1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Ung dung CNTT vao giang day

44 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 11,53 MB
File đính kèm SKKN CNTT trong giang day.rar (11 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ứngdụng CNTT trong giảng dạy và học tập không chỉ được hiểu theo nghĩa đơn giản là dùng máy tính vào các công việc như biên soạn rồi trình chiếu bài giảng điện tử ở trên lớp.. Ở nhà, nga

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 2

I/ Lý do chọn đề tài: 2

II/ Mục đích nghiên cứu của đề tài 3

III/ Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài: 3

IV/ Phương pháp nghiên cứu: 3

PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4

Chương 1: Cơ sở lý luận: 4

Chương 2: Thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học 8

Chương 3: Một số ứng dụng CNTT trong dạy học: 8

Chương 4: Kết quả thực nghiệm 29

Chương 5: Bài học kinh nghiệm 30

PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN 33

I/ Kiến nghị - đề xuất: 33

II/ Khả năng phát triển của đề tài 33

III/ Thay lời kết 34

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

PHỤ LỤC 36

Trang 2

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

I/ Lý do chọn đề tài :

Ứng dụng Công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động dạy học là xu thếtất yếu, là kĩ năng cần thiết của giáo viên trong thời đại thông tin hiện nay Ứngdụng CNTT trong giảng dạy và học tập không chỉ được hiểu theo nghĩa đơn giản

là dùng máy tính vào các công việc như biên soạn rồi trình chiếu bài giảng điện

tử ở trên lớp Ứng dụng CNTT được hiểu là một giải pháp trong mọi hoạt độngliên quan đến đào tạo; liên quan đến công việc của người làm công tác giáo dục;liên quan đến hoạt động nghiên cứu, soạn giảng; lưu trữ, tìm kiếm, trao đổi, chia

sẻ kinh nghiệm và tài nguyên học tâp…

Với sự hỗ trợ của CNTT hoạt động dạy và học ngày nay được diễn ra mọilúc, mọi nơi Ở nhà, ngay tại góc học tập của mình, người học vẫn có thể nghethầy cô giảng, vẫn được giao bài và được hướng dẫn làm bài tập, vẫn có thể nộpbài và trình bày ý kiến của mình… Để làm được điều này thì ngoài những kĩnăng soạn giảng thông thường ra người giáo viên cần có kĩ năng xây dựng bàigiảng điện tử và khai thác những dịch vụ truyền thông được cung cấp trênInternet như dịch vụ lưu trữ, chia sẻ, email, web, blog… để ứng dụng vào côngviệc giảng dạy của mình

Là một trường thuộc vùng sâu, vùng xa của huyện, nhưng trong những nămgần đây, Trường TH Cây Trường đã có nhiều đổi mới trong công tác giảng dạynhằm nâng cao chất lượng giáo dục Đội ngũ giáo viên nhà trường không ngừnghọc tập nâng cao trình độ chuyên môn, phong trào tự học, tự rèn phát triển mạnh

mẽ Việc ứng dụng CNTT vào công tác giảng dạy được coi trọng Tuy nhiên, đa

số giáo viên chỉ biết soạn bài giảng điện tử trên phần mềm Power Point, là phầnmềm chuyên về trình diễn Chính vì vậy sự tương tác trong bài giảng chưa cao.Ngay cả việc soạn bài trên Power Point của giáo viên còn lúng túng, chưa có kĩnăng soạn bài giảng điện tử theo chuẩn e-Learning.Việc trang bị những kiếnthức về ứng dụng CNTT, kĩ năng về e -Learning cho giáo viên là việc làm cầnthiết, góp phần giúp giáo viên bắt nhịp với xu thế giáo dục của thế giới, từngbước nâng cao chất lượng dạy và học

Trang 3

Sau một thời gian áp dụng CNTT vào giảng dạy, bản thân tôi đã có nhữngkiến thức cơ bản và có một vài kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vàocông tác giảng dạy Chính vì những lý do nêu trên mà tôi đã chọn đề tài sáng

kiến kinh nghiệm "Một số ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy”.

II/ Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Tìm hiểu các biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học

- Một số điểm cần lưu ý để việc ứng dụng CNTT trong dạy học mang lạihiệu quả hơn

III/ Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Đối tượng nghiên cứu: Các ứng dụng CNTT trong dạy học

- Phạm vi nghiên cứu: Việc ứng dụng CNTT trong dạy học tại lớp3.1

IV/ Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau :

1- Nghiên cứu tài liệu :

Đọc các tài liệu sách, báo, tạp chí giáo dục có liên quan đến nội dung đềtài Đọc sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo.Tìm hiểu trên Inernet…

2 - Nghiên cứu thực tế:

- Tiến hành giảng dạy bằng bài giảng điện tử, tra cứu tài liệu trên internet

- Tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học

Trang 4

PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Chương 1: Cơ sở lý luận :

1.1 Cơ sở pháp lí:

CNTT đã thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực, tất cả các đối tượng với nhữnghiệu quả mà CNTT đã mang lại, đặc biệt là trong giáo dục Cụ thể là tất cả cácđối tượng có thể giao tiếp trao đổi với nhau ở bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu Việcthường xuyên sử dụng CNTT trang bị cho người sử dụng kĩ năng tiếp cận, xử lýthông tin, giải quyết vấn đề, sáng tạo

Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm

2015 và định hướng đến năm 2020 có nêu: “Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTTtrong trường phổ thông nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng giáoviên tự tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì học trong môn tin học Giáoviên các bộ môn chủ động tự soạn và tự chọn tài liệu và phần mềm (mã nguồnmở) để giảng dạy ứng dụng CNTT” Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứngdụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012; Nghị định số102/2009/NĐ-CP ngày 6 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ về quản lý đầu tưứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước; Thông tư số08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạoquy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục lànhững cơ sở cho việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các trường học ở giaiđoạn hiện nay

