- Vị trí và hình thể nước ta đã tạo nên sự phân hóa đa dạng của tự nhiên giữa miền Bắc với miền Nam, giữa miền núi và đồng bằng, ven biển, hải đảo, hình thành các vùng tự nhiên khác nhau
Trang 1KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
TÀI LIỆU BÀI GIẢNG
(Lưu hành nội bộ) ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VIỆT NAM 1
(Dành cho Sinh viên ngành Địa lý)
Giảng viên: ThS Dương Thị Mai Thương
Quảng Bình
Trang 2CHƯƠNG 1 LÃNH THỔ VIỆT NAM VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN 1
CỦA TỰ NHIÊN VIỆT NAM 1
1.1 Lãnh thổ Việt Nam 1
1.2 Lịch sử phát triển tự nhiên của lãnh thổ Việt Nam 5
1.3 Bài tập 12
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 13
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TỰ NHIÊN VIỆT NAM 14
2.1 Các nhân tố quy định các đặc điểm cơ bản của Địa lý tự nhiên Việt Nam 14
2.2 Đặc điểm cơ bản của tự nhiên Việt Nam 14
2.3 Bài tập 21
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2 22
CHƯƠNG 3 ĐỊA HÌNH VIỆT NAM 23
3.1 Đặc điểm chung của địa hình Việt Nam 23
3.2 Đặc điểm các kiểu địa hình ở Việt Nam 26
3.3 Đặc điểm các khu vực địa hình ở Việt Nam 27
3.4 Bài tập 32
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 3 33
CHƯƠNG 4 KHÍ HẬU VIỆT NAM 34
4.1 Đặc điểm chung của khí hậu Việt Nam 34
4.2 Các yếu tố khí hậu Việt Nam 37
4.3 Phân vùng khí hậu Việt Nam 41
4.4 Bài tập 42
4.5 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam 43
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 4 44
CHƯƠNG 5 THỦY VĂN VIỆT NAM 45
5.1 Đặc điểm chung của sông ngòi Việt Nam 45
5.2 Các hệ thống sông chính 49
5.3 Đặc điểm hải văn biển đông 51
5.4 Bài tập 51
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 5 52
CHƯƠNG 6 THỔ NHƯỠNG VIỆT NAM 53
Trang 36.3 Bài tập 61
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 6 61
CHƯƠNG 7 SINH VẬT VIỆT NAM 62
7.1 Đặc điểm chung của giới sinh vật Việt Nam 62
7.2 Các kiểu thảm thực vật chính của Việt Nam 64
7.3 Bài tập 67
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 7 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 4CHƯƠNG 1 LÃNH THỔ VIỆT NAM VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
CỦA TỰ NHIÊN VIỆT NAM 1.1 Lãnh thổ Việt Nam
1.1.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Nước Việt Nam nằm ở rìa phía Đông của bán đảo Đông Dương, gần trung tâm của khu vực Đông Nam Á Ở trên đất liền, VN giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, phía Tây giáp với Lào và Campuchia, phía Đông và phía Nam giáp với biển Đông Trên biển, nước ta giáp với Trung Quốc, Philippin, Brunây, Malaixia, Campuchia, Thái Lan, Singapo Như vậy, Việt Nam vừa gắn với lục địa Châu Á rộng lớn vừa có một bộ phận trên biển Đông thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương
Việt Nam nằm trên ngã tư đường hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, nối liền châu Á với châu Đại Dương, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Có thể nói, giao thông hàng hải trên biển Đông rất sôi động Đây là vùng biển nhộn nhịp thứ hai của thế giới (sau Địa Trung Hải) Hơn 1/3 lượng hàng hóa vận chuyển trên biển đi qua biển Đông, gấp 3 kênh đào Suez và gấp 5 lần kênh Panama Trung bình cứ 3km có một tàu hàng, được xem là tuyến hàng hải huyết mạch mang tính chiến lược của nhiều nước trên thế giới và khu vực
So với nhiều nước trên thế giới và ngay cả các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam có vị trí địa lý khá thuận lợi trong việc mở rộng mối giao lưu về kinh tế và văn hóa với các nước lân cận cũng như các nước khác trên thế giới
Hệ tọa độ địa lý phần trên đất liền nước ta được xác định như sau:
- Điểm cực Bắc ở vĩ độ 23o23’B tại xã Lũng Cú, nằm trên cao nguyên Đồng Văn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang
- Điểm cực Nam ở vĩ độ 8o34’B tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau
- Điểm cực Tây ở kinh độ 102o09’Đ nằm trên đỉnh núi Khoan La San (cột mốc số 0), ở khu vực ngã ba biên giới Việt Nam, Lào và Trung Quốc thuộc xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
- Điểm cực Đông ở kinh độ 109o24’Đ tại mũi Đôi thuộc xã Vạn Thạnh, trên bán đảo Hòn Gốm, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa
Hệ tọa độ địa lý phần trên vùng biển nước ta được kéo dài tới khoảng vĩ độ
6o50’B và từ khoảng kinh độ 101oĐ đến 117o20’Đ tại biển Đông
Kinh tuyến 105oĐ chạy qua nước ta nên đại bộ phận lãnh thổ nước ta nằm gọn trong khu vực múi giờ thứ 7
Trang 51.1.1.2 Phạm vi lãnh thổ
Lãnh thổ VN là một khối thống nhất và toàn vẹn, bao gồm vùng đất, vùng biển, vùng trời
a Vùng đất
Vùng đất gồm toàn bộ phần đất liền và các hải đảo có tổng diện tích 331.212 km2
(theo niên giám thống kê 2006)
Lãnh thổ Việt Nam phần trên đất liền có dáng hẹp ngang và chạy dài theo hướng kinh tuyến với chiều dài gần 1650km.Chỗ rộng nhất của nước ta ở Bắc Bộ khoảng 600km và chỗ hẹp nhất ở Trung Bộ chưa đến 50km
Việt Nam có hơn 4600km đường biên giới trên đất liền Trong đó, đường biên giới
tiếp giáp với Trung Quốc dài hơn 1400km thuộc địa giới của 7 tỉnh Đường biên giới giáp với Campuchia dài hơn 1100km thuộc địa giới của 10 tỉnh Phần lớn đường biên
giới trên đất liền của VN ở miền núi tiếp giáp với Trung Quốc, Lào và một phần của Campuchia là đường ranh giới tự nhiên chạy dọc theo các đỉnh núi, các đường chia nước, các hẻm núi và các thung lũng sông suối rất dễ nhận biết nhưng việc qua lại giữa hai nước chỉ thuận lợi ở một số cửa khẩu nhất định Chỉ có một số bộ phận trên đường biên giới tiếp giáp với Campuchia là nằm trong vùng hạ lưu sông Mê Kông Ở đoạn biên giới này đất đai bằng phẳng, dân cư đông đúc, đường sá thuận tiện nên việc giao lưu buôn bán giữa hai nước trở nên rất dễ dàng
Biên giới trên đất liền của nước ta với các nước xung quanh về cơ bản đã được phân giới cắm mốc và đã đi vào lịch sử Các vấn đề nảy sinh đã và sẽ được giải quyết thông qua đàm phán, thương lượng giữa các bên hữu quan
Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260km hình chữ S, từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) Đường bờ biển chạy dọc theo đất nước tạo điều kiện cho
28 trong số 63 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương có đường thông thương ra biển và có điều kiện trực tiếp khai thác những tiềm năng to lớn của biển Đông
Nước ta có hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là các đảo ven bờ và có 2 quần đảo ở ngoài khơi xa trên Biển Đông là quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng) và Trường Sa (Khánh Hoà)
Trang 6đất liền Người và tàu thuyền nước ngoài muốn vào phải xin phép và phải được sự đồng ý của Việt Nam
Ngày 12 tháng 11 năm 1982, Chính phủ nước ta đã ra tuyên bố quy định đường cơ
sở ven đường bờ biển để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam(xem Hình 1) Muốn xây dựng được đường cơ sở cần xác định các điểm chuẩn.Điểm chuẩn là các đảo ven bờ
và các mũi đất dọc bờ biển để vạch đường cơ sở của nước ta được dựa trên cơ sở pháp
lý phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế.11 điểm chuẩn để xây dựng đường cơ sở của VN, được tuyên bố vào năm 1982 đó là :
Riêng đường cơ sở của các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan sẽ được quy định sau do hiện nay chưa giải quyết xong vấn đề chủ quyền và phân định biên giới trên biển với các nước liên quan Theo đó, vùng nội thủy của nước
ta mặc dù ở trên biển song vẫn được coi như lãnh thổ trên đất liền
* Lãnh hải
Lãnh hải Việt Nam, theo tuyên bố của Chính phủ nước ta ngày 12 tháng 5 năm
1977, có chiều rộng 12 hải lý (1 hải lý = 1852m)
Ranh giới phía ngoài của lãnh hải được coi là biên giới quốc gia trên biển Trên thực tế, đó là các đường song song và cách đều đường cơ sở về phía biển 12 hải lý
*Tiếp giáp lãnh hải
Tiếp giáp lãnh hải là vùng biển được quy định nhằm đảm bảo cho việc thực hiện chủ quyền của một nước ven biển Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước ta cũng được quy
định có chiều rộng 12 hải lý Trong vùng này, Nhà nước ta có quyền thực hiện các
biện pháp bảo vệ an ninh quốc phòng, kiểm soát thuế quan, các quy định về y tế, môi trường, di cư, nhập cư,
* Vùng đặc quyền về kinh tế
Trang 7Vùng đặc quyền về kinh tế là vùng biển hợp với lãnh hải có chiều rộng là 200 hải
lý tính từ đường cơ sở Ở vùng này, Nhà nước ta đã có chủ quyền hoàn toàn về kinh tế
nhưng vẫn để các nước khác đặt các đường ống dẫn dầu, dây cáp ngầm và tàu thuyền,
máy bay nước ngoài được tự do về hàng hải và hàng không, đúng như các công ước
quốc tế về Luật biển đã quy định
* Thềm lục địa
