1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập học kì hình sự do có mâu thuẫn trong kinh doanh, p đã nhờ q đến đốt xưởng của n vào ban đêm hậu quả là toàn bộ nhà xưởng và máy móc của n đã

9 217 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tội danh của P và Q trong vụ việc nêu trên là tội hủy hoại tài sản của người khác được quy định tại điều 143 BLHS Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.. Cụ thể trong vụ án nêu trên

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

1 Định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi

của P, Q

3 - 5

2. Giả sử Q đốt, Q không biết còn một công nhân của N bị say

rượu nằm ngủ quên trong xưởng nên đã gây ra hậu quả chết

người Q có phải chịu trách nhiệm hình sự về cái chết của người

công nhân này không? Tại sao?

5 - 7

3 Giả sử Q vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội

cướp tài sản, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội

nêu trên thì trường hợp phạm tội của Q là tái phạm hay tái phạm

nguy hiểm? Tại sao?

7 - 8

Trang 2

Đề bài:

Do có mâu thuẫn trong kinh doanh, P đã nhờ Q đến đốt xưởng của N vào ban đêm Hậu quả là toàn bộ nhà xưởng và máy móc của N đã bị thiêu rụi, thiệt hại 350 triệu đồng

Hỏi:

1 Định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của P, Q

2 Giả sử Q đốt, Q không biết còn một công nhân của N bị say rượu nằm ngủ quên trong xưởng nên đã gây ra hậu quả chết người Q có phải chịu trách nhiệm hình sự về cái chết của người công nhân này không? Tại sao?

3 Giả sử Q vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp tài sản, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội nêu trên thì trường hợp phạm tội của Q là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? Tại sao?

Trang 3

I Mở bài:

Các tội xâm phạm về sở hữu là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc

đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu, các tội xâm phạm về quan hệ sở hữu được luật Hình sự Việt Nam quy định tại chương XIV BLHS Trong các tội xâm phạm về sở hữu em xin lựa chọn đề tài về tội Hủy hoại tài sản được quy định tại điều 143 BLHS để làm đề tài trong bài tập học kì

II Nội dung:

1 Định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của P, Q.

Tội danh của P và Q trong vụ việc nêu trên là tội hủy hoại tài sản của người khác được quy định tại điều 143 BLHS Tội hủy hoại hoặc cố ý làm

hư hỏng tài sản

* Mặt khách quan của tội phạm:

khác Hành vi hủy hoại là hành vi làm cho tài sản mất giá trị sử dụng ở mức

độ không còn hoặc khó có khả năng khôi phục được Cụ thể trong vụ án nêu trên P đã xui Q đốt xưởng của N làm toàn bộ xưởng và máy móc bị thiêu rụi, tài sản đã không thể sử dụng và khôi phục được do hành vi bằng hành động của Q là đốt xưởng Trong vụ án nêu trên phương tiên gây án dù không được nhắc đến cụ thể nhưng hành vi hủy hoại tài sản bằng cách đốt cháy khiến tính chất vụ án thay đổi, việc hủy hoại tài sản bằng cách đốt cháy có tính chất nguy hiểm cao hơn việc hủy hoại tài sản bằng tay không hay đạp phá… bởi lẽ hậu quả do hành vi nêu ra khó kiểm soát, gây thiệt hại rất lớn về tài sản vượt ra ngoài khả năng chi phối của người phạm tội, có thể còn nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe…

Trang 4

- Hậu quả của tội phạm: tài sản bị hủy hoại, trong vụ án nêu trên hậu

quả đã xảy ra khi toàn bộ xưởng và máy móc bị thiêu rụi gây thiệt hại lên đến 350 triệu đồng vậy nên tội phạm đã hoàn thành

của mình gây ra, bởi lẽ hậu quả thiệt hại nêu trên xảy ra là do hành động đốt xưởng của Q sau khi nghe P xúi giục, nghĩa là hậu quả đó do chính hành vi của họ gây ra

* Mặt chủ quan của tội phạm:

- Lỗi: lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý, cụ thể đây là lỗi cố ý trực tiếp.

