duy Nhờ cái gọi, con người có những “bàn đạp” để từ nhận thức c tiến lên những nhận thức cao hơn [14, tr.799]
Từ những biện luận logic về chức năng định danh của từ, c ng trong [14], tác giả xác định vai trò của con người đối với việc đặt tên cho vật Theo tác giả: “Khả năng đặt tên cho vật ngoài ngôn ngữ chỉ có ở con người bởi vì chỉ có con người mới có ngôn ngữ âm thanh Không có tên gọi, tư duy của ch ng ta trở nên bối rối về sự vật theo những cách khác nhau” [14, tr.803] Những biện luận về chức năng định danh của từ mà Đỗ Hữu hâu đặt ra là một gợi dẫn với đề tài luận án
Dân tộc Ê-đê có cách định danh sự vật khác với các dân tộc khác Nhất là cách định danh đó không chỉ nằm trong hệ thống từ vựng Ê-đê mà còn đi vào lời nói thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, đi vào thiên sử thi h ng tráng của người Ê-đê Một sự thật hiển nhiên là khi ngôn ngữ, cụ thể là từ ngữ, chuyển di từ bình diện hệ thống sang bình diện hành chức thì
ch ng có sự biến đổi trước tác động ngữ cảnh, ngữ huống Tác động rõ nhất là khả năng kết hợp của từ trên trục ngữ đoạn để tạo thành các cụm từ
ần lưu ý, nội hàm của “từ cụ thể” được hiểu là những từ có chức năng
định danh, có nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm Ví dụ:“voi đực ngà dài” (êman knô pro\ng mla) ụm từ trên được làm đầy bởi các từ cụ thể
“êman” (voi), “knô” (đực), “pro\ng mla” (ngà dài)
Trả lời câu hỏi cụm từ (đặc biệt là danh ngữ) có chức năng định danh hay không, Đỗ Hữu hâu đưa thêm một tiêu chí khác, ngoài tiêu chí
“được làm bởi các từ cụ thể” Theo ông, “mặc d khả năng tạo từ mới có to lớn đến đâu thì nhiều l c phương thức tạo từ (với số lượng và hình vị tạo từ vốn có) vẫn không đáp ứng được nhu cầu tạo tên cho sự vật hiện tượng mới nảy sinh trong xã hội (…) Để thoả mãn nhu cầu gọi tên, ngôn ngữ phải định danh hoá các cụm từ ác cụm từ sẽ được cố định hoá và khái quát hoá (…) Nói khác đi, khi định danh hoá, các cụm từ tự do bị chi phối bởi các nguyên tắc định danh” [14, tr.808] h ng tôi nhấn mạnh thêm: mặc d cụm từ tự do được tạo ra trên cơ sở các từ (danh từ, động từ, tính từ) theo các quy tắc ngữ pháp của mọi ngôn ngữ nhưng giá trị định danh tuyệt đối là thuộc
Trang 8tính của danh từ, thuộc tính này ở các từ loại định danh khác thì yếu hơn
Đối chiếu với biểu thức ngôn ngữ khảo sát từ 6 bộ sử thi Ê-đê,
ch ng tôi nhận thấy những biểu thức ngôn ngữ biểu hiện động vật có cấu tạo theo một nguyên tắc nhất định ụ thể, những dấu hiệu, đặc điểm của động vật được sử dụng để tách đối tượng ra khỏi một đối tượng khác thường có tính hệ thống, lặp lại nhiều lần vì thế có thể khái quát thành mô hình Điều này có nghĩa, khái niệm “ngữ” của luận án bao gồm ngữ tự do/biểu thức miêu tả Tuy nhiên khi đi vào những trang viết của sử thi Ê-
đê, vì sự xuất hiện có tính lặp lại trở thành hệ thống để thực hiện chức năng
“gọi tên động vật” từ góc nhìn sử thi thì ch ng có thêm vai trò định danh, bên cạnh vai trò miêu tả vốn có của ch ng Hiện tượng này theo Đỗ Hữu hâu được gọi là “sự biến đổi về chức năng định danh trong lời nói sự vật tuỳ theo nhu cầu giao tiếp, tuỳ theo phong cách thì được định danh lại” [14, tr.808]
