Giải thích: Để xác định tội danh cho hành vi phạm tội của K có thuộc trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung nă
Trang 1GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 1.Anh (chị) hãy bác bỏ các ý kiến sai Xác định ý kiến đúng và giải thích
rõ tại sao?
Trong các ý kiến về tội danh của K thì ý kiến thứ ba: K phạm tội trộm cắp tài sản là đúng.
Giải thích: Với mỗi ý kiến, người đưa ra ý kiến đều đưa ra những cơ sở dựa trên vụ án Để xem xét các ý kiến trên có ý kiến nào đúng hay không, cần
đi vào phân tích các tình tiết của vụ án, hành vi phạm tội của K thỏa mãn dấu hiệu trong cấu thành của tội phạm nào?
1.1.Ý kiến thứ nhất khẳng định K phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Khẳng định này sai Giải thích:
Để xác định tội danh cho hành vi phạm tội của K có thuộc trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 hay không ta cần căn cứ vào những dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm của tội phạm được quy định cụ thể tại Điều luật
Khách thể: Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại Ở đây là quyền sở hữu tài sản Cụ thể, hành vi phạm tội của K đã xâm phạm tới quan hệ sở hữu tài sản – hàng hóa của công
ty X
Đối tượng tác động ở đây chính là hàng hóa thuộc sở hữu của công ty
X và điều quan trọng là số hàng hóa này đang thuộc sự quản lý của thủ kho
Do vậy mà K không thể nào phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được Vì, người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì tài sản đó phải đang nằm trong sự quản lý của chính người phạm tội và việc giao và nhận tài sản cho họ là hoàn toàn ngay thẳng dựa trên cơ sở hợp đồng Ở đây, vào thời điểm mà K bốc số hàng lên xe để vận chuyển đi trong chuyến hàng thứ năm, cả 2 bao mà K bốc vượt quá thì số hàng đó chưa thuộc sự quản lý của K mà nó vẫn thuộc sự quản lý của thủ kho của công ty Số hàng 2 bao mà
K chiếm đoạt được không phải là do K lạm dụng tín nhiệm của thủ kho mà nguyên nhân là do sự thiếu cẩn thận, thiếu trách nhiệm của thủ kho: Trong sự quản lý của mình, thủ kho đã không giám sát, kiểm tra quá trình K bốc hàng
Trang 2hay đếm lại số hàng K tự bốc lên xe khi ra cổng kho mà cứ thế ký xác nhận ngay vào phiếu xuất hàng 30 bao hàng
Hơn nữa, hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thể hiện: Sau khi đã nhận được tài sản, người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đang thuộc quản lý của mình Ở đây, vào thời điểm K thực hiện hành vi phạm tội K chưa nhận được tài sản – hàng hóa của công ty X, bởi số hàng hóa đó vẫn nằm trong phạm vi của công ty, thuộc sự quản lý của thủ kho, chưa được thủ kho ký phiếu xuất hàng cho K vận chuyển (hàng hóa đang thuộc sự quản lý của thủ kho mà K lại tự ý bốc thêm hàng lên
xe, làm trái với thỏa thuận) Và K cũng không hề có thủ đoạn gian dối: không
có thủ đoạn nào để bốc thêm 2 bao hàng lên xe, cũng không có thủ đoạn nào
để thủ kho ký vào phiếu xuất 30 bao hàng
Như vậy, K không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bởi không thỏa mãn điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự của tội phạm này
1.2 Ý kiến thứ hai khẳng định K phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Khẳng định này sai Giải thích:
Dựa vào những dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 139 BLHS năm 1999 sửa đổi,
bổ sung năm 2009 ta thấy như sau:
Khách thể của tội phạm là quyền sở hữu đối với tài sản – hàng hóa của công ty X Đối tượng tác động là hàng hóa của công ty X
Mặt khách quan của tội phạm:
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật để người chủ tài sản hoặc quản lí hợp pháp tài sản tin mà giao tài sản cho người phạm tội và chiếm đoạt tài sản đó
Hành vi khách quan: Tội phạm được thực hiện ở 2 hành vi: hành vi
gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản.