Thềm lục địa nước ta cũng đã được Nhà nước quy định bao gồm đáy biển và lòng
đất dưới biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa mở rộng ra ngoài lãnh hải VN
cho đên bờ ngoài của rìa lục địa, có độ sâu khoảng 200m hoặc hơn nữa Nơi nào bờ
ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở không đến 200 hải lý thì thềm lục địa được tính
cho đến 200 hải lý Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác,
bảo vệ và quản lý các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa VN
Hình 2 : Sơ đồ mặt cắt khái quát các vùng biển VN
Như vậy, theo quan điểm mới về chủ quyền quốc gia thì VN có chủ quyền trên
một vùng biển khá rộng, khoảng 1 triệu km2 tại biển Đông
c Vùng trời
Vùng biển VN là khoảng không gian bao trùm lên lãnh thổ nước ta, trên đất liền
được xác định bằng các đường biên giới, trên biển là ranh giới phía ngoài của lãnh hải
và không gian của các hải đảo
1.1.2 Ý nghĩa của vị trí địa lý
Vị trí địa lý của một lãnh thổ là yếu tố địa lý có ý nghĩa rất quan trọng chi phối các
đặc điểm tự nhiên của lãnh thổ đó Ý nghĩa tự nhiên của vị trí địa lý nước ta được biểu
hiện cụ thể trênmột số điểm sau:
- Việt Nam nằm hoàn toàn trong vành đai nóng nội chí tuyến ở nửa cầu Bắc và gần
sát với chí tuyến nên có sắc thái chung của thiên nhiên vùng nhiệt đới, tương tư như
Trang 8các nước có cùng vĩ độ (Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Ấn Độ, phần nam của bán đảo Arap, các nước châu Phi nhiệt đới và Trung Mỹ)
- Việt Nam có một bộ phận lớn nằm trên biển Đông, một trong những biển lớn của Thái Bình Dương, là một khu dự trữ nhiệt và ẩm rất dồi dào, có tác động sâu sắc tới thiên nhiên Việt Nam
- Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, là một trong ba hệ thống của khu vực châu Á gió mùa rất điển hình, với hai mùa rõ rệt: mùa đông là thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc, mùa hạ là thời kỳ hoạt động của gió mùa Tây Nam, tạo nên đặc điểm gió mùa cuaủ khí hậu Việt Nam lvà sắc thái nhiệt đới ẩm gió mùa của thiên nhiên Việt Nam
- Việt Nam nằm ở vị trí thuộc các đới cảnh quan điển hình của vành đai nóng như đới rừng nhiệt đới và đới rừng á xích đạo nên rất phong phú về thành phần các loài sinh vật bao gồm cả khu hệ sinh vật Hoa Nam (Trung Quốc), Ấn Độ - Mianma và Mã Lai – Inđônêxia, cả các luồng di cư hàng năm của các loài chim và sinh vật biển từ các vùng xứ lạnh và ôn đới
- VN nằm ở vị trí tiếp giáp nối liền lục địa và đại dương, có quan hệ với vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương và vành đai sinh khoáng Địa Trung Hải nên có tài nguyên khoáng sản khá phong phú và đa dạng, đặc biệt là dầu khí, than đá, thiếc, nhôm, sắt, vàng,
- Vị trí và hình thể nước ta đã tạo nên sự phân hóa đa dạng của tự nhiên giữa miền Bắc với miền Nam, giữa miền núi và đồng bằng, ven biển, hải đảo, hình thành các vùng tự nhiên khác nhau
- Do nằm ở khu vực biển nhiệt đới Tây Thái Bình Dương, một trong những trung tâm phát sinh bão lớn trên thế giới
1.2 Lịch sử phát triển tự nhiên của lãnh thổ Việt Nam
1.2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành lớp vỏ Trái Đất
Lịch sử phát triển của lớp vỏ địa lý của Trái Đất đã được chứng minh với những bằng chứng cụ thể về sự phát triển của giới hữu cơ trong sinh quyển Trong tầng đá cổ nhất có tuổi gần 3 tỷ năm còn giữ được những tàn tích sinh vật đơn giản nhất thuộc loại vi khuẩn cổ sơ chứng minh sự sống đã tồn tại khi đó Từ đại Cổ sinh cho đến nay, lịch sử phát triển của Trái Đất được hia làm ba giai đoạn gắn liền với những vận động lớn của vỏ Trái Đất trên quy mô toàn cầu
- Giai đoạn tạo núi Calêđôni kéo dài khoảng 130 triệu năm, diễn ra trong các kỉ Cambri, cách đây 540 triệu năm, Ocđovic cách đây 500 triệu năm, Silua cách đây 435 triệu năm thuộc đại Cổ sinh
Trang 9- Giai đoạn tạo núi Hecxini kéo dài khoảng 160 triệu năm, diễn ra trong các kỷ Đêvon cách dây 410 triệu năm, Cácbon cách đây 355 triệu năm; cách đây 329 triệu năm, cũng thuộc đại Cổ sinh
- Giai đoạn tạo núi Anpi diễn ra trong suốt đại Trung sinh kéo dài 185 triệu năm, bao gồm các kỷ Triat cách đây 250 triệu năm, kỷ Jura cách đây 203 triệu năm, Krêta cách đây 135 triệu năm và đại Tân sinh kéo dài khoảng 65 triệu năm Giai đoạn tạo núi Anpi kéo dài khoảng 25 triệu năm và hiện vẫn còn tiếp diễn cho đến ngày nay
Trải qua ba giai đoạn trên, bề mặt Trái Đất đã có quá trình phát triển lâu dài và phức tạp theo một chiều hướng chung là biến đổi từ chỗ hầu như toàn bộ là địa máng sang hầu như toàn bộ có tính chất nền
Theo quan điểm động của học thuyết kiến tạo mảng, toàn bộ thạch quyển là bộ khung của các mảng có khả năng cơ động nằm trên một quyển mềm Quyển mềm được xác định nằm ở độ sâu từ 100 đến 400 km Toàn bộ bề mặt Trái Đất được phân thành 7 mảng chính và một số mảng phụ khác Bảy mảng chính là mảng Âu – Á, mảng
Ấn – Úc, mảng Thái Bình Dương, mảng Bắc Mỹ, mảng Nam Mỹ, mảng Châu Phi và mảng Châu Nam Cực Trong quá trình phát triển của bề mặt trái đất các mảng này luôn biến đổi và chuyển dịch Lãnh thổ Việt Nam nằm trên mảng lục địa Á – Âu nên chắc chắn cũng chịu những tác động của mảng lục địa này trong quá trình chuyển dịch Cùng với sự phát triển của địa hình bề mặt Trái Đất, khí hậu Trái Đất cũng có những biến đổi lớn Ở quy mô toàn cầu, cũng đã xác định được có những sự biến đổi khí hậu như sự trở nóng vào kỉ Cambri, trở lạnh vào kỷ Đệ Tứ, khô hạn ở kỷ Triat… Ở quy mô cục bộ tại một số nơi trên Trái Đất đã từng có khí hậu khác xa so với khí hậu hiện nay; ở phía bắc Xibia (Nga) vào kỷ Silua có khí hậu nón ở đây có đá vôi san hô
Ở một số nơi như Ấn Độ, Nam Phi, Ôxtrâylia, Nam Mỹ hiệ nằm trong vùng vĩ độ thấp nhưng vào kỷ Pecmi rất lạnh với sự tồn tại của các lớp phủ băng hà núi Ở Grinlen hiện nay là đảo phủ băng quanh năm nhưng vào kỷ Đệ tam đã có rừng giống như rừng Địa Trung Hải hiện nay
Đầu Đệ tứ là thời kỳ Trái Đất trở lạnh, băng hà phát triển bao phủ tới 43 triệu km2
bề mặt Trái Đất Sự phát triển của sinh quyển cũng đã chứng minh rất rõ ràng cho sự phát triển của lớp vỏ địa lý của Trái Đất với những mốc lớn như:
- Vào thời kỳ Cambri đã xuất hiện các loại thực vật như rêu, mộc tặc, dương xỉ, các thực vật thuộc bộ Quyết trần, các động vật sống dưới nước
- Vào thời kỳ Silua xuất hiện động vật trên cạn đầu tiên và các loại thực vật bào tử,
ám tiêu san hô ở biển
- Vào thời kỳ Đêvon, động vật và thực vật trên cạn phát triển, xuất hiện các loài cá
Trang 10- Vào cuối tjời kỳ Cacbon, các thảm thực vật rừng rất phong phú làm vật liệu khởi đầu cho các mỏ than sau này
- Thời kỳ Pecmi, xuất hiện các loài động vật bò sát, thực vật có hoa hạt trần
- Thời kỳ Triatxuất hiện các loài động vật có vú và chim
- Thời kỳ Jura, phát triển thực vật hạt trần, bò sát khổng lồ
- Thời kỳ Krêta, phát triển thực vật hạt kín, các dải rừng hỗn hợp chiếm ưu thế Bò sát khổng lồ bị tiêu diệt
- Đến đại Tân sinh đã có những biểu hiện rõ rệt của tính địa đới của thảm thực vật
và sự phân dị của nó với sự xuất hiện của các đới đài nguyên, hoang mang, nửa hoang mạc, đài nguyên rừng Động vật có vú xuất hiện
- Đầu kỷ Đệ tứ các loài động thực vật đã rất phong phú như ngày này và đặc biệt
có sự xuất hiện của loài người
1.2.2 Lịch sử hình thành của tự nhiên Việt Nam
1.2.2.1 Giai đoạn tiền Cambri
- Cách nay 2 – 3 tỷ năm, kết thúc cách nay 570 triệu năm
- Qua thời gian dài hàng tỷ năm với nhiều vận động kiến tạo ( nâng lên, hạ xuống ) nối tiếp nhau đã biến vỏ lục địa Đông Nam Á từ vỏ đại dương thành lục địa bao gồm các vận động
+ Nâng lên làm cho đại dương trở thành lục địa
+ Tách giãn biến lục địa thành đại dương
- Kết quả: làm cho vỏ lục địa Đông Nam Á bị xáo trộn, bị macma xâm nhập, trầm tích và biến chất nhiều lần làm cho ngày nay vỏ lục địa Đông Nam Á rất phức tạp Lớp phủ địa chất dày và được sắp xếp cơ bản
+ Cuối cùng là lớp đá Gnai
+ Tầng giữa là đá hoa và diệp thạch kết tinh
+ Trên cùng là đá biến chất yếu và granit
1.2.2.2 Giai đoạn Cổ kiến tạo
Cách nay khoảng 570 triệu năm và kết thúc cách nay 65 triệu năm bao gồm các thời kì nâng và sụp với nhiều pha xâm nhập phun trào Chia ra 4 chu kì
Trang 11bị sụp võng và lắng đọng trầm tích hình thành các loại đá trầm tích như : đá sét ( diệp thạch ), cát kết, đá vôi Riêng Trung và Nam bộ hình thành đứt gẫy Xêcông và rãnh Nam Bộ
+ Miền nam chu kì Hecxini diễn ra xung quanh khối nho Kontum Ơû phía Bắc tạo thành những uốn nếp tiền đề để hình thành nên dãy TS bắc Phía nam uốn nếp hình thành vùng núi cao của cực nam trung bộ trong đó có nhiều đỉnh trên 2000m cấu tạo chủ yếu là đá granit và riôlit
c Chu kì Inđôxini