1.2.2 Lý thuyết về định danh
Danh học (onomatology) “là khoa học về sự biểu thị, sự gọi tên
Nhiệm vụ của nó là nghiên cứu những nguyên tắc và những quy luật biểu thị các đối tượng, khái niệm bằng các phương tiện từ vựng của các ngôn ngữ” [dt (30;162]
1.3 Cơ sở văn hóa học
1.3.1 Quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa
Ngôn ngữ là một trong những thành tố đặc trưng nhất của bất cứ nền văn hoá dân tộc nào hính trong ngôn ngữ, đặc điểm của nền văn hoá dân tộc được lưu giữ rõ ràng nhất Hay nói cách khác, ngôn ngữ của mỗi dân tộc đều mang đậm dấu ấn tâm hồn, địa bàn cư tr , phong cách, bản sắc văn hoá…của những người tạo ra nó Muốn hiểu nó không chỉ dừng ở cái vỏ
âm thanh hay văn tự
1.3.2 Vài nét về dân tộc Ê-đê và sử thi Ê-đê
1.3.2.1 Giới thiệu về dân tộc Ê-đê
Theo “Báo cáo kết quả chính thức Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009” [3], dân tộc Ê-đê có dân số là 331.194 người, cư tr trên địa bàn các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Ở Đắk Lắk có 298.534 người Ê-đê sinh sống, chiếm 17,2 dân số toàn tỉnh và 90,1 số người Ê-đê tại Việt Nam Tại đây, người Ê-đê tập trung chủ yếu ở các huyện như ưM gar, Krông Buk, Krông Păk, Krông na, M drak, Krông Bông và thành phố Buôn Ma Thuột
1.3.2.2 Vài nét về sử thi Ê-đê ở Tây Nguyên
a Lịch sử nghiên cứu về sử thi Ê-đê
Khái niệm sử thi c ng được hiểu trong nghĩa tương đồng với anh h ng
ca Sử thi theo đó là những tác ph m: a ngợi sự nghiệp anh h ng có tính chất toàn dân của một cộng đồng trong buổi bình minh lịch sử
b Giá trị văn hoá của sử thi Ê-đê
Nội dung cơ bản của sử thi Ê-đê chủ yếu ca ngợi, tôn vinh những người có công với cộng đồng buôn làng; đề cao sự sáng tạo, sự mưu trí tài
Trang 9giỏi, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau l c khó khăn hoạn nạn,
đề cao chính nghĩa, phản kháng những điều trái với đạo lý, luật tục; đề cao cái đẹp về sức mạnh hình thể lẫn sức mạnh tâm hồn Sử thi Ê-đê còn ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, chế độ nô lệ sơ khai, mong muốn
chinh phục thiên nhiên để cuộc sống tốt đẹp hơn
1.3.3.3 Văn hoá tín ngưỡng của người Ê-đê ở Tây Nguyên
Dân tộc Ê-đê là dân tộc có nền văn hoá truyền thống đặc sắc trong 54 đân tộc anh em ở nước ta ng như mọi dân tộc khác, người Ê-đê ở Đắk Lắk đã sớm hình thành giá trị văn hoá mang màu sắc riêng Nền văn hoá ấy ảnh hưởng sâu xa đến từng cá nhân trong cộng đồng người Ê-đê, góp phần làm tăng thêm giá trị cho nền văn hoá đa dân tộc v ng Tây Nguyên của Việt Nam
Người Ê-đê quan niệm và phân tầng v trụ thành 3 phần: tầng thiên giới, tầng trung giới và tầng hạ giới
Tiểu kết chương 1
hương 1 đặt ra 2 nhiệm vụ nghiên cứu: (i) Xác lập bức tranh nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật nói chung và từ ngữ chỉ động vật trong
sử thi Ê-đê nói riêng; (ii) Xác lập cơ sở lí thuyết để triển khai đề tài Luận
án đã đạt được một số kết quả nghiên cứu sau đây
