Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh ra văn bản (nói và viết). Nhờ vậy, Tiếng Việt không chỉ là hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà nó trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập. Nói cách khác, phân môn Tập làm văn đã góp phần thực hiện hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học Tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội các tri thức khoa học…
Trang 1- Phân môn Tập làm văn giúp cho học sinh vận dụng các hiểu biết và kĩ năng
về Tiếng Việt do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp, đồng thời góp phầnhoàn thiện chúng Để làm được một bài văn nói hoặc viết, người làm phải hoànthiện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết phải vận dụng các hiểu biết kiến thức vềTiếng Việt Trong quá trình vận dụng này, các kĩ năng và kiến thức đó được hoànthiện và nâng cao dần
Qua dạy chuyên đề phân môn Tập làm văn lớp 5 và qua kinh nghiệm giảngdạy nhiều năm ở khối lớp 5, tôi nhận thấy việc dạy và học phân môn này đang gặpnhiều khó khăn, không chỉ đối với học sinh mà cả đối với giáo viên cũng cảm thấybăn khoăn ái ngại Trong công tác giảng dạy giáo viên cũng gặp nhiều khó khăntrong việc rèn năng lực viết văn cho học sinh, nhất là đối với học sinh địa phươngvùng sâu nơi tôi giảng dạy Thực tế cho thấy, bình thường các em nói chuyện vớinhau rất dễ dàng với đủ cách nói mọi lúc mọi nơi nhưng đến giờ tập làm văn thìcác em lại tỏ ra lúng túng về chọn ý và diễn đạt thành câu văn Rõ ràng học sinhvẫn chưa phát huy hết khả năng và tính chủ động của mình trong học tập, khả năngdiễn đạt bằng ngôn ngữ văn học của các em còn nhiều hạn chế Do đó gây cho các
Trang 2những câu văn hay, sử dụng từ chưa hợp lý, ý tưởng còn khô khan, chưa dồi dào,phong phú…
Chính vì vậy, mà giáo viên cần giúp cho học sinh biết chọn ý, diễn đạt tốtham mê hứng thú trong giờ học các tiết dạy phân môn Tập làm văn Giáo viên cần
có một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập làm văn Đó là động lực làmcho tôi luôn luôn phải biết tìm ra những biện pháp, đúc kết thành những kinhnghiệm để thực hiện trong công tác giảng dạy phân môn Tập làm văn ngày cànghoàn thiện hơn Tôi xin được chia sẻ qua nội dung của đề tài “Một số biện phápnâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5”
2/ Đối tượng nghiên cứu:
Dạy và Học trong nội dung chương trình Tiếng Việt của sách giáo khoa bậcTiểu học nói chung; hệ thống các bài văn miêu tả trong chương trình Tiếng Việtsách giáo khoa lớp 5 nói riêng
- Đối với giáo viên:
+ Cần nắm vững chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng bài học Từ đó xây dựng
kế hoạch bài học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh
+ Lập những hoạt động cụ thể nhằm tạo môi trường học tập tự nhiên thoảimái giúp học sinh tìm tòi, phát hiện, chủ động chiếm lĩnh tri thức
- Đối với học sinh:
+ Tự tìm tòi, phát hiện, chủ động chiếm lĩnh tri thức
+ Ứng dụng thành thạo các tri thức đã lĩnh hội được vào trong cuộc sống + Biết làm tốt một bài văn miêu tả
3/ Phạm vi nghiên cứu:
Tìm ra những biện pháp tốt nhất để giúp học sinh lớp 5C Trường Tiểu học
An Cơ học tốt phân môn Tập làm văn chương trình lớp 5(về văn miêu tả)