– Kéo dài 40 triệu năm suốt từ Triat hạ đ61n thượng là chu kì quan trọng nhất vì kết thúc chu kì này địa hình VN cơ bản đã hình thành xong, chấm dứt chế độ địa tào, địa máng ở VN
– Kết quả:
+ Ở miền Bắc: chu kì Indosini không mạnh lắm, chỉ một vài sụt lún nhỏ hình thành một ít trầm tích ờ Sông Hiến và An Châu Song song đó là một ít phun trào Riolit ở Việt Bắc và Đông Bắc
+ Ở Tây Bắc và Bắc Trung Bộ: chu kì Indosini hoạt động mạnh nhất tập trung ở địa máng sông Đà, Cả, hình thành nên lớp trầm tích dày 6000m Trong đó nhiều nhất
Trang 12– Như vậy chu kì Kimêri diễn ra từ bắc vào Nam nhằm hoàn thiện các chu kì trước
đó, đánh dấu sự chấm dứt chế độ địa tào, địa máng và chuyển sang giai đoạn mới : giai đoạn lục địa
1.2.2.3 Giai đoạn Tân kiến tạo
a Giai đoạn bán bình nguyên:
Bắt đầu từ Paleogen đến Oleogen qua 40 triệu năm cách nay 25 triệu năm Chủ yếu là quá trình ngoại lực như: xâm thực, bốc mòn, rửa trôi làm hạ thấp địa hình, biến địa hình cổ kiến tạo thành địa hình bán bình nguyên gợn sóng
b Tân kiến tạo: (TKT)
– Bắt đầu từ Neogen cách nay 26 triệu năm cụ thể là từ Mioxen là một giai đoạn cực kì quan trọng vì địa hình VN và TG ngày nay do Tân Kiến Tạo hình thành
– Qua 40 triệu năm được củng cố vững chắc bởi quá trình bán bình nguyên hoá sang giai đoạn TKT địa hình ít bị biến đổi mà chủ yếu là kế thừa và nâng cao thêm dựa trên cơ sở địa hình cũ là chủ yếu ( Địa hình VN mang tính cổ kiến tạo và TKT vì địa hình được hình thành qua hàng loạt giai đoạn từ cổ kiến tạo đến Mioxen diễn ra quá trình TKT dựa trên nền cổ kiến tạo cũ )
– Vai trò :
+ TKT đã tạo nên tính chất phân bậc của địa hình VN
+ TKT hình thành nên các vùng sụp võng là tiền đề hình thành các đồng bằng châu thổ + TKT đã hồi sinh các đứt gẫy cũ là tiền đề để hình thành các hệ thống sông lớn ở Việt Nam
+ Tạo nên các hiện tượng phun trào bazan hình thành các cao nguyên bazan màu
mỡ ở VN
+ TKT nâng cao địa hình cao lên thành địa hình trẻ ( đỉnh nhọn sườn dốc ), làm trẻ hoá hệ thống sông ngòi, làm cho địa hình bị chia cắt sâu sắc Ta có thể chia TKT thành các chu kì :
* Chu kì 1:
– Bắt đầu từ Mioxen hạ có hai quá trình hoạt động
– Hình thành một số đứt gẫy mới và tái sinh một số đứt gẫy cũ dọc theo sông Hồng, Chảy, Lô cũng như ở Tây Nguyên và Tây Bắc, bồi đắp trầm tích Mioxen – Nâng địa hình cao lên 1500 – 1800m làm cho Phansipăng đạt độ cao 2100 – 2200m và ngày nay người ta thấy nhiều trầm tích Mioxen ở Sapa ( Sapa – Chu kì 1 )
* Chu kì 2:
Bắt đầu từ Mioxen thượng kế thừa các hoạt động của chu kì 1, khơi sâu các đứt gẫy dọc theo sông Hồng, Chảy, Lô và nâng địa hình cao thêm 1000 – 1400m riêng khu vực Đà Lạt nâng lên 1500m ( Đà Lạt – chu kì 2 )
Trang 13* Chu kì 3: (chu kì mạnh nhất )
Bắt đầu từ Plioxen hạ, chủ yếu là nâng địa hình Tây Bắc thêm 1200 – 1500m và hình thành các dãy núi cao trên 3000m ở VN Các nơi khác nâng yếu hơn: Tây Nguyên, Di Linh, Bảo Lộc nâng 600 – 900m ( Phansipăng – Di Linh – Bảo Lộc – chu
kì 3)
* Chu kì 4:
Bắt đầu từ Plioxen thượng ở miền Bắc hình thành cao nguyên Cao Bằng, Lạng Sơn và các đứt gẫy dọc theo các cao nguyên này Đồng bằng Bắc Bộ bị sụp võng và hình thành đồng bằng châu thổ Bắc Bộ Miền Nam bị sức ép mãnh liệt nâng cao địa hình 600 – 900m kèm theo phun trào dung nham bazan ở Tây Nguyên ( Đồng bằng Bắc Bộ – Tây Nguyên – Chu kì 4 )
* Chu kì 5:
Diễn ra vào Pleixtoxen hạ gồm 1 số vận động kiến tạo: sụp lún và phun trào bazan
ở Đông Nam Bộ, Vĩnh Linh, Do Linh, Cam Lộ, đồng bằng Sông Cửu Long bị sụp võng hình thành ĐBSCL ( ĐNB – ĐBSCL – chu kì 5 )
* Chu kì 6:
Bắt đầu từ Pleixtoxen thượng kéo dài đến Holoxen ngày nay gồm các vận động: – Nâng nhẹ địa hình tạo thành các thềm phù sa cổ ( Củ Chi, Hóc Môn, Tây Ninh, Long Thành,…), kèm theo phun trào bazan trẻ ở La Bảo, La Ngà, Định Quán, Quảng Ngãi
– Có hiện tượng kiến tạo ở ngoài khơi hình thành các hố sụp sâu đến 4000m, trung bình là 2000m và 1 núi lửa yếu hoạt động ở ngoài khơi Nha Trang ( 1923 ) hình thành đảo Hòn Tro
– Có hiện tượng biển tiến do băng tan làm một số vùng ven biển biến thành đảo, bán đảo, quần đảo, vịnh biển
→ Qua đó ta thấy chu kì 6 hoạt động chủ yếu là ở ngoài khơi biển Đông, trong đất liền rạt yếu Ngày nay, vần còn đang hoạt động bằng những trận động đất nhẹ ở ngoài khơi, trong lục địa, các suối nước nóng ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Duyên Hải, chứng tỏ các hoạt động của dung nham trong lòng đất vẫn còn ảnh hưởng đến lớp vỏ địa lí VN
Giai đoạn Đặc điểm chính Ảnh hưởng tới địa hình, khoáng sản, sinh vật
Tiền Cambri cách
đây 570 triệu năm
Đại bộ phận nước ta còn là biển
- Các mảng nền cổ tạo thành các điểm tựa cho
sự phát triển lãnh thổ sau này như: Việt Bắc, Sông Mã, KonTum
Trang 14- Sinh vật rất ít và đơn giản Khí quyển ít ô xi
Cổ kiến tạo (cách
đây 65 triệu năm
kéo dài 505 triệu
Tân kiến tạo: (cách
đây 25 triệu năm)
- Giai đoạn ngắn nhưng rất quan trọng
- Vận động tân kiến tạo diễn ra mạnh mẽ
- Nâng cao địa hình; núi, sông trẻ lại
- Các cao nguyên badan, đồng bằng phù sa trẻ hình thành
- Mở rộng biển Đông và tạo các mỏ dầu khí, bôxít, than bùn…
- Sinh vật phát triển phong phú, hoàn thiện ( cây hạt kín, lớp thú)
- Loài người xuất hiện
1.2.3 Sự hình thành của các mỏ khoáng sản ở nước ta
Khoáng sản là một tài nguyên vô cùng quý giá của nước ta Các mỏ khoáng sản có nguồn gốc nội sinh và ngoại sinh ở nước ta luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của tự nhiên, đặc biệt có liên quan mật thiết với lịch sử phát triển địa chất – kiến tạo
1.2.3.1 Các mỏ nội sinh
Các mỏ nội sinh thường được hình thành ở các vùng có đứt gãy sâu hoặc các vùng bị xiết ép mạnh trong các vận động tạo núi có hoạt động macma xâm nhập hoặc phun trào
Ở nước ta, các mỏ nội sinh thường được tập trung tại hai khu vực chính:
- Khu vực núi phía bắc từ thung lũng sông Hồng đến Cao Bằng, Lạng Sơn
Ở khu vực này có nhiều đứt gãy quan trọng như đứt gãy sông Hồng – sông Chảy, đứt gãy Lạng Sơn – Sơn Dương, đứt gãy Cao Bằng – Lạng Sơn – Thái Nguyên
Các mỏ ở đây khá đa dạng những có trữ lượng không lớn lắm như thiếc – vonfram
pử Phia Uăc, mỏ đa kim chì – bạc – kẽm ở chợ Đồn, Ngân Sơn, vàng ở Lao Bảo, Ngân Sơn, Thái Nguyên; sắt ở Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng…
- Khu vực Trung Trung Bộ từ Thừa Thiên Huế đến Quảng Nam
Ở khu vực này có mỏ vàng và đá quý ở nam Thừa Thiên, đồng ở Đức Bố, mica ở Hội An, Kẽm ở Điện Bàn, vàng ở Bồng Miêu
Ngoài ra, ở khu vực Tây Bắc và Bắc Trung Bộ với các đứt gãy Lai Châu – Điện Biên, địa máng sông Đà, đứt gãy sông Mã, sông Cả với các khối macma kèm theo có nhiều triển vọng về các mỏ đa kim, crôm, sắt, vàng, thiếc…
Trang 15Về tuổi nội sinh, các mỏ nội sinh ở Việt Nam phần lớn được hình thành trong các chu kỳ kiến tạo ở đại Trung sinh, điều này cũng xảy ra đối với một số nước ở khu vực Đông Nam Á Ngoài ra cũng có một số mỏ nội sinh được hình thành từ đại Cổ sinh như vàng, chìa, kẽm ở Tuyên Quang, antimon ở Quảng Ninh
1.2.3.2 Các mỏ ngoại sinh
Các mỏ ngoại sinh được hình thành từ trầm tích tại các vùng biển nông, vùng bờ biển hoặc tại các vùng trũng được bồi đắp, lắng đọng bằng các vật liệu từ các vùng núi uốn nếp cổ có chứa quặng cũng như từ sự tích tụ của sinh vật được hình thành trong những điều kiện cổ địa lý nhất định
Các mỏ ngoại dinh ở nước ta phân bố trên diện rất rộng từ vùng núi đến vùng biển,
từ Bắc vào Nam và có độ tuổi từ cổ nhất đến trẻ nhất hiện nay Các mỏ ngoại sinh quan trọng nhất như apatit ở Lào Cai, than ở Quảng Ninh, sắt (Thái Nguyên), thiếc, mangan (Cao Bằng), bôxit (Lâm Đồng) và đặc biệt là dầu khí ở vùng thềm lục địa,
Về tài nguyên khoáng sản ở nước ta có thể rút ra những nhận xét như sau:
- Tài nguyên khoáng sản ở nước ta khá phong phú và đa dạng bao gồm đủ các loại khoáng sản năng lượng, khoáng sản kim loại, phi kim loại
- Tài nguyên khoáng sản ở nước ta phân bố tương đối rộng khắp trong cả nước, nhiều nơi có điều kiện khai thác khá thuận lợi vì gần đường giao thông và cả nguồn cung cấp điện, gần nơi chế biến, tiêu thụ
- Hầu hết các mỏ đã được phát hiện và khai thác đều có quy mô trung bình và nhỏ Nhiều mỏ ở dạng tiềm năng chưa có điều kiện khai thác
- Các mỏ khoáng sản có ý nghĩa kinh tế quan trọng đang được tập trung khai thác
là dầu khí, than, apatit, sắt, thiếc và vật liệu xây dựng
1.3 Bài tập
Xác định vị trí địa lý của lãnh thổ Việt Nam trên nhiều loại bản đồ và Atlat Địa lý thế giới, khu vực Vẽ lược đồ Việt Nam Định vị một số thành phố lớn, một số đảo ven
bờ và quần đảo
Trang 16CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
1 Đặc điểm vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ nước ta?
