1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng hàn

32 863 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu về chất liệu và ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn qua các nhóm: Nhóm chất liệu là tự nhiên; Nhóm chất liệu là thực vật; Nhóm chất liệu là động

Trang 1

Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ,

tục ngữ tiếng Hàn

Nguyễn Thùy Dương

Trường Đại học KHXH&NV Luận văn ThS Chuyên ngành: Khu vực học; Mã số: 60 31 50

Người hướng dẫn: GS Mai Ngọc Chừ

Năm bảo vệ: 2013

Abstract: Thống kê và phân loại một cách có hệ thống các tín hiệu thẩm mỹ

trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn Tìm hiểu về chất liệu và ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn qua các nhóm: Nhóm chất liệu là tự nhiên; Nhóm chất liệu là thực vật; Nhóm chất liệu là động vật; Nhóm chất liệu là vật thể nhân tạo; Nhóm chất liệu là bộ phận cơ thể người Phân tích dấu ấn văn hóa – dân tộc thể hiện qua chất liệu của các tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn, có so sánh, đối chiếu với tục ngữ, thành ngữ tiếng Việt Từ đó cho thấy những nét tương đồng và dị biệt trong phong cách tư duy, lối sinh hoạt, trong đặc trưng văn hóa giữa hai nước Hàn Quốc và Việt Nam

Keywords: Châu Á học; Thành ngữ; Tục ngữ; Tiếng Hàn

Content

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU ……… 1

1 Lí do chọn đề tài ……… 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 2

3 Mục đích nghiên cứu ……… 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 7

5 Phương pháp nghiên cứu ……… 7

6 Đóng góp của luận văn ……… 8

7 Cấu trúc của luận văn ……… 8

PHẦN NỘI DUNG ……… 9

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9

1.1 Tín hiệu thẩm mỹ ……… 9

1.1.1 Tín hiệu ……… 9

1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ ……… 10

1.1.3 Tín hiệu thẩm mỹ ……… 15

1.2 Thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn ……… 17

1.2.1 Khái niệm thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Hàn ……… 17

1.2.1.1 Khái niệm tục ngữ ……… 17

1.2.1.2 Khái niệm thành ngữ ……… 18

1.2.2 Nguồn gốc và tầm quan trọng của thành ngữ, tục ngữ …… 19

1.2.2.1 Nguồn gốc của thành ngữ, tục ngữ ……… 19

1.2.2.2 Tầm quan trọng của thành ngữ, tục ngữ ……… 20

1.2.3 Phân loại thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn ……… 21

1.2.3.1 Phân loại tục ngữ ……… 21

1.2.3.1.1 Tục ngữ chứa đựng ý nghĩa giáo huấn ………… 21

1.2.3.1.2 Tục ngữ chứa đựng ý nghĩa ẩn dụ ……… 21

1.2.3.1.3 Tục ngữ chứa đựng ý nghĩa cấm kỵ ……… 22

Trang 3

1.2.3.2 Phân loại thành ngữ ……… 23

1.2.3.2.1 Thành ngữ truyền thống (thành ngữ thuần Hàn) … 23

1.2.3.2.2 Thành ngữ vay mượn phương Tây ……… 24

Tiểu kết ……… 24

Chương 2: CHẤT LIỆU VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁC TÍN HIỆU THẨM MỸ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TIẾNG HÀN ……

26 2.1 Nhóm chất liệu tự nhiên ……… 26

2.1.1 Hình ảnh “nước” ……… 27

2.1.2 Hình ảnh “lửa” ……… 30

2.1.3 Hình ảnh “đá” ……… 31

2.1.4 Hình ảnh “núi” ……… 32

2.1.5 Hình ảnh “gió” ……… 32

2.2 Nhóm chất liệu thực vật ……… 34

2.2.1 Hình ảnh “đậu” ……… 36

2.2.2 Hình ảnh “cây” (cành, lá, rễ) ……… 39

2.2.3 Hình ảnh “hoa” ……… 41

2.2.4 Hình ảnh “bầu, bí” ……… 43

2.2.5 Hình ảnh “gạo” (thóc, lúa, mạ) ……… 44

2.3 Nhóm chất liệu động vật ……… 45

2.3.1 Hình ảnh “bò” ……… 47

2.3.2 Hình ảnh “ngựa” ……… 48

2.3.3 Hình ảnh “hổ, báo” ……… 50

2.3.4 Hình ảnh “gà” ……… 51

2.3.5 Hình ảnh “chuột” ……… 53

2.4 Nhóm chất liệu vật thể nhân tạo ……… 54

2.4.1 Hình ảnh “quần, áo, váy” ……… 56

2.4.2 Hình ảnh “dao” ……… 57

Trang 4

2.4.3 Hình ảnh “cửa, cổng” ……… 58

2.4.4 Hình ảnh “bát, đĩa” ……… 59

2.4.5 Hình ảnh “cái kim” ……… 60

2.5 Nhóm chất liệu bộ phận cơ thể người ……… 61

2.5.1 Bộ phận “mắt” ……… 62

2.5.2 Bộ phận “chân” ……… 65

2.5.3 Bộ phận “tay” ……… 67

2.5.4 Bộ phận “miệng” ……… 69

2.5.5 Bộ phận “lòng, bụng, dạ” ……… 70

Tiểu kết ……… 71

Chương 3: DẤU ẤN VĂN HÓA – DÂN TỘC THỂ HIỆN QUA CHẤT LIỆU CỦA CÁC TÍN HIỆU THẨM MỸ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TIẾNG HÀN (CÓ LIÊN HỆ, SO SÁNH VỚI THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TIẾNG VIỆT)

74 3.1 Nhóm chất liệu tự nhiên ……… 75

3.2 Nhóm chất liệu thực vật ……… 80

3.3 Nhóm chất liệu động vật ……… 84

3.4 Nhóm chất liệu vật thể nhân tạo ……… 92

3.5 Nhóm chất liệu bộ phận cơ thể người ……… 96

Tiểu kết ……… 101

PHẦN KẾT LUẬN ……… 105 PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Thành ngữ, tục ngữ là biểu hiện đặc trưng trong ngôn ngữ của mỗi một đất nước, do đó người học ngoại ngữ muốn đạt đến năng lực ngôn ngữ gần như người bản ngữ thì việc hiểu và sử dụng thành ngữ là một bộ phận không thể bỏ qua Thành ngữ, tục ngữ ra đời từ rất sớm Nó là sản phẩm của tư duy, là công cụ diễn đạt những tri thức, kinh nghiệm quý báu, những triết lý nhân sinh vừa sâu sắc, thâm thúy, vừa không kém phần nghệ thuật, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Do đó, hiểu về thành ngữ và tục ngữ chính là con đường ngắn nhất để những người học ngoại ngữ hiểu về văn hóa xã hội của một đất nước và dễ dàng tìm cách hòa nhập với xã hội đó