1.2 Cơ sở tâm lí học, giáo dục học:

Sự phát triển các quá trình nhận thức ở học sinh tiểu học có những bướctiến mới so với lứa tuổi mẫu giáo Yêu cầu của bậc học phổ thông đòi hỏi ở trẻ

có những khả năng nhất định của quá trình nhận thức

Đối với quá trình tri giác, ngay từ khi trẻ bắt đầu vào trường phổ thông,

khả năng tri giác của trẻ cũng đã khá phát triển Trẻ có khả năng định hướng tốt

Trang 5

đối với các hình dáng và màu sắc khác nhau Song sự tri giác ấy chỉ dừng lại ờmức nhận biết và gọi tên hình dạng và màu sắc Trẻ chưa biết phân tích mộtcách có hệ thống bản thân những thuộc tính và những phẩm chất của các đốitượng được tri giác Sau quá trình học tập ở trường phổ thông, khả năng phântích và phân biệt các đối tượng đã được tri giác được phát triển mạnh mẽ và hìnhthành một dạng hoạt động mới là quan sát Trong các giờ học trẻ có thể tiếpnhận các thông tin và tụ mình diễn đạt lại các thông tin đó một cách tương đốichính xác Quá trình này được hoàn thiện dần trong quá trình phát triển của trẻ.Một số công trình nghiên cứu của L.x Zankov đã chỉ ra rằng, dạy học cấp một

đã phát triển đáng kể phẩm chất quan trọng này Từ chỗ trẻ chưa biết phân tíchmột cách có hệ thống các thuộc tính của sự vật và hiện tượng, sau này trẻ đã biếttách các thuộc tính của sự vật hiện tượng và biết tri giác một cách chủ định theo

ý đồ của mình đặt ra

Về sự phát triển ghi nhớ của học sinh tiểu học, khi mới 6 tuổi, đứa trẻ chủ

yếu chỉ nhớ những sự kiện, những điều mô tả hay những sự kiện có vẻ bề ngoàigây ấn tượng về mặt cảm xúc Song, sinh hoạt ở trường phổ thông đòi hỏi trẻphải có sự ghi nhớ tài liệu một cách có chủ định và hiểu được nội dung Banđầu, các em áp dụng các phương thức ghi nhớ một cách đơn giản nhất là nhắc đinhắc lại nhiều lần để ghi nhớ nguyên văn tài liệu Sau đó, các em được dạy ghinhớ có chủ định một cách lâu dài Ghi nhớ máy móc dần dần tiến tới ghi nhớ có

ý nghĩa, dựa trên mối quan hệ logic của nội dung Một trong những phương thức

dạy các em ghi nhớ đó là dạy các em lập dàn ý và dựa vào đó để ghi nhớ Lúc đầu, việc lập dàn ý chỉ yêu cầu nhằm phân chia tài liệu thành những phần nhỏ,

sau đó yêu cầu cao hơn là trẻ phải sắp xếp được tài liệu thành những nhóm có ýnghĩa

Mối tương quan của ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ máy móc trong quátrình phát triển nhận thức ở trẻ em nhỏ có những điểm khác nhau Ở học sinhlớp một, hiệu quả của việc ghi nhớ máy móc là cao hơn ghi nhớ có ý nghĩa, vì ởtrẻ chưa hình thành những biện pháp phân chia tài liệu theo nhóm có ý nghĩa.Càng lên lớp cao hơn, cùng với sự hình thành các biện pháp ghi nhớ có ý nghĩa

Trang 6

thì ghi nhớ có ý nghĩa trong nhiều trường hợp có hiệu quả hơn ghi nhớ máymóc Tuy nhiên, cả hai hình thức ghi nhớ này đều có vai trò quan trọng đối vớihọc sinh lứa tuổi nhỏ Trong trưòng hợp trẻ phải học thuộc lòng những sự kiện,những con số thì bắt buộc trẻ phải áp dụng hình thức ghi nhớ máy móc Ớtrường hợp khác như lĩnh hội trên cơ sở xử lý tài liệu một cách logic thì việc ápdụng ghi nhớ ý nghĩa lại là một hình thức ghi nhớ bắt buộc.

Sự phát triển khả năng tưởng tượng ở trẻ được diễn ra theo hai giai đoạn

chủ yếu Giai đoạn đầu những hình ảnh được tái tạo lại bằng những chi tiếtnghèo nàn chỉ những đặc trưng gần giống với đối tượng Trẻ thường chỉ có khảnăng miêu tả một cách rõ nét khi trẻ được tri giác bằng những hình ảnh cụ thểnhư tranh vẽ hoặc những câu chuyện cụ thể Giai đoạn thứ hai, khi trẻ học lớphai hoặc lớp ba thì khả năng tưởng tượng ở trẻ được tăng lên rõ rệt Nó được thểhiện ở những dấu hiệu và những thuộc tính trong các hình ảnh tăng lên đáng kể.Trẻ có khả năng tái tạo những hình ảnh mà không cần có sự cụ thể hoá đặc biệt,nhờ vào trí nhớ hoặc những sơ đồ Chẳng hạn, trẻ có khả năng miêu tả một cáchsinh động những câu chuyện mà chúng đã được đọc hoặc được nghe cô giáo kế.Tưởng tượng tái tạo hay còn gọi là sự sao chép lại được phát triển trong tất cảcác giờ học của học sinh nhỏ tuổi là một trong những tiền đề rất quan trọng đốivới sự phát triển tưởng tượng sáng tạo

Sự phát triển tư duy của học sinh tiểu học cũng trải qua hai giai đoạn cơ

bản Giai đoạn đầu, tư duy của học sinh tiểu học cũng rất giống với tư duy cuảtrẻ mẫu giáo Sự phân tích tài liệu học tập ở tuổi này chủ yếu diễn ra trong bìnhdiện hành động trực quan Có nghĩa là, trẻ chỉ có khả năng tư duy khi các đốitượng trực tiếp tác động đến trẻ, hay nói cách khác trẻ dựa vào những đối tượngthực hoặc trực tiếp thay thế Đối với học sinh lớp một hoặc lớp hai, khả năngphán đoán các đối tượng chỉ dựa trên những dấu hiệu bề ngoài, suy lí chỉ dựatrên những tiền đề trực quan, những dữ kiện của tri giác Việc chứng minh cáckết luận được thực hiện không phải dựa trên cơ sở những chứng cứ logic màbằng cách đối chiếu với những tri thức đã tiếp thu được Khả năng khái quát hoácủa trẻ ở giai đoạn này chủ yếu dựa trên những dấu hiệu sặc sỡ của đối tượng

Trang 7

Giai đoạn thứ hai của sự phát triển tư duy của trẻ được thể hiện khi trẻbước vào học lớp ba Với vai trò của người lớn và của giáo viên đã giúp trẻ chỉ

ra được mối liên hệ giữa các yếu tố riêng lẻ của các tri thức cần lĩnh hội Từ đódần dần hình thành ở trẻ khả năng khái quát hoá và tổng hợp ở mức độ cao hơn,

trên cơ sở những biểu tượng đã hình thành được ở trước đó.

