1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Khoa học ngôn ngữ: Ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Anh)

220 26 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngữ Nghĩa Của Từ Ngữ Chỉ Động Vật Trong Thành Ngữ Tiếng Việt (So Sánh Với Thành Ngữ Tiếng Anh)
Tác giả Nguyễn Thị Bảo
Người hướng dẫn PGS. TS. Hoàng Dũng
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa Học Ngôn Ngữ
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2003
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 220
Dung lượng 38,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Anh) nghiên cứu nhằm góp phần chứng minh bản sắc văn hóa riêng biệt ở mỗi dân tộc cũng như tính phổ quát văn hóa ở nhiều dân tộc thông qua so sánh đối chiếu thành ngữ có thành tố chỉ động vật trong tiếng Việt và tiếng Anh.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUONG DAI HOC SU PHAM TP HO CHi MINH

NGUYEN THI BAO

NGU NGHIA CUA TU NGU CHi DONG VAT TRONG

THANH NGU TIENG VIET

(So sánh với thành ngữ tiếng Anh)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ

MÃ SỐ: 5 12.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HOC: PGS TS HOANG DUNG

2003 | PDF | 242 Pages buihuuhanh@gmail.com

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2003

Trang 2

MỤC LỤC MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

0.1 Lý do chọn đề tài

0.4 Phương pháp nghiên cứu

0.5 Tư liệu nghiên cứu

0.6 Đóng góp của luận văn

CHƯƠNG 2 : NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ CHỈ ĐỘNG VẬT

2.1 Khái quát về ngữ nghĩa - văn hoá của từ

2.2 Ngữ nghĩa văn hoá của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ

2.3 Ngữ nghĩa - văn hoá các từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng

Trang 3

2.4 Ngữ nghĩa - văn hoá của từ ngữ chỉ bộ phận động vật trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh

Trang 4

0.1 Lý do chọn để tài

Mỗi ngôn ngữ, thông qua ngôn từ có những cấu trúc tạo nghĩa khác nhau Những cấu trúc này thể hiện tư duy văn hoá dân tộc, tâm lý, trí thông minh và sự tài hoa của người bản ngữ Thành ngữ là một trong những cấu trúc tạo nghĩa ấy Thành ngữ không chỉ có tác dụng làm cho lời văn hay, hình

Trang 5

Việt lại dùng hình ảnh con mèo (ăn như mèo) Người Việt Nam dùng hình ảnh con trâu để chỉ tỉnh thần làm việc không biết mệt mỗi (hàng hục như trâu lăn), còn người Anh lại mượn hình ảnh con ngựa (work like a horse) v.v

Ở Việt Nam, thành ngữ tiếng Việt được nhiều nhà ngôn ngữ học quan

tâm và đã có

ất nhiễu công trình có giá trị về thành ngữ Chẳng hạn Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ (Nguyễn Văn Mệnh, 1972) [59]; Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt (Hoàng Văn Hành, 1976)[19]: Thành ngữ trong tiếng Việt (Hoàng Văn Hành, 1987) [I7]: Biến thể của thành ngữ, tục ngữ (Vũ Quang Hào, 1993) [111]; Phương pháp trường và việc nghiên cứu thành ngữ Anh — Việt (Phan Văn Quế, 1994) [87]; Đặc trưng văn hóa dân tộc nhìn từ thành ngữ, tục ngữ (Nguyễn Xuân Hòa, 1994) [63]; Đặc điểm hình thái

và ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh tiếng Việt (so sánh với thành ngữ so sánh tiếng Anh) (Lâm Bá Sĩ, 2002) [27]: So sánh cấu trúc — chức năng của thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt (Hoàng Diệu Minh, 2002) [13]

Riêng về mảng thành ngữ có thành tố động vật trong tiếng Việt, Trịnh

Cẩm Lan (1995) khi nghiên cứu Đặc điểm cấu trúc — ngữ nghĩa và những giá trị biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt trên cứ liệu thành ngữ có thành tố cấu

tạo là tên gọi động vật [102] có đề cập đến thành ngữ động vật tiếng Việt

nhưng chưa đi vào miêu tả cụ thể các nghĩa khác nhau của mỗi từ ngữ chỉ

động vật trong thành ngữ Nguyễn Thuý Khanh trong Đặc điểm trường từ vựng

- ngữ nghĩa tên gọi động vật (trên tu liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga)

ăn sĩ, 1996), đã nghiên cứu khá

vật trong tiếng Việt và có để cập một phẫn *ý nghĩa biểu trưng của các thành

Trang 6

v Một vài nhận xét về thành ngữ so sánh có tên gọi động vật tiếng Việt (Nguyễn Thúy Khanh, Ngôn ngữ, số 3, 1994)

v Các con vật và một số đặc trưng của chúng được cảm nhận từ góc độ dân gian và khai thác để đưa vào kho tàng thành ngữ tiếng Việt (Phan Văn Quế, Ngôn ngữ, số 4, 1995)

v Chú chuột trong kho thành ngữ, tục ngũ, ca dao tiếng Việt (Phương Trang, Ngôn ngữ và đời sống, số 1, 1996)

v Trường nghĩa của một thực từ ( Dương Kỳ Đức, Ngữ học trẻ, 1996)

v Mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ qua hình ảnh trâu bò trong thành ngữ Việt Nga — Anh (Huỳnh Công Minh Hùng, Hội thảo ngôn ngữ và văn hóa, Hà Nội, 2000)

v Hình ảnh gấu trong thành ngữ (trên cứ liệu tiếng Việt-Nga-Anh-Pháp và một số tiếng Châu Âu khác) (Huỳnh Công Minh Hùng, T/c Khoa học

DHSP-TP.HCM, sé 24, 2000)

> Negua trong thanh ngit va tuc ngit Viet Nam (Phong Hoá, Ngôn ngữ và đời sống, số 1+2, 2002)

Về tiếng Anh, công trình nghiên cứu thành ngữ có thành tố chỉ động vật

trong tiếng Anh tại Việt Nam được xem là tương đối bao quát nhất cho đến

bây giờ có lẽ là luận án phó tiến sĩ của Phan Văn Quế: Ngữ nghĩa của thành

ngữ ~ tục ngữ có thành tố chỉ động vật trong tiếng Anh (trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt) [86] Luận án này đã để cập đến thành tố chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt khi phân tích bình diện ngữ nghĩa và so sánh, đối

về nghĩa giữa thành tố chỉ động vật trong thành ngữ - tục

Trang 7

ngữ tiếng Anh và tiếng Việt nhưng không vì mục đích nghiên cứu nó mà chỉ nhằm làm sáng tỏ ngữ nghĩa những thành ngữ có thành tố động vật trong tiếng

