1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài tập lớn công pháp (đề số 5)

8 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 85,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ là một nguồn bổ trợ của luật quốc tế Điều 38 quy chế Tòa án quốc tế coi phán quyết của tòa và học thuyết của các chuyên gia giỏi nhất về côn

Trang 1

Đề số 5:

Chứng minh rằng: “Nghị quyết của các tổ chức Quốc tế liên chính phủ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hình thành cũng như viện dẫn áp dụng quy phạm điều ước và quy phạm tập quán”

Trang 2

Bài làm:

1 Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ là một nguồn bổ trợ của luật quốc tế

Điều 38 quy chế Tòa án quốc tế coi phán quyết của tòa và học thuyết của các chuyên gia giỏi nhất về công pháp quốc tế là phương tiện bổ trợ để xác định quy phạm luật quốc tế Quy định này ngày càng không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn quốc tế Việc này cũng dễ hiểu, bởi lẽ nội dung tương tự như điều 38 đã được hình thành từ sau thế chiến thứ nhất đối với Pháp viện thường trực quốc tế Khi Tòa án quốc tế được thành lập, nhiều nội dung của quy chế pháp viện thường trực quốc tế được chuyển tải vào quy chế của tòa Khi ấy các văn kiện quốc tế còn quá

ít ỏi, nên điều 38 không đề cập đến loại văn kiện cực kì quan trọng là nghị quyết của các tổ chức quốc tế Trong số các nghị quyết của tổ chức quốc tế cần phân biệt hai loại: các nghị quyết có tính quy phạm và các nghị quyết có tính khuyến nghị

- Nghị quyết có tính quy phạm: là các nghị quyết quy định về mức độ đóng góp của các quốc gia thành viên, về tổ chức và hoạt động của bộ máy, về thủ tục quan trọng trong hoạt động của từng tổ chức những quy định có tính bắt buộc được đề cập đến trong chính điều lệ (quy chế) của mỗi tổ chức quốc tế Như vậy, các nghị quyết loại này tạo ra quy phạm pháp lí đối với từng tổ chức quốc tế nhất định và cũng là nguồn nhưng không phải là nguồn của luật quốc tế; mà là của luật tổ chức quốc tế Chúng có giá trị pháp lí bắt buộc đối với từng tổ chức quốc tế, với cơ quan và thành viên của nó

- Nghị quyết và khuyến nghị của tổ chức quốc tế: các nghị quyết- khuyến nghị của đại hội đồng liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác là văn kiện quốc

tế, trong đó có các định hướng, chủ trương, biện pháp giải quyết từng vấn đề nhất định mang tính thời sự của đời sống quốc tế, hoặc tuyên bố về nguyên tắc giải quyết những vấn đề nào đó trong quan hệ quốc tế

Tự bản thân các nghị quyết này chỉ mang tính khuyến nghị mà không sinh ra các quy phạm pháp lý, không có hiệu lực pháp lí bắt buộc các quốc gia phải tuân theo, và vì thế chúng không được coi là nguồn của luật quốc tế tuy vậy, nhiều nghị quyết của đại hội đồng liên hợp quốc giữ vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của quy phạm luật quốc tế, đồng thời được công nhận là phương tiện bổ trợ để xác định quy phạm luật quốc tế

Trang 3

Điều ước 38 quy chế tòa án quốc tế liên hợp quốc được giải thích khác nhau trong giáo trình và sách chuyên khảo về luật quốc tế ở các nước Có tác giả cho rằng, nguồn của luật quốc tế hiện đại là tất cả các hình thức được nêu trong điều 38 của quy chế, bao gồm: điều ươc quoocso tế, tập quán quốc tế, phán quyês của tòa

án quốc tế LHQ, học thuyết của các luật gia danh tiếng về công pháp quốc tế, đồng thời các nghị quyết của các tổ chức

Để hiểu rõ quá trình hình thành tập quán pháp lí quốc tế, trước tiên cần phải làm sáng tỏ khái niệm cơ bản: khái niệm thực tiễn và khái niệm công nhận hiệu lực pháp lí (opinion juris)

Thực tiễn được hiểu là sự hoạt động của các chủ thể và cơ quan của nó, đó chính là hành vi của chủ thể dẫn đến hình thành thực tiễn, tạo ra quy phạm tập quán quốc tế Thực tiễn cần phải được thể hiện rõ ràng, chính xác và thống nhất, để

từ đó có thể tìm ra quy tắc chung, với cách hiểu này, một trong những nguyên nhân