Sự phát triển nhận thức đạo đức ở lứa tuổi học sinh tiểu học cũng đã có

những bước tiến mới so với lứa tuổi mẫu giáo Đến trường phổ thông trẻ đượcyêu cầu tuân thủ một cách nghiêm ngặt những quy định, những chuẩn mực đạođức mà nhà trường đặt ra Chẳng hạn như mối quan hệ giữa học sinh với cácthầy cô giáo, với người lớn tuổi, với bạn bè, với ông bà, cha mẹ…Dường nhưnhững yêu cầu này đối với trẻ khi được học ở trường phổ thông là rõ ràng hơn,mặc dù trước đó ở nhà cũng như ở trường mẫu giáo, các em cũng đã được họcnhững lễ giáo đó

Trong quá trình học tập cùng nhau, phần lớn trẻ lớp một không còn những

bỡ ngỡ ban đầu nữa mà trẻ nhanh chóng hoà đồng với các bạn trong lớp Chúngchú ý quan sát các bạn cùng lớp và thường kết bạn với những người có cùngnhững hứng thú ngẫu nhiên, như ngồi cùng bàn, sống cùng một khu, cùng thíchđọc truyện tranh

Ở lứa tuổi Tiểu học cơ thể của trẻ đang trong thời kỳ phát triển hay nói cụthể là các hệ cơ quan còn chưa hoàn thiện, vì thế sức dẻo dai của cơ thể còn thấpnên trẻ không thể làm lâu một cử động đơn điệu, dễ mệt nhất là hoạt động quámạnh và ở môi trường thiếu dưỡng khí

Trẻ hiếu động, ham hiểu biết cái mới nên dễ gây cảm xúc mới, song các

em chóng chán Do vậy, trong dạy học, giáo viên phải sử dụng nhiều đồ dùngdạy học, thay đổi thường xuyên phương pháp, hình thức dạy học, đưa học sinh

đi tham quan, đi thực tế, tăng cường thực hành, tổ chức các trò chơi xen kẽ đểcủng cố khắc sâu kiến thức

Học sinh Tiểu học nghe giảng rất dễ hiểu nhưng cũng sẽ quên ngay khichúng không tập trung cao độ Các em rất dễ xúc động và thích tiếp xúc với một

sự vật, hiện tượng nào đó nhất là những hình ảnh gây cảm xúc mạnh Giáo viên

Trang 8

cần khai thác tốt đặc điểm này Điều này giúp giáo viên tạo ra hứng thú tronghọc tập cho học sinh Muốn tạo được hứng thú học tập cho học sinh, giáo viêncần thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các phương pháp gâyđược sự chú ý của học sinh, làm cho tiết học sống động, tích cực hoá hoạt độngcủa học sinh Ví dụ như sử dụng giáo án điện tử, chơi trò chơi, đóng vai…Ngoài ra, giáo viên cần phải thường xuyên tổ chức các hoạt động nhằm luyệntập kiến thức, kĩ năng cho các em

Chương 2: Thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học

2.1 Thuận lợi:

Lớp học, sạch sẽ, thoáng mát, đảm bảo cho việc học Phần đa học sinh sốngtrên cùng địa bàn nên việc quản lý các em cũng như việc liên lạc thông tin haichiều, có nhiều thuận lợi Ngoài ra, còn được sự quan tâm của nhà trường Độingũ giáo viên có tâm huyết với nghề

Chương 3: Một số ứng dụng CNTT trong dạy học:

3.1 Ứng dụng để tra cứu thông tin:

Một trong những ứng dụng CNTT vào giảng dạy mà tôi thường xuyên ápdụng là tra cứu thông tin trên mạng Internet Chúng ta thường đùa với nhau rằng

“ học thầy không tày học internet “ hay mỗi khi có gì không hiểu hoặc khônggiải thích được thì ta thường bảo nhau “ đi mà hỏi anh Gồ” Tuy là đùa nhưngkhông ai phủ nhận những lợi ích to lớn mang lại từ mạng Internet Tuy nhiên,những thông tin trên mạng không phải cái nào cũng bổ ích, thiết thực Có rất

Trang 9

nhiều những thông tin phản động, đồi truỵ, làm ảnh hưởng tới thuần phong mĩtục của dân tộc Ngoài bản lĩnh và phẩm chất đạo đức của mình, người sử dụngcần làm gì để sàng lọc thông tin, làm thế nào để tận dụng và khai thác internetsao cho hiệu quả? Theo tôi, để khai thác hiệu quả thông tin trên Internet, ngườigiáo viên cần có những kiến thức cơ bản về Internet như:

* Thứ nhất: Nắm được các thuật ngữ:

– Tên miền (Domain name) : Để quản lý các máy đặt tại những vị trí vật lýkhác nhau trên hệ thống mạng nhưng thuộc cùng một tổ chức, cùng lĩnh vựchoạt động… người ta nhóm các máy này vào một tên miền (domain) Các tênmiền thông dụng :

.com : Các tổ chức, công ty thương mại

.org : Các tổ chức phi lợi nhuận

.net : Các trung tâm hỗ trợ về mạng

– Website : Nơi chứa các trang web của một tổ chức hoặc các nhân

– Homepage : Trang web đầu tiên của một Website hoặc trang web xuấthiện đầu tiên khi khởi động trình duyệt

* Thứ hai: Kĩ năng cần thiết khi tìm kiếm thông tin:

- Xác định mục đích sử dụng thông tin:

Kết quả thông tin nhận được thường rất lớn nên gây mất tập trung cho sựchọn lựa Vì vậy, cần xác định mục tiêu tổng quát khi tìm tin Một tìm kiếmthông tin theo diện rộng sẽ tìm được một lượng lớn thông tin hơn tìm theo chiều

Trang 10

sâu Một cuộc tìm kiếm thông tin theo chiều sâu sẽ tìm được thông tin sát vớichủ đề hơn, mặc dù số lượng thông tin sẽ ít hơn.