Hành vi gian dối: là hành vi đưa ra thông tin không đúng sự thật bằng
cách, thủ đoạn khác nhau (ngôn ngữ, đưa ra thông tin, giấy tờ giả mạo…)
nhằm làm cho người chủ tài sản tin đó là sự thật sau đó tự nguyện giao tài sản
cho người có hành vi lừa dối Như vậy, hành vi gian dối phải có trước, sau đó mới nhận và chiếm đoạt tài sản của nạn nhân Sở dĩ có được lòng tin ở người
quản lý, chủ sở hữu tài sản là do người phạm tội đã đưa ra những thông tin sai
Trang 3sự thật để tạo lòng tin ở người quản lý tài sản Do đó, hành vi gian dối có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi chiếm đoạt được thực hiện Mặt khác, hành vi chiếm đoạt cũng là mục đích và kết quả của hành vi gian dối
Theo như vậy, trong tình huống mà đề bài đưa ra, ta thấy: K không hề
có hành vi gian dối đưa ra những thông tin giả, giấy tờ giả (phiếu xuất hàng
mà K đưa cho thủ kho ký cũng như các phiếu xuất hàng của các chuyến hàng trước đều ghi 30 bao hàng, không có thêm, bớt, tẩy xóa…) không đúng sự thật K không có hành vi gian dối nào để bốc thêm 2 bao hàng lên xe và cũng không có hành vi gian dối nào nhằm đánh lừa thủ kho để thủ kho ký vào phiếu xuất hàng Mặt khác, thủ kho cũng không hề tự nguyện giao 2 bao hàng
đó cho K mà chỉ là do sự lơ đãng, thiếu trách nhiệm không kiểm tra số hàng
mà K bốc lên xe nên đã để cho K chiếm được 2 bao hàng đó
Như vậy, K không có hành vi gian dối nên việc khẳng định K phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là sai
1.3 Ý kiến thứ ba khẳng định K phạm tội trộm cắp tài sản.
Khẳng định ý kiến này là đúng Giải thích:
Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác Tội trộm cắp tài sản được quy định tại điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi và bổ sung năm 2009: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành
vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm…”
Để có thể khẳng định K có phạm trộm cắp tài sản quy định tại Điều 138
Bộ luật hình sự hay không, ta đi xem xét hành vi có thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội trộm cắp tài sản hay không
Chủ thể của tội phạm: K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự
và đạt độ tuổi theo luật định
Khách thể: Tội trộm cắp tài sản xâm phạm tới quyền sở hữu đối với tài sản Trong tình huống này, hành vi của K xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản – hàng hóa thuộc sở hữu của công ty X
Đối tượng tác động ở đây là tài sản – hàng hóa của công ty X
Trang 4Đặc điểm nổi bật của tội trộm cắp tài sản là người phạm tội lén lút (bí mật) lấy tài sản mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết mình bị lấy tài sản, chỉ sau khi mất họ mới biết mình bị mất tài sản
Hành vi của người phạm tội trộm cắp tài sản phải thỏa mãn dấu hiệu chiếm đoạt cùng với hai đấu hiệu khác thể hiện tính chất của hành vi chiếm đoạt và tính chất của đối tượng bị chiếm đoạt là dấu hiệu lén lút và dấu hiệu tài sản đang có chủ Bằng thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người
quản lý tài sản, không trông giữ tài sản cẩn thận hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như chen lấn, xô đẩy, nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiềm đoạt mà người quản lý tài sản không biết
Ở đây, trong tình huống này ta thấy:
Thứ nhất, xét về dấu hiệu tài sản đang có chủ: Số hàng hóa mà K chiếm
đoạt là tài sản đang thuộc sở hữu của công ty X, nằm trong phạm vi của công
ty và thuộc sự quản lý của thủ kho; số hàng đó vẫn chưa được giao cho K vận chuyển, vì chỉ khi nào thủ kho ký phiếu xuất hàng thì khi đó hàng hóa mới được chuyển giao cho K quản lý, vận chuyển đến hợp tác xã M
Thứ hai, xét về dấu hiệu chiếm đoạt bằng hình thức lén lút: Thủ kho
của công ty và K do đã quen nhau nên thủ kho đã thỏa thuận cho K vào kho
tự bốc, xếp hàng lên xe, mỗi chuyến là 30 bao hàng ra cổng thủ kho mới kiểm tra và ký vào phiếu xuất hàng Trong 4 chuyến hàng chở đầu thì K chở đúng
số hàng theo như đã thỏa thuận với thủ kho, không có sai phạm gì và thủ kho cũng cẩn thận kiểm tra số hàng mà K bốc lên xe khi ra cổng Trong quá trình
K bốc và xếp hàng lên xe không có sự giám sát, quản lý của thủ kho – người
có trách nhiệm hay của bất kỳ ai của công ty Vì vậy, K lợi dụng người có trách nhiệm quản lý số hàng hóa không có mặt ở nơi để hàng hóa nên đến chuyến thứ 5 thì K làm sai so với thỏa thuận (bốc lên xe vượt quá 2 bao hàng) Và khi ra cổng kho, K điềm nhiên đưa phiếu xuất hàng cho thủ kho ký như những chuyến trước, không có một thái độ hay cử chỉ nào khác thường khiến cho thủ kho nghi ngờ và cũng do sự thiếu trách nhiệm của thủ kho không đếm lại số bao hàng K bốc lên xe (công việc của mình phải làm thì dù