2 Ý nghĩa của vị trí địa lý nước ta?
3 Lịch sử phát triển của tự nhiên nước ta trải qua mấy giai đoạn? Đặc điểm chính của các giai đoạn đó?
4 Giai đoạn tiền Cambri trong lịch sử hình thành tự nhiên Việt Nam như thế nào?
5 Giai đoạn Cổ kiến tạo trong lịch sử hình thành tự nhiên Việt Nam như thế nào?
6 Giai đoạn tiền Tân kiến tạo trong lịch sử hình thành tự nhiên Việt Nam như thế nào?
7 Sự hình thành khoáng sản và nhận xét về tài nguyên khoáng sản nước ta?
Trang 17CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TỰ NHIÊN VIỆT NAM
2.1 Các nhân tố quy định các đặc điểm cơ bản của Địa lý tự nhiên Việt Nam 2.2 Đặc điểm cơ bản của tự nhiên Việt Nam
2.2.1 Tự nhiên Việt Nam mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa
* Nguyên nhân:
* Biểu hiện:
· Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa được thể hiện:
- Tính chất nhiệt đới: nêu biểu hiện (tổng bức xạ, cân bằng bức xạ, nhiệt độ trung bình năm, tổng số giờ nắng) và nguyên nhân
- Lượng mưa, độ ẩm lớn: nêu biểu hiện (lượng mưa trung bình năm, độ ẩm không khí, cân bằng ẩm) và nguyên nhân
- Gió mùa: nêu nguyên nhân, thời gian, nguồn gốc, hướng gió, tính chất của gió, phạm vi hoạt động, kiểu thời tiết đặc trưng của gió mùa mùa đông, gió mùa mùa hạ
Hướng gió
Tính chất
Phạm vi hoạt động
Kiểu thời tiết đặc trưng
THIÊN NHIÊN NHIỆT ĐỚI ẨM GIÓ MÙA
Vòng tuần hòan vật chất và năng lượng theo nhịp điệu mùa
Khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa
Cảnh quan rừng nhiệt đới ẩm gió mùa trên đất Feralit thuộc vòng đai nhiệt đới
Đất Feralit Hệ ST rừng nhiệt đới ẩm gió
mùa
Vị trí nội chí
tuyến
Biển Đông Địa ô gió mùa Châu
Á
Cấu trúc địa chất kiến tạo Lịch sử phát triển lãnh thổ (Tân kiến tạo)
Địa hình Xâm thực - Bồi tụ
Lượng mưa ẩm cao Gió mùa
Địa hình nhiều đồi núi Đồi núi thấp ưu thế
Trang 18Đông Bắc
Lạnh khô
Miền Bắc (Từ dãy Bạch Mã trở ra Bắc)
- Nửa đầu mùa đông lạnh khô
- Nửa sau mùa đông lạnh ẩm, mưa phùn ở ven biển và đồng bằng Bắc Bộ Bắc Trung Bộ Tín
phong bán cầu Bắc
Đông Bắc
Khô nóng
(Từ Đà Nẵng trở vào Nam)
- Mưa ở ven biển Trung
ẩm Bắc
Dương
Tây Nam
Tây Nam
Nóng
ẩm
Cả nước - Mưa lớn kéo dài ở
Nam Bộ và Tây Nguyên
- Khô ở Duyên hải Nam Trung Bộ
- Mưa tháng IX ở Trung
Bộ (Kết hợp dải hội tụ nhiệt đới)
- Mưa ở Bắc Bộ (gió chuyển hướng thành Đông Nam vào)
- Sự phân mùa khí hậu:
+ Miền Bắc: Mùa đông lạnh, ít mưa, mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều
+ Miền Nam: Mùa khô và mùa mưa rõ rệt
+ Tây Nguyên và ven biển Trung Bộ có sự đối lập về mùa khô và mùa mưa
· Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của các thành phần tự nhiên khác:
Địa hình - Xâm thực mạnh ở miền đồi núi
- Bồi tụ nhanh ở đồng bằng hạ lưu sông
Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa (quá trình phong hóa, xâm thực, vận chuyển mạnh)
Sông ngòi - Mạng lưới sông ngòi dày đặc - Phong hóa mạnh, lượng mưa lớn
Trang 19- Nhiều nước, giàu phù sa
- Chế độ nước theo mùa
- Lượng mưa lớn, vật liệu của xâm thực nhiều
- Gió mùa, mưa theo mùa
- Đất feralit là loại đất chính ở vùng đồi núi
- Nhiệt ẩm cao nên phong hóa mạnh
- Mưa nhiều, rửa trôi mạnh trên đá
mẹ axit ở vùng đồi núi thấp
Sinh vật Đa dạng, phong phú
Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm gió mùa với các thành phần loài nguồn gốc nhiệt đới chiếm ưu thế
Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có đường biển dài, địa hình và đất đa dạng
2.2.2 Tính bán đảo của tự nhiên Việt Nam
* Việt Nam là một quốc gia ven biển:
- Nước ta có Biển Đông rộng lớn bao bọc phía đông và nam phần đất liền với chiều dài
bờ biển là 3260 km Vùng biển rộng 1 triệu km2; tương quan giữa diện tích đất liền với diện tích mặt biển là tỉ lệ 1:3 (thế giới 1:2,43)-nghĩa là 1km2 đất liền tương ứng với 3
* Tính chất biển:
- Vùng biển nước ta là vùng biển nhiệt đới nóng ẩm có tác động sâu sắc đến đặc điểm khí hậu Tác dụng điều hòa khí hậu của biển đựơc thể hiện rõ:
+ Mùa đông nhiệt độ nước biển ấm hơn đất liền Lượng nhiệt và ẩm của biển
đã làm bớt độ lạnh và khô của khí hậu mùa đông của miền Bắc, đặc biệt vào các đợt hoạt động của gió mùa đông bắc
+ Mùa hạ lượng nhiệt và ẩm lớn của biển làm tăng cường lượng mưa, ẩm trên đất liền, nhất là nơi địa hình chắn gió làm dịu bớt cái nóng của mùa hè
+ Biển tạo nên khí hậu mát mẻ, cho nên ở nhiều nơi ở vùng biển nước ta đã trở thành điểm nghỉ mát nổi tiếng
- Biển góp phần tạo nên các dạng địa hình ven biển rất đa dạng và đặc sắc Đó là các dạng địa hình bồi tụ tam giác châu với các bãi triều rộng lớn, các vịnh cửa sông, các
Trang 20bờ biển mài mòn, các vũng vịnh nước sâu, các bãi, rạn san hô…
- Biển tạo nên ở vùng ven biển các hệ sinh thái rất phát triển như hệ sinh thái rừng ngập mặn, HST vùng cửa sông nước lợ, HST đầm phá
- Biển là nơi chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Đó là các loài sinh vật biển, khoáng sản, đặc biệt là dầu khí ở thềm lục địa và các bãi biển tự nhiên
có sức hấp dẫn khách du lịch
2.2.3 Tự nhiên Việt Nam có cảnh quan đồi núi chiếm ưu thế
Vùng núi: 4 vùng: Tây Bắc, Đông Bắc, Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam
Phía Nam dãy Bạch
- Phía Đông và Tây là các dãy núi cao và trung bình Ở giữa thấp hơn gồm các dãy núi, sơn nguyên và cao nguyên đá vôi
- Các dãy núi song song và so
le nhau, cao ở hai đầu và thấp trũng ở giữa
- Kết thúc là dãy Bạch Mã đâm ngang ra biển
- Bất đối xứng rõ rệt giữa 2 sườn Đông – Tây:
các cao nguyên
ba dan bằng phẳng, các bán bình nguyên xen đồi
các khối núi cao
đồ sộ, sườn dốc chênh vênh
- Sông Đà, Mã, Chu
- Dãy Giăng
Sơn, Bạch Mã - Đỉnh Pu xai lai leng (2711m),
- Đỉnh Ngọc Linh
Krinh (2025m), Chư Yang Sin (2405m),
(2287m)…
Trang 21Cầu, Thương,
Lục Nam
(2235m)
- Sông Cả, Gianh, Đại, Bến Hải…
- Sông Cái, Ba, Đồng Nai…
- Vùng bán bình nguyên và đồi trung du: Vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, cao khoảng 100 – 200m: Đông Nam Bộ, rìa đồng bằng sông Hồng…
· Khu vực đồng bằng: ¼ diện tích, gồm 2 loại: đồng bằng châu thổ và đồng bằng ven biển
Đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng duyên hải miền Trung Diện tích Khoảng 15.000km2 Khoảng 40.000km2 Khoảng 15.000km2
Điều kiện
hình thành
Phù sa hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình
Phù sa sông Tiền và sông Hậu
Chủ yếu là phù sa biển
Địa hình