- Chuẩn bị các từ khóa cần tìm:

Khái niệm từ khóa : Từ khóa là một từ hoặc cụm từ được rút trong tên chủ

đề hoặc chính văn tài liệu, nó phản ánh một phần nội dung hoặc toàn bộ nộidung của chủ đề hoặc tài liệu đó

Sau khi gõ từ khóa vào và tìm kiếm thì một loạt kết quả sẽ hiển ra Mỗi kếtquả là một liên kết (link) đến trang web có chứa từ khóa hoặc chủ đề mà bạnđang muốn tìm Việc bạn cần làm lúc này là xem xét kết quả mà chức năng tìmkiếm đưa ra:

+ Nếu có quá nhiều kết quả, quay lại và gõ thêm từ vào ô tìm kiếm

+ Nếu có quá ít kết quả, thu hẹp/ xóa bớt một số từ trong ô tìm kiếm hoặctìm từ khác thay thế

Có rất nhiều thủ thuật tìm kiếm trên Inernet Tôi xin trình bày một số kinhnghiệm tìm kiếm kết hợp với từ khoá:

+ Sử dụng dấu ngoặc kép để tìm kiếm chính xác hơn Ví dụ: khi tôi gõ

“Chính tả Vàm Cỏ Đông” thì kết quả sẽ trả về chính xác cụm từ vừa tìm (Hình 3.1-1)

+ Sử dụng dấu sao (*) cùng cụm từ đặt trong dấu ngoặc kép (“”) để tìm kiếm cụm từ mình không biết rõ Ví dụ: khi tôi gõ “ Ở tận * em có biết” thì

trình duyệt (VD: Google) sẽ hiển thị trang chứa tất cả các kết quả cùng một từ

khả thi, hợp lý và có kết quả nào đó để thay thế vào vị trí của dấu *.{Hình 2}

3.1-+Dùng dấu trừ (-) để loại bỏ kết quả tìm kiếm chứa từ nhất định nào đó Ví dụ: Khi muốn tìm kiếm hình ảnh các loại thú không phải là thú nuôi, tôi gõ: Thú –nuôi thì kết quả trả về là hình ảnh loài thú không phải là thú nuôi.{Hình 3.1-3}

Ngoài ra, ta có thể dùng thủ thuật này để loại bỏ một trang website nào đóhoặc có thể kết hợp với dấu ngoặc kép (“ “ ) với cú pháp "-tên_website từ khóa"

để loại bỏ hoàn toàn các kết quả chứa từ khóa trả về từ website không mong

muốn {Hình 3.1-4}

Trang 11

+ Tìm kiếm từ khóa trong một website nhất định Cú pháp "site:" khi sử

dụng trên Google sẽ ra lệnh cho cỗ máy này chỉ tìm kiếm các từ khóa trên mộtwebsite nhất định nào đó Giả sử bạn muốn tìm kiếm những thông tin liên quan

đến bài giảng diện tử trên trang violet.vn, hãy sử dụng cú pháp bài giảng điện tử site:violet.vn {Hình 3.1-5}

+ Tìm kiếm một định dạng tệp tin nhất định: Đối với giáo viên và cả học

sinh nhu cầu tìm kiếm tài liệu trên mạng là rất lớn và bạn hoàn toàn có thể tậndụng cú pháp "filetype:(pdf,doc,docx,prc,epub) từ khóa" (trong ngoặc đơn làcác định dạng) để phục vụ mục đích tìm kiếm của mình Giả sử khi bạn sử dụng

cú pháp "filetype:pdf giáo dục học", kết quả trả về sẽ bao gồm các tệp tin định dạng pdf liên quan đến chủ đề về giáo dục học {Hình 3.1-6}

- Sử dụng mục tìm kiếm nâng cao của chức năng tìm kiếm

- Ngôn ngữ để tìm kiếm Đây là một chi tiết đáng lưu ý vì nếu bạnmuốn tìm tài liệu bằng tiếng Việt thì bạn nên chuẩn bị một bộ gõ tiếng Việtnhư Vietkey hay Unikey để có thể gõ những từ khóa mà bạn muốn tìm bằngtiếng Việt, khi đó kết quả dò tìm sẽ chính xác hơn nhiều

- Thao tác tải và lưu thông tin sau khi bạn đã tìm được:

+ Nếu lưu văn bản (file text, htm) : vào File – Save as (chọn các kiểu lưuvăn bản)

+ Nếu lưu file (.doc,.pdf, exe) : Nhấp chuột vào file cần tải, sau đó lưu.– Ngoài ra, bạn có thể dùng những công cụ tải thông tin Trên Internet hiệnnay có khá nhiều công cụ hỗ trợ tải (download) file khá hiệu quả như: Cốc Cốc,Internet Download Manager, Flashget,…

- Dùng trang web thuộc lĩnh vực đang quan tâm mà bạn đã biết

Internet hiện nay rất phổ biến, có thể nói rất dễ dùng ngay cả đối tượng làtrẻ em Vì vậy, thói quen sử dụng web về lĩnh nào đó thì chính bạn là người hiểuhơn ai hết Vậy bạn mở trang quen thuộc ấy để tìm tin, ít ra cũng không mấtnhiều thời gian tìm kiếm

- Dùng website có nhiều liên kết với trang khác

Trang 12

Có thể mở trang web bất kỳ, những trang này có thể bạn chưa từng duyệtqua nhưng bạn đã nghe nói thông qua phương tiện sách, báo, đài, bạn bè Thông thường các trang web đều có liên kết với các địa chỉ web khác.Ví dụ :

http://home.vn, http://www.hcm.fpt.vn, http://hocmai.vn Thông qua các trangweb này bạn sẽ tìm được trang web cần thiết

- Dùng website công cụ dò tìm có ở Việt Nam

Sự ra đời các công cụ dò tìm là rất hữu ích cho người dùng Internet Cáctrang này được ví như “danh bạ” để tìm địa chỉ, tên người, nội dung trang…v.v… nói chung tìm mọi thứ mà các trang web khác đưa lên hoặc tự nó tìmđến.Ví dụ: http://coccoc.com/, http://home.vn, http://www.google.com.vn/

Học sinh lớp tôi đã được học môn Tin học tại trường Mặt khác, gia đìnhnhiều em cũng có máy tính nối mạng hoặc điện thoại thông minh Chính vì vậy,tôi thường xuyên yêu cầu các em tra cứu thông tin trên mạng để chuẩn bị chobài học tới hoặc khắc sâu hơn những kiến thức mà thầy đã dạy Tuy nhiên, đểtránh các em lợi dụng việc lên mạng tìm kiếm thông tin làm việc riêng, tôi yêucầu các em tìm kiếm tại phòng tin học của nhà trường hoặc trên máy tính của

thư viện {Hình 3.1-7} Trong trường hợp các em tìm kiếm tại nhà, tôi yêu cầu

học sinh thực hiện dưới sự giám sát, giúp đỡ của cha mẹ.Ví dụ: khi dạy bài “ Từ

ngữ về các dân tộc – Luyện tập về so sánh” (LTVC lớp 3, tuần 15), tôi yêu cầu

học sinh chuẩn bị trước ở nhà: “ Tìm hiểu về các dân tộc Việt Nam” Tới giờhọc, các em tổng hợp theo nhóm và từng nhóm trình bày kết quả của mình Vớicách tổ chức ấy, các em cảm thấy tự tin hơn, hứng thú hơn, tạo được không khíthi đua trong học tập

