1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp nâng cao chất lượng phân môn chính tả lớp 3

24 241 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 475,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chữ viết là một công cụ dùng để giao tiếp và trao đổi thông tin, làphương tiện để ghi chép và tiếp nhận những tri thức văn hoá, khoa học và đờisống…Việc dạy cho học sinh biết chữ và từng

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GD & ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

CHÍNH TẢ LỚP 3”

Người thực hiện : Nguyễn Thị Thi Chức vụ : Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Hoằng Long

SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Việt

THANH HÓA NĂM 2018

MỤC LỤC

1 Mở đầu 1

Trang 2

1.1 Lí do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 1

1.3 Đối tượng nghiên cứu 1

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2

2.2 Thực trạng của việc dạy - học chính tả……… 3

2.3 Các giải pháp để năng cao chất lượng phân môn chính tả lớp 3 4

2.4 Hiệu quả của biện pháp năng cao chất lượng phân môn chính tả lớp 3… 17

3 Kết luận, kiến nghị 18

3.1 Kết luận 18

3.2 Kiến nghị 18

Tài liệu tham khảo……… …… 21

Trang 3

1 PHẦN MỞ ĐẦU.

1.1 Lí do chọn đề tài.

Chữ viết là một công cụ dùng để giao tiếp và trao đổi thông tin, làphương tiện để ghi chép và tiếp nhận những tri thức văn hoá, khoa học và đờisống…Việc dạy cho học sinh biết chữ và từng bước làm chủ được công cụ chữviết để phục vụ cho học tập và giao tiếp là một yêu cầu và việc làm quan trọnghàng đầu của môn Tiếng Việt

Biết đọc thông, viết thạo là ước mơ của mọi học sinh khi được cắp sáchđến trường Đọc thông và viết thạo có quan hệ mật thiết với nhau Viết đúngmẫu, rõ ràng và nhanh, học sinh sẽ có điều kiện ghi chép bài học của tất cả cácmôn học được tốt hơn

Chính tả là một trong những phân môn có đóng góp một phần không nhỏtrong quá trình rèn chữ viết và rèn luyện cho học sinh những phẩm chất đạo đứctốt như tính cẩn thận, tinh thần kỷ luật, óc thẩm mĩ như lời cố vấn Phạm Văn

Đồng đã nói: “Chữ viết cũng là một biểu hiện của nết người Dạy chữ cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho học sinh tính cẩn thận, tính kỷ luật cũng chính là dạy cho học sinh biết về lòng tự trọng của bản thân mình cũng như đối với thầy cô và các bạn đọc, làm mọi người cảm thấy hài lòng khi đọc bài vở của mình”.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở nhiều trường Tiểu học, đa số học sinh viếtđúng mẫu chữ theo quy định, cách trình bày sạch đẹp, viết đúng chính tả Songbên cạnh đó vẫn còn tình trạng học sinh chữ viết chưa đẹp, chưa đúng mẫu, cònsai lỗi chính tả Trong các kì thi, vẫn còn học sinh bị điểm kém do nguyên nhânchữ viết và trình bày tuỳ tiện, cẩu thả Bên cạnh đó, tình hình viết sai lỗi chính tảcủa các em còn khá phổ biến Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượnghọc tập của các em Vấn đề này có thể do nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chủyếu là do giáo viên và học sinh đôi khi còn phát âm theo tiếng địa phương (chưanói chuẩn theo tiếng phổ thông) Hơn nữa một số giáo viên chữ viết chưa đẹp,chưa chuẩn mực, còn lúng túng trong việc giảng dạy luật chính tả cho học sinh.Mặt khác do gia đình các em chưa thực sự quan tâm, sát sao đến việc học tậpcủa con em mình Phần nữa là ý thức học tập của các em còn hạn chế, không có

sự tự giác Vậy làm thế nào để dạy chữ viết - rèn nết người cho học sinh ? Quaquá trình giảng dạy, từ thực trạng dạy và học chính tả trong trường học ở địaphương mình tôi thấy: Nếu hiện tượng viết sai chính tả kéo dài sẽ ảnh hưởng rấtlớn đến chất lượng học tập của các em Do đó để góp phần nâng cao chất lượng

chữ viết cho học sinh tôi đã chọn đề tài:“Biện pháp nâng cao chất lượng phân

môn chính tả lớp 3” làm đề tài nghiên cứu của mình trong năm học này.