4/ Phươ ng pháp nghiên c ứu:
a) Phương pháp trực quan:
Trang 3Nhận thức của trẻ ở bậc Tiểu học còn mang tính cụ thể, gắn với các hình ảnh
và hiện tượng sự vật cụ thể Sử dụng phương pháp này, nhằm giúp cho học sinh
có chỗ dựa trong hoạt động tư duy và bổ sung vốn hiểu biết, phát triển tư duy trừutượng và ứng dụng thực hành tìm ý, diễn đạt câu văn, đoạn văn trong bài văn miêu
tả
b) Phương pháp thực hành luyện tập:
Sử dụng phương pháp này nhằm để giúp các em học sinh luyện tập kiếnthức, kỹ năng thực hành làm bài văn viết Trong quá trình học sinh thực hành làmbài văn viết sẽ giúp cho các em hoàn chỉnh diễn đạt câu văn, đoạn văn
c) Phương pháp gợi mở - vấn đáp:
Đây là phương pháp rất cần thiết và thích hợp với học sinh Tiểu học, rèncho các em cách suy nghĩ, cách diễn đạt bằng lời, tạo niềm tin và khả năng học tậpcủa từng học sinh trong việc thực hiện lời văn
d) Phương pháp luyện câu:
* Luyện sửa chữa câu sai gồm:
+ Sai về ý, sắp xếp ý
+ Làm cho câu văn trở nên cụ thể, sinh động bằng cách dùng từ phù hợp vớingữ cảnh hay các biện pháp tu từ như: nhân hóa, so sánh
e) Phương pháp dạy lí thuyết một bài Tập làm văn:
Phương pháp dạy lí thuyết thể loại văn miêu tả tốt nhất là thông qua một bàivăn cụ thể hoặc thông qua việc quan sát một đối tượng cụ thể Từ đó giúp học sinh
sẽ rút ra kết luận cần thiết về đặc điểm, tính chất, nội dung, phương pháp làm bàivăn
Trang 4B/ NỘI DUNG
1/ Cơ s ở lý luận:
- Căn cứ vào thông tư số 07/2004/TT-BGD&ĐT ngày 30 tháng 3 năm 2004của Bộ Giáo dục và Đào tạo và hướng dẫn số 106/TTr ngày 31/3/2004 của Thanhtra Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đánh giá trình độ nắm vững chương trình, nộidung giảng dạy Giáo viên cần nắm vững yêu cầu của các môn học, bài học; xâydựng đầy đủ và chính xác các kiến thức, kĩ năng và giáo dục thái độ cho học sinh,theo yêu cầu của chương trình Từ đó, xác định đúng trọng tâm của bài dạy và biếtlựa chọn phương pháp thích hợp, vận dụng nhuần nhuyễn các phương pháp vàhình thức tổ chức các hoạt động để dạy học cho tốt
- Căn cứ vào Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông – cấpTiểu học và kèm theo Công văn số 5842 ngày 01/9/2011 của Bộ Giáo dục và Đàotạo về việc Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học giáo dục phổ thông Theohướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học đã xác định
“ Chuẩn kiến thức, kĩ năng là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năngcủa môn học, hoạt động giáo dục mà học sinh cần phải và có thể đạt được”
Trang 5Trong tác phẩm “Dạy Tập làm văn ở Tiểu học” - Tiến sĩ Nguyễn Trí viết:
“Phân môn Tập làm văn có tính chất tổng hợp, có quan hệ chặt chẽ với việc dạyhọc Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu Đây là nơi tiếp nhận và cũng là nơiluyện tập càng ngày càng nhuần nhuyễn các kĩ năng và kiến thức các phân môntrên Bài tập làm văn trở thành sản phẩm tổng hơp, là nơi trình bày kết quả đíchthực nhất của việc học Tiếng Việt (tiếng mẹ đẻ) Tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kìquan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người Với cộng đồng,
đó là công cụ để giao tiếp và tư duy Đối với trẻ em, tiếng mẹ đẻ lại càng có vai tròquan trọng hơn.”