3.2 Sử dụng các phần mềm dạy học:

Trong quá trình dạy học, tôi cũng thường xuyên sử dụng các phần mềm dạyhọc như: phần mềm “Cùng học Toán 3” của công ti Tin học nhà trường, phầnmềm Lạc Việt dùng để tra từ điển

Phần mềm “Cùng học Toán 3” là một phần mềm nằm trong chuỗi các phầnmềm “Cùng học Toán” dành cho các em cấp Tiểu học Bộ phần mềm này mô tảchi tiết các bài học trong SGK Toán lớp 3 Các chức năng chính của nó là:

Trang 13

Giảng dạy theo chủ đề: Giúp các em học sinh ôn luyện các dạng toánchính Trong đó, mỗi dạng sẽ liệt kê các chủ đề kiến thức cho các em lựa chọn.Giảng dạy theo bài học: Mô tả từng kiến thức trong SGK Toán lớp 3 Mỗibài học sẽ được chia thành các chương khác nhau theo đúng phân loại của SGKToán lớp 3.

Các chủ đề kiến thức trong phần mềm Cùng học Toán:

- Giúp các em làm quen với số: Thực hiện các phép tính cộng, trừ cónhớ trong phạm vi 1000 Thực hiện các phép tính nhân số có hai, ba, bốn vànăm chữ số với số có một chữ số (có nhớ hoặc không nhớ) Thực hiện cácphép tính chia số có hai, ba, bốn và năm chữ số với số có một chữ số ( khôngnhẩm, hoặc chia hết và chia có dư ) Biết cách phân tích số có năm chữ số.Làm quen với bảng nhân, chia với các số 6, 7, 8, 9

- Tìm hiểu đơn vị đo lường: tiến hành đổi đơn vị đo với dam, hm; đổiđơn vị đo độ dài; Thực hiện các phép cộng, trừ, nhân, chia với đơn vị gam,

- Làm quen với các mệnh giá của tiền Việt Nam: Các em sẽ được làmquen các tờ tiền với tất cả mệnh giá

- Thực hiện tính toán với các biểu thức hỗn hợp, đơn giản, biểu thức

có ngoặc, biểu thức không ngoặc, biểu thức có ngoặc có các phép cộng trừnhân chia,

- Giải các toán có lời văn

- Các bài toán hình học: Tính độ dài đường gấp khúc của hình Tínhchu vi tam giác, hình chữ nhật, hình vuông, diện tích hình chữ nhật, hìnhvuông, cách phân biệt đâu là góc vuông, và đâu góc không vuông

- Làm quen với số La Mã

Ngay từ đầu năm học, tôi triển khai cho học sinh học trên phần mềm này.Tôi chèn phần mềm này vào các bài giảng điện tử, giảng dạy trực tiếp trên máytính Đối với những em có máy tính ở nhà, tôi chép phần mềm vào USB vàhướng dẫn cha mẹ các em cài đặt, sử dụng phần mềm Sử dụng phần mềm này,học sinh có thể học bất cứ lúc nào Phần mềm được thiết kế thân thiện, phù hợp

Trang 14

với lứa tuổi các em nên thu hút được các em, các em đã “tự giác” học tập hơn.

{Hình 3.2-1}

Trong giờ dạy, nhất là môn Tập đọc, có rất nhiều những từ ngữ mà học sinhchưa hiểu nghĩa Để đáp ứng được nhu cầu của các em, tôi sử dụng phần mềmLạc Việt để tra từ Từ đó, giáo viên có thể giúp học sinh phân biệt các từ gầnnghĩa Ví dụ: Khi giảng bài “ Từ ngữ về quê hương – Ôn tập câu Ai làm gì?” (

LTVC lớp 3, tuần 11), tôi sử dụng Lạc Việt để tra cứu các từ: Quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn, quê cha đất tổ, quê quán, … Sau khi cho học sinh hiểu rõ

nghĩa các từ đó, tôi yêu cầu học sinh phân biệt các từ đó, nêu phạm vi sử dụngcác từ đó Ví dụ: Khi nào thì dùng là quê hương, khi nào thì dùng là quê cha đất

tổ Nhờ vậy, học sinh nắm chắc các từ và văn cảnh sử dụng chúng

3.3 Ứng dụng trong soạn bài giảng điện tử:

3.3.1.Khái niệm về bài giảng:

3.3.1.1.Bài giảng e –Learning: Bài giảng điện tử theo chuẩn e-Learning hay Bài

giảng điện tử e-Learning là thể hiện cao cấp nhất của bài giảng điện tửbởi nó có thể chứa không chỉ bài giảng text, video chèn vào bìnhthường mà nó còn có cấu trúc chuẩn hoá theo định dạng SCORM,AICC để đưa vào các hệ thống quản lí bài giảng (Learning ManagmentSystem: LMS)

Theo Bộ GD-ĐT Việt Nam thì: “Bài giảng e-Learning được tạo ra từ cáccông cụ tạo bài giảng, có khả năng tích hợp đa phương tiện truyền thông(multimedia) gồm phim (video), hình ảnh, đồ hoạ, hoạt hình, âm thanh, tiếngnói…), tuân thủ một trong các chuẩn SCORM, AICC”

Bài giảng e-Learning khác hoàn toàn với các khái niệm: giáo án điện tử, bàitrình chiếu hoặc bài giảng điện tử (powerpoint) thường gọi

3.3.1.2.Giáo án điện tử: Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch

hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ dạy học đó đãđược Multimedia hoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic

Trang 15

được quy định bởi cấu trúc của bài học Giáo án điện tử là một sảnphẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất trướckhi bài dạy được tiến hành Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bàigiảng điện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bàigiảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để cóđược bài giảng điện tử.