1.2 Trong mấy năm gần đây, số lượng người Việt Nam học tiếng Hàn ngày càng tăng, do đó mối quan tâm về Hàn Quốc cũng ngày càng tăng mạnh Mặt khác, Hàn Quốc cũng là một đối tác kinh tế chiến lược của Việt Nam, đồng thời Hàn Quốc là một quốc gia trọng tâm với những gia đình đa văn hóa đang tiến tới năm 2014 sẽ lựa chọn tiếng Việt là ngoại ngữ hai trong kỳ thi vào đại học Những điều đó cho thấy quan

hệ hợp tác giữa hai nước ngày càng được mở rộng trên nhiều lĩnh vực và điều đó dẫn đến mối quan tâm, tìm hiểu về ngôn ngữ và văn hóa giữa hai dân tộc cũng không ngừng tăng lên Mà khi học một ngoại ngữ nào đó, việc tìm hiểu về mảng thành ngữ, tục ngữ trong ngôn ngữ đó là điều hết sức cần thiết

1.3 Từ lâu, thành ngữ, tục ngữ đã được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau và góc độ nào cũng đem đến những điều thú vị Thế nhưng theo chúng tôi, việc tìm hiểu các loại hình ảnh, các chất liệu làm nên thành ngữ, tục ngữ; tìm hiểu về ý nghĩa biểu trưng, về tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ, đặc biệt là trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn từ phía những người học và nghiên cứu chuyên sâu về Hàn Quốc và Hàn Quốc học

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu về tín hiệu thẩm mỹ

Thuật ngữ tín hiệu thẩm mỹ (hay ký hiệu thẩm mỹ) ra đời gắn với khuynh hướng cấu trúc trong

nghiên cứu mỹ học và nghệ thuật những năm giữa thế kỷ XX, được đưa vào sử dụng ở nước ta từ những năm

70 của thế kỷ trước qua các bản dịch công trình của Iu A Philipiep [12], M.B Khrapchenkô [4], các công trình, bài viết của Hoàng Tuệ [16], Hoàng Trinh [15], Đỗ Hữu Châu [1], Nguyễn Lai [6], Trần Đình Sử [13] Ở nước ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các hình thức thẩm mỹ cụ thể của văn học như: những "mẫu đề" (môtíp), những biểu tượng, biểu trưng, những ẩn dụ, hoán dụ

2.2 Lịch sử nghiên cứu tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt

Tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ cũng đã được các nhà nghiên cứu ở Việt Nam bàn đến từ lâu Ví dụ như trong phần tiểu luận quyển “ Tục ngữ Việt Nam” của nhóm tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri; “Tục ngữ Việt Nam – cấu trúc và thi pháp” của Nguyễn Thái Hòa, trong “Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Thị Đào; “Khảo luận về tục ngữ người Việt” của Triểu Nguyên;

“Biểu trưng trong tục ngữ người Việt” của Nguyễn Văn Nở và ở khá nhiểu bài viết của Nguyễn Đức Dân cùng các nhà nghiên cứu khác

2.3 Lịch sử nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn

Bản thân thuật ngữ “thành ngữ” đã được triển khai hết sức đa dạng bởi nhiều nhà nghiên cứu Đầu tiên là các nhà nghiên cứu như: Kim Jong Thaek (1971), Kim Sưng Hô (1981), Park Jin Su (1986), Heo Seok (1989) đã đưa ra thuật ngữ là “quán ngữ” Thứ hai là Kim Min Su (1964) và Lee Thaek Hoe (1984) với thuật ngữ “quán dụng ngữ”; Kim Kyu Seon (1978) với thuật ngữ “quán dụng cú” Thứ ba là Kim Mun Chang (1974), Sim Jae Gi (1986), An Kyong Hoa (1986) với thuật ngữ “thành ngữ” Thứ tư là Hwang Hee Yong

Trang 6

(1978) đưa ra cách gọi là “những lời nói quen thuộc”; Yang Thae Sik (1984) và Yun So Hee (1986) với thuật ngữ “lời nói thường xuyên sử dụng”

Nghiên cứu về thành ngữ trước những năm 70 đơn thuần xuất phát từ nhận thức về những cách biểu đạt của thành ngữ và dừng lại ở những nghiên cứu mang tính phổ quát nhưng đó có thể coi như là khởi nguồn của việc tiếp cận thành ngữ mang tính học thuật

Bước vào những năm 70, nghiên cứu về thành ngữ tập trung vào phê phán nghiên cứu của Hockket

và xu hướng chủ yếu thiên về phân loại thành ngữ Kim Jong Thaek đã dịch những câu tương ứng trong thành ngữ tiếng Anh sang thành ngữ tiếng Hàn Những học giả tiêu biểu cho thời kỳ này là Kim Jong Thaek, Kim Mun Chang, Kim Kyu Seon, Hwang Hee Yong v.v

Tiếp đó đến những năm 1980, lý thuyết về thành ngữ dần được hoàn thiện Một bộ phận các học giả giới thiệu lý thuyết nước ngoài vào trong nước và chủ trương nghiên cứu sâu thêm lý thuyết về thành ngữ Vào thời kỳ này, những nghiên cứu tổng hợp về ý nghĩa của thành ngữ được tiến hành hết sức sôi nổi Kim Min Su (1981) đã giới thiệu về nghiên cứu của Fraser (1970) trong nước

Bước vào những năm 1990, xu hướng chủ yếu là những nghiên cứu lý thuyết tổng hợp tất cả các kết quả nghiên cứu trước đây và mang tính hệ thống, tính đa diện Những học giả tiêu biểu của thời kỳ này là Kang Uy Kyu, Kim Hyê Suk, Choe Kyong Bông, Kim Kwang Hae, Hwang Su Mi, Park Dông Kưn, Mun Kưm Hyon v.v