Anh

Ngoài ra, có một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành có dé

cập đến thành tố chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Anh:

>_ Sơ bộ tìm hiểu các

ắc thái ngữ nghĩa của những từ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Anh (Phan Văn Quế, Nội san Đại học Ngoại ngữ ~ Đại học quốc gia Hà Nội, số 1/1996)

> Thành ngữ tiếng Anh và dạng đặc biệt của nó: cụm động từ - giới từ (Lê Hồng Lan, Ngôn ngữ và đời sống, số 2/1996)

> Gà, khí, chuột, ngựa trong tục ngữ và thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt (Phan Văn Quế, Ngôn ngữ và đời sống, số 2, năm 2000)

> Hình ảnh con chó trong thành ngữ và tục ngữ tiếng Anh (Phan Văn Quế, Ngôn ngữ và đời sống, số 2, năm 2000)

0.3 Đối tượng và phạm vi của luận văn

Việc nghiên cứu toàn bộ hệ thống thành ngữ của một ngôn ngữ là một

công việc đòi hỏi nhiễu công sức của nhiễu người trong một thời gian dài Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chỉ giới hạn đối tượng và phạm vi

Trang 8

nghiên cứu của luận văn ở những thành ngữ có chứa thành tố chỉ động vật

trong tiếng Việt và trong tiếng Anh Và trong các thành ngữ này, chúng tôi chỉ

quan tâm chủ yếu đến mặt ý nghĩa văn hoá của các từ ngữ chỉ động vật mà

thôi

0.4 Phương pháp nghiên cứu

Do tính chất và nhiệm vụ khoa học của để tài, chúng tôi sử dụng tổng

hợp nhiều phương pháp như:

> Phương pháp thống kê, nhằm thống kê tất cả những thành ngữ có chứa từ

để thống kê tất cả những nghĩa có thể có ở mỗi thành tố chỉ động vật

v Phương pháp phân tích, để phân tích những đặc trưng ngữ nghĩa có thể có của những từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ

v Phương pháp đối chiếu cũng được sử dụng để so sánh đối chiếu ngữ nghĩa của thành ngữ có thành tố động vật trong hai ngôn ngữ Việt Anh Qua

0.5 Tư liệu nghiên cứu

Một trong những nhiệm vụ của luận văn là nhằm thống kê

ng nhiều càng tốt những thành ngữ có thành tố chỉ động vật trong tiếng Việt, nên chúng tôi cố chọn lựa một số tài liệu tiêu biểu về thành ngữ làm cơ sở cho mọi sự tập hợp và

đối chiếu khác Tài liệu mà chúng tôi chọn là: Thành ngữ - tục ngữ Việt Nam do

Trang 9

Bùi Hạnh Cẩn, Bích Hằng, Việt Anh biên soạn; Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam của Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào; 7ừ điển thành ngữ Việt Nam của Nguyễn Văn Khang; Thành ngữ riếng Việt của Lương Văn Đang, Nguyễn Lực Nhưng tài liệu chủ yếu là cuốn 7 điển thành ngữ tiếng Việt phổi thông do Nguyễn Như Ý chủ biên Đây là cuốn từ điển mới nhất và tương đối đây đủ về thành ngữ tiếng Việt (xuất bản năm 2002) Tuy nhiên, chính tác giả

cũng không dám khẳng định tất cả những đơn vị trong từ điển này là thành ngữ Theo ông, trong đó *bao gồm một vài đơn vị chưa xác định rõ là thành ngữ hay tục ngữ, một vấn để hiện còn để ngỏ trong Việt ngữ học "43, tr.7]

Về thành ngữ tiếng Anh, chúng tôi sử dụng cuốn Øx/ord Learner' Ditionary of English Idioms cita H Warren, (Oxford University Press, 1994);

Từ điển thành ngữ Anh Việt của Trần Thanh Giao (Đà Nẵng, 1995); Từ điển Anh Việt của Viện Ngôn ngữ học (Tp HCM, 1993)

0.6 Đóng góp của luận văn

Về lý l

Thanh ngữ chứa thành tố chỉ động vật là mảng để tài rất phong phú và

lý thú được nhiều người quan tâm Nghiên cứu để tài này, chúng tôi hy vọng

Trang 10

Tuy chỉ nghiên cứu một bộ phận của thành ngữ tiếng Việt, nhưng để tạo

cơ sở cho việc đi sâu nghiên cứu những vấn để mà nội dung luận văn yêu cầu, chúng tôi vẫn phải bắt đầu từ việc tìm hiểu thành ngữ nói chung, sau đó mới

đi vào từng khía cạnh của để tài Nội dung đầu tiên cung cấp cái nhìn tổng

quan về thành ngữ có thành tố động vật trong tiếng Việt và tiếng Anh

(chương một) Phần chủ yếu của luận văn nằm ở chương hai: khảo sát ngữ

nghĩa của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt Ở chương này,

ngoài việc thống kê, luận văn tiến hành miêu tả ngữ nghĩa văn hoá một số

từ ngữ chỉ động vật có tần số xuất hiện cao trong thành ngữ tiếng Việt, miêu

tả ngữ nghĩa các từ chỉ bộ phận động vật, phân tích mối quan hệ giữa các thành tố động vật trong một thành ngữ Đồng thời luận văn cũng dành một phần thích đáng để trình bày về thành ngữ so sánh chứa thành tố động vật Luận văn cũng chú ý đến việc so sánh đối chiếu với thành ngữ tiếng Anh trên cơ sở những số liệu thu thập được

tham khảo, luận

Ngoài 87 trang chính văn, 12 trang danh mục tài

văn dành 132 trang cho 6 phụ lục

10

Trang 11

CHUONG 1: TONG QUAN VỀ THÀNH NGỮ CÓ THANH TO CHi DONG VAT TRONG TIENG VIET VA

TIENG ANH

1.1 Khái niệm về thành ngữ

Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ (Nguyễn Văn Mệnh [60], Hỗ Lê [11], Nguyễn Van Tu [62], Đỗ Hữu Châu [71]) và những nhà nghiên cứu văn học Việt Nam (Vũ Ngọc Phan [110], Dương Quảng Hàm [10], các tác giả cuốn Lịch sử văn học Việt Nam [30]), thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập, kết hợp lại với nhau thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh, khó có thể thay đổi (ví dụ: Thành ngữ mẹ zròn con vuông không thể đổi thành Äg vuông con tròn hay Mẹ cũng tròn con cũng vuông hay Mẹ tròn lắm con vuông lắm ) Cũng theo các nhà nghiên cứu, thành ngữ thường

biểu hị

một khái niệm tương tự như đơn vị từ, dùng để tạo thành phần câu

như từ, nói cách khác, nó có chức năng như từ; người ta có thể thay thế một thành ngữ bằng một từ tương ứng với nó trong câu Đây là một quan niệm phổ biến nhưng không thật thuyết phục Khái niệm là câu chuyện tư duy, còn về mặt ngôn ngữ, biểu hiện khái niệm bằng từ hay ngữ là vấn để khác Ta có thể thay Tôi đi guốc trong bụng nó bằng Tôi rất hiểu nó thì rất hiểu là ngữ, chứ không phải từ