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Dựa trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, đề tài sẽ chỉ rõ những loại lỗichính tả cơ bản mà học sinh thường mắc phải Đồng thời chỉ ra những nguyênnhân mắc lỗi và những biện pháp khắc phục

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Trang 4

Sáng kiến kinh nghiệm đưa ra những biện pháp nâng cao chất lượng phân

môn chính tả cho học sinh lớp 3A- Trường tiểu học Hoằng Long- thành phố Thanh Hóa - Năm học 2017 – 2018.

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp thực nghiệm và đối chứng kết quả

Phương pháp luyện tập - thực hành

Phương pháp khảo sát thực tế thu thập thông tin

Nghiên cứu tài liệu, tổng kết kinh nghiệm

Phương pháp thống kê xử lí số liệu

Điều tra phỏng vấn dự giờ thăm lớp

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm Do đóviệc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở của viết đúng Vì vậy,phân môn chính tả có vị trí đặc biệt quan trọng, nhằm thực hiện mục tiêu củamôn Tiếng Việt là rèn và phát triển tiếng mẹ đẻ cho học sinh, trong đó có nănglực chữ viết Trong những năm gần đây, các nhà trường tiểu học luôn quan tâmđến chữ viết qua các phong trào thi “Viết chữ đẹp” Đây là một hình thức đểtuyên truyền lan tỏa cho toàn dân trong việc giáo dục con em viết chữ đẹp Viếtchữ đẹp không phải chỉ đẹp về hình thức mà còn đúng cả về luật chính tả Bởivậy,chính tả luôn luôn là những chuẩn mực của ngôn ngữ viết, và được thừanhận trong ngôn ngữ toàn dân Mục đích của nó làm phương tiện thuận lợi choviệc giao tiếp bằng chữ viết bảo đảm cho người viết và người đọc đều hiểuthống nhất những điều đã viết Chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xãhội, một sự quy định có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối, nó không cho phépvận dụng quy tắc một cách linh hoạt hay có tính chất sáng tạo cá nhân

Tuy nhiên do yếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi mỗi khác Mặc dùnhững quy tắc, quy ước về chính tả được thống nhất theo ngữ pháp chung.Nhưng việc “viết đúng chính tả” trong học sinh tiểu học nói chung và học sinhlớp tôi nói riêng còn nhiều khó khăn, tồn tại mà mỗi giáo viên và học sinh cầnphải nỗ lực để khắc phục tồn tại trên

Hiện nay có nhiều phương án dạy - học Tiếng Việt khác nhau ở Tiểu học

Đó là một xu hướng lành mạnh - điều đáng nói là các phương án này đều hướngtới một mục tiêu chung đó là giáo dục một cách toàn diện hình thành và pháttriển cho học sinh những tri thức và kĩ năng cơ sở thiết thực với cuộc sống cộngđồng, lòng tự tin, tính hồn nhiên, sự năng động và linh hoạt Giúp học sinh cóđầy đủ phẩm chất, ý chí và ước mơ đem sức mình đáp ứng được những nhu cầuphù hợp với xã hội trong thời đại mới

Người giáo viên muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng phảithông qua năng lực viết đúng chính tả của các em Vì vậy mỗi thầy, cô giáo cầnphải nhiệt tình trong công tác giảng dạy: rèn cho học sinh viết đúng chính tảngay từ đầu, dần dần các em ham thích trong mỗi giờ học chính tả cũng như cácmôn học khác