Từ giữa những năm 1990 bắt đầu tiến hành những nghiên cứu về việc tái xác định lý thuyết thành ngữ Mun Kưm Hyon (1996) trong nghiên cứu về cách biểu đạt quán dụng của tiếng quốc ngữ đã chỉ ra nếu xét về mặt từ vựng thì cần phải quan sát sự hình thành mang tính chất hệ thống của các từ vựng cấu thành; xét về mặt ý nghĩa cần phải xét đến đặc tính ngữ nghĩa cơ bản và đặc tính ngữ nghĩa thứ hai và mối tương quan giữa chúng Về mặt ngữ dụng, ông đã xem xét phương thức biểu đạt được thực hiện trong giao tiếp và phương thức ý nghĩa, ông đã chỉ ra được phương thức thay đổi theo tình huống và sự khác nhau của người nói Ông cũng đã khảo sát trên phương diện cú pháp và từ điển học để mở rộng phạm vi nghiên cứu Trong thời kỳ này, từ điển quán ngữ của Park Yong Jun và Choe Kyong Bông đã được biên soạn, điều này cho thấy các thành quả nghiên cứu về thành ngữ của các nhà học giả đó

3.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Qua việc khảo sát, phân tích, tổng hợp các số liệu, mục tiêu của đề tài nhằm thống kê một cách có hệ thống, chính xác về các chất liệu của các tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn (bao gồm 05 nhóm chất liệu) Qua đó phân tích ý nghĩa của một số tín hiệu thẩm mỹ, có sự so sánh, đối chiếu với thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt để thấy được sự giống và khác nhau trong lối tư duy cũng như đặc trưng văn hóa giữa hai quốc gia Tiến thêm một bước nữa, tôi mong rằng kết quả của bài nghiên cứu này có thể được vận dụng trong giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa sau này Đặc biệt tôi tin là thành ngữ, tục ngữ có thể đóng vai trò quan trọng và phát huy tính tích cực trong lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng

4 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất liệu của các tín hiệu thẩm mỹ trong 4.577 câu thành

ngữ và 9.603 câu tục ngữ Hàn Quốc được đăng tải trên trang chủ của Viện ngôn ngữ Quốc gia Hàn Quốc ( www.korean.go.kr)

- Các chất liệu cấu thành nên thành ngữ, tục ngữ có phạm vi rất đa dạng và phong phú Chúng tôi

sắp xếp chúng vào 5 nhóm chất liệu chính:

1 Nhóm chất liệu là tự nhiên

2 Nhóm chất liệu là thực vật

Trang 7

3 Nhóm chất liệu là động vật

4 Nhóm chất liệu là vật thể nhân tạo

5 Nhóm chất liệu là bộ phận cơ thể người

Phạm vi nghiên cứu trong đề tài của chúng tôi xoay quanh 5 nhóm chất liệu này

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa, ngữ cảnh

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

6.ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi dự kiến sẽ có những đóng góp sau:

- Thống kê và phân loại một cách có hệ thống các tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn

- Phát hiện những ý nghĩa biểu trưng mới trong cách sử dụng tín hiệu thẩm mỹ của người Hàn Quốc,

có nét gì khác so với quan niệm văn hóa của người Việt Nam Từ đó cho thấy những nét tương đồng

và dị biệt trong phong cách tư duy, lối sinh hoạt, trong đặc trưng văn hóa giữa hai nước Hàn Quốc và Việt Nam

- Luận văn hoàn thành sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những người quan tâm đến tiếng Hàn

và văn hóa Hàn Quốc cũng như các sinh viên chuyên ngành tiếng Hàn Quốc

7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được triển khai thành 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Chất liệu và ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn

Chương 3: Dấu ấn văn hóa – dân tộc thể hiện qua chất liệu của các tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Tín hiệu thẩm mỹ

1.1.1 Tín hiệu

Trong cuốn “ Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng”, Đỗ Hữu Châu đã nêu ra định nghĩa về tín hiệu của Piar Guiraud : “ Một tín hiệu là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác”.1

Và Đỗ Hữu Châu cũng đã chỉ ra những điều kiện cần cho một sự vật (hay thuộc tính vật chất,

hiện tượng) trở thành tín hiệu:

1 Nó phải được cảm nhận bằng các giác quan (phải có một hình thức cảm tính – cái biểu hiện)

2 Đại diện cho cái gì đó khác với chính nó ( phải có một “ý nghĩa” – cái được biểu hiện)

3 Nó phải được thừa nhận, lĩnh hội bởi một chủ thể

4 Nó phải nằm trong một hệ thống nhất định

1 “ Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng”, Đỗ Hữu Châu, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1987

Trang 8

1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ

Theo Ferdinand de Saussure “ Tín hiệu ngôn ngữ kết liền thành một không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một hình ảnh và âm thanh”.2 Nó là một thực thể tâm lý có hai mặt: cái biểu hiện

và cái được biểu hiện Trong đó khái niệm được gọi là cái được biểu hiện, còn hình ảnh âm thanh được gọi là

cái biểu hiện Hai mặt đó gắn bó mật thiết trong một ý niệm, không thể có mặt này mà không có mặt kia

Trong cuốn “ Dẫn luận ngôn ngữ học”, Nguyễn Thiện Giáp đã chỉ ra rằng: Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, nó khác với những hệ thống vật chất khác không phải là tín hiệu, chẳng hạn, kết cấu của một cái cây, một vật thể nước, đá, kết cấu của một cơ thể sống v.v… Bản chất tín hiệu của ngôn ngữ thể hiện ở những điểm sau: 1) Các yếu tố của những hệ thống vật chất không phải là tín hiệu có giá trị đối với hệ thống vì có những thuộc tính vật thể tự nhiên của chúng Hệ thống tín hiệu cũng là hệ thống vật chất nhưng các yếu tố của nó có giá trị đối với hệ thống không phải do những thuộc tính vật thể tự nhiên của chúng mà do những thuộc tính được người ta trao cho để chỉ ra những khái niệm hay tư tưởng nào đó 2) Tính hai mặt của tín hiệu 3) Tính võ đoán của tín hiệu 4) Giá trị khu biệt của tín hiệu

1.1.3 Tín hiệu thẩm mỹ

THTM là yếu tố thuộc hệ thống phương tiện biểu hiện của nghệ thuật Đó là "những phương tiện nghệ thuật được tập trung theo một hệ thống tác động thẩm mỹ, được chúng ta tiếp nhận như là những tín hiệu đặc biệt, có khả năng kích thích mạnh mẽ thế giới tinh thần của chúng ta "3, là "cái được tác giả lựa chọn từ thế giới hiện thực mà xây dựng nên, sáng tạo ra"4 Có thể hiểu, THTM là toàn bộ những yếu tố hiện thực,

những chi tiết của sự vật, hiện tượng trong đời sống (các hình ảnh tự nhiên, động - thực vật, vật thể nhân tạo,

bộ phận cơ thể người) được đưa vào thành ngữ, tục ngữ nhằm mục đích tạo cho người tiếp nhận một sự liên tưởng gần gũi đến các triết lý nhân sinh quan, giá trị quan trong cuộc sống