Trong khoảng vài chục năm gần đây, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ và nghiên cứu văn học Việt Nam rất quan tâm đến việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ, song ranh giới giữa chúng vẫn chưa được xác định rõ rệt Bởi lẽ giữa chúng có rất nhiều điểm giống nhau: cả hai đều là những đơn vị có sẵn, cố định, cấu trúc chặt chẽ, giàu hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm và được tái hiện

trong giao tiếp Thậm chí có nhiễu người cho rằng không cân thiết tách riêng

Il

Trang 12

thành ngữ và tục ngữ Chẳng hạn như Trương Đông San, ông gọi chung thành ngữ và tục ngữ là ngữ vị Theo ông “ngữ vị là đơn vị ngôn ngữ trên cấp độ từ

vi gdm hai tif vi trở lên được tái hiện trong lời nói dưới dạng có sẵn, cố định

là của Dương Quang Hàm [10] Ông viết: “Một câu tục ngữ tự nó phải có một

ý nghĩa đẩy đủ, hoặ chỉ bảo điều gì: còn thành ngữ chỉ là

những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho màu mè” Còn theo Vũ Ngọc Phan thì: *Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, mệ

mang tính chất hiện tượng, còn nội dung của tục ngữ nói chung mang tính chất

quy luật Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau về hình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn Mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu” Cù Đình Tú cho rằng ý kiến của Nguyễn Văn Mệnh chưa thật xác đáng vì theo Ong: “Thanh ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ Tục ngữ cũng là một hiện tượng ngôn ngữ Giải

quyết các hiện tượng ngôn ngữ phải căn cứ ngôn ngữ học” Giáo sư cho rằng

sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức năng:

“Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh là những đơn

vị tương đương như từ Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như

ca dao, truyện cổ tích, đều là những thông báo Nó thông báo một nhận định,

12

Trang 13

một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới khách quan Do vậy mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng ” [7] Tuy nhiên, theo các tác giả của cuốn Tực ngữ Việt Nam, cần phải xét sự khác nhau của thành ngữ và tục ngữ chủ yếu ở chỗ “như là một hiện tượng ngôn ngữ và một hiện tượng ý thức xã hội” và các tiêu chí mà các tác giả đưa ra để

phân biệt là nhận thức luận Với tiêu chí đó thì tục ngữ chủ yếu là một hiện tượng ý thức xã hội, còn thành ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ Và sự khác nhau về nội dung của thành ngữ và tục ngữ chính là sự khác nhau về nội

điểm khác biệt khá rõ ràng ở hai phương diện: nội dung và hình thức” [59]

Trên thực tế, nội dung và hình thức của thành ngữ và tục ngữ là hết sức

đa dạng, phong phú và phức tạp Về hình thức, không phải lúc nào thành ngữ

13

Trang 14

phản ánh tri thức của nhân dân, đều là sự đúc kết kinh nghiệm, là kết tỉnh trí tuệ của quần chúng, đều từ sự khái quát hiện thực để rút ra bản chất, quy luật

Chúng ta có thể rút ra một số nét khu biệt giữa thành ngữ và tục ngữ

lý của cuộc sống, hoặc nêu lên một bài học ở đời Thí dụ: gân mực thi den, gân đèn thì sáng: ở hiền gặp lành: thuốc đắng dã tật: nỗi nào vung ấy: một con

sâu làm rầu nôi canh: ăn ít no lâu, cày sâu tốt lúa;

cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo,

Phân lớn thành ngữ tiếng Việt có kết cấu một trung tâm, thường là những thành ngữ dạng so sánh: chậm như rùa, lừ đừ như ông từ vào đền, nhớn nhác như gà phải cáo, lúng túng như gà mắc tóc, cao như sếu Một bộ phận

14

Trang 15

nhỏ các thành ngữ có kết cấu hai trung tâm: nước đổ đâu vịt, ếch ngôi đáy giếng Tuy nhiên những thành ngữ này cũng chỉ là một phân của câu, vẫn dùng để gọi hành động, tính chất sự vật Thí dụ: zước đổ đâu vị: “phí công, không có tác dụng”, áo gấm đi đêm “tốn kém mà không ai biết đến”, ếch ngôi đáy giếng “không nhìn xa thấy rộng”, miệng ngậm hột thị *ở vào thế không

15

Trang 16

nào người ta không đặt ra câu hỏi kiểu như vậy Chẳng hạn khi ta nói ở hiển gặp lành thì không ai cần hỏi "ai ở hiển gặp lành?” Bởi vì tục ngữ đã nêu lên

một quy luật chung cho tất cả mọi người

Sự khác nhau về mặt chức năng như đã nói ở trên dẫn đến sự khác nhau

trong cách vận dụng hai loại đơn vị này trong giao tiếp Một thành ngữ không thể độc lập tạo thành câu Trái lại, một tục ngữ hoàn toàn có thể có khả năng

đó Rõ ràng là giữa thành ngữ và tục ngữ có một đường ranh giới thực tế Tuy nhiên ranh giới này không phải là ngăn cách tuyệt đối, không phải là đường

kẻ thẳng băng Chính vì vậy mà có những đơn vị được tác giả này cho là thành ngữ, tác giả khác lại cho là tục ngữ Chẳng hạn kiến tha lâu cũng đây tổ được rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học xếp vào tục ngữ, trong đó có