Chính vì thế, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu người giáo viên Tiểu học cầnghi nhớ và thường xuyên thể hiện 3 quan điểm khi tổ chức dạy học Tiếng Việt là:quan điểm giao tiếp – quan điểm tích hợp và quan điểm tích cực hoá hoạt động họctập của học sinh (SGV Tiếng Việt 5/1, trang 6 - 8)
2/ Cơ s ở thực tiễn:
Ở học sinh lớp 5, khả năng nhận thức của các em đã được hình thành và pháttriển ở các lớp trước, tư duy đã bắt đầu có chiều hướng bền vững và đang ở giaiđoạn phát triển Học sinh lớp 5 đã có sự phát triển về trí tuệ, tâm hồn, các em thíchquan sát mọi vật xung quanh Khả năng tư duy cụ thể nhiều hơn khả năng kháiquát hoá Các em rất nhạy cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, dễ xúc động
và bắt đầu biết mơ ước, có trí tưởng tượng phong phú, thích ghi lại các vấn đề màmình đã quan sát được Song vốn ngôn ngữ chưa phong phú, sắp xếp ý chưa có hệthống và diễn đạt còn thiếu mạch lạc, gãy gọn Để làm được một bài tập làm văn,học sinh phải huy động vốn kiến thức từ nhiều mặt như: các hiểu biết về cuộcsống, tri thức về văn học, khoa học, xã hội Học sinh lại còn phải biết kết hợp hàihòa nhiều kĩ năng như: dùng từ đặt câu, dựng đoạn, tạo văn bản, kĩ năng phân tích
đề, tím ý, lập dàn ý Tập làm văn là sản phẩm thể hiện rõ vốn hiểu biết, đời sống,trình độ văn hoá của học sinh Hiệu quả của việc dạy học không chỉ phụ thuộc vàonội dung dạy học mà còn phụ thuộc vào phương pháp dạy học Đặc biệt là tập làm
Trang 6văn là phân môn mà các em ở Tiểu học còn học yếu hơn các môn khác Bởi vậy,người giáo viên phải có nhiệm vụ giúp các em nối tiếp một cách tự nhiên các bàikhác nhau trong môn Tiếng Việt như Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, kểchuyên nhằm giúp các em có năng lực nói, viết Nhờ năng lực này, các em biết
sử dụng Tiếng Việt làm công cụ tư duy, giao tiếp, học tập Giúp các em bổ sungkiến thức, rèn luyện tư duy và qua đó hình thành nhân cách cho các em
sinh Để có một bài văn hoàn thiện về nội dung lẫn hình thức quả là một việc làmkhó đối với học sinh Nhiều em không biết bắt đầu từ đâu, phải nói và viết những
gì, viết như thế nào Chính vì vậy mà trong các tiết học phân môn này các emthường rất lúng túng, viết lan man, khôn mạch lạc, không đúng trọng tâm đề yêucầu, ý văn nghèo nàn, dùng từ không chính xác, sử dụng ngôn ngữ địa phương cònnhiều Một số em có thói quen nói như thế nào viết như thế ấy Học sinh tuy có sựhiểu biết nhưng các em chưa diễn đạt được ý mình muốn nói Trong khi làm bàivăn cách diễn đạt văn phong của các em còn thiếu tự nhiên, kĩ năng diễn đạt cònyếu, ngôn ngữ chưa trau chuốt Bài viết chỉ mang tính liệt kê khô khan, không biếtliên kết câu và lồng cảm xúc của người viết vào Một số em viết câu còn sai ngữpháp, ít khi sử dụng câu văn giàu hình ảnh, cảm xúc, gợi tả, gọi cảm Bố cục bàiviết chưa cân đối giữa các phần Vẫn còn một số em phân biệt chưa rõ các phầncủa bài văn dẫn đến bài viết khô khan, sơ sài đạt điểm thấp chẳng nói lên đượcđiều gì, có chăng chỉ là một vài câu nhận xét là: lạc đề, văn nghèo ý, không biếtliên hết câu, bài viết lan man không mạch lạc, chưa phong phú từ phía giáo viên
mà thôi Điều đó đã làm cho các em ngày càng chán nản, lo sợ, mất tự tin, ngại học
và cuối cùng là học yếu môn này Làm thế nào để khắc phục tình trạng này, nhằmgiúp các em lấy lại tự tin học tốt phân môn Tập làm văn?