a Phác thảo được 3 hướng tiếp cận khi nghiên cứu phạm tr “động vật” của Việt ngữ học, bao gồm: tiếp cận theo lí thuyết trường từ vựng, lí thuyết định danh và lí thuyết ngữ nghĩa học tri nhận Những hướng tiếp cận trên đều chụm lại ở kết quả nghiên cứu về số lượng tiểu nhóm / tiểu trường chỉ động vật, đặc điểm định danh, đặc điểm ngữ nghĩa từ ngữ chỉ động vật trong tiếng Việt hoặc một số mô hình định danh, bên cạnh đặc trưng văn hóa tư duy cộng đồng Khoảng trống nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê vẫn còn bỏ ngỏ Chúng tôi cho rằng đặc trưng thể loại sử thi, hoàn cảnh xã hội xuất hiện sử thi, bên cạnh tư duy cộng đồng là những nhân tố chi phối đặc điểm ngữ nghĩa, đặc điểm định danh của từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê Sự chuyển di từ bình diện hệ thống sang bình diện văn bản nghệ thuật sẽ tạo ra những độ chênh về nét nghĩa miêu tả trong các từ ngữ định danh động vật của sử thi
b Luận án lựa chọn một số cơ sở lí thuyết làm nền tảng triển khai
đề tài Thứ nhất, liên quan đến cơ sở ngôn ngữ bao gồm các vấn đề lí thuyết về nghĩa của từ và lí thuyết về định danh trong ngôn ngữ Bàn về lí thuyết nghĩa của từ, ngoài những khái niệm nền tảng như: quan niệm về từ, các thành phần nghĩa của từ, luận án chú trọng bàn luận chức năng định danh của tín hiệu ngôn ngữ Đặc biệt, luận án tập trung vào luận điểm: Khi nào cụm từ có chức năng định danh Từ những luận bàn có tính biện chứng của Đỗ Hữu Châu, luận án cho rằng cụm từ tự do (biểu thức miêu tả) khi đi vào trang viết của sử thi Ê-đê, vì sự xuất hiện có tính lặp lại đến mức trở thành mục đích gọi tên thế giới động vật theo góc nhìn sử thi nên chúng có thêm vai trò định danh, bên cạnh vai trò miêu tả vốn có Những luận bàn về chức năng định danh của các tín hiệu ngôn ngữ được mở rộng bằng công cụ
Trang 10lí thuyết định danh Từ một số quan niệm về định danh, luận án nhận thức rõ: Nói tới định danh là nói tới các phương diện: Đơn vị định danh, phương thức định danh và nguyên tắc định danh Những khái niệm căn cốt này là
cơ sở để luận án nhận diện, miêu tả các biểu thức ngôn ngữ định danh trong
sử thi Ê-đê
Thứ hai là cơ sở văn hoá Để có thêm cơ sở cho việc nghiên cứu từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê đê trong quan hệ với văn hoá tộc người, luận án đã đề cập tới một số vấn đề như: Quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hoá,
xã hội Ê-đê trong mối quan hệ với sử thi Ê-đê Những nhận định về đặc điểm xã hội Ê-đê thời thượng cổ, đặc trưng thể loại sử thi rút ra từ góc nhìn văn hóa - văn học có giá trị nền tảng h ng được sử dụng như phép thử nhằm kiểm chứng kết quả nghiên cứu của luận án về từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê
Từ những nội dung cơ bản đã trình, luận án định hướng cách triển khai và sự phân bố nội dung hai chương tiếp theo như sau:
Tập trung thống kê, phân lập từ ngữ chỉ động vật theo tiêu chí nét nghĩa phạm trù Nghiên cứu đặc điểm của các biểu thức ngôn ngữ định danh động vật, từ đó đề xuất một số mô hình định danh động vật trong sử thi Ê-đê