Phạm Văn Bình, tác giả của cuốn Tực ngữ Việt Nam [76], chó treo mèo đậy

được Hoàng Diệu Minh cho là tục ngữ [13], vắng chứa nhà gà vọc niêu cơm theo Phan Văn Quế là tục ngữ [86] Nhưng Nguyễn Như Ý lại đưa tất cả các

câu trên vào trong cuốn Từ điển thành ngữ tiếng Việt phổ thông |43], v.v

1.2 Thành tố chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt

Thành ngữ chứa thành tố chỉ động vật (thành ngữ động vậU được hiểu

là những thành ngữ mà trong thành phân của chúng có những từ ngữ chỉ con vật, thí dụ cao như sếu; lẩn như chạch; ăn như mèo; chuột chạy cùng sào

liệu khác nhau là rất khác nhau Nhưng điều chắc chắn là loại thành ngữ này

chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong toàn bộ vốn thành ngữ tiếng Việt

16

Trang 17

Theo kết quả thống kê được miêu tả trong luận án thạc sĩ của Trịnh Cẩm Lan [102], mức độ sử dụng các thành tố động vật trong thành ngữ tiếng Việt theo thứ tự như sau: chửn (157, kể cả các loài chim cụ thể), cá (113, kể

cả các loài cá cụ thể), chó (110), gà (79), bò (40), chuột (37), ngựa (30), mèo (23), ong (11), rudi (9), lợn (8), khỉ (6), vit (5), si (2), sư tử (2), thd (2) (Trịnh Cẩm Lan, luận án thạc sĩ, 1995) [102] Theo Phan Văn Quế thì mức độ sử dụng các thành tố động vật trong thành ngữ tiếng Việt có khác: chó (123), gà (90), cá (68), trâu (54), voi (53), meo (52), cop (51), ngựa (49) chim (39), bò (37), chuột (30), cd (24), vit (23), cua (22), cóc (18), đỉa (16), lợn (16), ong (16), rắn (14), ruôi (12) [81]

Trong khuôn khổ khối tư liệu về thành ngữ đã tiếp cận và xử lý, tác giả

luận văn tổng kết được trong tiếng Vị

ệt có 1555 thành ngữ động vật với 157

thành tố chỉ động vật (kể cả tên của 29 loại cá, 34 loai chim)

Danh sách cụ thể được sắp xếp theo ABC như sau:

> Ba ba, beo, bò, bò cạp, bọ, bọ chó, bọ mại, bọ ngựa, bọ xít, bướm (ngài)

> Cá (cá bống, cá chày, cá cháy, cá chép, cá chỉ chỉ, cá chuối, cá diếc, cá đối, cá gáy, cá kình, cá lăng, cá lóc, cá lòng tong, cá mài mại, cá mè, cá mòi, cá ngão, cá nghê, cá nheo, cá rô, cá săn sắt, cá sấu, cá thỉa, cá thờn bơn, cá trắm, cá trê, cá trôi, cá vàng, cá vược), cà cuống, cáo, cáy, cầy

> Dã tràng, dé, doi

>Đỉa, đom đóm, đười ươi

17

Trang 18

> Ech, énh uong

> Ga, gdu, gidi, giun

> Hến, hươu

> Khi, kiến

> Lon, lita, luon

> Mang, mèo, muỗi

>_ Nai, nắc nẻ, nghêu (sò), ngỗng, ngựa, nhái, nhện, nhộng, nòng nọc

> Ong, ốc

>_Rái, rắn, rận, rết, rằng, rùa, ruôi (nhặng), rươi

> Sâu, sên, sóc, sói, sự tử, sứa

> Tầm, tê giác, tép, thần lần, thân trùng, thiêu thân, thỏ, thuÔng lung, tò vò,

tôm, trai, trâu

> Ve, vich, vit, voi, vờ, vượn

Tần số xuất hiện của các thành tố động vật trong thành ngữ tiếng Việt

như sau Chim và các loại chim xuất hiện nhiều nhất với hơn 232 thành ngữ

Thứ hai là cá và các loại cá: 149 Tiếp theo là chó: 149; trâu: 123; 113;

mèo: 61; bò: 73; voi: 61; ngựa: 58; cọp: 55; chuột: 47; rắn: 33; lợn: 28; cóc:

25: cua: 28; vịt: 26; rông: 23; ong: 21; ếch, nhái, ễnh ương: 3l; ruôi: 18;

18

Trang 19

khác nhau Có một điều lý thú là dù kết quả khá khác biệt về số xuất hiện

của các thành tố động vật, nhưng những thành tố có tần số xuất hiện cao ở ba

kết quả thống kê khá giống nhau Những thành tố đó là: chim, chó, cá, gà, lợn, trâu, bò, voi, mèo, chuột, ngựa, Hãy xem bằng đối chiếu kết quả dưới đây của ba tác giả:

Tên động vật| SL |Têndđộngvật| SL |Tênđộngvật| SL

Bảng |

19

Trang 20

1.3 Thành tố chỉ động vật được dùng trong thành ngữ tiếng Anh

Kết quả thống kê của chúng tôi cho thấy có 463 thành ngữ động vật

tiếng Anh với khoảng 74 tên các con vật được sử dụng

Danh sách cụ thể xếp theo trật tự ABC như sau:

>_ Ani (kiến), ape (đười ươi), ass (lừa cái)

> Badger (litng), bat (doi), bear (gu), bee/hornet (ong), bird (chim), bug (rép), bull (bd duc), butterfly (buém)

> Calf (bé), camel (lac da), cat (mo), chicken (gd con), cock (gà tring), cow (bò cái), crocodile (cá sấu), crow (qua)

v Dog (ch6), donkey (lita), dovelpigeon (bd cu), duckldrake (vit), duckling

(vit con)

v Eagle (đại bàng), cel (lươn), elephamf (oi)

v Fish (ca), flea (bo chét), fly (rudi), fox (cáo)

> Goat (dé), goose (nging)

v Hare (thd ring), hawk (diều hâu), hen (gà mái), herring (cá trích), horse

(ngựa)

>_ Jackdaw (qua xám), kitren (mèo con)

v Lamb (cửu non), lark (sơn ca), leech (đỉa), leopard (báo), lion (sử tử), lobster (tôm)

v Mackerel (cá thu), mare (ngựa cái), magpie (chỉm ác là), monkey (khi), mouselrai (chuột), mule (la)

> Owl (ci), ox (bd thiGn), oyster (sò, hau)

> Parrot (vet), peacock (công), pig (Ign)

> Rabbit (thd)

20

Trang 21

> Sardine (cd mdi), sheep (citu), snail (sen), snakelserpent (rin), sprat (cá trích cơm), síag (nai duc, hudu duc), swallow (én), swan (thién nga)