Tín hiệu thẩm mỹ bao giờ cũng phải có hình thức vật chất của nó, đó là hình thức ngôn ngữ Tín hiệu thẩm mỹ phân biệt với các tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên ở chỗ ý nghĩa của nó không bao giờ chỉ dừng ở phạm

vi tái tạo hiện thực mà phải là một khái quát nghệ thuật về tư tưởng Trong tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên quan

hệ giữa “cái biểu hiện” và “cái được biểu hiện” có thể là võ đoán Nhưng trong tín hiệu thẩm mỹ, nó luôn có

lý do Chính lý do đó khiến cho các hình tượng, sự vật được đề cập đến trong tục ngữ luôn thoát khỏi những giới hạn ngữ nghĩa thuần ngôn ngữ, trở thành những yếu tố có sức khái quát lớn về mặt nội dung tư tưởng

là nghệ thuật ngôn từ của toàn thể dân tộc được truyền khẩu từ đời này sang đời khác”.5

Trong tiếng Việt, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tục ngữ:

2

“ Học thuyết của Ferdinand de Saussure”, Đái Xuân Ninh, Nxb KHXH, 1984

3

Iu A Philipiep (1971), Những tín hiệu của thông tin thẩm mỹ, Nxb Khoa học, M (Bản dịch và đánh máy Thư viện

Đại học sư phạm Hà Nội)

4 Đỗ Hữu Châu (1990), Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học, Ngôn ngữ, số 2

5 Im Dong Kwon, “Từ điển tục ngữ”, NXB Dân tộc, 2002

Trang 9

- “ Tục ngữ là sản phẩm của tư duy, là công cụ diễn đạt những tri thức, kinh nghiệm quý báu, những triết lý nhân sinh vừa sâu sắc, thâm thúy vừa không kém phần nghệ thuật, được lưu truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác”.6

- “ Tục ngữ là câu thành ngữ nói đã quen trong thế tục, nhiều câu nghĩa lý thâm thúy, ý tứ cao xa, câu nào từ đời xưa truyền lại gọi là ngạn ngữ, cũng có khi gọi là tục ngạn; tục ngữ hay tục ngạn thì nghĩa cũng gần giống nhau” 7

- “ Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán”.8

1.2.1.2 Khái niệm thành ngữ

Khái niệm thành ngữ trong tiếng Hàn không thể định nghĩa một cách dễ dàng Xét nghĩa hẹp thì thành ngữ là cụm từ hoặc từ có cấu tạo hoặc mang ý nghĩa đặc biệt khác với phương thức diễn đạt thông thường của một ngôn ngữ Xét theo nghĩa rộng thì thành ngữ là tất cả hệ thống đặc trưng mang tính chất tương đối giữa một ngôn ngữ nào đó với một ngôn ngữ khác Nếu xét theo nghĩa rộng thì có thể thấy bản thân ngôn ngữ đã là thành ngữ Phạm vi của thành ngữ đa dạng và rộng lớn như thế nhưng ngược lại, bản thân thuật ngữ diễn tả nó còn rất mơ hồ, do đó khái niệm và phạm trù thành ngữ khác nhau theo từng học giả Những từ tương đương với từ “thành ngữ” của phương Tây được dịch ra với nhiều hình thái đa dạng và không thống nhất như: thành ngữ, quán ngữ, quán dụng cú, ngữ quán dụng, cách biểu đạt quán dụng, những lời nói quen thuộc hay lời nói thường xuyên sử dụng v.v

1.2.2 Nguồn gốc và tầm quan trọng của thành ngữ, tục ngữ

“ 세용지마” – “Tái ông chi mã”; “ 독일무이” – “Độc nhất vô nhị” Hoặc dịch từng chữ (một phần hoặc tất

cả các yếu tố), dịch nghĩa chung của thành ngữ có thay đổi trật tự các yếu tố cấu tạo

1.2.2.2 Tầm quan trọng của thành ngữ, tục ngữ

Trong đời sống hằng ngày từ xưa đến nay, tục ngữ, thành ngữ luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng, là một nét văn hoá truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc Tục ngữ, thành ngữ chứa đựng đầy đủ nhân sinh quan và vũ trụ quan, được đúc rút từ thực tiễn lao động và kinh nghiệm của con người, có tác dụng định hướng cho việc hình thành nhân cách, hành động và suy nghĩ của con người Thông qua thành ngữ, tục ngữ, chúng ta có thể hiểu một cách sâu sắc về văn hóa của một dân tộc, các phong tục, tập quán, lối tư duy, phong cách sống của con người thuộc quốc gia đó

Người Hàn đã đặt cho thành ngữ, tục ngữ một biệt danh là “ thể loại văn học ngắn nhất được tổ tiên truyền lại từ thời xa xưa” Bởi nó chứa đựng trong đó những lời giáo huấn sâu sắc mà dẫu có trải qua hàng

6

Nguyễn Văn Nở, “Biểu trưng trong tục ngữ người Việt”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008

7 Dẫn theo Chu Xuân Diên – Lương Văn Đang – Phương Tri 1975 Tục ngữ Việt Nam Hà Nội

8 Vũ Ngọc Phan, “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, NXB Khoa học xã hội, 1998

Trang 10

ngàn năm lịch sử, những lời giáo huấn, răn dạy đó vẫn phát huy giá trị tích cực của nó Do đó, khi chúng ta hiểu một cách trọn vẹn một câu thành ngữ, tục ngữ nào đó thì điều đó cũng có nghĩa là chúng ta đã hiểu được phương thức sống và lối tư duy, hành động của người xưa Đồng thời, các phong tục và tính cách đặc trưng của con người từng quốc gia, từng vùng miền cũng được phản ánh một cách hàm súc thông qua thành ngữ, tục ngữ Vì vậy, để hiểu rõ văn hóa đặc trưng của từng quốc gia thì việc tìm hiểu thành ngữ, tục ngữ đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với những nhà nghiên cứu về ngôn ngữ và đất nước học

1.2.3 Phân loại thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn

1.2.3.1 Phân loại tục ngữ

1.2.3.1.1 Tục ngữ chứa đựng ý nghĩa giáo huấn

Những câu tục ngữ như: “콩 심은데 콩 나고 팥 심은데 팥난다” (Trồng đậu đỏ có đậu đỏ, trồng đậu đen có đậu đen) – hàm ý gieo nhân nào thì gặt quả đấy Hoặc câu tục ngữ “ 낮말은 새가 듣고 밤말은