3/ Nội dung vấn đề:
Để cung cấp và giúp các em có những kiến thức diễn đạt được câu văn, đoạnvăn hoàn chỉnh một bài văn miêu tả; người giáo viên phải có những phương pháp
Trang 7dạy phân môn Tập làm văn cụ thể, lôgic thông qua các tiết dạy Mục đích cuốicùng của việc dạy học phân môn Tập làm văn ở trường Tiểu học là tổ chức cho họcsinh được thực hành, vận dụng các kiến thức mang tính tổng hợp từ các phân mônkhác như: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, thông qua việc thực hiện dùng từ,đặt câu, diễn đạt ý một cách trôi chảy, mạch lạc, gãy gọn, khúc chiết, sinh động,phong phú, gợi tả, gợi cảm để hình thành nên đoạn văn, phát triển thành bài vănhoàn chỉnh Để đạt được điều đó, tôi thấy rằng mình phải biết tổ chức cho học sinhđược tham gia các hoạt động dưới nhiều biện pháp mang tính đồng bộ và lồngghép một cách thường xuyên trong từng tiết học, nghĩa là tổ chức cho học sinhhoạt động nhằm để giúp các em biết cách quan sát - tìm ý, diễn đạt câu văn bằngngôn ngữ giao tiếp và trau dồi tư duy ngôn ngữ Từ đó có được những câu vănphong phú, giàu hình ảnh; làm nên đoạn văn hay, bài văn hay.
- Các kỹ năng làm bài tập làm văn gồm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn định hướng:
* Nhận diện đặc điểm loại văn bản
* Phân tích đề bài, xác định yêu cầu
+ Giai đoạn lập chương trình:
* Xác định dàn ý bài văn đã cho
* Quan sát đối tượng, tìm ý và sắp xếp ý thành dàn ý trong bàivăn miêu tả
+ Giai đoạn thực hiện hóa chương trình:
* Xây dựng đoạn văn (chọn từ, tạo câu, viết đoạn)
* Liên kết các đoạn thành bài văn
+ Giai đoạn kiểm tra văn bản mới hoàn thành
* Viết được đoạn văn, bài văn tả cảnh, tả người, miêu tả con vật, miêu tả đồvật hay cây cối theo nội dung chương trình quy định
Trang 8- Tập làm văn ở chương trình lớp 5 thường gắn với các chủ điểm của phânmôn Tập đọc Tập một gồm 5 chủ điểm học trong 18 tuần, tập hai gồm 5 chủ điểm,học trong 17 tuần Trong đó:
+ Dạy bài mới và ôn tập:
* 31 tuần học bài mới
* 4 tuần ôn tập và kiểm tra định kỳ (tuần 10, tuần 18, tuần 28, tuần35)
- Miêu tả cây cối (ôn tập)
- Miêu tả con vật (ôn tập)
- Miêu tả cảnh
08
0403030407
0403031815
0303
020302030303
MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 5:
Trang 9a) Nắm vững mục tiêu, yêu cầu, nội dung từng tiết dạy trong quá trình
dạy-học:
Dạy - học văn miêu tả thường theo một quy trình như sau: Dạy quan sắp xếp ý, lập dàn bài- dạy làm phần mở bài, kết bài, luyện tập viết một đoạn phầnthân bài- làm bài viết-trả bài Đây là quy trình đầy đủ khi dạy viết bài văn Để dạytốt theo quy trình trên thì phải được đặt vào hệ thống chung khi phân tích, xem xét