> Tiger (hd), toad (c6c), turkey (ga tay)

> Vixen (chdn cai), whale (cá voi), wolƒ (chó sói), worm (giun, sau)

mackerel, sardin, sprat, whale) (cá và

ngựa cái): 36; cat, kitten (mo): 37; bull, ox, cow, ealf (bò các loại bò): 24; cock, chicken, hen (gi các loại): 24: sheep, ram (cừu): 13; pig (lợn): 15;

; duck, duckling, drake (vit):

(citu non): 8; ass, (lita): 9 ; pig (lợn): 15: rabbit, hare (thỏ, thỏ rừng): 10; lion (sư tử): 11, wolf (chó sói): 9; bear (gấu):

1.4 So sánh đối chiếu thành tố chỉ động vật trong thành ngữ Việt-Anh

Xét về số lượng thành ngữ chứa thành tố động vật, trong tiếng Việt có

1555 thành ngữ, nhiều hơn gấp ba lần so với tiếng Anh (463 thành ngữ) Xét

về số lượng con vật được nhắc đến trong thành ngữ: tiếng Việt có 157 con vật, gấp đôi so với tiếng Anh (74 con vat)

Trong luận án phó tiến sĩ của mình, Phan Văn Quế thống kê từ nhiều

nguôn tài liệu khác nhau và cho rằng trong thành ngữ tiếng Anh có khoảng

368 đơn vị có thành tố chỉ động vật với hơn 85 con vật (bao gồm cả thành ngữ

và tục ngữ) [86] Còn theo Trịnh Cẩm Lan thì tiếng Việt có khoảng 904 thành

ngữ có thành tố chỉ động vật và chỉ có 64 con vật [102]

21

Trang 22

Qua phan trình bày trên, ta thấy có động vật cùng xuất hiện ở thành

ngữ của cả hai ngôn ngữ, có động vật chỉ xuất hiện ở thành ngữ của ngôn ngữ này hoặc thành ngữ của ngôn ngữ kia

1.4.1 Các thành tố động vật xuất hiện trong cả hai thành ngữ Việt- Anh

>_ Beo/ báo (leopard), bỗ câu (pigeon), bướm (butterfly)

> Cá (/ïsh), cá sấu (crocodile), cá mồi (sardine), cá voi/ cá kình (whale), cáo

(ox)

s6i (wolf), chuột (mouse, rat), cop (tiger), cOng (peacock), c& (owl)

y hung (civet cat), chim (bird), ch6 (dog), ch6 sin (hound), ché

v Dé (goat), dai (bat), diễu hâu (hanwk)

v Đỉa (Ieech), đười ươi (ape)

> En, nhan (swallow)

> Ga con (chicken), ga mai (hen), gà tng (cock), gu (bear), giun (worm)

> Hau (sd) (oyster)

> Ki€n (ant), khi (monkey)

>_ Lợn (0i), lươn (cel)

v Mèo (ca)

v Ngỗng (goose)

v Ong (bee)

v Qua (crow, jassdow)

v Ran (snake), rudi (fly)

v Sâu (worm), sén (snail), su tit (lion)

> Tom (lobster)

> Vet (parrot), vit (duck), voi (elephant)

22

Trang 23

Trong tiếng Việt thì tình hình hoàn toàn ngược lại: có rất nhiễu loại cá xuất

hiện, hầu hết là cá nước ngọt với hơn 29 loại khác nhau

Dưới đây là bảng liệt kê các loài cá xt

hiện trong thành ngữ và môi

trường nước của chúng (việc xác định môi trường nước dựa vào Từ điển tiếng

Việt do Hoàng Phê chủ biên, 1997)[14]:

Trang 24

cá ) Thức ăn chủ yếu của chúng là thịt Trong thành ngữ tiếng Việt có đến

34 tên gọi các loài chim khác nhau, trong đó

bọ làm thức ăn chính Sau đây là bảng về các loài chim và thức ăn của chúng

loài chỉm lớn và hung dữ (như: đại bàng, quạ, diễu hâu,

ất nhiều loài chim dùng sâu (dựa vào Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, 1997)[14]:

26

Trang 27

Bảng các con vật liên quan đến

ổng ruộng và vùng khí hậu nhiệt đới

(dựa theo tài liệu Cơ sở sinh thái học của Dương Hữu Thời, ĐHQG, Hà Nội,

29

Trang 28

Bảng 4 Trong số 26 con vật, có đến 24 con xuất hiện trong thành ngữ tiếng Việt

và chỉ có 11 con xuất hiện trong thành ngữ tiếng Anh

Việt Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc, thuận lợi cho các loài động

vật ưa nước (cá nước ngọt, cóc, ếch, nhái, v.v.) phát triển mạnh Hơn nữa, là

nước thuộc vùng nhiệt đới, khí hậu ẩm, Việt Nam có rất nhiều loài, sâu bọ và

ơi nào có nhiều loài sâu bọ và

côn trùng Theo quy luật cân bằng sinh t

côn trùng gây hại cho mùa màng, nơi đó sẽ có rất nhiều loài chim, động vật

ưa ăn sâu bọ và côn trùng Những con vật này “làm người canh đồng” rất quan trọng cho người nông dân (Trần Kiên, Đời sống các loài bò sát, 1983) [101] Thật lý thú khi thấy rằng trong thành ngữ tiếng Việt xuất hiện rất nhiều

Trang 29

1.4.5 Một số tên gọi các con vật truyền thuyết, mang đặc trưng văn hoá

phương Đông như: phượng, loan, hông, hạc và rông chỉ xuất hiện trong thành

ngữ tiếng Việt

1.4.6 Nước Anh và nhiều nước phương Tây khác đi lên từ nên kinh tế đồng cỏ

và du mục, sống chủ yếu bằng nghề chăn môi, có điều kiện gắn bó với các động vật nuôi Điều này thể hiện khá rõ trong việc phản ánh phong phú tên

gọi gia súc trong thành ngữ:

Ngựa: mare (ngựa cái), horse (ngựa đực)

Citu : sheep (cừu lớn), lamb (cừu non)

Bò : cow (bò cái), bull (bò đực), ox (bò thiến), calf (be)

Lita : donkey (lừa), ass (lừa cdi), jackass (lita duc)

Rõ ràng điều kiện địa lý tự nhiên, môi trường sinh sống, nên kinh tế

- văn hoá của mỗi cộng đồng đã để lại dấu ấn đậm nét trong thành ngữ

chứa thành tố chỉ động vật

31

Trang 30

CHƯƠNG 2 : NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ CHỈ ĐỘNG

(so sánh với thành ngữ tiếng Anh)