có vào thời điểm giữa trưa thì cũng phải kiểm hàng cẩn thận) mà ký ngay vào phiếu xuất hàng nên K đã chiếm đoạt được 2 bao hàng (thời điểm mà K chiếm đoạt được 2 bao hàng chính là thời điểm mà thủ kho ký vào phiếu xuất hàng)
Trang 5Về hậu quả: Do sự lơ là, thiếu trách nhiệm của thủ kho mà K đã chiếm đoạt được số hàng hóa là 2 bao hàng trị giá 5 triệu đồng, tức là công ty bị thiệt hại tài sản - mất 2 bao hàng
Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của K là lỗi cố ý – cố ý chiếm đoạt 2 bao hàng của công ty Mục đích của K là mong muốn chiếm đoạt được 2 bao hàng đó Mục đích này là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội trộm cắp tài sản của K vì chỉ khi nào có mục đích mong muốn chiếm đoạt được 2 bao hàng thì mới có hành vi thực hiện để chiếm đoạt nó
Từ những phân tích ở trên, ta thấy rằng hành vi của K hoàn toàn thỏa mãn các dấu hiệu CTTP của tài sản theo Điều 138 BLHS Do đó ta khẳng định K phạm trộm cắp tài sản
Từ ý kiến thứ 1, thứ 2, thứ 3 ta rút ra nhận xét:
+ K không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS + K không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều
140 BLHS
+ Hành vi của K phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS
Từ những nhận xét trên ta đi đến khẳng định trong ba ý kiến trên ý kiến
2 và 3 là sai Ý kiến thứ 3 phạm tội trộm cắp tài sản là hoàn toàn chính xác.
2 Mở rộng điều tra, cơ quan điều tra còn xác định được ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản nói trên, K còn rút bớt mỗi chuyến một số hàng hóa của Hợp tác xã M tổng giá trị là 10 triệu đồng Hãy định tội cho hành vi này
Trường hợp này, K phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
được quy định tại khoản 1 điều 140 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Theo quy định tại điều 140 BLHS thì hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản
đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về
Trang 6hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa
án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Chủ thể của tội phạm là K, đủ điều kiện về độ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự K được Công ty X thuê chở hàng và đã được thủ kho của công
ty tín nhiệm thỏa thuận cho K vào kho tự bốc hàng
Khách thể của tội phạm: hành vi mà K thực hiện đã xâm phạm quan hệ
sở hữu đối với tài sản
Mặt khách quan của tội phạm thể hiện:
Thứ nhất về hành vi khách quan: Công ty X thuê K chở số hàng của công ty từ kho giao cho hợp tác xã M Thông qua hợp đồng vận chuyển giữa
K và công ty X nên K đã được vận chuyển số hàng hóa đó Khi đã nhận được
số hàng từ kho của công ty, được thủ kho ký phiếu xuất hàng giao cho mình vận chuyển đến hợp tác xã M, và số hàng hóa này đã được K vận chuyển ra ngoài phạm vi của công ty X Trong quá trình vận chuyển số hàng của công ty đến hợp tác xã M không có sự quản lý của thủ kho hay một người bất kỳ nào của công ty đi theo K, giám sát K vận chuyển Do đó, số hàng lúc này không còn thuộc sự quản lý của thủ kho công ty mà công ty đã tín nhiệm giao số hàng hóa đó cho K quản lý
Trong quá trình vận chuyển đó, lợi dụng sự tín nhiệm của công ty đối với mình K đã dùng thủ đoạn là rút bớt mỗi chuyến một số hàng nhằm chiếm đoạt nó và đã chiếm đoạt được số hàng mà mình rút bớt Bởi, kẻ phạm tội (K)
đã có tài sản (số hàng hóa) trong tay từ trước đó sau đó mới nảy sinh ý định chiếm đoạt và thể hiện hành vi chiếm đoạt
Thứ hai về hậu quả: K đã chiếm đoạt được số hàng hóa với tổng giá trị
là 10 triệu đồng
Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của K là lỗi cố ý trực tiếp K thấy trước hành vi rút bớt tài sản của mình là trái pháp luật, bị lên án; thấy trước hậu quả tác hại của hành vi là làm cho hợp tác xã M không nhận đủ số hàng, thậm chí làm giảm uy tín của công ty X Mục đích của K là mong muốn chiếm đoạt được số hàng hóa đó
Tóm lại, trong trường hợp này, hành vi phạm tội của K thỏa mãn các dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trang 7Có nhiều người còn phân vân rằng: K phạm tội lạm dụng tín nhiệm hay tội tham ô tài sản (Điều 278 BLHS) Với quan điểm của cá nhân thì K không thể phạm tội tham ô tài sản được Mặc dù K cũng có trách nhiệm quản lý tài sản như trong tội tham ô tài sản nhưng trong tội tham ô trách nhiệm này còn
do có chức vụ hoặc do đảm nhiệm những chức trách công tác nhất định Ở đây, K không phải là người của công ty mà chỉ là người được công ty thuê chở hàng thường xuyên (K là chủ chiếc xe chở hàng, không phải xe của công
ty, công ty X thuê K thường xuyên nhưng chỉ khi nào có hàng cần chở và K
có thể chở hàng thuê cho người khác, cho công ty khác nữa…)
3.Toàn bộ số tài sản chiếm đoạt được K đã bán lại cho N Theo anh (chị)
N có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?