Người phạm tội biết hành vi của mình có khả năng hủy hoại tài sản của người khác nhưng đã thực hiện hành vi đó vì mong muốn tài sản bị hủy hoại

- Động cơ: dù với động cơ nào đi chăng nữa hành vi hủy hoại tài sản cũng

đều cấu thành tội Trong vụ án nêu trên việc P nhờ Q đốt xưởng của N với mục đích trả thù do có mâu thuẫn trong kinh doanh từ trước, còn Q dù không có mâu thuẫn nhưng P nhờ nên đã thực hiện việc đốt xưởng

Trong vụ án nêu trên có hai người cùng thực hiện tội phạm là P và Q Hai người nayg cùng thực hiện tội phạm một cách cố ý Trong vụ án nêu trên xét thấy P và người xúi giục còn Q là người thực hành Bởi lẽ:

hiện tội phạm (khoản 2 Điều 20 BLHS)

P tác động đến tư tưởng và ý chí của Q, vì có mâu thuẫn trong kinh doanh

với N từ trước nên P đã nhờ Q đốt xưởng của N, có thể thấy P chính là “tác

giả tinh thần” của vụ án trên, P nghĩ ra việc phạm tội và thúc đẩy cho tội

phạm đó được thực hiện thong qua người khác – cụ thể là Q Về mặt chủ quan, P có ý định rõ ràng thúc đẩy Q phạm tội thông qua việc nhờ Q đốt xưởng của N

Trang 5

- Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm (khoản 2 Điều 20

BLHS)

Q đã tự mình thực hiện hành vi đốt xưởng của N sau khi nhận lời nhờ đốt của P, trong vụ án này P đã tự mình thực hiện những hành vi được mô ta trong CTTP, đốt xưởng của N vào ban đêm gây hậu quả thiệt hại làm toàn

bộ xưởng và máy móc bị thiêu rụi

Trong đồng phạm, hành vi của mỗi người là bộ phận cần thiết trong hoạt động chung đó, hậu quả của tội phạm là kết quả hoạt động chung của tất cả những người đồng phạm Luật hình sự Việt Nam quy định tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử về cùng tội danh, theo cùng điều luật

và trong phạm vi những chế tài điều luật ấy quy định

Vì vậy trong vụ án nêu trên cả P và Q đều bị truy cứu TNHS về tội hủy hoại tài sản được quy định tại điều 143 BLHS Cụ thể khung hình phạt được

áp dụng trong vụ án nêu trên là khung tăng nặng thứ hai quy định tại khoản

3 Điều 143 BLHS “3 Phạm tội thuộc một trong các trường hơp sau đây, thì

bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

b Gây hậu quả rất nghiêm trọng”

Bởi lẽ thủ đoạn phạm tội trong vụ án có tính chất nguy hiểm là dung chất cháy thực hiện việc hủy hoại tài sản khiến toàn bộ nhà xưởng và máy móc bị thiêu rụi, làm thiệt hại trong vụ án lên đến 350 triệu đồng

Kết luận: Hành vi đồng phạm trong vụ án đốt xưởng này, P và Q phải

chịu TNHS về tội hủy hoại tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 143 BLHS cho cả P và Q

2 Giả sử Q đốt, Q không biết còn một công nhân của N bị say rượu

Trang 6

chịu trách nhiệm hình sự về cái chết của người công nhân này không? Tại sao?

Trong giả thuyết đưa ra, nếu Q đốt xưởng mà không biết trong xưởng còn một công nhân của N bị say rượu nằm ngủ quên trong xưởng gây ra hậu quả

người này chết Trong trường hợp này Q phải chịu TNHS về hậu quả chết người xảy ra do hành vi đôt xưởng nhằm hủy hoại tài sản của mình với lỗi

vô ý Căn cứ vào các dấu hiệu sau:

được hậu quả có thể có người trong xưởng dù đã hết giờ làm việc, bởi lẽ nơi

Q phóng hỏa là xưởng làm việc, Q cần đặt ra trường hợp có người làm việc trong xưởng, ở lại gác đêm hoặc có việc gì ở lại xưởng, đây là quy tắc đòi hỏi người xử xự phải nhìn thấy trước được nhằm đảm bảo an toàn về tính nagj, sức khỏe cho con người Dù trong trường hợp này Q chỉ có ý định đốt xưởng nhằm hủy hoại tài sản của N nhưng đòi hỏi phải thấy trước hậu quả trên