để hình thành tập quán là các hình thức thực tiễn ngày càng được sử dụng rộng rãi, trong đó quan điểm của các chủ thể được thể hiện rõ ràng, đó là tuyên bố của quốc gia, công hàm, tuyên bố chung, thông cáo chung, nghị quyết của tổ chức quốc tế Thực tiễn cũng phải đủ vững bền và tồn tại độc lập, nhưng cũng không được đòi hỏi nó một cách tuyệt đối tòa án quốc tế LHQ thì không cho rằng “để thiết lập quy phạm tập quán thì thực tiễn liên quan cần phải tuyệt đối chính xác, phù hợp với quy phạm điều cơ bản là tòa phải chỉ rõ chính xác để hành vì của các quốc gia nói chung xử sự theo các quy phạm này”

Còn opinion juris là gì? Đó chính là sự công nhận hiệu lực pháp lí của các quy phạm có tính pháp lí được tuyên bố trong nghị quyết của tổ chức quốc tế trong phán quyết về vụ Nicaragoa kiện Mỹ năm 1986, tòa án quốc tế đã chỉ rõ sự đồng tình với các nghị quyết của đại hội đồng liên hợp quốc được hiểu là “sự công nhận hiệu lực của các quy phạm được tuyên bố trong nghị quyết” Cần hiểu vấn đề này theo nghĩa, nếu như nghị quyết tuyên bố sự tồn tại thực tế của các quy phạm pháp lí quốc tế cụ thể nào đó thì sự đồng ý với nghị quyết cũng có nghĩa là sự thể hiện opinion juris Như vậy, sự đồng tình với nghị quyết được hiểu không chỉ là sự biểu quyết về nghị quyết mà còn là sự công nhận về nội dung hiệu lực pháp lí của nghị quyết bằng hình thức im lặng: im lặng không phản đối cũng chính là sự thừa nhận đồng tình

Trang 4

Tập quán pháp lí quốc tế có thể được hình thành từ thực tiễn hoạt động của chủ thể luật quốc tế cũng như từ sự đồng tình với các nghị quyết mà nội dung của

nó tuyên bố về sự tồn tại thực tế của quy phạm luật quốc tế qua đó sẽ có nhiều cách hình thành khác nhau, như từ tuyên bố đơn phuwogn của quốc gia, công hàm của quốc gia, thông cáo chung, từ phán quyết của tòa án quốc tế Liên Hiệp Quốc,

từ điều ước quốc tế, từ nghị quyết của tổ chức quốc tế mà chủ yếu là từ Liên Hiệp Quốc

2 Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ có ý nghĩa trong việc xây dựng và hình thành quy phạm pháp luật quốc tế (quy phạm điều ước và quy phạm tập quán)

a Điều ước quốc tế được hình thành từ nghị quyết của tổ chức quốc tế

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là một điều ước quốc tế được hình thành từ nghị quyết của Liên Hiệp Quốc Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc là tuyên ngôn đưa ra một quan điểm về các quyền con người cơ bản như quyền sống, quyền tự do và an ninh thân thể, quyền tự do lập hội, quyền tự do tôn giáo, quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm, được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp Bản Tuyên ngôn đã được dịch ra ít nhất 375 ngôn ngữ Tuyên bố phát sinh trực tiếp từ những kinh nghiệm của Thế chiến thứ hai và là tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên trên thế giới, trong đó liệt kê các quyền cơ bản mà mọi cá nhân được hưởng

Nó bao gồm 30 điều đã được xây dựng trong các Thỏa ước quốc tế, thỏa ước nhân quyền khu vực, hiến pháp và luật pháp quốc gia Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế bao gồm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế,

Xã hội và Văn hóa, và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị cùng hai Nghị định thư không bắt buộc I và II Năm 1966, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua hai Công ước trên, qua đó hoàn thành cơ bản Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế

b Tập quán quốc tế được hình thành từ nghị quyết của tổ chức quốc tế

Điểm mới trong quá trình hình thành quy phạm luật quốc tế từ nửa sau thế kỉ

XX là việc xuất hiện các quy phạm tập quán của luật quốc tế được hình thành từ nghị quyết của tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hiệp Quốc Thông thường nếu như các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc trong nhiều năm đều tập trung thống nhất quyết định về một vấn đề và tất cả các quốc gia đều hành động theo nguyên tắc này, khi đó đã có thể nói đến sự hình thành quy phạm mới của tập quán Loại quy