Trang 5

2.2 Thực trạng của việc dạy - học chính tả:

2.2.1 Thuận lợi:

Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa, vở chính tả, vở bài tập Tiếng Việt( ghi đầy đủ nội dung bài tập chính tả ) Về nhà trường trong những năm học gầnđây, luôn quan tâm đến chữ viết qua các phong trào thi “Viết chữ đẹp” Đây làmột hình thức để tuyên truyền cho các bậc phụ huynh học sinh trong việc giáodục con em viết chữ đẹp Ngay từ đầu năm học 2017 -2018 này, qua học tập,tiếp thu chuyên đề “ Nói chuẩn, viết chuẩn tiếng phổ thông” của Ủy ban nhândân; Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thanh Hóa, được nhà trường tiếp tụctriển khai thực hiện và nghiên cứu Thông tư 22 Tôi đã định hướng cho bản thân

là tìm hiểu, theo dõi sáng kiến của mình về nâng cao chất lượng phân môn chính

tả lớp 3, cụ thể là lớp 3A Lớp học gồm 30 em: 14 nữ, 16 nam Các em đềungoan ngoãn, biết nghe lời thầy cô dạy bảo Về cơ sở vật chất cũng như các thiết

bị đồ dùng dạy hoc…Đã được nhà trường quan tâm và trang bị tương đối đầy

đủ Mặt khác với chương trình mới này học sinh đươc tham gia học tập một cáchthoải mái và giảm bớt áp lực, nhờ đó các em đã có nhiều cơ hội để bộc lộ khảnăng của mình hơn Vì vậy có sự thuận lợi cho giáo viên dạy học

2.2.2 Khó khăn:

- Lớp 3A là lớp học có phần đa gia đình làm nông nghiệp và một số giađình có bố mẹ làm công nhân, một số em có bố mẹ đi làm ăn xa gửi con lại choông bà …nên việc quan tâm chăm lo đến học tập của các bậc phụ huynh đối vớicon em mình còn hạn chế Có nhiều em đi học còn hay quên đồ dùng học tập,không có sự chuẩn bị bài trước khi đến lớp…

- Các em chưa hiểu rõ mục đích và tầm quan trọng của việc giữ vở sạchviết chữ đẹp, Đa số các em ngại viết, không có hứng thú và lòng say mê khi viếtchữ mà chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ viết đúng như em Quỳnh, Trang, HàLinh Một số em khác không nắm được cấu tạo các con chữ và kỹ năng viếtđúng dẫn đến sai ngay từ những giờ Tiếng Việt đầu tiên của cấp học

2.2.3 Thực trạng chữ viết của học sinh:

Tình trạng chung của học sinh trường Tiểu học Hoằng Long nói riêng,học sinh Tiểu học nói chung khi học xong Tiểu học một số em viết chữ còn xấu,cẩu thả, sai nhiều lỗi chính tả, viết không đúng kích cỡ, đúng mẫu tất cảnhững lỗi này do nhiều nguyên nhân: Một phần là do sự thiếu cẩn thận của họcsinh khi viết, một phần do thiếu sự quan tâm của giáo viên chủ nhiệm, chưa sâusát với từng đối tượng học sinh và còn nhiều lí do khách quan khác Song, mộtnguyên nhân chủ yếu và rất thực tế đối với học sinh lớp3 là vốn từ của các emcòn hạn chế Các em chỉ hiểu nghĩa của các từ ngữ ở mức độ đơn giản trong khi

từ ngữ Tiếng Việt vô cùng phong phú

Để xây dựng được kế hoạch thực hiện nghiên cứu các biện pháp: “ Nâng cao chất lượng phân môn chính tả ” cho học sinh của lớp, tôi đã tiến hành khảo

sát tình hình thực tế việc viết chính tả của học sinh ngay từ đầu năm học

Cụ thể kết quả khảo sát chữ viết của học sinh như sau:

Trang 6

2.2.4 Nguyên nhân:

- Học sinh viết sai chính tả chủ yếu do các em bị mất căn bản từ lớp dưới,

chưa nắm vững âm, vần, chưa phân biệt được cách phát âm của giáo viên, chưahiểu rõ nghĩa của từ, chưa có ý thức tự học, tự rèn ở nhà, chưa chú ý khi viếtchính tả

- Học sinh viết sai chính tả do một số lỗi sau:

+ Lỗi do vô ý, chưa cẩn thận (như thiếu dấu phụ, thiếu dấu thanh)

+ Lỗi về các vần khó dễ lẫn (oa, ao, oe, eo, uya, uyu, uênh, oang, oeo, ươu,uyên, uyêt, uêch, …)

+ Lỗi do phát âm sai do nói tiếng địa phương (s/x,tr/ch, r/d, ân/ưn, an/ang,anh/ang in/inh, it/ich, iu/iêu, iêc/iêt, ươc/ươt, iên, uyên…)