- Hậu quả: Hành vi của Q đã gây ra hậu quả chết người

- Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm: ở đây hành

vi của Q là đốt xưởng và hậu quả làm người công nhân chết có quan hệ nhân quả với nhau, mặc dù Q không có ý định giết người nhưng chính vì hành vi hủy hoại tài sản bằng cách phòng hỏa đốt xưởng đã khiến người công nhân say rượu ngủ lại trong xưởng chết

trường hợp này hành vi của Q là vô ý vì cẩu thả, nghĩa là Q không thấy trước được hậu quả chết người xảy ra mà hành vi của mình gây ra mặc dù với địa vị, khả năng nhận thức của Q cần phải thấy trước và có đủ điều kiện thấy trước hậu quả đó

Trang 7

Từ những căn cứ nêu trên có thể thấy Q phải chịu TNHS về cái chết của

người công nhân say rượu ngủ quên trong xưởng với vô ý làm chết người

được quy định tại Khoản 1 Điều 98 BLHS:“Điều 98 Tội vô ý làm chết

người

1 Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

năm.”

Vậy trong hành vi đốt xưởng làm thiệt hại về vật chất lên đến 350 triệu, còn gây chết người với lỗi vô ý Q phải chịu TNHS về cả hai lỗi là Hủy hoại tài sản quy định tại khoản 3 Điều 143 BLHS và Vô ý làm chết người quy định tại Khoản 1 Điều 98 BLHS

Kết luận: Q phải chịu TNHS về cái chết của người công nhân trong

xưởng của N về hành vi làm chết người với lỗi vô ý được quy định tại khoản

1 Điều 98 BLHS

3 Giả sử Q vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp tài sản, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội nêu trên thì trường hợp phạm tội của Q là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? Tại sao?

Hành vi của Q trong trường hợp nêu trên là tái phạm nguy hiểm được

quy định tại Khoản 2 Điều 49 BLHS

Trước tiên xét về bản án Q vừa chấp hành xong mà chưa được xóa án tích

về tội cướp tài sản với mức án 3 năm tù, nghĩa là Q bị tòa án áp dụng khoản

1 Điều 133 Tội cướp tài sản “1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dung vũ

lực….thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm”, xét thấy mức cao nhất của

khung hình phạt là mười năm tù, căn cứ khoản 3 điều 8 BLHS “…tội phạm

Trang 8

nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù…” Đối với

tội cướp tài sản rõ ràng lỗi ở đây là lỗi cố ý trông mọi trường hợp Vậy tội phạm mà trước đấy Q vi phạm là tội rất nghiêm trọng với lỗi cố ý

Trong lần vi phạm này tội của Q được xác định là tội hủy hoại tài sản

được quy định tại khoản 3 Điều 143 BLHS “3 Phạm tội thuộc một trong

các trường hơp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

c Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

d Gây hậu quả rất nghiêm trọng”

Mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 143 là phạt

tù đến mười lăm năm tù Căn cứ khoản 3 Điều 8 BLHS quy định “…tội

phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù” Vậy

Q phạm tội rất nghiêm trọng trong lần vi phạm này, căn cứ khoản 2 Điều 49

BLHS “2 Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý.”

Kết luận: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 133, Khoản 3 Điều 143, Khoản 3

Điều 8, khoản 2 Điều 49 BLHS xét hành vi của Q trong trường hợp nêu trên

là tái phạm nguy hiểm

III Kết luận:

Hủy hoại tài sản là tội có CTTP vật chất, hành vi hủy hoại rất đa dạng, hậu quả của nó ảnh hưởng rất lớn tới các giá trị về vật chất, đồng thời còn có thể gây thiệt hại cả về tính mạng, sức khỏe

Trang 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam tập 1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND, Hà Nội 2007

2 Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam tập 2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND, Hà Nội 2007

3 Bộ luật HÌnh sự Việt Nam 2002

4. www.cand.com.vn

5. www.diendanphapluat.vn

6. www.danluat.thuvienphapluat.vn

Ngày đăng: 21/03/2019, 14:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w