Cao ở rìa phía tây và tây bắc, thấp dần ra biển
Bị chia cắt thành nhiều ô
Có hệ thống đê ven sông
Trong đê có các khu ruộng cao và các ô trũng ngập nước
Thấp và bằng phẳng hơn đồng bằng sông Hồng
Có mạng lưới sông ngòi kênh rạch chằng chịt
Không có đê ngăn lũ:
mùa lũ bị ngập trên diện rộng, mùa cạn bị thủy triều xâm nhập
Có các vùng trũng lớn:
Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên…
Hẹp ngang, bị chia cắt thành nhiều đồng bằng nhỏ
Thường có sự phân chia thành ba dải: Trong
cùng
Giữa Giáp
biển Cao
hơn
Thấp, trũng
Cồn cát, đầm phá
Đất
Trong đê không được bồi đắp nên bạc màu, ngoài đê màu mỡ hơn
Đất phù sa màu mỡ được bồi đắp thường xuyên
2/3 diện tích là đất mặn
và đất phèn
Nghèo dinh dưỡng, nhiều cát, ít phù sa sông
2.2.4 Tự nhiên Việt Nam mang tính chất phân hóa đa dạng, phức tạp
* Thiên nhiên phân hoá theo Bắc – Nam:
– Nguyên nhân: chủ yếu do sự thay đổi của khí hậu theo vĩ độ
Trang 22a/ Phần lãnh thổ phía Bắc: (từ dãy núi Bạch Mã trở ra)
– Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnh
– Nhiệt độ trung bình: 200C-250C, biên độ nhiệt trung bình năm lớn (100C-120C)
Số tháng lạnh dưới 200C có 3 tháng
– Sự phân hoá theo mùa: mùa đông-mùa hạ
– Cảnh quan: Đới rừng nhiệt đới gió mùa Các loài nhiệt đới chiếm ưu thế, ngoài
ra còn có các cây cận nhiệt đới, ôn đới, các loài thú có lông dày
b/ Phần lãnh thổ phía Nam: (từ dãy núi Bạch Mã trở vào)
– Khí hậu cận xích đạo gió mùa, nóng quanh năm
– Nhiệt độ trung bình: >250C, biên độ nhiệt trung bình năm thấp (30C-40C) Không
có tháng nào dưới 200C
– Sự phân hoá theo mùa: mùa mưa-mùa khô
– Cảnh quan: đới rừng cận xích đạo gió mùa Các loài động vật và thực vật thuộc vùng xích đạo và nhiệt đới với nhiều loài
* Thiên nhiên phân hoá theo Đông – Tây:
a.Vùng biển và thềm lục địa:
– Thiên nhiên vùng biển đa dạng đặc sắc và có sự thay đổi theo từng dạng địa hình ven biển, thềm lục địa
b.Vùng đồng bằng ven biển:
Thiên nhiên thay đổi theo từng vùng:
– Đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ mở rộng với các bãi triều thấp phẳng, thiên nhiên trù phú
– Dải đồng bằng ven biển Trung Bộ hẹp ngang, bị chia cắt, bờ biển khúc khuỷu, các cồn cát, đầm phá phổ biến thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai kém màu mỡ, nhưng giàu tiềm năng du lịch và kinh tế biển
c.Vùng đồi núi:
Thiên nhiên rất phức tạp (do tác động của gió mùa và hướng của các dãy núi) Thể hiện sự phân hoá thiên nhiên từ Đông-Tây Bắc Bộ và Đông Trường Sơn và Tây Nguyên
*Thiên nhiên phân hoá theo độ cao:
a Đai nhiệt đới gió mùa
– Miền Bắc: Dưới 600-700m
– Miền Nam từ 900-1000m
– Đặc điểm khí hậu: nhiệt độ cao, mùa hạ nóng, độ ẩm thay đổi tuỳ nơi
– Các lọai đất chính: nhóm đất phù sa (chiếm 24% diện tích cả nước) Nhóm đất Feralit vùng đồi núi thấp (> 60%)
Trang 23– Các hệ sinh thái: rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh, rừng nhiệt đới gió mùa
b Đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi
– Miền Bắc: 600-2600m
– Miền Nam: Từ 900-2600m
– Khí hậu mát mẻ, không có tháng nào trên 250C, mưa nhiều hơn, độ ẩm tăng – Các lọai đất chính: đất feralit có mùn với đặc tính chua, tầng đất mỏng
– Các hệ sinh thái: rừng cận nhiệt đới lá rộng và lá kim
c Đai ôn đới gió mùa trên núi
– Từ 2600m trở lên (chỉ có ở Hoàng Liên Sơn)
– Đặc điểm khí hậu: quanh năm nhiệt độ dưới 150C, mùa đông dưới 50C
– Các lọai đất chính: chủ yếu là đất mùn thô
– Các hệ sinh thái: các loài thực vật ôn đới: Lãnh sam, Đỗ quyên…
* Các miền địa lý tự nhiên:
a Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ
– Phạm vi: Tả ngạn sông Hồng, gồm vùng núi Đông Bắc và đông bằng Bắc Bộ – Đặc điểm chung: Quan hệ với nền Hoa Nam về cấu trúc địa chất kiến tạo Tân kiến tạo nâng yếu Gió mùa Đông Bắc xâm nhập mạnh
– Địa hình: – Hướng vòng cung (4 cánh cung) Hướng nghiêng chung là Tây Bắc – Đông Nam
+ Đồi núi thấp (độ cao trung bình khoảng 600m)
+ Nhiều địa hình đá vôi (caxtơ)
+ Đồng bằng Bắc Bộ mở rộng Bờ biển phẳng, nhiều vịnh, đảo, quần đảo
– Khí hậu: mùa hạ nóng, mưa nhiều, mùa đông lạnh, ít mưa Khí hậu, thời tiết có nhiều biến động Có bão
– Sông ngòi: mạng lưới sông ngòi dày đặc Hướng Tây Bắc – Đông Nam và hướng vòng cung
– Thổ nhưỡng, sinh vật: Đai nhiệt đới chân núi hạ thấp Trong thành phần có thêm các loài cây cận nhiệt (dẻ, re) và động vật Hoa Nam
– Khoáng sản: giàu khoáng sản: than, sắt, thiếc, vonfram, vật liệu xây dựng, bạc-kẽm, bể dầu khí s.Hồng…
chì-b Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ
– Phạm vi: hữu ngạn sông Hồng đến dãy Bạch Mã
– Đặc điểm chung: quan hệ với Vân Nam về cấu trúc địa hình Giai đọan Tân kiến tạo địa hình được nâng mạnh Gió mùa Đông Bắc giảm sút về phía Tây và phía Nam – Địa hình: địa hình núi trung bình và cao chiếm ưu thế, độ dốc cao
+ Hướng Tây Bắc – Đông Nam
Trang 24+ Đồng bằng thu nhỏ, chuyển tiếp từ đồng bằng châu thổ sang đồng bằng ven biển + Nhiều cồn cát, bãi biển, đầm phá
– Khí hậu: gió mùa Đông Bắc suy yếu và biến tính Số tháng lạnh dưới 2 tháng (ở vùng thấp) BTB có gió phơn Tây Nam, bão mạnh, mùa mưa lùi vào tháng VIII, XII, I
– Khoáng sản: có thiếc, sắt, apatit, crôm, titan, vật liệu xây dựng…
c Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ
– Phạm vi: từ dãy Bạch Mã trở vào Nam
– Đặc điểm chung: các khối núi cổ, các bề mặt sơn nguyên bóc mòn, các cao nguyên badan, đồng bằng châu thổ lớn ở Nam Bộ, đồng bằng nhỏ, hẹp ở NTB
– Địa hình: khối núi cổ Kontum Các núi, sơn nguyên, cao nguyên ở cực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Các dãy núi là hướng vòng cung Sườn Đông thì dốc, sườn Tây thoải
+ Đồng bằng ven biển thì thu hẹp, đồng bằng Nam Bộ thì mở rộng
+ Đường bờ biển Nam Trung Bộ nhiều vũng vịnh
– Khí hậu: cận xích đạo Hai mùa mưa, khô rõ Mùa mưa ở Nam Bộ và Tây Nguyên từ tháng V đến tháng X, XI; ở đồng bằng ven biển NTB từ tháng IX đến tháng XII, lũ có 2 cực đại vào tháng IX và tháng VI
– Sông ngòi: 3 hệ thống sông: Các sông ven biển hướng Tây-Đông ngắn, dốc (trừ sông Ba) Ngoài ra còn có hệ thống sông Cửu Long và hệ thống sông Đồng Nai
– Thổ nhưỡng, sinh vật: thực vật nhiệt đới, xích đạo chiếm ưu thế Nhiều rừng, nhiều thú lớn Rừng ngập mặn ven biển rất đặc trưng
– Khoáng sản: dầu khí có trữ lượng lớn ở thềm lục địa Tây Nguyên giàu bô- xít
c Những thuận lợi và bất lợi trong việc khai thác tự nhiên do đặc điểm cơ bản của