sát-và đánh giá Làm như vậy chúng ta sẽ tránh được thái độ nôn nóng, vội sát-vàng dẫnđến tham lam, nhồi nhét trong giảng dạy Chúng ta sẽ thấy yên tâm hơn trước kếtquả cụ thể của từng tiết học Nói cách khác mỗi tiết học cần được tiến hành tớimức tốt nhất việc thực hiện các yêu cầu và nội dung đã đề ra Toàn bộ các tiết họctrong một quy trình sẽ góp phần giúp các em hiểu lí thuyết, hình thành các kỹ nănglàm một bài văn miêu tả
Do thời gian dành cho tiết tập làm văn trên lớp chỉ từ 35 đến 40 phút, vì thếcác em cần phải có sự đầu tư từ trước, nếu không chuẩn bị bài thì việc học tập trênlớp của các em gặp nhiều khó khăn và kém hiệu quả Tuy nhiên, việc phải chuẩn bị
gì và chuẩn bị như thế nào còn phụ thuộc vào sự định hướng của giáo viên Do đó,tôi thường định hướng cho các em chuẩn bị bài một cách rõ ràng, cụ thể như sau:
* Ví dụ 1: “Hãy tả ngôi trường thân yêu đã gắn bó với em nhiều năm qua”.Tôi cho các em xác định những yêu cầu trọng tâm của đề bài và gạch dướinhững từ ngữ trọng tâm đó qua các câu hỏi như :
+ Đề bài thuộc thể loại văn gì ? (miêu tả)+ Đối tượng tả là gì ? (ngôi trường thân yêu gắn bó với em)Việc xác định trọng tâm của đề bài giúp các em tránh được sự lạc đề hoặc đilan man xa yêu cầu trọng tâm Mặt khác, tôi chú trọng khâu định hướng quan sátcho học sinh, trước khi quan sát các em phải trả lời được các câu hỏi:
+ Các em quan sát những gì ?+ Quan sát theo thứ tự nào ?
* Ví dụ 2: Tả một người bạn thân của em ở trường
Trang 10Tôi gợi ý cho học sinh quan sát một bạn học sinh mà các em chọn tả : Quansát về : Bạn ấy có hình dáng thế nào? Cao hay thấp? Mập hay ốm? Vóc dáng cóđiểm gì nổi bậc Đó chính là phần tả bao quát hình dáng của bạn đó Em thấy bạn
ấy có điểm gì nổi bật khác với các bạn khác, ví dụ : nước da, mái tóc, , mặt, mũi,miệng, dáng đi, giọng nói, ánh mắt, nụ cười…Để giúp cho bài văn của các em sinhđộng hơn, có hồn hơn tôi còn nhắc nhở các em quan sát một cách tinh tế, tỉ mỉ đểphát hiện những nét riêng biệt, nổi bật của đối tượng mình tả và tả bằng chínhnhững cảm nhận đó một cách chân thật nhất Ví dụ : các em quan sát ánh mắt củabạn ấy ở những thời điểm khác nhau như : trong học tập, lúc vui chơi hay khi thamgia các hoạt động sinh hoạt tập thể hoặc những lúc bạn thuộc bài, được điểm cao
và được cô khen thì ánh mắt của bạn ấy thế nào? Khi có ai đó gây lỗi với bạn như
vô ý giẫm chân lên chân bạn thì ánh mắt biểu hiện của bạn ra sao? Khi bạn ấyphạm lỗi thì thái độ bạn ấy lúc nhận lỗi thế nào?