쥐가 듣는다” ( Lời nói ban ngày có chim nghe, lời nói ban đêm có chuột nghe) – hàm ý dù ở đâu, khi nào cũng phải cẩn thận lời nói (Tai vách mạch rừng) là những ví dụ tiêu biểu cho những câu tục ngữ mang tính chất giáo huấn, răn dạy

1.2.3.1.2 Tục ngữ chứa đựng ý nghĩa ẩn dụ

Những tục ngữ loại này chủ yếu mang tính chất ẩn dụ, châm biếm, ám chỉ bóng gió hơn là chứa đựng ý nghĩa giáo huấn Ví dụ như: “수박 겉핥기/ 중의 빗 / 꿀먹은 벙어리 / 개팔자” (Liếm vỏ dưa hấu / Lược của nhà sư / Người câm ăn mật ong / Thân phận con chó) Những cụm từ mang tính chất ví von, ẩn dụ như: “ 두 다리 뻗고 잔다” (Nằm duỗi hai chân mà ngủ) không có cấu tạo dạng tục ngữ nên chỉ được xem như cách biểu đạt quán dụng mang tính chất ví von đơn thuần

1.2.3.1.3 Tục ngữ chứa đựng ý nghĩa cấm kỵ

Tục ngữ có nội dung cấm kỵ mang nặng tính chất tín ngưỡng dân gian, là những lời tiên tri về những điều tốt – xấu, vận may – vận rủi và chủ yếu là những tục ngữ liên quan đến những điều khuyên nhủ, cấm kỵ, phân biệt tốt – xấu, giải mộng Những câu tục ngữ này được hình thành nên dựa trên nền tảng những tri thức, kinh nghiệm của tổ tiên đã sống và đúc kết tại thời điểm đó cho nên chắc chắn sẽ có những điều không thật sự phù hợp với tri thức khoa học hiện đại, thậm chí có những điều mê tín mang tính chất phản khoa học

1.2.3.2 Phân loại thành ngữ

1.2.3.2.1 Thành ngữ truyền thống (thành ngữ thuần Hàn)

Đó là những câu thành ngữ đã được hình thành từ rất lâu trong lịch sử Hàn Quốc Ví dụ như “뒤를

보다 낯을 붉히다 싸우다 한잔하다 애쓰다 간장을 녹이다 몸부리다 해산 애가 달다 애가 타다

이를 갈다 귀가 먹다” ( Nhìn lại đằng sau / Mặt đỏ bừng bừng / Làm một chén / Quyết tâm / Làm tan chảy

xì dầu / Mệt rã người / Thiếu kiên nhẫn / Lo lắng / Nghiến răng / Ăn mất tai (tai điếc)) Và cũng có những thành ngữ phản ánh tính chất đặc trưng của thời đại như: “시치미떼다 바지저고리 산통깨지다국수먹다 깡통차다 시집가다 장가가다 파리날리다 비행기태우다” ( “Lấy cắp, dứt mất Si-chi-mi”9

– hàm ý giả vờ như không biết / “ Áo Jeo-go-ri10

lẫn với quần” – chỉ những người không có chính kiến hoặc không có năng lực, một ý khác nữa là ám chỉ những người nhà quê

9 시치미 (Si-chi-mi) là miếng sừng hình vuông được buộc vào đuôi của con chim ưng, trên đó ghi rõ địa chỉ, tên để phân biệt chủ nhân của con chim ưng đó Thời xa xưa, tổ tiên người Hàn Quốc thường nuôi chim ưng để trợ giúp trong công việc săn bắn

10

저고리 (Jeo-go-ri) là chiếc áo lửng mặc bên ngoài bộ Hanbok truyền thống của người Hàn Quốc

Trang 11

1.2.3.2.2 Thành ngữ vay mượn phương Tây

Là các thành ngữ được dịch từ các thành ngữ phương Tây: “판도라의 상자 뜨거운 감자 황금알

낳는 거위” ( “ Chiếc hộp Pandora” – chiếc hộp của tội ác và tai ương, hàm ý gặp phải chuyện rắc rối /

“Khoai tây nóng” – nuốt cũng không được mà nhổ ra cũng không được, hàm ý gặp phải tình huống khó khăn, làm cũng không được mà không làm cũng không được / “Ngỗng đẻ trứng vàng”)

- Dựa trên nền tảng những vấn đề lý thuyết đó, chúng tôi đi vào giải thích, tìm hiểu một số tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn

Trong số các chất liệu tự nhiên, hình ảnh

“nước”, “lửa”, “đá”, “núi” và “gió” có tần số xuất hiện nhiều nhất trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn Còn trong tục ngữ tiếng Việt, các yếu tố “nước”, “mưa”, “gió”, “sông”, “trời” có tần số xuất hiện nhiều nhất Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều đó qua bảng thống kê dưới đây

Tục ngữ, thành ngữ tiếng Hàn

STT Tên loại Số

lượng câu

Tỉ lệ % (so với tục ngữ có hình ảnh

lượng câu

Tỉ lệ % (so với tục ngữ có hình ảnh tự nhiên)

Trang 12

2.1.1 Hình ảnh “nước”

Trong tục ngữ và thành ngữ tiếng Hàn, hình ảnh “nước” xuất hiện trong khoảng 313 câu, chiếm tỷ lệ 20,1% trong tổng số 1555 câu thành ngữ, tục ngữ có hình ảnh tự nhiên Khi đi vào thành ngữ, tục ngữ, hình ảnh “nước” được dùng biểu trưng nhiều mặt về con người và đời sống xã hội

“Nước” trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn là tín hiệu thẩm mỹ mang ý nghĩa biểu trưng cho chính con người, lòng người “물방아 무로 서면 언다” (Cối xay nước mà cứ đứng không, không làm việc thì cũng sẽ bị đóng băng) Hình ảnh “nước” trong tổ hợp từ “cối xay nước” biểu trưng cho con người, hàm ý con người mà không chịu vận động, không chịu làm việc thì sẽ có hại cho sức khỏe “물은 건너 보아야 알고 사람은 지내 보아야 안다” (Nước có lội qua mới biết nông sâu, người có sống cùng mới hiểu lòng nhau)

“Nước” được ví như tấm lòng, bụng dạ con người Nước có chỗ nông, chỗ sâu Con người cũng có người tốt, người xấu và muốn đánh giá đúng một người thì phải có thời gian gần gũi, sống với nhau thì mới hiểu được lòng nhau