tự nhiên Việt Nam mang lại
Trang 25CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2
1 Phân tích những đặc điểm cơ bản của tự nhiên Việt Nam? Mối quan hệ giữa các đặc điểm?
2 Chứng minh tính chất gió mùa của tự nhiên nước ta?
3 Phân tích sự phân hóa của tự nhiên Việt Nam?
4 Những vấn đề khi khai thác các đặc điểm cơ bản của tự nhiên Việt Nam?
Trang 26CHƯƠNG 3 ĐỊA HÌNH VIỆT NAM
3.1 Đặc điểm chung của địa hình Việt Nam
3.1.1 Đồi núi là bộ phận quan trọng nhất trong cấu trúc địa hình
- Đồi núi tạo thành biên giới tự nhiên bao quanh phía bắc và phía tây Tổ quốc giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào và Campuchia
3.1.1.2 Các hải đảo
- Đồi núi nhấp nhô trên mặt biển tạo thành các hải đảo, quần đảo ở Quảng Ninh, Hải Phòng, các đảo ngoài khơi Trung bộ như Cồn Cỏ (Quảng Trị), Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), Phú Quốc…
- Đồi núi còn lan ngầm dưới đáy biển, tạo ra những thân ngầm làm chỗ dựa cho san hô phát triển hình thành các đảo san hô như Hoàng Sa, Trường Sa
3.1.2 Hệ núi Việt Nam già, được tân kiến tạo nâng lên làm trẻ lại
3.1.2.1 Tính chất kế thừa và thống nhất tân kiến tạo với cổ kiến tạo
- Giai đoạn cổ kiến tạo đã tạo nền móng các đồi núi sau đó hoạt động ngoại lực đã làm cho địa hình đồi núi cổ bị san bằng thành dạng bán bình nguyên
- Đến thời kì Miôxen của đại Tân sinh cách đây hơn 23 triệu năm những vận động mới – tân kiến tạo – đã nâng cao những vùng núi cũ, nền móng cũ Sông suối, nước chảy trên mặt đã cắt xẻ sâu và bán bình nguyên cổ để tạo nên những khe sâu, những sườn dốc đứng hiện nay
- Núi ở Việt Nam không phải núi uốn nếp trẻ của vận động tạo núi Himalaya mà chủ yếu là kết quả của sự cắt xẻ bề mặt bán bình nguyên cổ theo nhiều bậc của ngoại lực
3.1.2.2 Hoạt động xâm thực bồi tụ là nguyên nhân trực tiếp hình thành địa hình hiện tại
- Tác dụng của dòng nước, của gió, của nhiệt độ… thường xuyên, bền bỉ đã làm biến đổi bề mặt địa hình cổ
- Khi các lớp đá trầm tích trẻ không phủ hết cấu trúc cũ cũng làm lộ ra các địa hình già như các núi sót ở các đồng bằng tạo nên sự tương phản trên địa hình: núi nổi cao
Trang 27giữa đồng bằng Đây là điểm du lịch hấp dẫn, những trạm thông tin viễn thông, truyền hình thuận lợi
Kiến trúc cổ chi phối hướng địa hình hiện đại
- Quy luật này thể hiện qua hướng vòng cung của các nếp núi bao quanh khối núi vòm sông Chảy ở khu vực Đông Bắc và Việt Bắc, hướng tây bắc – đồng nam ở vùng núi Tây Bắc, Trường Sơn Bắc do các nhân đá kết tinh cổ song song và kéo dài theo hướng tây bắc – đông nam và hướng vòng cung của dãy núi Động Ngài, Lang Biang bao quan khối nền cổ Inđôxini
- Hướng các dòng sông lớn trùng với hướng của các đứt gãy cổ kiến tạo quyết định như sông Hồng, sông Chảy, sông Mã…
3.1.2.3 Giữa địa hình và nham thạch cấu tạo nên địa hình có mối quan hệ chặt chẽ
Mỗi loại đá có một hình dạng đặc trưng, vì thế nhìn địa hình có thể biết nham thạch:
- Địa hình mềm mại, lượn sóng, thường là của đá phiến, đá cát kết, sét kết Nhân dân quen gọi là núi kết
- Địa hình Kaxtơ hiểm trở, vách dựng đứng nhiều hang động ngầm đặc trưng cho cấu tạo đá vôi
- Địa hình cao, đỉnh nhọn là các đá phun trào riôlit như Tam Đảo, Mẫu Sơn
- Địa hình cao nguyên rộng lớn, đất đá sẫm là đá badan phun trào
- Địa hình thấp bằng phẳng là do nham thạch phù sa bở rời
3.1.3 Địa hình Việt Nam tạo nên nhiều bậc, nhiều bề mặt có độ cao khác nhau
3.1.3.1 Các bậc địa hình núi cao trên 2000 m
- Ngoài các khu vực đỉnh núi nhô cao đơn lẻ với độ cao trên 2400 m cho đến trên 3000m, ở các vùng núi cao có thể quan sát thấy có một bậc địa hình ở độ cao
2100 m đến độ cao 2200m vốn nằm chung trên một mặt bằng bán bình nguyên cổ
có tuổi Palêôgen sau bị chia cắt mà thành các đỉnh núi đơn độc hoặc các dải núi kéo dài Điển hình nhất của địa hình này là vùng núi cao Hoàng Liên Sơn
Trang 283.1.3.3 Bậc địa hình có độ cao dưới 1000m
- Bậc địa hình có độ cao từ 600-900m
Đây là bậc địa hình có độ cao trung bình tiêu biểu cho vùng núi thấp tập trung nhiều ở vùng núi phía bắc và các cao nguyên KonTum, PlâyKu, Đắk Lắk ở Tây Nguyên
- Bậc địa hình từ 200-600m
Bậc địa hình này bao gồm các vùng đồi núi thấp đã bị chia cắt thành các núi, đồi
và các dãy đồi có diện tích lớn nhất ở nước ta và phân bố rộng khắp ở trung du Bắc
Bộ, các vùng đồi núi thấp chân núi ở Trung Bộ và Nam Tây Nguyên đến đồng bằng Nam Bộ
- Bậc địa hình từ 25-100m
Bậc địa hình này là các vùng gò đồi phần lớn là các bậc thềm phù sa có tuổi Đệ Tứ
ở đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ
- Bậc địa hình thấp dưới 15m: Bậc địa hình thấp ở các vùng đồng bằng và ven biển
có độ cao dưới 15m là các bậc thềm sông và thềm biển hiện đại
=> Các bậc địa hình có độ cao trên 1000m đã tác động đến các yếu tố khí hậu, các thành phần tự nhiên khác và thể hiện một cách rõ ràng sự phân hóa của tự nhiên thành các đai cao
Các bậc địa hình thấp dưới 600m ít có sự biến động lớn của các thành phần tự nhiên, ở các vùng đồng bằng thấp và bằng phẳng có sự tương đối đồng nhất của các thành phần tự nhiên
3.1.4 Địa hình Việt Nam thể hiện tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa
- Sự hình thành địa hình Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của khí hậu nội chí tuyến gió mùa ẩm
- Nhân tố ngoại lực chạm trổ nên địa hình là nước chảy, hệ quả của lượng mưa lớn tập trung theo mùa, sức xâm thực mãnh liệt làm phức tạp hóa các vùng phân thủy qua hiện tượng cướp dòng, khiến cho sông ngòi nhiều nơi có những khúc ngoặt thẳng góc, bất ngờ
- Lớp vỏ phong hóa dày: bị mưa nắng công phá, bề mặt địa hình bị thay đổi tạo nên lớp vỏ phong hóa dày, có nơi tới 10-15m Trên cùng của lớp vỏ phong hóa là tầng đất mềm và rừng cây che phủ Thực bì rừng bảo vệ cho địa hình chống lại những quá trình mang tính chất tai họa Lớp vỏ phong hóa có đặc tính thấm nước, vụn bở, dễ dàng bị phá hủy, xói mòn và rửa trôi, nhất là những nơi có địa hình dốc, lớp phủ thực vật và thổ nhưỡng bị tàn phá
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa còn đẩy nhanh tốc độ hòa tan và phá hủy đá vôi, dẫn đến sự kaxtơ hóa triệt để khối đá vôi chỉ còn những mảnh sót lại nằm rải rác trên nền
đá không hòa tan được lộ ra Các khối núi đá vôi còn tương đối lớn cũng bị đục khoét
Trang 29ngầm bên trong, với rất nhiều hang động đẹp như động Phong Nha…
3.2 Đặc điểm các kiểu địa hình ở Việt Nam
Căn cứ vào đặc điểm hình thái và trắc lượng địa hình có thể phân biệt địa hình nước
ta thành các kiểu hình thánh địa hình chính như núi, cao nguyên, đồi và đồng bằng
3.2.1 Địa hình đồi núi
Kiểu địa hình núi của nước ta bao gồm các miền núi thấp có độ cao dưới 1000m, miền núi trung bình có độ cao 1000 – 2000m, miền núi cao có độ cao trên 2000m Kiểu địa hình núi khá phổ biến và tiêu biểu cho địa hình nước ta
- Kiểu địa hình núi cao trên 2000m phần lớn nằm sâu trong đất liền và vùng biên giới, đặc biệt là biên giới phía bắc từ Hà Giang đến Lai Châu, biên giới phía tây thuộc hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh Tiêu biểu cho kiểu địa hình núi cao là dãy Hoàng Liên Sơn, là dãy núi cao nhất nước ta có đỉnh Phansipăng cao 3143m cao nhất bán đảo Đông Dương Ở vùng Trường Sơn Nam cũng có một số đỉnh núi cao trên 2000m như Ngọc Linh, Ngọc Kring, Vọng Phu, Chư Yang Sin
- Kiểu địa hình núi trung bình từ 1000 – 2000m chiếm khoảng 14% diện tích lãnh thổ nhưng cũng phân bố khá rộng, từ biên giới phía bắc cho đến phía nam của dãy Trường Sơn
- Kiểu địa hình núi thấp dưới 1000m thường gặp ở vùng liền kề với vùng núi trung bình và vùng đồi thành một dải liên tục với các bậc địa hình cao thấp khác nhau Điển hình của kiểu địa hình núi thấp ở nước ta là vùng Đông Bắc, khu vực Hòa Bình – Thanh Hóa – Nghệ An
3.2.2 Địa hình cao nguyên
Cao nguyên là kiểu địa hình có độ cao khá lớn, bề mặt tương đối bằng phẳng, lượn sóng hoặc có các dãy đồi ở trên các miền núi và thường ngăn cách với các vùng đất thấp bởi các vách bậc địa hình Ở nước ta thường gặp 3 kiểu cao nguyên chính là cao nguyên đá vôi, cao nguyên ba dan và cao nguyên hỗn hợp các loại đá