+ Lỗi do không nắm được quy tắc chính tả (g chỉ được ghép với a, ă, â, o, ô, ơ,

2.3 Các giải pháp để nâng cao chất lượng phân môn chính tả lớp 3

2.3.1 Biện pháp 1: Luyện phát âm theo chuẩn tiếng phổ thông

Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước hết giáo viên phải chú ý luyệnphát âm cho mình và cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính,

âm cuối Vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhấtvới nhau Nếu giáo viên chưa phát âm chuẩn, do ảnh hưởng của cách phát âm ởđịa phương Hoặc với học sinh, các em được sinh ra và lớn lên trong môi trườngphát âm như vậy nên các em cũng có thói quen phát âm sai dẫn đến hiện tượngviết sai chính tả

Hoằng Long là một xã ven thành phố Thanh Hóa,là một vùng nông thônthuần túy nên phần lớn người dân ở đây nói tiếng địa phương Học sinh trườngTiểu học Hoằng Long cũng mắc phải một số lỗi phát âm địa phương ( những lỗiphát âm sai này đã dẫn đến viết sai ).Những lỗi sai chủ yếu là :

- Phát âm sai về thanh điệu:

Thanh hỏi -> Thanh ngã VD : thỉnh thoảng -> thĩnh thoãng

Trang 7

Thanh ngã -> Thanh hỏi VD : những bông hoa -> nhửng bông hoa

- Phát âm lệch chuẩn về phụ âm đầu quặt lưỡi r/d ,tr/ch ,s/x

hoa sen/ hoa xen , hái rau / hái dau

- Lệch chuẩn về phần vần :

+ Nguyên âm đôi thường bị triệt tiêu : VD : hiểu biết / hỉu bít

VD : quả chuối / quả chúi

VD : quả xoài / quả xòi

+Biến thành nguyên âm khác : ươ thành iê VD : chai rượu /chai riệu + Phát âm sai nguyên âm đơn:

â biến thành ư VD : cái chân -> cái chưn

u thành ô VD : cái bụng -> cái bộng

o thành ua VD : bó hoa -.> búa hoa

- Lệch chuẩn về âm cuối vần :

VD :Một nghìn đồng ->Một nghình đồng

Ăn cơm với thịt -> Ăn cơm với thịch

Ảnh hưởng từ phát âm tiếng địa phương dẫn đến các em viết dễ sai chính tảtrong bài viết Thực tế có rất nhiều em học sinh trong lớp tôi đã viết từ địaphương vào trong bài viết chính tả Vì thế tôi rất chú trọng luyện phát âm chuẩncho các em trong mọi hoạt động giao tiếp Nếu học sinh nào phát âm sai ,đọc sai,yêu cầu em đó nói lại ,đọc lại theo cô giáo hoặc theo bạn thật đúng chuẩn Việcrèn phát âm được thực hiện thường xuyên trong các tiết Tập đọc và một số mônhọc khác Để thực hiện được, bản thân giáo viên phải phát âm chuẩn, rõ ràng,tốc độ vừa phải và cho các em luyện phát âm đúng, đọc đi đọc lại nhiều lần mới

có thể giúp học sinh viết đúng chính tả Không những chú trọng rèn phát âmchuẩn tiếng phổ thông cho học sinh ở lớp ,tôi còn phổ biến đến phụ huynh trongcuộc họp phụ huynh đầu năm để phụ huynh lưu ý luyện phát âm chuẩn tiếng phổthông cho con em mình ở nhà

2.3.2 Biện pháp 2: Phân tích so sánh.

Song song với việc luyện phát âm cho học sinh, khâu phân tích so sánhtiếng, từ cũng rất quan trọng trong giờ học chính tả: với những tiếng khó, giáoviên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng rồi so sánh những tiếng dễ lẫnlộn ,luyện viết bảng con trước khi viết vào vở Với những tiếng dễ lẫn lộn, giáoviên cần nhấn mạnh những điểm khác để học sinh ghi nhớ

* Ví dụ : Dạy bài Chính tả (Tập chép): Cậu bé thông minh – TV3 -Tập 1, tr.4

Cho học sinh nhìn bảng viết đoạn 3: từ “Hôm sau …đến xẻ thịtchim”.Trước khi viết bài, giáo viên phân tích cho học sinh hiểu nghĩa một sốtiếng dễ lẫn lộn như:

+ sắc ≠ sắt: sắc là sắc bén còn sắt là thanh sắt (vật kim loại).