3.3.1.3 Bài giảng điện tử: Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên

lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy-học (của thầy và trò) đượcchương trình hoá (nhờ một phần mềm) do giáo viên điều khiển thôngqua môi trường đa phương tiện, đa truyền thông (văn bản, ảnh, video,các hiệu ứng) do hệ thống máy vi tính tạo ra

3.3.2 Các hình thức của bài giảng điện tử trong dạy học:

Hiện nay, trên thế giới người ta phân biệt rõ ràng 2 hình thức của bài giảng

điện tử trong dạy và học, đó là Computer Base Training, gọi tắt là CBT (dạy dựa

vào máy tính), và E-learning (học dựa vào máy tính) Trong đó:

- CBT là hình thức giáo viên sử dụng máy vi tính trên lớp, kèm theo cáctrang thiết bị như máy chiếu (hoặc màn hình cỡ lớn) và các thiết bị multimedia

để hỗ trợ truyền tải kiến thức đến học sinh, kết hợp với phát huy những thếmạnh của các phần mềm máy tính như hình ảnh, âm thanh sinh động, các tư liệuphim, ảnh, sự tương tác người và máy

- E-learning là hình thức học sinh sử dụng máy tính để tự học các bài giảng

mà giáo viên đã soạn sẵn, hoặc xem các đoạn phim về các tiết dạy của giáo viên,hoặc có thể trao đổi trực tuyến với giáo viên thông mạng Internet Điểm khác cơbản của hình thức E-learning là lấy người học làm trung tâm, học viên sẽ tự làmchủ quá trình học tập của mình, giáo viên chỉ đóng vai trò hỗ trợ việc học tậpcho học viên

Như vậy, có thể thấy CBT và E-learning là hai hình thức ứng dụng CNTTvào dạy và học khác nhau về mặt bản chất Một bên là hình thức hỗ trợ cho giáoviên, lấy người dạy làm trung tâm và cơ bản vẫn dựa trên mô hình lớp học cũ

Trang 16

Còn một bên là hình thức học hoàn toàn mới, lấy người học làm trung tâm, trongkhi giáo viên chỉ là người hỗ trợ Tuy nhiên, ở Việt Nam nhiều người vẫn bịnhầm lẫn 2 khái niệm này Những mặt mạnh mặt yếu của CBT và E-learning:

Có thể phát triển, cải tiến từ phương

pháp dạy học truyền thống Vẫn dựa

trên những hình thức cơ bản của một

lớp học thông thường

Thay đồi hoàn toàn cách dạy và học.Người học có thể học riêng rẽ, học ởnhà hoặc ở nơi làm việc E-learningkhai thác được tối đa sức mạnh của thếgiới Internet: khả năng phổ biến rất cao(có thể 1 bài giảng hàng triệu ngườihọc), hay có khả năng cập nhật cácthông tin mới ngay lập tức

Chi phí đầu tư ban đầu thấp Chỉ cần

trang bị cho lớp học máy tính, máy

chiếu và các thiết bị multimedia

Chi phí đầu tư ban đầu rất cao Mỗi lớphọc phải là một phòng máy tính nốimạng Internet, mỗi học sinh và giáoviên phải có máy tính riêng và nhữngphần mềm chuyên dụng

CBT là phương pháp kết hợp được cả

những thế mạnh của phương pháp dạy

học truyền thống (dựa trên giao tiếp

thầy-trò) và khai thác được những ưu

thế của các công nghệ hiện đại (ví dụ

những bài giảng điện tử)

Chỉ dựa trên thế mạnh của các bàigiảng điện tử, hầu như không có giaotiếp thầy trò

Phù hợp hơn với giáo dục phổ thông,

vì là ở giáo dục phổ thông, giáo viên

không chỉ dạy kiến thức mà còn phải

theo dõi hướng dẫn cách tư duy Vả lại

học sinh nhỏ tuổi chưa đủ khả năng để

làm chủ được quá trình học tập của

mình

Phù hợp hơn với giáo dục Đại học, Sauđại học và những người đã đi làm

Đây là phương pháp mà các giáo viên

ở Việt Nam hay dùng hiện nay như

Chưa phải là hình thức phổ biến lắm ởViệt Nam Mới chỉ có một số trường

Trang 17

dùng Power point để thiết kế bài giảng

và dạy học dùng máy chiếu Những kết

quả thu được là rất đáng kể

ĐH có hệ thống E-learning riêng

3.3.3 Quy trình thiết kế một bài giảng điện tử:

Để thiết kế một giáo án điện tử, chúng ta theo một quy trình như sau:

Bước 1: Xác định mục đích, yêu cầu của bài giảng:

Đọc kĩ giáo trình, kết hợp với các tài liệu liên quan để tìm hiểu nội dungcủa mỗi mục trong bài và cái đích cần đạt tới của mỗi mục Trên cơ sở đó, giáoviên xác định cái đích cần đạt tới của bài về cả 3 mặt kiến thức, kĩ năng và tìnhcảm- thái độ (mục đích trên là khi giảng xong, học sinh thu nhận được cái gì)

Từ những mục đích trên, giáo viên có thể định ra các yêu cầu trong quá trìnhgiảng dạy của mình để đạt cái đích đã đề ra ở trên (giảng như thế nào)

Bước 2: Lựa chọn những kiến thức cơ bản, trọng tâm, có tính khái quát và chắt lọc cao để sắp xếp chúng vào các slide:

Đây là bước quan trọng thể hiện toàn bộ nội dung của bài giảng Các nộidung đưa vào các trang phải thật sự chắt lọc từ những kiến thức cơ bản của bài.Dung lượng thông tin chứa đựng trong một trang là không nhiều (thườngkhoảng 3-4 dòng) cho nên đòi hỏi giáo viên phải có tư duy tổng hợp, khái quát

để có thể chọn lựa, chắt lọc kiến thức cơ bản nhất đưa vào các trang Bước này,giáo viên làm tốt thì giáo án điện tử sẽ bảo đảm kiến thức truyền thụ

Bước 3: Thu thập nguồn tài liệu liên quan đến nội dung, xây dựng kho tư liệu:

Ngoài việc sưu tầm các tài liệu để bổ sung, mở rộng kiến thức từ sách báo,tài liệu tham khảo có liên quan; điều quan trọng và cần thiết là phải xây dựngkho tư liệu Đây là điều kiện cần thiết để khai thác có hiệu quả chương trình,kho tư liệu càng phong phú thì khả năng khai thác càng cao, càng đa dạng

Các nguồn để giáo viên có thể thu thập xây dựng kho tư liệu:

- Các thông tin trên Internet: Đây thực sự là kho thông tin khổng lồ, chúng

ta có thể tìm kiếm thông tin theo chủ đề Bằng công cụ tìm kiếm ta vào các

Trang 18

Website có liên quan đến chủ đề cần tìm Sau khi tìm kiếm được thông tin trênmạng Internet, ta chỉ cần tải vào kho tư liệu để làm tài liệu tham khảo.