* Ví dụ 3: Tả một người thân của em trong gia đình
Nếu các em chọn tả ông hoặc bà của em, các em thấy ông bà là người gầngũi thương yêu chúng ta hàng ngày, vậy khi quan sát em thấy ánh mắt ông (bà) rasao ? (đôi mắt dịu hiền, ánh lên vẻ trìu mến) Cũng đôi mắt ấy, khi các em bị điểmkém vì không thuộc bài thì ánh mắt thế nào (ánh mắt buồn bã, lo âu) Tôi còn dùng
hệ thống câu hỏi để kích thích sự tưởng tượng khêu gợi óc tò mò, dựng lại hìnhảnh sự vật mà các em quan sát trước, phát huy khả năng tư duy sáng tạo của các
em Từ đó, học sinh có hứng thú chuẩn bị bài đầy đủ và tỉ mỉ để lên lớp học tốt
Động viên học sinh phải thuộc ghi nhớ vì đó là những kiến thức cô đọngnhất để hình thành kĩ năng thực hành Mục ghi nhớ trọng tâm là dàn bài đại cương,các em sẽ dựa vào đây để lập dàn bài chi tiết Qua dàn bài chi tiết, học sinh sẽ nói
và viết văn tương đối thuận lợi, đi đúng yêu cầu trọng tâm và bố cục đầy đủ, rõràng Vì tôi nhận thấy ở đa số các em chưa phân biệt được rõ ràng bố cục của bàivăn, các em còn lơ mơ khi đi vào viết bài văn hoàn chỉnh mà chưa thật sự nắm
Trang 11chắc cách bố cục của thể loại văn mình đang học Sự chuẩn bị bài đầy đủ, tỉ mỉgiúp các em học tập, làm văn hiệu quả hơn, viết đúng với yêu cầu của đề bài hơn.
b) Đảm bảo yêu cầu quan sát đối tượng miêu tả:
- Nếu tả cảnh: cần quan sát tỉ mỉ từng phần (bộ phận) không gian của cảnhtheo trình tự hợp lí (ví dụ: Từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài, từ gần đến xa, từ
xa đến gần, từ bộ phận chủ yếu đến các bộ phận thứ yếu), hoặc sự thay đổi củacảnh theo thời gian (ví dụ: sáng ,trưa, chiều tối) Sắp xếp trình tự miêu tả cho phùhợp; chọn những nét tiêu biểu để tả
- Nếu tả người thì cần quan sát kĩ về ngoại hình (ví dụ: tầm vóc, cách ănmặc, khuôn mặt, mái tóc, cặp mắt, hàm răng,…),Về tính tình, hoạt động (ví dụ: lờinói, cử chỉ, thói quen, cách cư xử với người khác,…) Khi miêu tả người, yếu tốquan sát lại càng quan trọng Nhìn chung, mọi người đều có những đặc điểm giốngnhau nhưng lại hoàn toàn khác nhau ở những đặc điểm riêng, chỉ người đó mới có.Nhiệm vụ của giáo viên khi hướng dẫn học sinh quan sát “miêu tả người” là giúpcho các em thấy rằng phải miêu tả ngắn gọn mà chân thực, sinh động về hình ảnh
và hoạt động của người mình tả
* Ví dụ: Trong bài văn “Người thợ rèn” (SGK lớp 5- tập 1- trang 123) Tácgiả miêu tả người thợ rèn đang làm việc:
“Anh bắt lấy thỏi thép hồng như bắt lấy một con cá sống Dưới những nhát búahăm hở của anh, con cá lửa ấy vùng vẫy, quằn quại, giãy lên đành đạch.”
Ta thấy tác giả quan sát rất kĩ và miêu tả sinh động làm nổi bật hình ảnhngười thợ rèn như một người chinh phục dũng mãnh và thấy rõ quá trình biến thỏithép thành một lưỡi rựa Khi quan sát trực tiếp hoặc trò chuyện, trao đổi ý kiến vớingười đó Quan sát khuôn mặt, dáng đi, nghe giọng nói, xem xét cách nói, cử chỉ,thao tác lúc làm việc…để rút ra nét nổi bật Ta cũng cần dùng cách quan sát giántiếp là thông qua trí nhớ hoặc nhận xét của một người khác về người định tả để bổsung những thông tin cần thiết
Trang 12- Khi tả đồ vật, con vật hay cây cối thì phải quan sát bằng nhiều giác quan.(tả cây bút: mắt phải thấy màu sắc, hình dáng, tay sờ trơn bóng, tai nghe ngòi bútlướt êm trên giấy) Bài văn nên cần chú ý phần chính, trọng tâm của bài văn miêu
tả (phần chính phải tả nhiều hơn, kĩ hơn) Phải tìm nét tiêu biểu, tả theo trình tự của
sự vật Đảm bảo tính cụ thể sinh động, tính sáng tạo, tính chân thực và tính hấpdẫn, truyền cảm
* Ví dụ: Đoạn văn tả cây tre cần tiến hành theo trình tự
+ Tả chi tiết một bụi tre rậm rịt, gai góc
+ Có những hình ảnh so sánh sinh động: Trên thân cây tua tủa những vòixanh, ngỡ như những cánh tay vươn dài:…Những búp măng ấy chính là những đứacon thân yêu của tre
c) Xây dựng nội dung bài: (lựa chọn và sắp xếp ý để miêu tả)
Nội dung bài đầy đủ, phong phú là yêu cầu không thể thiếu được của mộtbài tập làm văn tốt.Với yêu cầu này ta cần tiến hành thực hiện qua các bước nhưsau: tìm ý, lập dàn bài chi tiêt theo bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) Vớimỗi bài văn miêu tả, chúng tôi yêu cầu học sinh làm được những yêu cầu sau:
- Học sinh đọc kỹ đề, xác định thể loại, kiểu bài
- Xác định nội dung (tả gì ?)