Nghiên cứu các mối quan hệ của con người với thiên nhiên, con người với xã hội và triết lí tín ngưỡng của người Ê-đê; nghiên cứu đặc điểm thể loại sử thi, đặc điểm hình tượng nhân vật thông qua lớp từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH TỪ NGỮ CHỈ ĐỘNG VẬT TRONG SỬ
THI Ê-ĐÊ 2.1 Tiêu chí phân loại động vật
2.1.1 Quan niệm phân loại động vật trong dân gian
Theo quan niệm phân loại động vật của dân gian, động vật được chia thành 4 nhóm: Tr ng, ngư, điểu, thú Tuy nhiên, hệ thống phân loại này không hoàn toàn thỏa mãn cho việc xác lập hệ thống tên gọi động vật trong
sử thi Ê-đê hẳng hạn, hệ thống 4 nhóm không xác lập vị trí ph hợp cho
ĐV lưỡng cư (ếch, nhái, cua) hoặc ĐV nhóm bò sát (rắn, rùa, kỳ nhông, kỳ đà) v.v Theo đó, việc phân loại tên gọi ĐV trong sử thi Ê-đê cần kết hợp
hệ thống bốn nhóm ĐV cơ bản (trùng, ngư, điểu, th ) với hệ thống phân loại tên gọi ĐV trong khoa học
2.1.2 Quan niệm phân loại động vật trong khoa học
Kế thừa các kết quả nghiên cứu của những người đi trước, trong luận
án này, ch ng tôi tiến hành phân các loài động vật khảo sát được vào 5 nhóm trên cơ sở kế thừa các cách phân loại của dân gian là côn trùng, cá, chim, th và động vật lưỡng cư
2.2 Kết quả thống kê từ ngữ chỉ động vật trong sử thi Ê-đê
Trang 112.2.1 Kết quả thống kê từ ngữ chỉ nhóm chim trong sử thi Ê-đê
Bảng 2.2 Kết quả thống kê tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ nhóm chim trong sử thi Ê-đê
Sum Lum
Hbia Mlin
Dăm Yi chặt đọt mây
Mdrong Dăm
Trang 122.2.2 Kết quả thống kê từ ngữ chỉ nhóm thú xuất hiện trong sử thi Ê-đê
Bảng 2.3 Kết quả thống kê tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ nhóm thú trong sử thi Ê-đê
Stt
Tên ĐV Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ nhóm thú trong sử thi Ê-đê
Tổng Tiếng Ê-đê Tiếng Việt Anh em Klu
Kla
Dăm Băng Mlan
Sum Lum
Hbia Mlin
Dăm Yi chặt đọt mây Mdrong Dăm
Trang 1321 asâo tan chó sói 2 3 4 0 0 0 9
2.2.3 Kết quả thống kê từ ngữ chỉ nhóm côn trùng trong sử thi Ê-đê
Bảng 2.4 Kết quả thống kê tần số của từ ngữ chỉ nhóm côn trùng trong sử thi Ê-đê
Stt
Tên ĐV Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ nhóm côn trùng trong sử thi Ê-đê
Tổng Tiếng Ê
đê Tiếng Việt
Anh
em Klu Kla
Dăm Băng Mlan
Sum Lum
Hbia Mlin
Dăm Yi chặt đọt mây
Mdrong Dăm
Trang 142.2.4 Kết quả thống kê từ ngữ chỉ nhóm động vật lưỡng cư trong sử thi Ê-đê
Bảng 2.5 Kết quả thống kê tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ nhóm động vật lưỡng cư trong sử thi Ê-đê
Stt
Tên ĐV Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ nhóm động vật lưỡng cư trong sử thi Ê-đê
Tổng Tiếng Ê đê Tiếng Việt Anh em
Klu Kla
Dăm Băng Mlan
Sum Lum
Hbia Mlin
Dăm Yi chặt đọt mây Mdrong Dăm
2.2.5 Kết quả thống kê từ ngữ chỉ nhóm cá trong sử thi Ê-đê
Bảng 2.6 Kết quả thống kê tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ nhóm cá trong sử thi Ê-đê
Stt
Tên ĐV Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ nhóm cá trong sử thi Ê-đê
Tổng Tiếng
Ê đê Tiếng Việt Anh em Klu Kla
Dăm Băng
Hbia Mlin
Dăm Yi chặt đọt mây Mdrong Dăm