“Nước” trong tục ngữ tiếng Hàn thiên về biểu đạt lí trí, nhận thức về cuộc đời; phản ánh kinh nghiệm được đúc kết từ những quan hệ ứng xử, nếp nghĩ chung của một cộng đồng

“Nước” còn biểu trưng cho môi trường sống của con người “물 밖에 안 고기” (Cá sinh ngoài nước) – đối với các loài cá, nước chính là môi trường sống của chúng, ra khỏi môi trường này thì cá không thể nào sống được Con người chúng ta cũng vậy, sống ở đâu thì quen đó, nếu ra khỏi môi trường quen thuộc, đến với một môi trường xa lạ thì sẽ rất khó khăn để có thể thích nghi, giống như “cọp ra khỏi rừng” vậy

“Nước” cần thiết và quan trọng đối với con người, nhưng không phải lúc nào “nước” cũng luôn mang lại cảm giác mát mẻ, dịu dàng, không phải lúc nào “nước” cũng có vẻ ngoài êm ả Trong một loạt những thiên tai do tự nhiên mang lại, lịch sử loài người luôn phải chứng kiến những trận “đại hồng thủy” mà sức lực con người không thể chống chọi với hiểm họa tự nhiên Có lẽ vì lí do đó mà từ lâu, “nước” cùng với “lửa” còn mang ý nghĩa tượng trưng cho những gian nguy, trở ngại trong cuộc đời “물불을 가리지 않는다” (Không

từ lửa nước) – ý nói không sợ gian nguy

2.1.2 Hình ảnh “lửa”

Hình ảnh “lửa” xuất hiện trong khoảng 180 câu thành ngữ, tục ngữ, chiếm 11,6% trong tổng số câu

thành ngữ, tục ngữ có hình ảnh tự nhiên Giống như yếu tố “nước”, “lửa” mang ý nghĩa biểu trưng cho

những tình huống khó khăn, nguy cấp “불난 강변에서덴 소 날뛰듯 하다” (Giống như bò bị bỏng lửa ở bờ sông) ngụ ý chỉ những người lúng túng không biết phải xử lý như thế nào trong lúc nguy cấp Hay như câu:

“불난 데 부채질 한다” (Quạt thêm vào đống lửa đang cháy), câu này mang ý nghĩa tương tự câu “đổ thêm dầu vào lửa” trong tục ngữ Việt Nam

“Lửa” biểu trưng cho thiên tai, hỏa hoạn “ 불난 끝은 있어도 물난 끝은 없다” (Hỏa hoạn thì có lúc kết thúc nhưng lũ lụt thì không) – Cháy thì có thể cứu được ít nhiều của cải, nhưng lụt thì ngập cả, lũ lụt nguy hại hơn hỏa hoạn “Nhất thủy nhì hỏa”

Hình ảnh “lửa” trong thành ngữ tiếng Hàn còn chủ yếu được dùng để diễn tả sự tức giận trong trạng thái cảm xúc của con người như trong câu “눈에 불이 나다”- “lửa cháy trong mắt”

Trang 13

“ 돌다리도 두들겨 보고 건너라” (Dù là cây cầu xây bằng đá thì cũng phải gõ thử rồi hãy đi qua) – dù là việc mình biết rất rõ, có chắc chắn đến mấy thì cũng phải chú ý thật tỉ mỉ

Trong thành ngữ tiếng Hàn, người Hàn Quốc dùng hình ảnh “돌을 던지다” (Ném đá) để diễn tả ý phê bình, chỉ trích những sai lầm, khuyết điểm của người khác

2.1.4 Hình ảnh “núi”

Hình ảnh “núi” xuất hiện trong khoảng 136 câu tục ngữ, thành ngữ tiếng Hàn, chiếm 8,7% trong tổng số câu tục ngữ, thành ngữ có hình ảnh tự nhiên Hình ảnh những ngọn núi trùng trùng điệp điệp, hiểm trở luôn biểu trưng cho những khó khăn, trở ngại, những thế lực ngăn cản công việc mà con người phải đương đầu “가면 갈수록 첩첩산중이다” (càng đi, núi càng trùng điệp) có ý chỉ công việc ngày càng khó khăn

Hình ảnh “núi” cũng được dùng để biểu trưng cho con người Ví dụ như trong câu: “산이 높으면 그늘도 길다” (Núi cao thì bóng rộng) – ý nói con người có đạo đức, tài năng lớn thì càng đóng góp được nhiều cho xã hội Ở đây, hình ảnh những người có tài cao, đức rộng được ví như hình ảnh những ngọn núi cao sừng sững

2.1.5 Hình ảnh “gió”

Hình ảnh “gió” xuất hiện trong khoảng 117 câu, chiếm 7,5% trong tổng số câu tục ngữ, thành ngữ tiếng Hàn có hình ảnh tự nhiên Hình ảnh “gió” được sử dụng trong thành ngữ, tục ngữ ngoài ý nghĩa đúc kết kinh nghiệm về mặt thời tiết, hình ảnh này còn góp phần thể hiện những triết lí nhân sinh sâu sắc “Gió” là nguồn năng lượng vô tận và có sức mạnh vô biên Vì thế mà hình ảnh “gió” được dùng biểu trưng cho những thử thách, khó khăn mà con người phải đương đầu trong cuộc sống Khi phải đứng trước những tình huống khó khăn, nguy cấp, người Hàn dùng hình ảnh “바람받이에 선 촛불” (Như ngọn đèn trước gió) có thể bị gió thổi tắt bất cứ lúc nào

Ngoài ý nghĩa biểu trưng cho những khó khăn, thử thách, “gió” còn mang ý nghĩa biểu trưng cho sự

lo lắng, bận tâm Ví dụ như câu: “가지 많은 나무 바람 잘 날 없다” (Cây có nhiều cành không ngày nào lặng gió) – gia đình có nhiều con cái thì không ngày nào bố mẹ bớt lo lắng, bận tâm Đặc tính của gió bên cạnh sự dữ dội, ồn ào, cũng có những lúc gió thật nhẹ nhàng, dịu êm “가을 바람에 새털 날듯” (Giống như lông chim bay trong gió mùa thu) – mô tả những hành động, cử chỉ thật nhẹ nhàng

Là một hiện tượng thiên nhiên, tồn tại một cách khách quan nên “gió” còn được dùng với ý nghĩa biểu trưng cho thời thế, cơ hội “바람 따라 돛을 단다” (Căng buồm theo gió) – chọn đúng lúc, đúng thời điểm để tiến hành công việc thì sẽ gặt hái được thành công Còn nếu trường hợp ngược lại “바람 부는 날