Trang 5

phạm này thường được hình thành trong lĩnh vực duy trì hòa bình và an ninh quốc

tế cũng như trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia

Trong thực tiễn có rất nhiều quy phạm tập quán hình thành từ con đường nghị quyết của Liên Hiệp Quốc Ví dụ, câu hỏi đặt ra là những hành vi nào của một quốc gia được coi là tấn công vũ trang để từ đó quốc gia khác thực hiện quyền tự

vệ chính đáng đã được làm sáng tỏ trong Nghị quyết của đại hội đồng Liên Hiệp Quốc số 3314 (XXIX) ngày 14 tháng 12 năm 1974 Nghị quyết đã chỉ rõ hành vi xâm lược là các hành vi của một quốc gia sử dụng bất hợp pháp lực lượng vũ trang tấn công vào lãnh thổ quốc gia khác, cũng như bất kì sự bao vây phong tỏa nào bằng lực lượng vũ trang chống lại quốc gia ấy Như vậy, việc các quốc gia đồng tình với nghị quyết 3314 của đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thể hiện sự thừa nhận hiệu lực thực tế của nghị quyết, để từ đó các quốc gia hành động theo những chuẩn mực được quy định trong nghị quyết chừng nào nghị quyết này chưa phải là điều ước quốc tế thì việc các quốc gia hành động theo những chuẩn mực của nó chính là sự thừa nhận quy phạm tập quán quốc tế mới hình thành

Tự thực tiễn tòa án quốc tế Liên Hiệp Quốc, đôi khi nghị quyết của tổ chức quốc tế được coi là bằng chứng của luật tập quán Điều này được thể hiện rõ trong thực tiễn của Tòa án quốc tế Liên Hiệp Quốc vì trong nhiều trường hợp tòa có nhiệm vụ phải xác định rõ đâu là quy phạm tập quán của luật quốc tế liên quan đến việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia

3 Nghị quyết của tổ chức quốc tế lên chính phủ có ý nghĩa trong việc viện dẫn, áp dụng, thực hiện quy phạm quốc tế và ví dụ cụ thể

Trong thực tiễn quốc tế, khi xác định hoặc giải thích quy phạm luật quốc tế, các quốc gia thường viện dẫn đến nghị quyết của đại hội đồng Liên hợp quốc các nghị quyết được viện dẫn nhiều hơn cả và có vai trò to lớn trong đời sống quốc tế là: Tuyên bố của đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1960 về trao trả độc lập cho các nước dân tộc và các nước thuộc địa; tuyên bố của đại hội đồng Liên hợp quốc năm

1970 về những nguyên tắc của Luật quốc tế; tuyên bố năm 1974 về định nghĩa xâm lược;…

Các nghị quyết trên đây của đại hội đồng Liên hợp quốc thường được tòa án viện dẫn và coi đó là bằng chứng thực tiễn của sự tồn tại quy phạm tập quán Vấn

đề nguồn của luật quốc tế có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, vì trong mọi trường hợp

Trang 6

chủ thể luật quốc tế hoặc các cơ quan tài phán quốc tế có thẩm quyền đều phải trả lời câu hỏi rằng; đối với quan hệ xã hội cụ thể này cần phải điều chỉnh bằng quy phạm nào của luật quốc tế? Cuối cùng câu hỏi cần có lời giải đáp rõ ràng là, những hình thức biểu hiện nào được coi là nguồn của luật quốc tế, những hình thức nào không phải là nguồn của nó? Hay nói theo các khác thì nguồn của luật quốc tế được ghi nhận trong hình thức biểu hiện nào?

Vì rằng nguồn của luật quốc tế là hình thức pháp lí chính thức của sự tồn tại các quy phạm, nên danh mục các loại nguồn cũng phải được xác định từ chính luật quốc tế, từ chính điều ước quốc tế Nói cách khác, danh mục các loại nguồn của luật quốc tế phải được xác định căn cứ vào cơ sở pháp lí nhất định mà không phải

từ những sự suy diễn trừu trượng hay hư vô nào đó Tuy nhiên, từ trước tới nay không tồn tại một văn kiện pháp lí quốc tế nào được thừa nhận rộng rãi, trong đó đưa ra danh mục nguồn của luật quốc tế và đưa ra tiêu chuẩn cụ thể về các loại nguồn này Mặc dù còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, nhưng điều ước quốc tế và tập quán quốc tế đã thừa nhận rộng rãi là nguồn của luật quốc tế từ cơ sở lập luận này, đã xuấy hiện quan điểm chung phổ biến, rằng điều 38 quy chế tòa án quốc tế liên hợp quốc chứa đựng danh mục các loại nguồn của luật quốc tế