+ xẻ (thịt chim) ≠ sẻ: xẻ là mổ xẻ, bổ ra còn sẻ là chim sẻ, san sẻ.

Qua phần bài tập: Điền vào chỗ trống vần an hay ang?

- đ `… hoàng

- đ `… ông

- s …… loáng

Trang 8

Học sinh tiến hành làm bài tập, sau đó giáo viên sửa bài và cho học sinhphân tích từ:

- đàng hoàng ≠ đàn (tiếng đàn)

- đàn ông ≠ đàng (đường)

- sáng loáng ≠ sán (sán: là kí sinhgiống giun; nghĩa khác là tiến đến gần.)

* Dạy bài: Nghe – viết: Ông ngoại - (TV3 - Tập 1, tr.34) – Chép đoạn 3

Trong đoạn viết có câu: “Trong cái vắng lặng của ngôi trường cuối hè,

…trong đời đi học của tôi sau này”

Khi viết tiếng “lặng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “lặn”, giáo viên yêucầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:

- Lặng = L + ăng + thanh nặng

- Lặn = L + ăn + thanh nặng

So sánh để thấy sự khác nhau, tiếng “lặng” có âm cuối là “ng” còn tiếng

“lặn” có âm cuối là “n” Học sinh ghi nhớ cách phát âm và cách viết sẽ khôngviết sai

2.3.3 Biện pháp 3: Giải nghĩa từ.

Do phương ngữ của từng vùng miền khác nhau, cách phát âm đôi khichưa thống nhất với chữ viết nên học sinh cần nắm rõ nghĩa của từ để viết chođúng

* Dạy Chính tả (Tập chép): Chị em - (TV3 – Tập1, tr.27)

Học sinh viết: Để chị trải chiếu, buông màn cho em

Học sinh đọc “buông màn‘ nhưng viết “buôn màn”,do đó học sinh cần

hiểu “buông” có nghĩa là thả màn xuống, còn “buôn” là buôn bán vì vậy phảiviết là “buông màn”

* Dạy Chính tả ( Nghe – viết): Người mẹ (TV3 – Tập 1, tr.30)

Nội dung viết: Nhờ Thần Đêm Tối chỉ đường, bà vượt qua bao nhiêu khókhăn, hi sinh cả đôi mắt của mình để giành lại đứa con đã mất

Học sinh đọc“giành” nhưng viết “dành” Giáo viên giúp học sinh hiểu

nghĩa: giành là tranh giành, giành phần hơn về mình còn dành là để dành (dành

đã hiểu nghĩa từ; tìm từ cùng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụngvật thật, mô hình, tranh ảnh,… Với những từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ

đó trong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa từ

2.3.4 Biện pháp 4: Luyện viết đúng tiếng có vần khó.

Sau khi các em đã hiểu được nghĩa của một số từ ngữ trong bài, giáo viênkết hợp cho học sinh luyện viết đúng những tiếng, từ có vần khó thường gặptrong bài (uyu, uôn, oang, uyết ) một số tiếng có vần dễ lẫn lộn (oe/eo;

Trang 9

êu/uê; /oa/ao ) một số từ khó "khuỷu tay" trong bài " Ai có lỗi", " Luống rau"

trong bài " Chị em" , "khoát tay" trong bài " Người lính dũng cảm"

Để rèn luyện đúng các lỗi này, trước khi viết bài tôi gọi học sinh phân biệttừng tiếng, cho học sinh khác nhau nhận xét và thống nhất cách viết tiếng có vầnkhó

Ví dụ : kh + uyu + thanh hỏi = khuỷu

kh + oai + thanh sắc = khoái

kh + oat + thanh sắc = khoát ( khoát tay )

ng +oăn + thanh huyền = ngoằn (ngoằn ngoèo )

m + uông + thanh sắc = muống (rau muống)

m + uôn + thanh sắc = muốn ( ước muốn )