2.1 Khái quát về ngữ nghĩa - văn hoá của từ

Trước khi tìm hiểu ngữ nghĩa - văn hoá của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ, ta thử tìm hiểu ngữ nghĩa văn hoá của từ nói chung

Trong công trình Trường nghĩa ca một thực ¡ừ, Dương Kỳ Đức cho rằng nghĩa của một thực từ phắn ánh sự cảm nhận v đối tượng theo cách riêng của cộng đồng tộc người, tức là phản ánh một phần văn hoá của cộng đông đó Theo ông, nghĩa của thực từ có hai phân: phân nghĩa ngữ hiệu và phần nghĩa văn hàm Phân nghĩa ngữ hiệu là nghĩa của từ với tính cách một

tín hiệu ngôn ngữ, nó thể hiện khái niệm, tức là các đặc trưng chung của đối

tượng được con người nhận thức qua thực tiễn xã hội Phần nghĩa văn hàm là

nghĩa của từ với tư cách một hàm tố văn hoá, nó chứa đựng động hình văn hoá, tức là cái cách riêng trong việc tạo ra đối tượng, thao tác với nó và trong việc cảm nhận nó Hai phần nghĩa ngữ hiệu và văn hàm hợp thành một chỉnh thể, đó là trường nghĩa của thực từ Dương Kỳ Đức đã phân tích từ chuộ để minh họa Qua cứ liệu thành ngữ, tục ngữ, qua cách nhìn của người Việt về con vật này trong đời sống, ông cho rằng từ chuội chứa đựng những nội dung

sau:

— Chuột được coi là con vật sợ mèo, hay bị mèo ăn thịt

~— Chuột thường được liên tưởng đến kẻ xấu, việc xấu: không quang

minh chính đại (len lét như chuột ngày; cháy nhà ra mặt chuột), táo tợn (chuột

32

Trang 31

chuột ở nhà thờ) hoặc đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn không lối thoát (ir is

a poor mouse that has only one hole = con chuột tội nghiệp chỉ có một lỗ để chui ) Trong khi đó, rzr là những lời la mắng nặng nễ (0ø give somebody rats —

cho người nào đó những con chuộU), Ia ké c6 ban chat xu xa (rats desert a sinking ship — khi tàu chìm thì chuột mới chui ra), là sự nguy hiểm có thể xảy

ra (1o smell a rat — ngửi thấy mùi chuột) Đối với người Anh, có vẻ như zose

dễ thương hơn ra và nói chung, “chuột” không đáng ghét, đáng khinh bỉ như đối với người Việt Nam

Tóm lại, nghĩa của từ (thực từ) trong một ngôn ngữ phẩn ánh ý thức xã

và được biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một cộng đông tộc người

so với một cộng đông tộc người khác Đứng ở góc độ văn hoá, nghĩa của mỗi

từ là một phiến đoạn văn hoá, thể hiện văn hoá chung của cộng đông loài người, văn hoá chung liên tộc người và văn hoá riêng đặc thù của một cộng đông tộc người Nghĩa văn hoá chung liên tộc người là sự khúc xạ của nghĩa

33

Trang 32

văn hoá chung của cộng đồng loài người (tức là nghĩa khái niệm phổ quát toàn nhân loại) Còn nghĩa văn hoá riêng đặc thù của một cộng đồng tộc người, về phần nó, lại là một sự khúc xạ của nghĩa văn hoá chung của cộng

đồng người và văn hoá chung của liên tộc người

Tên gọi động vật là đơn vị từ ngữ trong hệ thống tiếng Việt Do vay tên gọi động vật đương nhiên cũng có nghĩa văn hoá Khi là thành tố trong các thành ngữ, nội dung ngữ nghĩa văn hoá của các từ ngữ chỉ động vật chính là cách cảm nhận, cách đánh giá các con vật tốt hay xấu, là việc liên tưởng

chúng với cái gì Chẳng hạn, theo cách cảm nhận của người Việt thì /ợn tiêu biểu cho sự ăn uống thô lỗ (ăn như lợn), ngu ngốc lố bịch trong xử sự (ngư nhưc lợn: voi đú, chó đú, lợn sề cũng hộc), kẻ không nhận biết khuyết điểm của mình, lại đi chê người khác (lợn chê chó có bọ) Lợn cũng gợi đến bổng lộc (đầu gà má lợn), của cải (thú thỉ ăn số lợn) Đối với người Anh, hình ảnh pig

“con lợn” cũng có những nét giống như cách cắm nhận của người Việt, cũng ngu ngốc (don' be such a pig), cũng ăn uống thô tục (as greedy as a pi§) Ngoài ra, người Anh còn liên tưởng pig đến sự hấp tấp vội vàng, thiếu cân nhie (a pig in a poke), d€n nhiing diéu do tung (pig might fly; when pigs fly),

đế

su ngac nhién (stare like a stuck pig)

Đối với người Việt thi ga thudng goi dén thife An ngon (com ga ca gdi),

để nhiễu (dé niu gà) Gà còn chỉ bọn người xấu xa, hay ganh ty, tự làm hại mình (gà ức nhau tiếng gáy; gà nhà lại bươi bếp nhà: chân gà lại bới ruột gà),

bọn người hèn kém (gờ qưè ăn quẩn cối xay), tác phong chậm chạp (lờ đờ như:

gà ban hôm) Với người Anh, gà và đặc biệt gà rrống là hình ảnh của kẻ mạnh (cock of the walk), sOng no dii, sung tic (live like fighting cocks) Ngoai ra, người Anh thường liên tưởng gà trống với những điều tốt lành sẽ đến khi đang

ở hoàn cảnh kh6 khiin (there is many good cocks come out of a tattered bag)

34

Trang 33

Hoặc như khỉ thường được người Việt liên tưởng đến người hay nhăn nhó (nhăn như khỉ), làm những việc bẩn thỉu xấu xa (/ay khí nuôi miệng khí) Trong tâm thức người Anh, khí là kể bất lương, lưu manh (monkey bussiness), ké ngu đân, bất tài (the higher the monkey climbs the more he shows his tail), kể ranh

ma, lém linh (as tricky as a monkey), là thứ kém chất lượng, không đạt yêu cầu (if you pay peanuts, you get monkeys)

Trên đây là những dẫn chứng về nội dung của nghĩa văn hoá đặc thù

tộc người trong nghĩa của từ Nó phản ánh nhãn quan văn hoá đặc trưng của mỗi dân tộc