- Kiểu địa hình cao nguyên đá vôi rất điển hình ở vùng núi phía Bắc và Tây Bắc nước ta Các cao nguyên này thường có độ cao khá lớn, bề mặt bị chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối thưa thớt và hiếm nước Một số cao nguyên đá vôi tiêu biểu như Đồng Văn (Hà Giang), Bắc Hà (Lào Cai) Ở Tây Bắc còn một dải các cao nguyên đá vôi có
độ cao dưới 1000m là Tả Phình, Sín Chải, Sơn La, Mộc Châu
- Kiểu địa hình cao nguyên ba dan có hình dạng mềm mại, bằng phẳng hơn cao nguyên đá vôi, trên bề mặt còn di tích của các hoạt động núi lửa như các miệng núi lửa, các hố tròn, được bao phủ bởi đất badan Các cao nguyên ba dan của nước ta tập trung ở Tây Nguyên
3.2.3 Địa hình đồi
Trang 30Kiểu địa hình đồi ở nước ta thường gặp ở vùng giáp ranh có tính chất chuyển tiếp
từ địa hình miền núi xuống đồng bằng và thường có độ cao trung bình từ 50 – 85m Địa hình đồi thuộc kiểu địa hình bóc mòn do tác động của ngoại lực đã phá hủy, xâm thực đá gốc hoặc thềm sông, thềm biển
Kiểu địa hình đồi ở nước ta phổ biến ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, thuộc trung du Bắc Bộ, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh ở Đông Nam Bộ
Có 2 kiểu đồng bằng, đó là đồng bằng châu thổ hình thành ở hạ lưu sông lớn, chủ yếu
do phù sa sông bồi đắp Tiêu biểu là đồng bằng châu thổ sông Hồng và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long Kiểu địa hình dải đồng bằng ven biển miền Trung có đặc điểm chung là nhỏ hẹp và dốc hơn nhiều so với đồng bằng châu thổ, ở một số nơi ven biển còn xuất hiện các cồn cát
3.2.5 Địa hình đặc biệt
- Kiểu địa hình cacxtơ là kiểu địa hình ở vùng núi đá vôi được hình thành do quá trình xâm thực chủ yếu của nước đối trên các đá dễ hòa tan Địa hình núi đá vôi ở nước ta có diện tích rất rộng lớn, tập trung chủ yếu ở miền Bắc, từ biên giới phía bắc tới Quảng Bình, ở miền Nam chỉ có một bộ phận nhỏ ở Hà Tiên (Kiên Giang) Địa hình cacxtơ ở Việt Nam có thể chia thành các kiểu địa hình cacxtơ ngập nước, cacxtơ nằm xen kẽ ở vùng đồng bằng, địa hình cacxtơ tập trung Địa hình cacxtơ thường tạo nên những phong cảnh đẹp, đặc biệt là các hang động và sông suối ngầm
- Kiểu địa hình bờ biển ở nước ta rất đa dạng, bao gồm 3 kiểu chính là kiểu địa hình mài mòn, kiểu địa hình bồi tụ, kiểu địa hình mài mòn – bồi tụ
- Kiểu địa hình đảo bao gồm kiểu địa hình đảo núi đất, núi đá ven bờ; kiểu địa hình đảo san hô
3.3 Đặc điểm các khu vực địa hình ở Việt Nam
3.3.1 Địa hình đồi núi
Trang 31dãy núi là hướng vòng cung của các thung lũng sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam Các đỉnh cao trên 2000m nằm trên thượng nguồn sông Chảy như Tây Côn Lĩnh, Kiều Liêu Ti, Pu Tha Ca,…Giáp biên giới Việt Trung là các khối núi đá vôi đồ
sộ ở Hà Giang, Cao Bằng, cao trên 1000m Ở trung tâm là vùng đồi núi thấp có độ cao trung bình 500 – 600m
- Vùng núi Tây Bắc nằm giữa sông Hồng và sông Cả, là vùng núi cao nhất nước ta với 3 dải địa hình cùng chạy theo hướng tây bắc – đông nam Phía đông là dãy Hoàng Liên Sơn cao và đồ sộ nhất nước ta, có đỉnh Phanxipăng (3143) Phía tây là địa hình núi trung bình của các dãy núi chạy dọc biên giới Việt Lào như Pu Đen Đinh, Pu Sam Sao Ở giữa là các dãy núi, sơn nguyên và cao nguyên đá vôi từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Mộc Châu (Sơn La) tiếp nối là vùng núi đá vôi Ninh Bình, Thanh Hóa Xen giữa các dãy núi là các thung lũng sông cùng hướng như sông Đà, sông Mã, sông Chu
- Vùng núi Trường Sơn Bắc giới hạn từ phía nam sông Cả đến dãy Bạch Mã, bao gồm các dãy núi song song và so le nhau theo hướng tây bắc – đông nam Đây là vùng đồi núi thấp, hẹp ngang, cao trung bình 1000m, có một vài đỉnh núi cao trên 2000m như Pu Xai Lai Leng, Rào Cỏ Dãy Trường Sơn Bắc được nâng lên với hai sườn không đối xứng, sườn tây rộng và thoải, còn sườn phía đông dốc, núi lan ra sát biển Phía bắc là vùng núi tây Nghệ An, phía nam là vùng núi tây Thừa Thiên, ở giữa là khối núi đá vôi Quảng Bình và vùng đồi thấp Quảng Trị Cuối cùng là dãy Bạch Mã đâm ngang ra biển, đây cũng là ranh giới với vùng Trường Sơn Nam
- Vùng núi Trường Sơn Nam gồm các khối núi và cao nguyên Khối núi Kon Tum
và khối núi Cực Nam Trung Bộ được nâng cao đồ sộ Địa hình núi với những đỉnh cao trên 2000m nghiêng dần về phía đông Tương phản với địa hình núi ở phía đông là các cao nguyên ba dan Plâycu, Đăk Lăk, Mơ Nông, Di Linh tương đối bằng phẳng có độ cao 500 – 800 – 1000m và các bán bình nguyên xen đồi ở phía tây tạo nên sự bất đối xứng rõ rệt giữa hai sườn đông, tây của vùng Trường Sơn Nam
3.3.1.2 Địa hình bán bình nguyên và đồi trung du
Nằm chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng là các bề mặt bán bình nguyên hoặc các đồi trung du Bán bình nguyên thể hiện rõ ở Đông Nam Bộ với bậc thềm phù sa cổ
ở độ cao khoảng 100m và bề mặt phủ ba dan ở độ cao khoảng 200m Địa hình đồi trung du phần nhiều là các thềm phù sa cổ bị chia cắt do tác động của dòng chảy Dải đồi trung du rộng nhất nằm ở rìa đồng bằng sông Hồng và thu hẹp ở rìa đồng bằng ven biển miền Trung
3.3.2 Địa hình đồng bằng
Đồng bằng nước ta chiếm khoảng 1/4 diện tích lãnh thổ, được chia thành 2 loại: đồng bằng châu thổ và đồng bằng ven biển
Trang 323.3.2.1 Đồng bằng châu thổ
Đồng bằng châu thổ sông gồm đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Hai đồng bằng này đều được thành tạo và phát triển do phù sa sông bồi tụ dần trên vịnh biển nông, thềm lục địa mở rộng
- Đồng bằng sông Hồng là đồng bằng bồi tụ phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, đã được con người khai thác từ lâu đời và bị biến đổi mạnh mẽ Đồng bằng có diện tích rộng khoảng 15000km2, có hình tam giác châu đỉnh là Việt Trì, đáy
là vịnh Bắc Bộ Bề mặt đồng bằng bị chia cắt thành nhiều ô nhỏ do hệ thống đê điều Vùng trong đê không được bồi tụ phù sa hàng năm, gồm các khu ruộng bậc cao bạc màu và các ô trũng ngập nước Vùng ngoài đê được bồi đắp phù sa hàng năm
- Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng châu thổ được bồi tụ bởi phù sa của sông Tiền và sông Hậu Diện tích đồng bằng khoảng 40000km2, địa hình thấp và bằng phẳng hơn so với đồng bằng sông Hồng Trên bề mặt đồng bằng không có đê nhưng có
hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt Về mùa lũ nước ngập trên diện rộng, còn mùa cạn nước triều xâm nhập mạnh làm cho gần 2/3 diện tích đồng bằng là đất phèn, đất mặn
3.3.2.2 Đồng bằng ven biển
Dải đồng bằng ven biển miền Trung có tổng diện tích khoảng 15000km2, biển đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành dải đồng bằng này nên đất ở đây thường nghèo, nhiều cát, ít phù sa sông Đồng bằng phần nhiều hẹp ngang, bị chia cắt thành nhiều đồng bằng nhỏ như Thanh – Nghệ - Tĩnh, Bình – Trị - Thiên, Nam – Ngãi – Định…Chỉ một
số đồng bằng được mở rộng ở cửa sông lớn là Thanh Hóa của hệ thống sông Mã – Chu, Nghệ An của sông Cả, Quảng Nam của sông Thu Bồn, Tuy Hòa của sông Đà Rằng Ở nhiều đồng bằng thường có sự phân chia thành 3 dải: giáp biển là cồn cát, đầm phá, giữa
là vùng thấp trũng, dải trong cùng đã được bồi tụ thành đồng bằng
3.3.3 Địa hình bờ biển và thềm lục địa
3.3.3.1 Địa hình tích tụ
Các bề mặt địa hình trên đáy biển thềm lục địa là kết quả quá trình tích tụ, quá trình mài mòn, bóc mòn và xâm thực phong hóa Các quá trình đó diễn ra nối tiếp nhau, kế thừa nhau và cũng có thể phá hủy xóa nhòa hoặc làm mờ nhạt quá trình trước
đó Bởi lẽ cứ mỗi pha biển thoái, trên đáy biển sẽ để lại nhiều dấu ấn, mài mòn do sóng ở các đới đường bờ cổ nhưng lại xuất hiện một diện tích lớn nổi cao trên mặt nước chịu quá trình xâm thực và tích tụ trầm tích aluvi và delta Vì vậy ở đâu đó bị phong hóa thấm đọng loang lổ thì nơi khác đang phát triển các hệ thống sông và lạch triều vươn dài ra theo đường bờ cổ Trên đáy biển nước ta từ 0m đến 50m nước có thể bắt gặp nhiều diện lộ rộng lớn tầng sét loang lổ Pleistocen muộn hoặc chỉ bị phủ trầm
Trang 33tích Holocen mỏng từ 0,5 - 1,5m Đó là bằng chứng của một thời kỳ biển thoái và khí hậu khô - nóng Các pha biển tiến cũng để lại dấu ấn đường bờ cổ trong thời gian dừng tương đối song không phải là đường bờ mài mòn mà là “đường bờ tích tụ” Trên đó đặc trưng bởi các thể trầm tích đặc biệt: đê cát ven bờ, sét lagun, cát - sạn bãi triều, đặc biệt là cát sạn laterit tha sinh Ngoài các thành tạo đường bờ cổ biển tiến trên thềm lục địa được chồng phủ nhiều thế hệ trầm tích biển tiến chủ yếu là tướng bột sét, sét vôi biển nông vũng vịnh và châu thổ ngập nước (tiền châu thổ và sườn châu thổ)
