Nêu những cách giải quyết vụ việc trong các tình huống sau: -Sau khi hết hạn học nghề, hai bên giao kết hợp đồng lao động.Anh A tha thiết với công việc, nhưng vì mức lương quá thấp, anh
Trang 1Mục lục
Trang 2Đề bài
Ngày 1/5/2013, anh A được tuyển vào học nghề tại công ty X.Hai bên thỏa thuận :Công ty sẽ đài thọ ½ học phí;Trong thời gian học nghề, A sẽ được trả 70%lương đối với mỗi sản phẩm làm được; sau khi hết hợp đồng học nghề , A sẽ phải làm việc cho công ty ít nhất 3 năm
Nhận xét về những thỏa thuận nêu trên?
Nêu những cách giải quyết vụ việc trong các tình huống sau:
-Sau khi hết hạn học nghề, hai bên giao kết hợp đồng lao động.Anh A tha thiết với công việc, nhưng vì mức lương quá thấp, anh không thể ký kết hợp đồng
-Khi hết thời hạn học nghề, mặc dù hai bên không giao kết hợp đồng, nhưng anhA vẫn tiếp tục làm việc và được công ty X điều chỉnh mức lương lên 100%.Sau khi làm việc cho công ty khoảng 1 năm, tìm được công việc mới tốt hơn, , Anh A bỏ việc không báo trước cho bên sử dụng lao động biết trước vì cho rằng giữa anh và công ty không có hợp đồng lao động
-A bị tai nạn lao động trong quá trình học nghề
Danh mục từ viết tắt
NLĐ:người lao động NSDLĐ: Người sử dụng lao động BLLĐ: bộ luật lao động QHLĐ: Quan hệ lao động HĐLĐ: Hợp đồng lao động
Trang 3Bài làm
Trong thời gian qua việc thực hiện các quy định của pháp luật về hợp đồng lao động, học đồng đào tạo nghề đã góp phần làm cho NSDLĐ và NLĐ hiểu rõ và thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động Tuy nhiên cũng còn nhiều trường hợp NSDLĐ và NLĐ đôi khi vẫn không nắm vững các quy định của pháp luật lao động nên đã xảy ra nhiều tình huống tranh chấp làm thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của hai bên Do vậy việc tìm hiểu, giải quyết tình huống
cụ thể có liên quan đến HĐLĐ và hợp đồng học nghề sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn các quy định của pháp luật về lao động, quyền và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ
Do sự hiểu biết và kiến thức của chúng em còn hạn chế, nên trong bài làm còn nhiều thiếu sót, kính mong thầy cô xem xét, góp ý để bài làm của nhóm được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn!
1.Nhận xét về những thỏa thuận giữa anh A và công ty X trong hợp đồng dạy nghề.
Tình huống đề bài như sau:ngày 1/5/2013, anh A được tuyển vào học nghề tại công ty X Hai bên thỏa thuận: Công ty sẽ đài thọ ½ học phí;Trong thời gian học nghề, A sẽ được trả 70% lương đối với mỗi sản phẩm làm được; sau khi hết hợp đồng học nghề, A sẽ phải làm việc cho công ty ít nhất 3 năm
Trước hết, “Hợp đồng học nghề là sự thoả thuận về quyền và nghĩa vụ giữa người đứng đầu cơ sở dạy nghề với người học nghề.” (Khoản 1 điều 35 Luật dạy
nghề 2006) Trong tình huống này, hợp đồng học nghề giữa anh A và công ty X là trường hợp doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để làm việc cho doanh nghiệp.Cụ thể trong trường hợp này giữa anh A và công ty X kí hợp đồng đào tạo nghề để đào tạo trình độ, kĩ năng nghề cho anh A trở thành người lao động cho công ty X sau này
Nếu xét chủ thể tham gia giao kết hợp đồng học nghề và hình thức hợp
đồng: Theo điều 61 BLLĐ 2012: “Người sử dụng lao động tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình, thì không phải đăng ký hoạt động dạy nghề
và không được thu học phí
Trang 4Người học nghề, tập nghề trong trường hợp này phải đủ 14 tuổi và phải có
đủ sức khoẻ phù hợp với yêu cầu của nghề, trừ một số nghề do Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội quy định.