Ví dụ:

- Ví dụ trong vụ Nicaragoa kiện Mỹ, tòa cho rằng sự đồng tình của các bên đối với nghị quyết 2625 (XXV) :”tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế” là hình thức thể hiện sự công nhận hiện thực pháp lí đối với nguyên tắc không sử dụng vũ lực với tư cách là nguyên tắc của luật tập quán

- Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc cũng thông qua nghị quyết 2016 chấm dứt sứ mệnh của NATO thực thi áp đặt vùng cấm bay và hành động bảo vệ dân thường Lybia; cho dù trước đó, chính phủ lâm thời Libya đã yêu cầu NATO hỗ trợ

thêm.Theo Nghị quyết 2016 của LHQ, nghị quyết 1973 cho phép áp đặt vùng cấm bay tại Libya sẽ hết hiệu lực vào lúc 23 giờ 59 phút ngày 31/10 (giờ Libya).Nhưng Hội đồng Bảo an cũng hoan nghênh một số diễn biến tích cực mới, trông chờ sẽ mau chóng thiết lập một chính phủ chuyển tiếp hợp quần, đại diện cho mọi thành phần xã hội, một chính phủ tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản của nhân dân Libya Nghị quyết quyết định nới lỏng lệnh cấm vận vũ khí đối với Libya để Hội đồng Chuyển tiếp quốc gia Libya (NTC) có thể tiếp cận các loại vũ

Trang 7

khí và thiết bị để bảo vệ an ninh quốc gia.Nghị quyết 2016 đồng thời kết thúc việc phong tỏa các tài sản của Tập đoàn Dầu mỏ Quốc gia Libya và gần như tất cả những hạn chế đối với ngân hàng trung ương và các thể chế chủ chốt khác của quốc gia Bắc Phi này.Trước đó, Nghị quyết 1973 đã được Hội đồng Bảo an đồng

ý, nhưng sau đó nhiều nước thành viên, trong đó có Nga, Ấn Độ và Nam Phi, bày

tỏ lo ngại rằng một số quốc gia đã đi xa hơn là nhiệm quyền cho phép

- Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (tiếng Anh: United Nations

Convention on Law of the Sea - UNCLOS), cũng gọi là Công ước Luật biển hay

cũng được những người chống đối nó gọi là Hiệp ước Luật biển, là một hiệp ước

quốc tế được tạo ra trong Hội nghị về luật biển Liên Hiệp Quốc lần thứ 3 diễn ra từ năm 1973 cho đến 1982 với các chỉnh sửa đã được thực hiện trong Hiệp ước Thi hành năm 1994 Công ước Luật biển là một bộ các quy định về sử dụng các đại dương của thế giới, chiếm 70% diện tích bề mặt Trái Đất Công ước đã được ký kết năm 1982 để thay thế cho 4 hiệp ước năm 1958 đã hết hạn UNCLOS có hiệu lực năm 1994, và đến nay, 154 quốc gia và Cộng đồng châu Âu đã tham gia Công ước này Hoa Kỳ không tham gia vì nước này tuyên bố rằng hiệp ước này không

có lợi cho kinh tế và an ninh của Mỹ Công ước quy định quyền và trách nhiệm của các quốc gia trong việc sử dụng biển, thiết lập các hướng dẫn rõ ràng cho các hoạt động kinh doanh, bảo vệ môi trường và cải thiện quản lý các tài nguyên thiên nhiên đại dương Các sự kiện mà thuật ngữ đề cập trong Công ước là: Công ước về Luật biển Liên Hiệp Quốc lần 1, Công ước về Luật biển Liên Hiệp Quốc lần 2, Công ước về Luật biển Liên Hiệp Quốc lần 3 Công ước này là kết quả của Công ước về Luật biển Liên Hiệp Quốc lần 3 và cũng mang tên gọi Công ước về Luật biển Liên Hiệp Quốc

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

1 Giáo trình Luật quốc tế - ĐH Luật Hà Nội 2004

2 Luật quốc tế - Lý luận và thực tiễn – TS Trần Văn Thắng – ThS L Mai Anh – Nxb Giáo dục, Hà Nội 2001

3 Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế

4 quy chế Tòa án công lý quốc tế

5 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền

6 http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com

7 Nghị quyết của đại hội đồng Liên Hiệp Quốc số 3314 (XXIX) năm 1974

8 Nghị quyết 2625 (XXV) :”tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế”

9 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (tiếng Anh: United Nations Convention

on Law of the Sea - UNCLOS)

Ngày đăng: 25/03/2019, 11:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w