Toàn bộ số tài sản chiếm đoạt được K đã bán lại cho N thì N có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 250 BLHS về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hoặc có thể là đồng phạm với K hoặc có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình tùy vào từng trường hợp cụ thể sau đây:
Trường hợp thứ nhất: Giữa N và K không có sự hứa hẹn trước nhưng
N biết số hàng hóa đó của K là do K phạm tội mà có
Trước hết, tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi của người không hứa hẹn trước mà tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có Để xác định N có phạm tội hay không? ta phải căn cứ vào các yếu tố cấu thành tội phạm của tội tiêu thụ tài sản quy định trong BLHS
Khách thể: tội phạm xâm phạm đến trật tự công cộng và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Mặt khách quan: Hành vi tiêu thụ tài sản của N do K phạm tội mà có thì không có sự thỏa thuận, hứa hẹn trước Mặt khác, N cũng biết rõ rằng tài sản mà mình tiêu thụ là tài sản do phạm tội mà có (vì ở đây đang xét trường hợp lỗi của N là lỗi cố ý) Tức là, sau khi K đã chiếm đoạt được số hàng đó thì N mới biết số hàng đó là do K chiếm đoạt trái pháp luật (do phạm tội) mà
có Lúc này N chấp nhận mua số hàng đó của K
Hành vi phạm tội tiêu thụ tài sản do người phạm tội mà có trong tình huống này thể hiện bằng hành vi mua lại số hàng hóa do K bán mặc dù biết số thuốc đó là do K phạm tội mới có được
Trang 8Chủ thể ở đây là chủ thể thường Và vì trong tình huống không đề cập đến độ tuổi hay năng lực trách nhiệm hình sự nên ta quy cho N đã đạt tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự
Như vậy, hành vi của N đã đủ dấu hiệu để cấu thành tội tiêu thụ tài sản
do phạm tội mà có quy định tại điều 250 BLHS
Trường hợp 2: Giữa K và N có sự hứa hẹn trước.
Trong trường hợp này, N và K cùng chịu trách nhiệm hình sự về một tội, tức là N và K là đồng phạm Sự hứa hẹn ở đây thể hiện: N biết rõ ý định
và hành vi phạm tội của K và trước khi K thực hiện hành vi phạm tội của mình thì K đã được N hứa trước rằng là sẽ mua số tài sản mà K chiếm đoạt được trái pháp luật Như vậy, trường hợp N mà hứa hẹn trước là sẽ mua số hàng hóa do K thực hiện hành vi trộm cắp hay lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì N sẽ là đồng phạm với K trong tội trộm cắp hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, với vai trò là người giúp sức
Trường hợp 3: Lỗi của N là lỗi vô ý (N không biết số hàng đó là do K
phạm tội mà có) Tức là, giữa N và K không có sự hứa hẹn trước và N không biết nguồn gốc thật của số hàng mình mua của K là do phạm tội mà có N nghĩ và tin tưởng rằng số hàng này là thuộc sở hữu hợp pháp của K mà không
hề biết K có được số hàng đó là do phạm tội nên đã mua của K Do đó, trong trường hợp này N không phạm tội
Như vậy, hành vi của N xảy ra một trong ba trường hợp sau:
+ Trong trường hợp lỗi của N là lỗi vô ý thì N không phạm tội
+ Trong trường hợp giữa N và K không có sự hứa hẹn trước nhưng N biết số hàng của K là do phạm tội mà có thì N phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại Điều 250 BLHS
+ Trong trường hợp giữa N và K có sự hứa hẹn trước thì N Là đồng phạm với K
KẾT LUẬN
1 Khẳng định ý kiến thứ ba đúng: K phạm tội trộm cắp tài sản
2 K phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 điều 140 BLHS
3 Tùy từng trường hợp phạm tội cụ thể của N mà N có thể là đồng phạm với
K hoặc N có thể phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại điều 250 BLHS hoặc có thể không phạm tội