Hai bên phải kí kết hợp đồng đào tạo nghề Hợp đồng đào tạo nghề phải làm thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản”
Trong tình huống trên, không đặt ra giả thiết về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng học nghề và hình thức hợp đồng đào tạo nghề nên có thể coi anh A hoàn toàn đủ điều kiện để là chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đào tạo nghề và các bên tuân thủ đúng quy định về hình thức của hợp đồng
Đánh giá về nội dung hợp đồng học nghề: nội dung hợp đồng học nghề bao gồm những điều khoản tạo thành quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong quan hệ học nghề Hợp đồng học nghề phải có các nội dung sau đây: Tên nghề học, kỹ năng nghề đạt được; Nơi học và nơi thực tập; Thời gian hoàn thành khoá học; Mức học phí và phương thức thanh toán học phí; Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mỗi bên khi vi phạm hợp đồng; Các thoả thuận khác không trái pháp luật và đạo đức xã hội
Đây là trường hợp hợp đồng học nghề được giao kết giữa người học nghề
và doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để sử dụng Khác với những hợp đồng
học nghề thông thường, theo khoản 1 điều 61 BLLĐ quy định : “Người sử dụng lao động tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình, thì không phải đăng ký hoạt động dạy nghề và không được thu học phí."Doanh nghiệp
không được thu học phí của người học nghề và người học nghề phải cam kết làm việc cho doanh nghiệp một thời hạn nhất định sau khi học xong Những khoản chi phí đào tạo nghề cho người lao động được tính như là một khoản đầu tư cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp có quyền đòi hỏi từ phía người học một thời hạn nhất định sau khi học xong để khai thác sức lao động – một phần
do doanh nghiệp đầu tư Theo điều 62 BLLĐ, hợp đồng đào tạo nghề giữa người
sử dụng lao động, người lao động và chi phí đào tạo nghề cần phải có thêm thời hạn người lao động cam kết phải làm việc cho người sử dụng lao động sau khi được đào tạo và đặt ra trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo cho doanh nghiệp nếu người lao động có vi phạm Cụ thể trong tình huống này, anh A và công ty X đã thỏa thuận rằng công ty sau khi hết hợp đồng học nghề , A sẽ phải làm việc cho công ty ít nhất 3 năm Tuy nhiên công ty X lại chỉ trả ½ học phí học nghề cho anh
A, ½ còn lại anh A có trách nhiệm phải trả Như vậy việc công ty X thu tiền học
Trang 5phí của A là trái pháp luật vì sau khi học nghề anh A sẽ phải làm việc ít nhất 3 năm theo thỏa thuận đã cam kết cho công ty X
Mặt khác điều 61 BLLĐ cũng quy định thêm: “Trong thời gian học nghề, tập nghề, nếu người học nghề, tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động làm ra sản phẩm hợp quy cách, thì được người sử dụng lao động trả lương theo mức do hai bên thoả thuận.” Thực chất trong trường hợp này người học nghề đóng tư
cách kép, vừa là người học nghề, vừa là người lao động tạo ra sản phẩm, mang lại doanh số và lợi nhuận cho doanh nghiệp.Việc tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp xuất phát từ việc hao phí sức lao động của người học nghề, vì vậy cần phải được
bù đắp.Hoạt động lao động tạo thu nhập cho doanh nghiệp trong trường hợp này cũng đồng thời là quá trình tích lũy kiến thức nghề nghiệp của người học.Do đó, mức lương chả cho người lao động học nghề đã trực tiếp hoặc tham gia lao động làm ra sản phẩm hợp quy cách không nhất thiết phải tương đương với người lao động làm việc chính thức ở công việc cùng loại và các bên có thể thỏa thuận với nhau Mức tiền lương trả cho người lao động học nghề do hai bên thảo thuận tùy thuộc vào mức độ làm lợi của người học cho doanh nghiệp Trong thời gian học nghề, A được trả 70% lương đối với mỗi sản phẩm làm được hợp quy cách là có thể đúng luật khi các bên đã có sự thỏa thuận
Từ đó có thể kết luận rằng: những thỏa thuận giữa anh A và công ty X là không phù hợp với pháp luật
2.Trong trường hợp :Sau khi hết hạn học nghề, hai bên giao kết hợp đồng lao động.Anh A tha thiết với công việc, nhưng vì mức lương quá thấp, anh không thể ký kết hợp đồng.
Đây là hợp đồng học nghề được giao kết giữa người học nghề (anh A) và doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để sử dụng ( công ty X) Trong đó, bên cạnh những nội dung chủ yếu mà hợp đồng học nghề thông thường có,loại hợp đồng học nghề giao kết giữa người học nghề và doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để sử dụng trên đã có thêm một số nội dung:
- Cam kết của công ty X về việc giao kết hợp đồng lao động với người học nghề (anh X) khi kết thúc khóa học và tiền lương trả cho người học trong trường hợp người học trực tiếp hoặc tham gia làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp trong thời gian học nghề Cụ thể, trong thời gian học nghề, A sẽ được trả 70%lương đối với mỗi sản phẩm làm được trong quá trình học nghề
Trang 6- Cam kết của người học nghề về thời gian làm việc cho doanh nghiệp Cụ thể là anh A đã cam kết sau khi kết thúc hợp đồng học nghề, A sẽ phải làm việc cho công ty X ít nhất 3 năm
Xét thấy những nội dung của bản hợp đồng trên đây phù hợp với nội dung pháp luật quy định (Khoản 2 Điều 36 Luật dạy nghề năm 2006 và khoản 2,3 Điều
61 BLLĐ 2012) và không trái với đạo đức xã hội; hợp đồng được giao kết dựa trên ý chí và sự tự nguyện của hai bên chủ thể là công ty X và A Chính vì vậy,
yêu cầu hai bên phải thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết trong hợp đồng.