Cụ thể trong bài chính tả nghe –viết “ Tiếng đàn” ( SGK Tiếng Việt 3–tập 2- trang 55 ) có những từ học sinh dễ viết sai như : rượi (mát rượi ), lưới( tung lưới ), lướt (lướt nhanh ),thuyền Trước khi viết bài ,tôi gọi 1 -2 học sinhđánh vần ,nhận xét các tiếng khó,từ khó mà cô giáo viết trên bảng :

Tiếng “rượi” = r + ươi + thanh nặng (đặt trên con chữ “ ơ ”

Tiếng “ thuyền” = th +uyên + thanh huyền (đặt trên con chữ “ê”

Tiếng “ lướt” = l + ươt + thanh sắc ( đặt trên con chữ “ơ”

Sau đó tôi sẽ xóa bảng và yêu cầu học sinh dưới lớp nghe cô giáo phát

âm và viết lại.Từ đó hình thành cho các em thói quen nghe và viết đúng chính tảcác tiếng có vần khó Khi phân tích tôi chú ý nhấn giọng vào phần vần, sau đócho học sinh viết bảng con, lớp nhận xét, lớp tự sửa sai Với những bài viết có ítnhững vần khó tôi có thể lấy thêm một số tiếng có vần khó, đọc cho học sinhviết, để khắc sâu vần cần chú ý.Trong các tiết chính tả tôi thường chọn các dạngbài tập khác nhau cho các em được làm nhiều, luyện viết nhiều để các em nhớcách viết đúng

2.3.5 Biện pháp 5 : Sử dụng các kĩ thuật đánh giá thường xuyên trong khi dạy –học chính tả

Để nâng cao chất lượng giờ chính tả,tôi luôn sử dụng các kĩ thuật đánh giáthường xuyên ( theo hướng dẫn của thông tư 22) Các kĩ thuật đánh giá thườngxuyên mà tôi sử dụng trong phân môn chính tả là : Quan sát ,vấn đápnhanh ,đánh giá bài viết của học sinh ,học sinh tự đánh giá lẫn nhau Ví dụ : saukhi học sinh viết bài xong ,tôi thực hiện hoạt động chấm chữa bài Có nhiềuhình thức chấm chữa bài, nhưng khi dạy tôi thường sử dụng biện pháp như sau:Sau khi viết bài xong, cô đọc chậm cho các em tự soát bài sau đó cho các em tựđổi vở cho nhau ( 2 em ngồi cạnh nhau) theo sự chỉ đạo của giáo viên Nếu pháthiện ra lỗi sai của bạn, kịp thời bảo bạn sửa lại ngay( kĩ thuật đánh giá bài viếtcủa nhau ) Sau khi các em thực hiện xong, tôi cho các em nêu kết quả mình đãđược kiểm tra vở bạn Tôi hỏi sau khi các bạn kiểm tra bài bạn xong, em thấy

có bài nào không viết sai lỗi nào hoặc bài nào sai 2; 3 lỗi không ? bài nào còn sairất nhiều lỗi ?( đây là kĩ thuật vấn đáp nhanh ).Cuối cùng giáo viên kịp thờituyên dương những bạn không sai lỗi nào

Từ việc học sinh tự sửa lỗi theo tôi có những đặc điểm tích cực sau đây:

Trang 10

- Các em được tiếp xúc có ý thức với văn bản viết một lần nữa, qua đógóp phần củng cố những kiến thức vừa được hướng dẫn.

- Với sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự phát hiện ra những lỗichính tả.Từ đó, các em có điều kiện để tái hiện lại quy tắc viết đúng chính tả chomỗi trường hợp Nên góp phần củng cố, khắc sâu hơn cho học sinh những khảnăng chính tả

- Trường hợp, những em học sinh chuyên viết sai lỗi chính tả thì không

tự phát hiện được lỗi của bạn Đối với những em này, giáo viên đi đến từng em

để hướng dẫn cách sửa lỗi Từ đó giúp các em có thể nắm bắt được luật chính tảmột cách thuận tiện

- Thông qua việc tự sửa lỗi của các em, tôi đã giáo dục các em tính cẩnthận, chính xác, không để sai sót đồng thời cũng kết hợp lòng trung thành chocác em, sai lỗi nào bảo bạn sữa lỗi ấy