- Xác định tư tưởng, tình cảm cần thể hiện trong bài
Sau đó, học sinh bám sát yêu cầu của đề bài, huy động vốn thực tế (mà các
em đã được hướng dẫn quan sát qua khâu chuẩn bị) để lựa chọn được những nétnổi bật của đối tượng để miêu tả rõ ràng, đầy đủ, phong phú Sắp xếp ý một cáchhợp lí
Trang 13vào nội dung yêu cầu đã được xác định.Dựa vào mở bài của mỗi em mà giáo viêngóp ý, không gò bó, không áp đặt.
Ví dụ: Khi tả người thân các em viết:“ Từ khi ông nội qua đời, bà nội là ngườigần gũi và yêu thương em nhất” Cũng có em viết tự nhiên hơn, dí dỏm hơn: “Bà
ơi bà, cháu yêu bà lắm ” hay: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào Nghecâu hát ấy, lòng em lại càng xốn xang bao cảm xúc; nỗi niềm nhớ thương người
mẹ kính yêu lại dâng trào ”
Từ đó, chúng tôi giúp các em hiểu rằng: vào bài trực tiếp hay gián tiếp, bằngcách nhắc lại một câu nói hay một tiếng cười, tiếng hát… cũng vẫn phải bám sátyêu cầu của đề bài để viết được bài văn tốt mang tính nghệ thuật cao
Phần thân bài :
* Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh:
- Bám sát dàn bài chi tiết
- Dùng từ gợi tả, gợi cảm, các biện pháp tu từ, để viết được những câu vănsinh động Biết cảm nhận các sự vật bằng các giác quan (mắt nhìn, tai nghe, mũingửi, tay sờ, miêng nếm…)
- Dùng từ đặt câu có sự liên kết giữa các câu trong đoạn, liên kết các đoạn vàcác biện pháp tu từ về câu (có thể xen kẽ nhận định cảm nhận riêng của mình) Câuđầu của mỗi đoạn thể hiện được ý của đoạn đó
Việc hướng dẫn cho học sinh thực hiện theo những yêu cầu trên, quả là khókhăn Tuy nhiên cần phải kiên trì Trong các giờ tập làm văn, cần sửa chữa triệt đểcác lỗi sai về dùng từ, đặt câu; luyện tập cách sử dụng các biện pháp tu từ Để họcsinh dễ tiến hành, trong tiết làm bài văn Chúng tôi gợi ý cho các em bằng nhữngcâu hỏi dễ nhớ, hướng dẫn các em biết chọn lựa chi tiết, diễn đạt bằng câu vănngắn gọn, mạch lạc giàu hình ảnh, gợi tả, gợi cảm, sử dụng biện pháp tu từ đã họcnhư so sánh , nhân hoá, điệp từ, điệp ngữ…làm cho cách diễn đạt các câu chi tiết,sinh động hơn Những câu hỏi gợi ý thường được xen vào trong bài làm văn dựng