Theo đó, đồng nghĩa với việc trong thời gian học nghề, công ty X sẽ phải trả
A đủ 70 % lương đối với sản phẩm A làm ra; đồng thời sau khi kết thúc hợp đồng học nghề, A cũng phải thực hiện cam kết làm việc cho công ty X ít nhất 3 năm Việc A cam kết làm việc cho công ty X ít nhất 3 năm sau khi kết thúc hợp đồng học nghề này là hoàn toàn hợp lí vì công ty X đã đãi thọ ½ học phí (mặc dù thực chất công ty X không được thu học phí như đã giải thích ở trên), công ty X hoàn toàn có quyền đòi hỏi từ phía người học là A làm việc một thời gian nhất định (trường hợp này là 3 năm) sau khi học xong để khai thác sức lao động-một phần
do doanh nghiệp đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận
Việc chấp nhận làm việc cho công ty X ít nhất 3 năm sau khi học có thể được hiểu như một trong những điều kiện để A được nhận vào học nghề tại công
ty X Chính vì thế, nếu vi phạm điều kiện này, người học nghề phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình
Xét cụ thể trong trường hợp trên đặt ra tình huống: do chê mức lương quá thấp, nên A không tiếp tục kí hợp đồng lao động để làm việc cho công ty X sau khi kết thúc việc học nghề như đã thỏa thuận trước đó Theo nhóm em, có thể đặt ra 2 hướng giải quyết như sau:
* Trường hợp 1: Trước tiên, nên áp dụng biện pháp thỏa thuận giữa hai bên.
Điều này dẫn đến hai trường hợp:
- Một là, hai bên có thể thỏa thuận lại về mức lương:
A và công ty X có thể thỏa thuận lại về mức lương để đi đến kí kết hợp đồng lao động
Trang 7Nếu xét thấy đúng là anh A có trình độ tay nghề, kĩ năng nghề nghiệp tốt, tận tụy với công việc, rất tha thiết công việc và có nguyện vọng làm việc tại công
ty X thì cồng ty X có thể xem xét và chấp thuận đề nghị thỏa thuận lại mức lương với A phù hợp với nguyện vọng và năng lực làm việc của A anh A và công ty X
có thể tiếp tục kí kết hợp đồng lao động theo đúng như thỏa thuận trước đó
- Hai là, hai bên có thể thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng:
Nếu như công ty X không còn có nhu cầu muốn sử dụng anh A nữa và anh
A cũng chấp thuận thì giữa A và công ty X có thể thương lương với nhau Khi đó, nếu được sự đồng ý của hai bên (chủ yếu là bên đào tạo lao động), A sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường cho công ty X vì việc không kí kết hợp đồng lao động sau khi hợp đồng học nghề kết thúc
-> Nhận xét: Việc hai bên cùng nhau thỏa thuận để giải quyết vấn đề tối ưu, tránh được mâu thuẫn phát sinh giữa hai bên Tuy nhiên, trên thực tế, việc công ty
X đi tới giải quyết vấn đề bằng việc thỏa thuận như đã nêu ở trên là hầu như không có, vì công ty đã bỏ công sức cũng như tiền bạc để đào tạo nghề cho một người lao động sẽ không hướng từ bỏ lợi ích của mình như thế Vì vậy, giữa công
ty X và A nên có sự thỏa thuận về tiền lương trong hợp đồng để tránh ảnh hưởng đến lợi ích của cả hai bên
*Trường hợp 2: Nếu như thỏa thuận không thành công hoặc trong khi công ty X vẫn yêu cầu A phải làm việc cho công ty như đã cam kết từ trước
mà A vẫn nhất quyết không thực hiện thì A phải chịu trách nhiệm bồi thường cho công ty X vì đã vi phạm thỏa thuận về thời hạn cam kết làm việc cho công
ty trong hợp đồng học nghề trước đó.
Cụ thể, điều này được quy định tại khoản 3 Điều 37 Luật Dạy nghề 2006:
“ Trường hợp doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để làm việc cho doanh nghiệp, nếu người học nghề không làm việc theo cam kết thì phải bồi hoàn chi phí dạy nghề Mức bồi hoàn do hai bên thoả thuận theo hợp đồng học nghề.