- Hình thành ý nghĩa giữ gìn đồ dùng của bạn cũng như của mình (giữ vởsạch, viết chữ đẹp), không được làm rách, bẩn vở của bạn trong quá trình chữasoát lỗi

- Hình thành ở các em ý thức nhiệm vụ được giao(tính tự giác)

Sau khi tổ chức cho các em chữa lỗi theo nhóm ,Gv thu khoảng 10 bài đểnhận xét ,chữa lỗi trực tiếp vào vở của học sinh ( hoặc gọi học sinh đó lên đểchữa tay đôi ) hoặc chữa chung trên bảng nếu nhiều học sinh cùng mắc lỗi sai đó( đây là kĩ thuật quan sát và kĩ thật đánh giá sản phẩm của học sinh.)

Các kĩ thuật đánh giá thường xuyên này tôi luôn sử dụng thường xuyênđối với các tiết chính tả Từ đó đã tạo cho các em thói quen và giữ trật tự khitrao đổi bài.Tôi luôn tuyên dương và khuyến khích những em viết đúng, viếtđẹp Với biện pháp trên, học sinh rất thích viết đúng và đẹp để cho bạn khôngtìm ra lỗi sai của mình và được cô khen trước lớp Chính vì thế chỉ một thời giankhông lâu tôi đã thu được kết quả đáng khả quan

2.3.6 Biện pháp 6: Giúp học sinh ghi nhớ mẹo luật chính tả.

Ngay từ lớp Một, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản nhưcác âm đầu : k, gh, ngh chỉ kết hợp với âm i, e, ê và âm g chỉ kết hợp với : a, ă,

â, o, ô, ơ, u, ư Giáo viên còn có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luậtkhác như sau:

a) Phân biệt âm đầu s/x : Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu

bằng s (sắn, sung, sầu riêng, sứ, sả, sim, sậy; sáo, sên, sâu, sán, sóc, sói, sư tử,

…)

b) Phân biệt âm đầu tr/ch : Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật

đều bắt đầu bằng ch (chổi, chum, chén, chảo, chai, chày, chăn, chiếu,…; chó,chuột, châu chấu, chuồn chuồn, chào mào, chiền chiện,…)

c) Luật trầm – bổng ( luật hỏi – ngã trong từ láy) :

Có thể cho học sinh học thuộc hai câu thơ sau:

Chị Huyền mang Nặng Ngã đau

Anh Ngang, Sắc thuốc Hỏi đau chỗ nào.

Nghĩa là: Thanh Huyền, Nặng, Ngã kết hợp với dấu Ngã

Trang 11

Thanh Ngang, Sắc, Hỏi kết hợp với dấu Hỏi.

+ Ngang – Hỏi: vui vẻ, nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo,…

+ Sắc – Hỏi: vắng vẻ, mát mẻ, nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vất vả,…

+ Hỏi – Hỏi: hổn hển, lỏng lẻo, thỏ thẻ, thủ thỉ, rủ rỉ,…

Cũng có thể cung cấp thêm cho học sinh mẹo luật sau:

Từ có âm đầu là M, N, Nh, V, L, D, Ng thì viết là dấu ngã (Mình Nên Nhớ

Viết Là Dấu Ngã).

*Ví dụ: M: mĩ mãn, mã lực, từ mẫu, cần mẫn,…

N: nỗ lực, trí não, truy nã, nữ giới,…

Nh: nhẫn nại, nhẵn bóng, quấy nhiễu, nhõng nhẽo,…

V: vĩnh viễn, vỗ về, vũ trang, võ nghệ, vũ trụ,…

L: lễ phép, lữ hành, kết liễu, thành lũy, lạnh lẽo, …

D: dã man, dã tràng, dũng cảm, dỗ dành, hướng dẫn, diễm lệ,…

Ng: ngưỡng mộ, hàng ngũ, ngữ nghĩa, ngôn ngữ, ngỡ ngàng, ngã

(té),

Ngoài 7 âm đầu trên các từ Hán Việt đều viết dấu hỏi:

* Ví dụ: ảm đạm, ẩm thực, ủy ban, quỷ quyệt, xả thân, kỉ niệm, tỉ mỉ,

Ngoại lệ: quỹ đạo, thủ quỹ, xã hội, kĩ thuật, mĩ thuật,…

2.3.7 Biện pháp 7 : Biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập.

Các dạng bài tập chính tả thường gặp ở lớp3 trong HK I là các dạng bài:

Bài tập điền vào chỗ trống (Bài tập điền khuyết); Bài tập tìm từ; Bài tập tìm

tiếng; Bài tập giải câu đố; Bài tập lựa chọn Sang HK II có thêm dạng Bài tậpđặt câu (Bài tập phân biệt hai từ trong từng cặp từ)

Mỗi bài viết chính tả giáo viên cần luyện học sinh phát âm từ khó, phântích so sánh tiếng, từ khó, giải nghĩa từ, ghi nhớ mẹo luật chính tả Ngoài nhiệm

vụ trên giáo viên còn hướng dẫn học sinh làm các bài tập khác nhau để giúp họcsinh tập tận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văncảnh cụ thể Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp các em rút ra các quy tắc chính tả đểghi nhớ

2.3.7.1.Bài tập điền vào chỗ trống.

Với dạng bài tập này thường giúp học sinh điền đúng âm đầu, vần vào

Trang 12

Giàu đôi con mắt, đôi tay

Tay …iêng làm lụng, mắt hay kiếm tìm

Hai con mắt mở, ta nhìn

Cho sâu, cho …áng mà tin cuộc đời

* Dạy Chính tả (Nghe – viết) : Ông ngoại (đoạn 3) - TV3, Tập 1, tr 35

Nội dung viết: Ông còn nhấc bổng tôi trên tay, cho gõ thử vào mặt da loang lổcủa chiếc trống trường

Một số học sinh viết sai lỗi “da” viết là “gia”, cũng có em viết là “ra” Tôi

phân biệt cho các em biết nghĩa của hai từ da và gia: da viết là d – với các nghĩa

có liên quan tới “da thịt”, trong “da diết”; còn gia viết là gi trong các trường hợp

còn lại, với các nghĩa là “nhà” (ví dụ: gia đình), chỉ người có học vấn, chuyênmôn (ví dụ: chuyên gia), nghĩa khác (gia vị, gia súc,…) Sau phần bài viết tôi tự

ra bài tập để các em hiểu thêm Nội dung bài tập như sau:

* Điền vào chỗ trống r, d hay gi ?

- …a vào; …a dẻ;…a đình

- …a rả; …a thịt, tham …a

* Điền vào chỗ trống en hay eng ? (BT 2b – TV 3, tập 1, tr 41)

- Tháp Mười đẹp nhất bông s…

Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

- Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây ch…đá lá ch…hoa

* Điền vào chỗ trông iên hay iêng ? (Bài tập 2b – TV3, Tập 1, tr 56)

Trên trời có g… nước trong.…

Con k… chẳng lọt, con ong chẳng vào.……

* Điền vào chỗ trống en hay oen ? (Bài tập 2 – TV3, Tập 1, tr 60)

- nhanh nh , nh… miệng cười, sắt h….gỉ, h nhát.., nh… miệng cười, sắt h….gỉ, h  nhát.   nhát.

2.3.7.2 Bài tập tìm từ:

Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý từcùng nghĩa, trái nghĩa:

* Bài tập 3a) - TV3, Tập 1, tr 52

Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng s hoặc x có nghĩa như sau:

- Cùng nghĩa với chăm chỉ : … ( siêng năng )

- Trái nghĩa với gần : … ( xa )

- (Nước) chảy rất mạnh và nhanh : … (xiết )

* Bài tập 3b) - TV3, Tập 1 tr 31

Tìm các từ chứa tiếng có vần ân hoặc âng có nghĩa như sau:

- Cơ thể của người: … ( cơ thể )

- Cùng nghĩa với nghe lời: ….( vâng lời ).

- Dụng cụ đo trọng lượng (sức nặng) : … ( cái cân )

2.3.7.3.Bài tập tìm tiếng :

* Bài tập 2b) - TV3,Tập 1, tr 18

Tìm những tiếng có thể ghép với mỗi tiếng sau:

- gắn, gắng

Ngày đăng: 21/03/2019, 08:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w