2.2 Ngữ nghĩa văn hoá của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ

Nhiều nhà nghiên cứu thành ngữ cho rằng nghĩa của thành tố động vật trong thành ngữ chính là nghĩa biểu trưng của thành ngữ Chẳng hạn, Hoàng

'Văn Hành khi nghiên cứu loại thành ngữ so sánh kiểu * T như B” (nhanh nhĩc

sóc; chậm như ràa; lẩn như chạch) cho rằng các yếu tố B (sóc, ràa, chạch) là

không hiển ngôn, chúng có tính biểu trưng ngữ nghĩa [19] Theo cách nhìn nhận của Nguyễn Công Đức, một thành tố sẽ có tính biểu trưng khi nó có

thành tố khác thì nó

những đặc trưng điển hình và trong mối quan hệ với

làm cho người ta liên hệ tới một ý nghĩa mới, khác với nghĩa gốc của nó Thí

dụ, trong thành ngữ gửi trứng cho ác thì trứng là biểu trưng cho một vật quý giá, cho một sự tiếp nối truyền đời, nhưng hết sức mong manh, cân phải

âng niu gìn giữ như chính sự sống còn, ác (một loài chim dif) biểu trưng cho kể độc

ác, không đáng tỉn, luôn rình mò làm hại người khác [33]

Trong số các tác giả nghiên cứu về tính biểu trưng của thành ngữ thì chỉ

có Trịnh Cẩm Lan là đi sâu về tính biểu trưng của thành tố chỉ con vật trong thành ngữ tiếng Việt Theo bà, đi tìm những giá trị biểu trưng ngữ nghĩa của

35

Trang 34

warm (cherish) a snake in one's bosom “Om rắn trong lòng - giữ bên mình những mối nguy hiểm”)

Vé phân chúng tôi, do tiếp cận vấn để nghĩa của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ từ quan điểm ngữ nghĩa -văn hoá, coi nghĩa của từ là một phiến đoạn văn hoá, nên chúng tôi rất thống nhất với cách nhìn nhận của Phan Văn Quế về vấn để biểu trưng Theo ông, đúng là có một số lớn thành tố chỉ động vật trong các thành ngữ mang nghĩa biểu trưng, nhất là khi những thành ngữ đó có dạng so sánh, kiểu như chậm như rùa, nhát như cáy, bẩn như chó, khoẻ như vâm, v.v trong thành ngữ tiếng ViỆt Và as quief ds œ mouse

“lặng lẽ như chuột”, as blind as a bat “mi nlut doi”, eat like a horse “an khoé như ngựa”, work like a dog “làm cật lực như chó”, v.v trong thành ngữ tiếng Anh Còn ở nhiều thành ngữ động vật khác, rất khó hình dung tính biểu trưng của nó Chẳng hạn, Trịnh Cẩm Lan ([102], tr.62-63) cho rằng chó treo chan biểu trưng cho sự lười biếng (trong thành ngữ ngay lưng như chó trèo chạn), chó phải pháo biểu trưng cho sự sợ hãi (trong thành ngữ chạy như chó phải pháo), chó thấy thóc biểu trưng cho sự bàng quan (trong thành ngữ i2 láo như chó thấy thóc) và chó ăn vã mắm biểu trưng cho hành động chửi (trong thành ngữ chửi như chó ăn vã mắm) Thật ra các thành ngữ này chỉ phẩn ánh cách cảm nhận và so sánh theo kiểu của cộng đông người Việt, chứ không khắc hoạ nên một hình tượng điển hình như trong trường hợp c:

c thành ngữ so sánh kiểu chậm như rùa, nhát như cáy (ràa là điển hình của sự chậm chạp, cáy là điển hình của sự nhút nhát, v.v.)

Điều này có nghĩa là ngoài nghĩa biểu trưng, các thành tố của thành

ngữ nói chung và các thành tố động vật trong c thành ngữ động vật nói riêng, còn có một loại nghĩa khác, nghĩa phi biểu trưng

37

Trang 35

Chúng tôi cho rằng dù là nghĩa biểu trưng hay là nghĩa phi biểu trưng

thì cả hai loại nghĩa này đều là kết quả của sự liên tưởng, liên hội theo cách riêng của một cộng đồng tộc người Nói cách khác, khi các từ, ngữ chỉ động vật trong các thành ngữ gợi lên một cái gì đó, có nghĩa là đã hàm ý một cái gì

đó như một thứ động hình văn hóa của một cộng đồng tộc người Có lẽ đây

chính là cái mà Dương Kỳ Đức gọi là “nghĩa văn hàm” [9] Để phản ánh một cách thỏa đáng tất cả các kiểu loại nghĩa của các từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ động vật (bất kể là nghĩa biểu trưng hay nghĩa phi biểu trưng, hay

là nghĩa gì khác), chúng tôi xin được qui chúng về một loại chung, đó là nghĩa văn hoá đặc thù tộc người, bao gồm tất cả nội dung của nghĩa văn hoá này

cái hàm

'Với một cách nhìn nhận rộng như vậy ta sẽ dễ dàng xử lý hơn đối với

ý mà một cộng đồng tộc người muốn gợi tới, muốn gửi gắm qua hình ảnh các động vật trong các thành ngữ động vật

Ta biết nội dung ngữ nghĩa văn hoá đặc thù tộc người của mỗi từ ngữ

Người đứng đầu (chin đầu đàn)

Người đi lập nghiệp (đất lành chìm đậu)

Người được tự do (như chỉm sổ lông)

Mục đích (chim bay cung xếp, thỏ chết chó thui)

Kẻ bị hại (chữm bị tên sợ làn cây cong)

Kẻ bị mắc mưu (chim khôn mắc phải lưới hông)

Kế lạc lõng (chim chích vào rừng)

38

Trang 36

Người bị giam cdm (chim léng cé chau)

Người đi xa (bat tin chim cd)

Người có thế lực (chim cé canh, cá có vây)

Bird:

Ngutii bi sin dudi (the bird has flown)

Mục đích, mục tiêu nhắm tới (ki!! neo birds with on stone)

Su ty do (as free as a bird)

Người nay đây mai đó (ø bird oƒ passage)

Người cùng hội cùng thuyễn (bizds øƒ /eather flock together)

Người thích sống đơn độc (ø lone bird)