Chi phí dạy nghề gồm các khoản chi phí hợp lý cho người dạy, tài liệu, vật liệu thực hành, chi phí khấu hao nhà xưởng, máy móc thiết bị và các chi phí khác
đã chi cho người học nghề.”
Như vậy, anh A đã vi phạm điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng học nghề
về thời hạn cam kết làm việc cho công ty sau khi chấp dứt hợp đồng học nghề Cụ
Trang 8thể là trong khi trước đó A đã cam kết làm việc cho công ty X ít nhất 3 năm sau khi kết thúc hợp đồng học nghề nhưng lại vì lí do lương thấp mà không thực hiện (đây không phải là lí do phù hợp) Vì vậy, anh A có trách nhiệm phải bồi thường chi phí dạy nghề cho công ty X Mức bồi thường do 2 bên tự thỏa thuận trong hợp đồng học nghề trước đó
3.Khi hết thời hạn học nghề, mặc dù hai bên không giao kết hợp đồng, nhưng anhA vẫn tiếp tục làm việc và được công ty X điều chỉnh mức lương lên 100%.Sau khi làm việc cho công ty khoảng 1 năm, tìm được công việc mới tốt hơn, , Anh A bỏ việc không báo trước cho bên sử dụng lao động biết trước vì cho rằng giữa anh và công ty không có hợp đồng lao động.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 61 Bộ Luật lao động 2012 về học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động có nêu rõ:
“3 Hết hạn học nghề, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động khi đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật này”.
Theo quan điểm của nhóm, khi hết thời hạn học nghề, mặc dù hai bên không tiến hành giao kết hợp đồng nhưng trên thực tế giữa anh A và công ty X vẫn xác lập hợp đồng lao động dưới hình thức HĐLĐ bằng hành vi(hay còn gọi là hợp đồng lao động thực tế).HĐLĐ bằng hành vi là loại hợp đồng lao động có sự thảo thuận của các bên nhưng sự thảo thuận này được thể hiện thông qua hành vi của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật lao động.Ví dụ như hành vi làm việc của người lao động; hành vi bố trí công việc, trả lương… của người sử dụng lao động.HĐLĐ bằng hành vi là hợp đồng chỉ phát sinh khi đã có hành vi lao động trên thực tế.Trong trường hợp này, hợp đồng lao động giữa A và công ty X có thể coi là hợp đồng lao động được giao kết bằng hành vi, A vẫn tiếp tục làm việc cho công ty X sau khi chấm dứt hợp đồng học nghề có thể coi là hành vi làm việc của người lao động.Cũng như vậy, hành vi điều chỉnh lương lên 100% đối với A của công ty X thể hiện hành vi bố trí công việc và trả lương của người sử dụng lao động Do đó, việc A bỏ việc không báo trước cho bên sử dụng lao động biết trước
vì cho rằng giữa anh và công ty không có hợp đồng lao động là không có cơ sở và
A sẽ phải chịu trách nhiệm về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Như vậy, A sẽ có quyền thanh lý hợp đồng theeo điều 47 BLLĐ 2012 và phải chịu nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo điều 43 BLLĐ 2012.Điều 43 quy định:
Trang 9“1 Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động
2 Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước
3 Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”
Theo khoản 3 Điều 62 BLLĐ quy định: “ Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài.”
Vậy trong trường hợp này, A sẽ không được trợ cấp và phải bồi thường nửa tháng lương và chi phí đào tạo cho công ty X.Do A không báo trước cho công ty X nên A phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước
4 A bị tai nạn lao động trong quá trình học nghề
Theo quy định tại Điều 142 Bộ luật Lao động 2012 thì: Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực
hiện công việc, nhiệm vụ lao động Quy định này được áp dụng đối với cả người
học nghề, tập nghề và thử việc Người bị tai nạn lao động phải được cấp cứu kịp
thời và điều trị chu đáo Tất cả các vụ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các
sự cố nghiêm trọng tại nơi làm việc đều phải được khai báo, điều tra, lập biên bản, thống kê và báo cáo định kỳ theo quy định của Chính phủ.
Khi người lao động bị tai nạn lao động, người sử dụng lao động có các trách
nhiệm sau đây: Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị
ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Trang 10phải nghỉ việc trong thời gian điều trị Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động theo quy định (Điều 144 Bộ luật Lao động 2012)
Căn cứ Điều 145 Bộ luật Lao động 2012, khi bị tai nạn lao động, người lao động có các quyền sau:
“1 Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.
2 Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người
sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên.
3 Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:
a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động
từ 11% đến 80%;
b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động
bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động
bị chết do tai nạn lao động.
4 Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này.”
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 thì người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau đây:
“1 Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;
b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;
c) Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;
2 Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này.”