- Các thông tin trên các ROM, VCD: Hiện nay các thông tin trên ROM và VCD hết sức phong phú, có thể lựa chọn những thông tin cần thiếtphục vụ nội dung của bài giảng để nhập vào kho tư liệu

CD Ngoài ra, các tranh ảnh, thông tin trên sách báo liên quan dến nội dungbài giảng hết sức phong phú có thể là nguồn tư liệu quan trọng để chúng ta bổsung vào kho tư liệu

Bươc 4: Xây dựng kịch bản cho bài giảng của giáo án điện tử:

Đây là khâu quan trọng trong việc thiết kế bài giảng Kịch bản xây dựngphải bảo đảm các nguyên tắc sư phạm, nội dung kiến thức cơ bản của bài giảng,đáp ứng mục đích, yêu cầu đã đặt ra

Điều rất quan trọng mà giáo viên phải hết sức lưu tâm là khi xây dựng kịchbản cho giáo án điện tử phải căn cứ vào giáo án “nền” ( giáo án “nền” là giáo ándùng cho các bài giảng theo phương pháp truyền thống- chưa khai thác, sử dụngcác phần mềm soạn bài giảng điện tử trong giảng dạy) Trên cơ sở đó để tìm tòi,phát hiện, khai thác thế mạnh của các phần mềm nhằm tăng cường tính tích cựchoá quá trình nhận thức trong hoạt động học tập của học viên

Kịch bản xây dựng còn phụ thuộc vào các sản phẩm có được trong kho tưliệu Giáo viên cần phải biết lựa chọn phù hợp để xây dựng kịch bản có chấtlượng

Bước 5: Lựa chọn ngôn ngữ, các phần mềm trình diễn để xây dựng giáo án điện tử:

Sau khi đã có kho tư liệu, các kiến thức cơ bản được lựa chọn, giáo viêncần lựa chọn ngôn ngữ và các phần mềm trình diễn để tiến hành xây dựng giáo

án điện tử Tuỳ theo nội dung cụ thể mà thông tin trên mỗi trang có thể là vănbản, đồ hoạ, tranh ảnh, âm thanh, phim ngắn Văn bản cần trình bày ngắn gọn,

cô động, chủ yếu là các tiêu đề và dàn ý cơ bản Nên dùng một loại font chữ phổbiến, đơn giản; màu chữ được dùng thống nhất (thống nhất tuỳ theo mục đích sửdụng khác nhau của văn bản: câu hỏi gợi mở, dẫn dắt, giảng giải, ghi nhớ, câu

Trang 19

trả lời) Khi trình bày nên sử dụng sơ đồ khối để học sinh thấy ngay được cấutrúc logic của những nội dung cần trình bày.

Đối với mỗi bài giảng nên dùng khung, màu nền thống nhất cho các slide,Hạn chế sử dụng các màu quá chói hoặc quá tương phản nhau Mặt khác cũngkhông nên quá lạm dụng phần mềm trình diễn theo kiểu “bay nhảy” nhằm thuhút sự tò mò không cần thiết cho người học, làm phân tán sự chú ý của học sinh.Điều quan trọng khi sử dụng phần mềm trình diễn là chú ý làm nổi bật nội dungtrọng tâm, khai thác triệt để các ý tưởng tiềm ẩn bên trong các đối tượng trìnhdiễn thông qua việc nêu vấn đề, hướng dẫn, tổ chức hoạt động nhận thức nhằmphát triển tư duy của người học

Cuối cùng là thực hiện các liên kết giữa các trang một cách hợp lý, logic.Đây chính là công việc quan trọng tạo ra các ưu điểm của giáo án điện tử do đóchúng ta cần khai thác tối đa khả năng liên kết, nhờ khả năng liên kết này mà bàigiảng được tổ chức một cách linh hoạt giúp học sinh nắm bắt được kiến thức bàihọc

3.3.3 Thiết kế bài giảng bằng Power Point:

Power Point là phần mềm đồ họa diễn hình có trong bộ Microsoft Office.Phần mềm Power Point hầu như đã hiện diện sẵn trong hầu hết máy tính củangười sử dụng Việt Nam và giao diện của nó cũng rất quen thuộc khi phần lớngiáo viên biết sử dụng Word để đánh văn bản Phần mềm Power Point có thể đápứng tốt nhiều yêu cầu khác nhau trong dạy học, từ việc xây dựng bài giảng điện

tử của bài nghiên cứu kiến thức mới, cho đến khâu củng cố, ôn tập, sơ kết, tổngkết, kiểm tra đánh giá và cả hoạt động ngoại khóa

Việc thiết kế bài giảng điện tử bằng Power Point đối với giáo viên hiện nay

đã tương đối thành thạo Vì vậy, trong đề tài này, tôi không trình bày cách thiết

kế một bài giảng bằng Power Point mà chỉ đề cập đến một số kinh nghiệm khithiết kế bài giảng bằng Power Point

3.3.3.1 Một số lưu ý khi thiết kế bài giảng bằng Power Point:

Trang 20

Mỗi lớp học có trung bình từ 25- 35 học sinh Trong khi đó các tiết dạybằng bài giảng điện tử thường phải tắt bớt đèn, đóng bớt cửa sổ hay kéo rèm hạnchế ánh sáng trời để ảnh trên màn rõ hơn Như vậy, những học sinh ngồi ở cácdãy cuối lớp hay những học sinh mắt kém sẽ khó khăn khi quan sát hình ảnh,chữ viết hay công thức trên màn chiếu Do đó để học sinh có thể quan sát đượcbài học chính xác từ màn chiếu, giáo viên khi soạn giáo án trên Power Point cầnchú ý một số nguyên tắc về hình thức sau:

Thứ nhất: Các trang trình diễn phải đơn giản và rõ ràng

- Giáo viên không nên sao chép nguyên văn bài dạy, chỉ nên đưa những ýchính vào mỗi trang trình diễn