39

Trang 37

phượng (1), tầm (1) cáo (5) Trong thành ngữ tiếng Anh thì đứng đầu là hørse, mare (ngựa) (29), dog (chó) (28), tiếp theo là: birở (chim) (25), chicken, cock, hen (ga) (21), bull, calf, cow, ox (bd) (18), cat (mèo) (16), fish (cá) (14), mouse, rat (chudt) (12), fly (rudi) (11), duck (vit) (9), pig (In) (8), bee (ong) (8), fox (co) (4)

2.3.2 Thiên hướng nghĩa của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh

Đa số từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh đều

thiên về nghĩa tiêu cực, thí du “bd”, *cáo”, *lợn”, “chó”, *vịt”, *chuột”,

“ếch”, “mèo”, “ốc”, “rắn”, “ruổi Số thiên về nghĩa tích cực rất ít, như

“ngựa”,

phượng”, “rồng”, Chỉ có “kiến” thiên về nghĩa trung hoà Một số

con vật khác như “cá”, “cọp”, “voi” có nét nghĩa không rõ rệt Số lượng nghĩa

tiêu cực và nghĩa tích cực của những con vật này hầu như bằng nhau Thí dụ:

cá”: +7, -8; “cọp”: +5, -5; “voi +7, -6 (+ tích cựa, - tiêu cực)

Sỡ dĩ “rồng”, “phượng”, “ngựa” thiên về nghĩa tích cực có lẽ do cách nhìn nhận của người phương Đông và người Việt Nam về ba con vật này

Theo quan niệm của người phương Đông, rồng và phượng là những con vật thiêng (tứ linh: long, lân, quy, phượng) Rồng tượng trưng cho sự cao quý, tốt đẹp; là biểu tượng của tất cả những gì liên quan đến vua chúa (/huyễn

rồng, long thể, long xa, long tu ) Đối với người Việt Nam, rồng là nguồn gốc

thiêng liêng của dân tộc: con rỗng cháu tiên Phượng là loài chìm do trí tưởng

tượng của mọi người tạo ra Đó là một con chim rất đẹp, giống như chỉm trĩ,

được xem là chúa của các loài chim (theo 7 điển tiếng Việt, do Hoàng Phê chủ biên, xuất bản 1997), phượng luôn tượng trưng cho cái gi dep dé,

ang

trọng Phượng (chim trống) xuất hiện bên cạnh /oan (chỉm mái) tạo thành biểu

40

Trang 38

tượng của những cặp vợ chồng hạnh phúc, xứng đôi Trong tiếng Anh chúng tôi chưa tìm thấy thành ngữ nào có từ phoenix (phượng)

Ngựa tuy không phải là con vật có nhiều ở Việt Nam và cũng không phải là con vật quen thuộc lắm đối với nhiều người Việt Nam như' bò, trâu nhưng nó gắn liễn với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Chúng

ta biết hình ảnh con ngựa xưa nay vẫn luôn gắn với người chiến binh nơi sa

trường và được biểu trưng cho tỉnh thân thiện chiến Nước Việt Nam chiến tranh liên miên, chủ yếu là chiến tranh vệ quốc Từ trong những cuộc chiến

tranh đánh đuổi quân xâm lược, bảo vệ tổ quốc ấy, lòng yêu nước, tỉnh thần chịu đựng gian khổ đặm nghìn da ngựa, dũng cảm hy sinh đa ngựa bọc thây rất được để cao Ngựa từ lâu đã trở thành con vật quen thuộc trong tâm thức người dân Việt, nó được nhân dân ta liên tưởng trong quá trình nhận thức thế giới khách quan

Ba con vật này xuất hiện trong thành ngữ tiếng Việt bao hàm nghĩa tích cực là thể hiện mong muốn của nhân dân lao động được đổi đời, có cuộc sống giàu sang, hạnh phúc lứa đôi được bên vững (rông mây gặp hội: lên xe xuống ngựa; chăn loan gối phượng; loan phụng hoà mình)

Ta có thể tham khảo qua bảng thống kê dưới đây về mức độ đa nghĩa

của 23 thành tố động vật tiêu biểu trên:

MỨC ĐỘ ĐA NGHĨA CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ ĐỘNG VẬT

TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT

Số | Nghĩa | Nghĩa | Nghĩa

Trang 39

lý, về phương diện cơ cấu ngữ nghĩa, theo sự đánh giá tốt xấu, các từ ngữ chỉ

Trang 40

động vật trong thành ngữ thiên về một trong ba mảng nghĩa: tích cực, tiêu cực, trung hoà Trong ba mắng này, mảng nghĩa tiêu cực chiếm đa số: 15/23, tích cực chiếm 4/23, trung hoà chiếm 1/23; 3/23 không thiên về nghĩa nào rõ rỆt Nghĩa là những từ này có số lượng nghĩa tiêu cực và tích cực gần bằng nhau

Tiêu biểu cho loại này có voi (+7,-6), cá (+7,-7), cọp (+5-5) (+ nghĩa tích cực,

- nghĩa tiêu cực)

Vé thành ngữ tiếng Anh, sau khi khảo sát ngữ nghĩa tên gọi 13 con vật

cùng xuất hiện cả trong thành ngữ tiếng Việt, ta thấy nghĩa của chúng cũng thiên về tiêu cực như trong thành ngữ tiếng Việt (xem bảng 6) Những từ ngữ

khác nhau cùng chỉ về một con vật có nét nghĩa khác nhau Thí dụ, trong 4 từ chi “bd” thi bull hoan toan mang nghia ti€u cue; cow, calf, ox nhiều nét nghĩa

hai ngôn ngữ cùng thiên về một hướng nghĩa Thí dụ: cáo/ fox, chd/dog, lon/pig, meo/cat, chuét/mouse,rat cing c6 nghia tiêu cực, ngựa/horse cùng có nghĩa tích cực, cá⁄/ïsh cùng không rõ nét nghĩa

MỨC ĐỘ ĐA NGHĨA CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ ĐỘNG VẬT

TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG ANH

Ngày đăng: 22/10/2022, 01:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  các  con  vật  liên  quan  đến - Luận văn Thạc sĩ Khoa học ngôn ngữ: Ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Anh)
ng các con vật liên quan đến (Trang 27)
Bảng  6  2.3.3.  Tính  đặc  thù  ngữ  nghĩa  -  văn  hoá  của  từ  ngữ  chỉ  động  vật  trong  thành  ngữ - Luận văn Thạc sĩ Khoa học ngôn ngữ: Ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Anh)
ng 6 2.3.3. Tính đặc thù ngữ nghĩa - văn hoá của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w