가루 팔러 가듯” (Giống như đi bán bột ngày gió thổi) – hàm ý làm việc không tính toán, cân nhắc, không lựa chọn đúng thời điểm nên gặp thất bại

Trong thành ngữ tiếng Hàn, “gió” được dùng với nghĩa biểu trưng cho những điều xấu, cái ác

“바람을 넣다” (đặt gió) – hàm ý nảy sinh ý đồ thực hiện một hành động xúi giục, kích động người khác Hoặc dùng với ý nghĩa thay đổi tâm trạng: “바람을 쐬다” (đổi gió, hóng gió) – thay đổi môi trường, đi đến một nơi khác để thay đổi tâm trạng Thành ngữ tiếng Hàn cũng mượn hình ảnh “gió” để nói đến những người

có ảnh hưởng lớn đến nhiều người khác trong xã hội “바람을 일으키다” (gây ra gió/ tạo ra gió)

Trang 14

được dùng với những nét nghĩa biểu trưng rất phong phú khi xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ Tiêu biểu là hình ảnh “cây đậu”, “cây” (bao gồm “lá”, “cành”, “rễ”), “hoa”, “bầu, bí” và “gạo” có tần số xuất hiện nhiều nhất trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn Còn trong tục ngữ tiếng Việt, các yếu tố “lúa”, “cây”, “hoa”, “tre, trúc, măng”, “rau” có tần số xuất hiện nhiều nhất Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều đó qua bảng thống kê dưới đây

Tục ngữ, thành ngữ tiếng Hàn

STT Tên loại Số

lƣợng câu

Tỉ lệ % (so với tục ngữ có hình ảnh

loại

Số lƣợng câu

Tỉ lệ % (so với tục ngữ có hình ảnh tự nhiên)

Tuy nhiên, hình ảnh “đậu” cũng được dùng trong những câu tục ngữ để diễn tả cảm xúc vui mừng, thích thú của con người như trong câu: “콩 볶아 재미 낸다” (Rang đậu và thấy mùi hương của sự thú vị bay ra) – diễn tả cảm xúc hấp dẫn, thú vị khi làm một công việc nào đó Hay như câu: “콩 본 당나귀같이 흥흥한다” (Hát ngân nga như lừa nhìn thấy đậu) – diễn tả cảm xúc vui mừng khôn xiết khi trước mắt mình xuất hiện thứ mà mình yêu thích

Trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn, hình ảnh “đậu” còn được dùng để phản ánh những triết lí nhân sinh sâu sắc Ví dụ như trong câu: “콩 심은 데 콩 나고 팥 심은 데 팥 난다” (Trồng đậu đỏ có đậu đỏ, trồng đậu đen có đậu đen) – hàm ý trồng cây nào thu hoạch quả đó, không lẽ trồng đậu đỏ lại có thể thu hoạch đậu đen Đây chính là quy luật nhân quả ở đời “gieo nhân nào thì gặt quả nấy” Hay như câu: “콩 볶아 먹다가 가마솥 터뜨린다” (Rang đậu ăn làm thủng mất cái nồi rang) – tham cái nhỏ làm thiệt cái lớn, “tham bát bỏ mâm”

2.2.2 Hình ảnh “cây” (cành, lá, rễ)

Hình ảnh “cây” (cành, lá, rễ) đứng ở vị trí thứ hai, xuất hiện trong khoảng 88 câu thành ngữ, tục ngữ, với tỉ lệ 11,7%.“Cây” được người Hàn Quốc ví như một gia đình thu nhỏ: “가지 많은 나무에 바람 잘 날

13 “Biểu trưng trong tục ngữ người Việt”, Nguyễn Văn Nở, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010, tr.313

Trang 15

없다” (Cây có nhiều cành không có ngày nào là không bị gió thổi) hàm ý những gia đình có đông con không ngày nào mà bố mẹ hết lo lắng Hình ảnh “cây” gắn liền với hình ảnh con người: “나무도 쓸 말한 것이

먼저 베인다” (Cây dùng được nên bị chặt trước) ý nói những người tài giỏi nhiều khi bị rơi vào cảnh lao đao, nó có ý nghĩa tương tự với câu “Chữ tài đi với chữ tai một vần” trong tiếng Việt của chúng ta

Hình ảnh dẻo dai, vững vàng, sừng sững của cây được dùng biểu trưng cho những sức mạnh, chỗ dựa vững chắc Ví dụ như trong câu: “나무에도 못 대고 돌에도 못 댄다” (Không dựa vào cây mà cũng chẳng dựa vào đá) – hàm ý tự lực cánh sinh, không thể dựa dẫm, nhờ cậy vào ai

Hình ảnh “cây” trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn được dùng nhiều với ý nghĩa biểu trưng cho những đạo lí, triết lí, những quy luật ở đời “나무는 큰 나무의 덕을 못 보아도 사람은 큰 사람의 덕을 본다” (Cho dù cây không trông thấy được công ơn của những cây to nhưng con người thì thấy được cái đức của những người vĩ đại) – nhắn nhủ đã là con người thì phải biết ghi nhớ công ơn của những người đã giúp

đỡ mình để mình có thể đạt được thành công

2.2.3 Hình ảnh “hoa”

Hình ảnh “hoa” giữ vị trí thứ ba, có mặt trong khoảng 71 câu thành ngữ, tục ngữ, với tỉ lệ 9,4%

“Hoa” vốn đẹp đẽ, kiêu sa nên nó biểu trưng cho những điều ngọt ngào, hạnh phúc Trong câu: “꽃밭에 불 지른다” (Châm lửa trên cánh đồng hoa) - ở đây “hoa” tượng trưng cho hạnh phúc, hàm ý đang sống hạnh phúc thì gặp phải tai ương bất ngờ Cũng giống như trong tục ngữ tiếng Việt, hình ảnh “bướm” với “hoa” trong tục ngữ tiếng Hàn biểu trưng cho tình yêu nam nữ Diễn tả niềm vui bất tận khi gặp được người mình yêu thương, tiếng Hàn dùng hình ảnh: “꽃 본 나비” (Như bướm thấy hoa) Hay “꽃 없는 나비” (Bướm