Địa hình tiền châu thổ: nằm trong đới tích tụ bị ảnh hưởng chủ yếu của sóng hiện đại thành phần bao gồm là cát, bột và một phần sét, tiêu biểu là trước các sông chính như sông Hồng, sông Cửu Long v.v
Chiều rộng của các kiểu địa hình này thay đổi từ độ sâu 0m đến 20m nước
Địa hình thường nghiêng và nhấp nhô gợn sóng tiêu biểu là vùng tiền châu thổ sông Cửu Long do sự có mặt của các hệ thống sóng cát ngầm, tàn dư cồn cát cửa sông
cổ và các val cát được hình thành do tái trầm tích trong quá trình biển tiến
Do có nguồn phù sa cung cấp dồi dào nên cả sông Hồng và sông Cửu Long có xu hướng nâng cao dần đáy biển trong quá trình biển lùi, thậm chí cả trong pha biển tiến hiện đại
Sông có một vai trò quyết định đến quá trình hình thành và phát triển của các kiểu địa hình đồng bằng delta ngầm này, tuy nhiên sóng biển và thủy triều là tác nhân luôn luôn làm thay đổi hình thái bề mặt của chúng
Địa hình vũng vịnh hiện đại: chịu tác động của thủy triều, cấu tạo chủ yếu là cát nhỏ, bùn sét, phát triển trên các vùng sụt lún ven bờ Thực chất đây là kiểu địa hình tích tụ dạng vũng vịnh phân bố ven bờ ở các khu vực như vịnh Hạ Long và các vịnh nhỏ ven bờ biển Miền Trung Trầm tích đáy vịnh là kế thừa của hai quá trình: biển tiến Flandrian, biển lùi Holocen muộn và biển tiến hiện đại
Địa hình tích tụ dạng delta thủy triều: hiện đại nằm giữa đảo Hải Nam Lôi Châu thuộc khu vực phía tây eo biển Quỳnh Châu (Trung Quốc)
Eo biển Quỳnh Châu nằm giữa đảo Hải Nam và bán đảo Lôi Châu nên eo biển có dạng như một kênh lớn, dài khoảng 80km rộng 10 - 15km ăn thông giữa vịnh Bắc Bộ
và Biển Đông Trung Quốc Sự chênh lệch về biên độ thủy triều giữa vịnh Bắc Bộ (3,0
- 3,5m) và Biển Đông Trung Quốc (phía đông bán đảo Lôi Châu h = 4,5 - 5,0m) đã biến eo biển thành một kênh dẫn với tốc độ dòng chảy rất mạnh (7 - 10 hải lý/giờ) Khi nước đổ vào vịnh Bắc Bộ tốc độ giảm, năng lượng triều được giải phóng dẫn đến quá trình tích tụ trước eo biển một nón quạt ngầm rất độc đáo
Thành phần trầm tích lắng đọng ở nón quạt này chủ yếu là cát pha sạn do chế độ dòng triều lớn tạo nên
Trang 34Địa hình tích tụ dạng vũng vịnh ở độ sâu 30 - 50m: thành phần trầm tích chủ yếu là cát mịn, bột sét lấp đầy trên các cấu trúc kế thừa bồn trũng Kainozoi Trên bản đồ kiểu địa hình này phân bố chủ yếu là ở bồn trũng Cô Tô - Lôi Châu và bồn trũng Cửu Long, chúng có hình dạng ô van nằm kẹp giữa các khối nhô, tàn dư của tướng vũng vịnh Địa hình trũng Cô Tô - Lôi Châu bị kẹp một bên là khối nâng Hải Nam, một bên là khối nâng Bạch Long Vĩ, còn đồng bằng trũng Cửu Long thì khống chế bởi dải nâng địa lũy Côn Sơn ở phía đông và đông nam, và khối nâng Cù Lao Thu ở phía đông bắc Địa hình nghiêng thuộc tướng sườn châu thổ (Prodelta) cổ: bao gồm chủ yếu là thành phần hạt mịn, phân bố ở độ sâu 50 - 60m tiêu biểu là prodelta sông Hồng cổ chuyển xuống vịnh Bắc Bộ
Bề mặt địa hình bị phân cắt bởi các hệ thống lòng sông từ sông Hồng và sông Thái Bình cổ hoạt động trong giai đoạn đường bờ còn nằm ở độ sâu 50 - 60m tương ứng với Pleistocen muộn
Chế độ địa động lực không ổn định nên làm cho hình thái địa hình trở nên phức tạp và đa dạng
Địa hình nghiêng tích tụ vịnh Diễn Châu: phân bố tương đối rộng từ 20 - 50m nước
Bề mặt đồng bằng khá bằng phẳng và đồng nhất Nguồn vật liệu chủ yếu là cát bột sét chứa phong phú vật liệu vỏ sò tích tụ trong giai đoạn đầu biển tiến Flandrian Trầm tích sạn, cát tướng bãi triều cổ phân bố ở độ sâu 25 - 30m nước Đó là đường bờ Pleistocen muộn - Holocen sớm còn được bảo tồn khá rõ nét trên bề mặt đồng bằng Quá trình nâng lên ở cánh phía tây của bồn trũng sông Hồng làm cho bề mặt đồng bằng có độ nghiêng thoải ở phía trong và độ dốc tăng lên ở phía ngoài trước khi chuyển xuống vịnh Bắc Bộ
Hoạt động của hệ thống đứt gãy sông Hồng, sông Mã, sông Cả và hệ thống đứt gãy đông bắc - tây nam đã làm cho móng của đồng bằng bị phân dị thành các khối không đều, cánh tây nam bị nâng lên khiến cho bề dày trầm tích Kainozoi ở đây bị giảm đáng kể
Địa hình dạng lòng máng, tích tụ trong đới trung tâm các bồn trũng
Kainozoi: Kiểu địa hình này chiếm phần lớn diện tích của vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái
Lan (đông bắc Malaysia) ở độ sâu từ 60 - 80m
Quá trình sụt chìm lâu dài và quá trình tách giãn của đáy biển tạo cho địa hình đồng bằng mở rộng ở phần trung tâm theo cơ chế lấp đầy bồn trũng kéo tách và trượt bằng Địa hình nghiêng thoải, dạng dải hẹp sụt bậc: phát triển trên cấu trúc sụt bậc của thềm lục địa miền Trung Việt Nam
Đây là dải địa hình hẹp ven biển từ đảo Lý Sơn đến Cù Lao Thu, rộng khoảng từ 5
- 30km, ở độ sâu từ 25 - 100m nước Vật liệu tích tụ có thành phần hạt thô, sạn cát và
Trang 35vụn sinh vật chiếm tỷ lệ rất đáng kể Dấu ấn của các đường bờ cổ phân bố ở những địa hình có độ dốc lớn, hình thái nhấp nhô Điển hình là ở Quy Nhơn - Khánh Hòa ở độ sâu tới 100m nước có một hệ thống đường bờ cổ Pleistocen muộn Quá trình sụt bậc của móng nền cổ KonTum là yếu tố quyết định hình thái của đồng bằng Phía Bắc của đồng bằng tiếp giáp với khối nâng Lý Sơn, phía Nam tiếp giáp với khối nâng Cù Lao Thu tạo nên sự khác biệt cả bề mặt đáy biển và các thành tạo trầm tích
Giới hạn ngoài của dải đồng bằng bị đứt gãy kinh tuyến 109oE và đứt gãy tây bắc - đông nam (đới đứt gãy sông Hồng) khống chế Quá trình hình thành đồng bằng tích tụ này có liên quan đến đợt biển thoái và biển tiến từ đầu Pleistocen đến nay Các thành tạo hạt thô gồm cát và các mảnh sinh vật tạo thành các gò sót, các val cát kéo dài phân
bố ở độ sâu 100 - 120m là bằng chứng của một đới đường bờ cổ trên thềm lục địa miền Trung Hệ thống các sông ngầm kéo dài từ lục địa ra phân cắt bề mặt đáy biển đồng thời chúng đóng vai trò các kênh dẫn các nguồn vật liệu từ đới sóng phá hủy xuống sườn lục địa
3.3.3.2 Địa hình mài mòn
Địa hình mài mòn của các thành tạo núi lửa: Các thành tạo núi lửa dưới dạng đồi,
núi đơn lẻ tập trung từ vùng ven bờ như đảo Lý Sơn, cù lao Thu, Hòn Hải, Katwit đến các núi lửa ngầm ở độ sâu trên 150m nước các núi lửa này phun dưới biển theo nhiều giai đoạn khác nhau từ Neogen đến hiện đại Chúng thường phân bố ở khu vực giao nhau của các hệ thống đứt gãy và các cấu trúc chạc ba kiến tạo Ở đảo Lý Sơn bazan
đã xuyên qua cát kết Neogen tạo nên cấu trúc vòm ở dưới và phía trên thì nổi cao tạo thành đảo Hiện tại chúng bị mài mòn tạo ra bậc thềm mài mòn bao quanh đảo Nhiều đồi bazan chưa vươn tới mặt nước như khu vực Katwit, Hòn Hải, Hòn Tro đã bị sóng mài mòn phần đỉnh và phá hủy các sườn tạo ra các vách dốc liên quan đến đường bờ
cổ trong các pha biển thoái và biển tiến
Địa hình mài mòn do sóng: thường tạo nên các bậc thềm mài mòn phân bố ở các
độ cao và độ sâu khác nhau Hình thái địa hình mài mòn thường bằng phẳng hoặc nghiên thoải về phía biển từ 0,5 – 10 Ví dụ thềm cát đỏ ở sân bay Phan Thiết cao 80m, thềm mài mòn san hô ở đảo Hòn Chút – Khánh Hòa sâu 2m, thềm mài mòn trên
đá granit ở Côn Đảo sâu 1m Các đường bờ cổ có độ sâu khác nhau trên thềm lục địa Việt Nam có những nơi thấy rõ bậc địa hình bằng phẳng chạy khuôn theo đường đẳng sâu: 30m, 60m, 100m, 200m, 400m, 700m, 1500m, 2000m Những vị trí như vậy chính là thềm biển mài mòn được thành tạo khi biển thoái, mực nước biển dừng khá lâu tạo điều kiện cho sóng hoạt động mài mòn
3.4 Bài tập
Trang 36Xác định vị trí địa lý, hướng, đặc điểm của các khu vực địa hình, dạng địa hình trên bản đồ và Átlat; phân tích lát cắt địa hình
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 3
1 Phân tích những đặc điểm cơ bản của địa hình Việt Nam?
2 Phân tích mối liên hệ giữa cấu trúc địa chất và địa hình Việt Nam?
3 Giải thích nguyên nhân địa hình Việt Nam mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa?
4 Đặc điểm địa hình có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển KT-XH?