- Về màu sắc của nền hình: Màu sắc không lòe loẹt, đồ họa vui nhộn gâymất tập trung cho học sinh Cần tuân thủ nguyên tắc tương phản (contrast), chỉnên sử dụng chữ màu sậm (đen, xanh đậm, đỏ đậm…) trên nền trắng hay nềnmàu sáng Ngược lại, khi dùng màu nền sậm thì chỉ nên sử dụng chữ có màusáng hay trắng

- Về Font chữ: Dùng các phông chữ, khung, nền hợp lí (vd: nền màu trắng,màu đỏ cho các đề mục có vai trò ngang nhau “cỡ chữ, kiểu chữ giống nhau).Chỉ nên dùng các font chữ đậm, rõ và gọn như Vntime, Arial, Times Roman,…hạn chế dùng các font chữ có đuôi VNI- vì dễ mất nét khi trình chiếu

- Về cỡ chữ: Giáo viên thường muốn chứa thật nhiều thông tin trên mộtslide nên hay có khuynh hướng dùng cỡ chữ nhỏ Thực tế, khi dùng máy chiếuchiếu lên màn cho nhiều người xem thì cỡ chữ thích hợp phải từ 28 trở lên mớiđọc rõ được

Thứ hai: Về trình bày nội dung trên nền hình:

Giáo viên không nên trình bày nội dung tràn lấp đầy nền hình từ trênxuống, từ trái qua phải, mà cần chừa ra khoảng trống đều hai bên và trên dướitheo tỷ lệ thích hợp (thường là 1/5), để đảm bảo tính mỹ thuật, sự sắc nét vàkhông mất chi tiết khi chiếu lên màn Các dạng đồ họa (hình ảnh, âm thanh,hiệuứng…) cần phải được lựa chọn cẩn thận, nếu không chúng sẽ gây phân tán tưtưởng, tư duy lệch lạc trong học sinh Những tranh, ảnh hay đoạn phim minh

Trang 21

họa dù hay nhưng mờ nhạt, không rõ ràng thì cũng không nên sử dụng vì không

có tác dụng cung cấp thông tin xác định như ta mong muốn

Thứ ba: Trình chiếu giáo án:

Khi giáo viên trình chiếu Power Point, để học sinh có thể ghi chép kịp thìnội dung trong mỗi slide không nên xuất hiện dày đặc cùng lúc Ta nên phândòng hay phân đoạn thích hợp, cho xuất hiện theo hiệu ứng thời gian tương ứng.Trường hợp có nội dung dài mà nhất thiết phải xuất hiện trọn vẹn cùng lúc, tatrích xuất từng phần thích hợp để giảng, sau đó đưa về lại trang có nội dung tổngthể, học sinh sẽ dễ hiểu và dễ ghi nhớ hơn

3.3.3.2 Ví dụ minh hoạ:

Để minh hoạ cho nội dung trên, tôi lấy một bài giảng “Chính tả: Vàm CỏĐông” ( Tiết 13) Để xây dụng bài giảng này, tôi sử dụng các tư liệu như video,ảnh, các phần mềm xử lí phim và hình ảnh

Cấu trúc bài giảng như sau: Toàn bài có tất cả 17 slide ( trang) Trong đó,

có 1 trang bìa: Trên đó giáo viên có thể sáng tạo tuỳ ý nhưng cần ghi thông tin

về bài dạy, môn, tiết, tuần; người soạn.{ Hình 3.3.3-1} Trang cuối là lời chào,

lời chúc, giáo viên có thể tuỳ ý thiết kế nội dung, hình ảnh, hiệu ứng trang này.Các trang còn lại là nội dung bài giảng Tróng đó:

- Kiểm tra bài cũ: { Hình 3.3.3-2}

- Giới thiệu bài là các trang 4, 5, 6 Trong đó, tôi sử dụng 1 đoạn

video bài hát “ Vàm Cỏ Đông”{ Hình 3.3.3-3}, hình ảnh nhà thơ Hoài Vũ

{ Hình 3.3.3-4} và hình ảnh nhạc sĩ Trương Quang Lục{ Hình 3.3.3-5} Để tạo

được video theo ý tưởng, tôi sử dụng phần mềm Total Video Converter để cắtngắn video

- Phần hướng dẫn viết chính tả từ trang 7 đến trang 13 Trong đó

trang 8 {Hình 3.3.3-6} tôi tìm kiếm trên Internet các hình ảnh về sông Vàm

Cỏ Đông để giúp học sinh thấy được vẻ đẹp của dòng sông, qua đó giáo dục ýthức bảo vệ môi trường cho các em

Trang 22

- Phần bài tập chính tả từ trang 14 đến trang 15 Tôi sử dụng các kĩthuật thiết kế thông thường trên Power Piont

- Phần củng cố là trang 16 Tôi chỉ sử dụng các hiệu ứng ẩn, hiện đểthiết kế một bài tập nhỏ

Là phần mềm chuyên về trình chiếu nên hạn chế lớn nhất của Power Pointtrong việc thiết kế bài giảng chính là sự tương tác Để khắc phục tình trạng này,tôi sử dụng kĩ thuật cò súng (trigger) và mã VBA để tạo ra các bài giảng tươngtác Tôi đã trình bày vấn đề này trong chuyên đề cấp trường nên không đề cậptrong đề tài này

3.3.4 Sử dụng phần mềm violet để thiết kế bài giảng e – Learning:

3.3.4.1 Yêu cầu của một bài giảng e -Learning:

Một bài giảng điện tử theo chuẩn E-Learnig là bài giảng trước hết phải đápứng một trong các chuẩn đóng gói của hệ thống LMS (SCORM, AICC,…);

Về nội dung, bài giảng điện tử e-Learning phải đáp ứng được yêu cầu tựhọc của người học Như vậy, nội dung slide bài giảng rõ ràng, mạch lạc, có phimảnh, từ liệu minh họa nội dung bài giảng, có ghi âm, ghi hình lời giảng của giáoviên; có các bài trắc nghiệm kiến thức đầu bài, trong bài và kiểm tra cuối bài.Phải có những ràng buộc về mặt kiến thức đối với người học; có đính kèm tàiliệu tham khảo liên quan đến nội dung bài học

Ta có thể thấy các hoạt động tương đương của bài giảng điện tử e - learning

và hoạt động giảng dạy của người thầy trên lớp như Bảng sau:

Giảng dạy tại lớp Bài giảng e -learning

Nêu vấn đề Câu hỏi trắc nghiệm hoặc hoạt cảnh tạo tình huống có

vấn đề Diễn giảng Kích hoạt file âm thanh hoặc video giảng bài

Ngày đăng: 21/03/2019, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w