không có hoa) chẳng khác nào như phượng hoàng không có cánh

2.2.4 Hình ảnh “bầu, bí”

Hình ảnh “bầu, bí” giữ vị trí thứ tư trong bảng thống kê tần số xuất hiện của các từ chỉ thực vật trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn Hình ảnh “bầu, bí” xuất hiện trong khoảng 64 câu, chiếm tỉ lệ 8,5% Khi nói đến những người không phòng bị gì, nhảy vào vòng nguy hiểm, tự đẩy mình đến con đường bị tiêu diệt, tục ngữ tiếng Hàn mượn hình ảnh: “호박을 쓰고 돼지 굴로 들어간다” (Đội quả bầu đi vào hang lợn) – bầu vốn là món ăn yêu thích của lợn, vậy mà có người bất cẩn đến mức đội quả bầu đi vào hang lợn thì tất yếu chỉ chuốc vạ vào thân Ám chỉ những người nổi giận một cách vô ích đối với những việc không đâu, tục ngữ tiếng Hàn có câu: “호박 나물에 힘쓴다” (Dùng sức để nhổ dây bầu) – dây bầu vốn mảnh mai, dễ đứt vậy

mà phải dùng nhiều sức để nhổ thì đúng là tốn công vô ích

2.2.5 Hình ảnh “gạo” (thóc, lúa, mạ)

Đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng thống kê là hình ảnh “gạo” (thóc, lúa, mạ) Chúng xuất hiện trong khoảng 36 câu thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn, chiếm tỉ lệ 4,8% trong tổng số câu có hình ảnh thực vật hình ảnh “gạo” biểu trưng cho của cải vật chất, cho cuộc sống no đủ “쌀 독에 앉은 쥐” (Chuột sa hũ gạo) hay như câu “쌀고리에 닭이라” (Gà trong đống thóc) - nói đến những người may mắn được sống trong cảnh giàu sang, no đủ “쌀 독에서 인심 난다” (Lòng thương người từ trong hũ gạo) – mình có dư dật thì mới có điều kiện giúp đỡ người khác “Có thực mới vực được đạo”

Hình ảnh cây lúa với đầy đủ thân, cành, lá, rễ cũng được ví von như một con người: “벼는 익을

수록 고개를 숙인다” (Lúa càng chín càng cúi đầu) – người càng tài giỏi thì lại càng khiêm tốn Thông qua hình ảnh cây lúa, người Hàn cũng ẩn chứa nhiều triết lí nhân sinh sâu sắc Ví dụ như trong câu: “보리 주고

오이 안 주랴” (Cho lúa mạch chẳng nhẽ không cho dưa chuột) – hàm ý nhắn nhủ con người ta đã giúp

người thì phải giúp đến cùng; đã thương thì phải thương cho trót

Trang 16

2.3 Nhóm chất liệu là động vật

Khi tiến hành khảo sát, thống kê trên tổng số 9603 câu tục ngữ tiếng Hàn, chúng tôi thấy có 2111 câu tục ngữ có hình ảnh động vật (chiếm 21,98%) Con số này trong thành ngữ tiếng Hàn là 181 câu trên tổng số 4577 câu thành ngữ (chiếm 3,95%) Tổng số hình ảnh liên quan đến chất liệu động vật trong cả thành ngữ và tục ngữ tiếng Hàn là 77 loài

Trong nhóm hình ảnh động vật, có những loại xuất hiện với tần số cao và được dùng với những nét nghĩa biểu trưng rất phong phú khi xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ Tiêu biểu là hình ảnh “bò”, “ngựa”,

“hổ, báo”, “gà” và “chuột” có tần số xuất hiện nhiều nhất trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn Còn trong tục ngữ tiếng Việt, các yếu tố “cá”, “trâu”, “gà”, “chó”, “bò” có tần số xuất hiện nhiều nhất Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều đó qua bảng thống kê dưới đây

Tục ngữ, thành ngữ tiếng Hàn

STT Tên loại Số

lƣợng câu

Tỉ lệ % (so với tục ngữ có hình ảnh

loại

Số lƣợng câu

Tỉ lệ % (so với tục ngữ có hình ảnh động vật)

Do đặc tính của “bò” là chậm chạp, lề mề, không được nhanh nhẹn như các con vật khác nên hình ảnh con bò được dùng như là tín hiệu thẩm mĩ biểu trưng cho những người đầu óc không được thông minh, nhanh nhạy, ngu ngơ, tính tình lề mề Ví dụ như trong câu: “소가 크다고 왕노릇 할까” (Bò vì to mà làm tướng được sao?) – ý nói muốn chỉ huy người khác ngoài sức khỏe ra còn phải có đầu óc

Trong sản xuất nông nghiệp, bò thường được dùng để làm sức kéo, vì thế những đoạn đường nào gập ghềnh, mấp mô, khó đi thì người ta sẽ phải dùng sức bò, sức ngựa để kéo Xuất phát từ đặc điểm này, những nơi mà bò đi đến thường được dùng để chỉ những chỗ khó khăn, nguy hiểm, vất vả Điều này được phản ánh rõ qua câu tục ngữ: “소 갈 데 말 갈 데 가리지 않는다” (Không chùn bước dù cho đó là nơi bò đến hay ngựa đến) – để đạt được mục đích thì nhất quyết phải đi, phải thực hiện cho dù đó là nơi khó khăn hay việc đó có vất vả đến mức nào

Thành ngữ tiếng Hàn sử dụng hình ảnh “소가 뜨물 켜듯이” (Giống như bò uống nước gạo) để ví von với hành động uống nước ừng ực khi một người đang rất khát Hay như câu “소가 푸주에 들어가듯” (Sợ như bò vào cửa hàng thịt) để diễn tả nỗi sợ hãi, ghét phải đến một nơi nào đó mà mình không thích Một hình ảnh hết sức quen thuộc mà người Hàn thường xuyên sử dụng hàng ngày để chỉ những người ăn quá nhiều, đó là “소같이 먹다” (Ăn như bò)

2.3.2 Hình ảnh “ngựa”

14 “Biểu trưng trong tục ngữ người Việt”, Nguyễn Văn Nở, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010, tr.316

Ngày đăng: 11/07/2016, 10:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2.1. Hình ảnh “đậu” - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng hàn
2.2.1. Hình ảnh “đậu” (Trang 14)
2.3.1. Hình ảnh “bò” - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng hàn
2.3.1. Hình ảnh “bò” (Trang 16)
2.4.1. Hình ảnh “quần, áo, váy” - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng hàn
2.4.1. Hình ảnh “quần, áo, váy” (Trang 18)
Hình  ảnh  “chân”  xuất  hiện  với  tần  suất  đứng  thứ  2  trong  các  câu  tục  ngữ,  thành  ngữ  tiếng  Hàn - Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng hàn
nh ảnh “chân” xuất hiện với tần suất đứng thứ 2 trong các câu tục ngữ, thành ngữ tiếng Hàn (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm