Việc đọc giúp cho học sinh Tiểu học hiểu biết, tiếp thu nền văn minh củaloài người, làm giàu tâm hồn, tình cảm, gíúp cho học sinh có công cụ học tập, giaotiếp, giúp cho học sinh phát tri
Trang 1Chúng ta đã biết môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ vô vùng
quan trọng đó là hình thành 4 kỹ năng: Nghe – nói - đọc – viết cho học sinh Tập
đọc có vị trí quan trọng đặc biệt trong chương trình Tiếng Việt ở bậc tiểu học Biếtđọc là có thêm một công cụ mới để học tập và giao tiếp Đây là một công cụ mà chỉngười biết chữ mới có Biết đọc là nhu cầu không thể thiếu được đối với đời sốngcon người Biết đọc sẽ làm cho kiến thức thêm mở mang, tâm hồn thêm phong phú
Từ đây con người sẽ có khả năng chế ngự mọi phương tiện văn hoá cơ bản, giúp họgiao tiếp, thông hiểu tư tưởng tình cảm của người khác Đặc biệt khi đọc tác phẩmvăn chương, con người không chỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung độngtình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dậy năng lực hành động, sứcmạnh cũng như được bồi dưỡng tâm hồn Tập đọc đảm nhiệm việc hình thành vàphát triển kỹ năng đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc tiểuhọc đầu tiên Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôichảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi
là đọc hiểu) và đọc diễn cảm
Việc đọc giúp cho học sinh Tiểu học hiểu biết, tiếp thu nền văn minh củaloài người, làm giàu tâm hồn, tình cảm, gíúp cho học sinh có công cụ học tập, giaotiếp, giúp cho học sinh phát triển tư duy, hình thành trong học sinh các tính cách tốtđẹp – lòng yêu cái thiện, cái đẹp Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối vớimỗi học sinh Nó tạo ra hứng thú, động cơ học tập các môn học khác Vì vậy, việcdạy đọc có hiệu quả là một trong các yêu cầu cần thiết
Chính vì vậy môn Tập đọc ở cấp Tiểu học nói chung, ở lớp 2 nói riêngchiếm vị trí cực kỳ quan trọng Nó trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên của người
Trang 2đi học Nó là công cụ để học tập những môn học khác Nó tạo ra hứng thú và động
cơ học tập Nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cảđời Việc dạy học sẽ giúp học sinh hiểu biết nhiều hơn, dạy cho các em biết suynghĩ một cách logic cũng như hình ảnh Như vậy dạy đọc có một ý nghĩa vô cùng
to lớn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
2 Cơ sở thực tiễn:
Qua nhiều năm giảng dạy lớp 2 tôi nhận thấy muốn cho học sinh nói hay vàviết đúng chính tả, trước hết, phải biết cách đọc đúng, đọc hay Đọc đúng, đọc haykhông hoàn toàn đồng nghĩa với đọc nhanh, đọc to, có nhiều em đọc xong khôngbiết nội dung của đoạn văn, bài thơ mình vừa đọc nói gì Đọc đúng, đọc hay nghĩa
là ngoài yêu cầu đọc đúng chữ, rõ ràng, lưu loát còn phải đọc diễn cảm, hay - tức làthể hiện được nội dung, sắc thái, cái hay, cái đẹp của bài tập đọc hoặc của một tácphẩm Đọc hay, đọc đúng còn thể hiện cách lên giọng, hạ giọng, nhấn giọng, cónhịp độ, cường độ sao cho phù hợp với nội dung của bài văn Muốn vậy, trước tiênngười đọc phải cảm nhận được nội dung, cái hay, cái đẹp mà tác giả muốn gửi gắmthì mới có thể đọc đúng lưu loát, diễn cảm và hay được Đối với học sinh tiểu học,nhất là đối với học sinh lớp 2 thì yêu cầu đọc đến đâu hiểu - cảm nhận được đến đó
và diễn cảm ngay khi đọc thì quả là một điều cực khó, mà giáo viên phải là ngườitìm ra giải pháp tốt nhất để truyền đạt, hướng dẫn, gợi ý và làm mẫu cho học sinh,tuỳ vào từng bài, từng thể loại mà giáo viên tìm cách khai thác, hướng dẫn cho họcsinh hiểu ý tứ, nội dung nghệ thuật của từng đoạn văn và cả bài để có thể đọc chođúng Sau đó mới luyện cho học sinh bước nâng cao hơn là đọc hay Muốn đọcdiễn cảm một cách sáng tạo, hay thì học sinh trước tiên phải có năng lực cảm thụvăn học Giáo viên phải có trách nhiệm giúp học sinh nâng cao cảm xúc, cảm nhậncái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương trong từng bài khi dạy tập đọc Ở đâyvấn đề chính là làm thế nào để học sinh vẫn thấy được cái hay cái đẹp của bài tậpđọc để các em thích, có hứng thú học và đọc hay được các bài thơ, bài văn
Nhận thức được tầm quan trọng của môn Tập đọc kết hợp với nhiều năm
giảng dạy ở lớp 2, tôi luôn tìm tòi và áp dụng sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện
Trang 3phỏp nõng cao chất lượng phõn mụn tập đọc cho học sinh lớp 2” tại Trường Tiểu học Tống Trõn
II MỤc ĐÍch vÀ NHIỆM VỤ NGHIấN CỨU:
Nghiờn cứu cơ sở lớ luận và thực tiễn của cỏc biện phỏp giảng dạy mụn tậpđọc lớp 2 Tập đọc là phõn mụn thực hành vỡ vậy nhiệm vụ của nú là hỡnh thành kỹnăng đọc cho học sinh Kỹ năng đọc cú nhiều mức độ: đọc đỳng, đọc nhanh Dạyđọc giỏo dục lũng ham đọc sỏch cho học sinh giỳp cho cỏc em thấy được đõy chớnh
là con đường đặc biệt để tạo cho mỡnh một cuộc sống trớ tuệ phỏt triển Tập đọc gúpphần làm giầu vốn kiến thức ngụn ngữ, bồi dưỡng cho học sinh lũng yờu cỏi thiện
và cỏi đẹp, dạy cho cỏc cỏch tư duy cú hỡnh ảnh
Đặc điểm của dạy tập đọc lớp 2 chớnh là ở chỗ đõy là bước chuyển tiếp từdạy “tập đọc” (ở lớp 1) sang dạy tập đọc ở mức độ cao hơn Giờ tập đọc ở lớp 1vận dụng cả phương phỏp học vần, cả phương phỏp tập đọc thỡ yờu cầu của giờ tậpđọc lớp 2 là củng cố hệ thống tiếng, từ đó học (nhất là cỏc từ khú) đọc đỳng tiếng,liền tiếng trong từ, trong cõu, đoạn, bài Biết cỏch ngắt hơi ở cỏc dấu cõu, biết lờngiọng và hạ giọng Để làm tốt được những nhiệm vụ nờu trờn, đề tài của tụi mục đớch đưa ra một số biện phỏp để giỳp học sinh đọc lưu loỏt được văn bản và đọcđỳng ngữ điệu núi chung, ngắt giọng đỳng núi riờng nhằm nõng cao chất lượng củamột giờ dạy tập đọc ở lớp 2
Áp dụng cỏc biện phỏp giảng dạy tớch cực vào việc dạy và học ở lớp 2C Trường tiểu học Tống Trõn
III ĐỐI TƯỢNG và PHẠM VI NGHIấN CỨU:
1 Khỏch thể nghiờn cứu:
Học sinh lớp 2C( lớp thực nghiệm), lớp 2B( lớp đối chứng) năm học 2013-
2014 của Trường Tiểu học Tống Trõn, huyện Phự Cừ
2 Phạm vi nghiờn cứu:
Vỡ điều kiện thời gian khụng cho phộp nờn đề tài chỉ tập trung nghiờn cứu
Trang 4việc sử dụng cỏc biện phỏp dạy và học tớch cực để nõng cao chất lượng phõn mụnTập đọc lớp 2.
IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Nếu sử dụng tốt cỏc biện phỏp dạy và học tớch cực thỡ sẽ nõng cao được chấtlượng mụn Tập đọc lớp 2
V PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU:
Để giải quyết cỏc nhiệm vụ vừa nờu ở trờn, tụi đó sử dụng đồng bộ cỏc biệnphỏp:
1 Phương phỏp nghiờn cứu lý luận:
Nghiờn cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liờn quan tới việc dạy học mụn
Tập đọc
2 Phương phỏp nghiờn cứu tài liệu:
Đọc tài liệu và sỏch tham khảo cú liờn quan và phục vụ cho việc nghiờn cứu.Phương phỏp này được thực hiện nhằm nghiờn cứu lý thuyết, làm cơ sở cho phần lýluận
3 Phương phỏp khảo sỏt thực tiễn:
+ Khảo sỏt điều tra thực tế dạy tập đọc ở trường tiểu học Tống Trõn.
+ Dự giờ dạy của giỏo viờn và kiểm tra chất lượng học tập của học sinh quacỏc bài kiểm tra
Phương phỏp này nhằm nghiờn cứu thực trạng dạy tập đọc ở trường Tiểu học
4 Phương phỏp điều tra:
+ Điều tra về học sinh
+ Điều tra về phụ huynh
+ Dựa vào kết quả giảng dạy và học tập của năm trước đề ra kế hoạch chonăm học này
5 Phương phỏp so sỏnh đối chiếu:
Phương phỏp này được thực hiện nhằm so sỏnh cỏc tiết dạy theo cỏch thụngthường và cỏc tiết dạy theo cỏch mà mỡnh đề ra ở 2 lớp cú cựng trỡnh độ để từ đútỡm ra kết quả đạt được
Trang 56 Phương phỏp dạy thực nghiệm.
Dạy thực nghiệm một số tiết tập đọc trờn lớp theo hướng đề xuất nhằm kiểmtra và hoàn thiện cỏc giải phỏp mà đề tài nờu ra
7 Phương phỏp thống kờ toỏn học:
Nhằm xử lý cỏc số liệu và kết quả thu được trong quỏ trỡnh nghiờn cứu
* Trao đổi, toạ đàm với đồng nghiệp.
* Kế hoạch và thời gian nghiờn cứu:
Từ ngày 20 thỏng 9 năm 2013 đến thỏng 3 năm 2014
PHẦN THỨ HAI NỘI DUNG
A cƠ SỞ Lí LUẬN CHUNG:
I NHỮNG CƠ SỞ CỦA VIỆC DẠY ĐỌC Ở TIỂU HỌC.
1 Cơ sở tõm lý, sinh lý của việc dạy đọc:
Để tổ chức dạy đọc cho học sinh, chỳng ta cần hiểu rừ về quỏ trỡnh đọc, nắmbản chất của kỹ năng đọc Đặc điểm tõm lý sinh lý của học sinh khi đọc hay cơ chếcủa đọc là cơ sở của việc dạy học
Đọc được xem như là một hoạt động cú hai mặt quan hệ mật thiết với nhau,
là việc sử dụng bộ mó gồm hai phương diện Một mặt đú là quỏ trỡnh vận động củamắt, sử dụng bộ mó chữ - õm để phỏt ra một cỏch trung thành nhưng dũng văn tựghi lại lời núi õm thanh Thứ hai đú là sự vận động của tư tưởng, tỡnh cảm, sử dụng
bộ mó chữ - nghĩa tức là mối liờn hệ giữa cỏc con chữ và ý tưởng, cỏc khỏi niệmchứa đựng bờn trong để nhớ và hiểu cho được nội dung những gỡ được đọc
Đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt hoạt động của cỏc cơquan phỏt õm, cỏc cơ quan thớnh giỏc và thụng hiểu những gỡ được đọc Càng ngàynhững yếu tố này càng gần nhau hơn, tỏc động đến nhau nhiều hơn
Nhiệm vụ cuối cựng của sự phỏt triển kỹ năng đọc là đạt đến sự tổng hợpgiữa những mặt riờng lẻ này của quỏ trỡnh đọc, đú là điểm phõn tớch biết người mớibiết đọc và người đọc thành thạo Càng cú khả năng tổng hợp cỏc mặt trờn bao nhiờu thỡ
Trang 6việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác, càng biểu cảm bấy nhiêu.
Dễ dàng nhận thấy rằng thuật ngữ "đọc" được sử dụng trong nhiều nghĩa:
theo nghĩa hẹp, việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc (tức là việcchuyển dạng thức chữ viết của từ thành âm thanh), theo nghĩa rộng, đọc được hiểu
là kỹ thuật đọc của những từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài) ý nghĩa hai mặt của
thuật ngữ đọc được ghi nhận trong các tài liệu tâm lý học và phương pháp dạy học
Từ đây chúng ta sẽ hiểu đọc với nghĩa thứ hai - đọc được xem như là một hoạtđộng lời nói trong đó có các thành tố:
1 Tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ
2 Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ theotừng chữ cái (đánh vần) hay là đọc thành từng tiếng tuỳ thuộc vào trình độ nắm kỹthuật đọc
3 Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ, câu, bài) kỹ năng đọc là một
kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện lâu dài.T.G.Egorop (dẫn theo 3.101)chia việc hình thành kỹ năng này ra làm 3 giai đoạn: phân tích tổng hợp (còn gọi làgiai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giai đoạn
tự động hoá Giai đoạn dạy học vần là sự phân tích các chữ cái và đọc từng tiếngtheo các âm Giai đoạn tổng hợp thì đọc thành cả từ trọn vẹn, trong đó có sự tiếpnhận từ bằng thị giác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa Tiếp theo
sự thông hiểu ý nghĩa của "từ" trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm, tức làđọc được thực hiện trong sự đoán các nghĩa Bước sang lớp 2, lớp 3 học sinh bắtđầu đọc tổng hợp Trong những năm học cuối cấp, đọc càng ngày càng tự độnghoá, nghĩa là người đọc ngày càng ít quan tâm đến chính quá trình đọc mà chú ýnhiều đến việc chiếm lĩnh văn hoá (bài khoá), nội dung của sự kiện, cấu trúc chủ
đề, các phương tiện biểu đạt của nó Để có giờ tập đọc đạt kết quả tốt người giáoviên phải nắm được đặc điểm tâm sinh lý của học sinh mình nắm được đặc điểmyêu cầu, bản chất kỹ năng cơ chế đích cần đạt được của tiết dạy tập đọc Trên cơ sở
đó sử dụng phương pháp cho phù hợp
2 Cơ sở ngôn ngữ và văn học của việc dạy đọc:
Trang 7Phương pháp dạy tập đọc phải dựa trên những cơ sở của ngôn ngữ học Nóliên quan mật thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học như vấn đề chính âm,chính tả, chữ viết, ngữ điệu (thuộc ngữ âm học), vấn đề nghĩa của từ, của câu,đoạn, bài (thuộc từ vựng học, ngữ nghĩa học), vấn đề dấu câu, các kiểu câu…Phương pháp dạy học tập đọc phải dựa trên những kết quả nghiên cứu của ngônngữ học, việt ngữ học về những vấn đề nói trên để xây dựng, xác lập nội dung vàphương pháp dạy học Bốn phẩm chất của đọc không thể tách rời những cơ sở ngônngữ học Không coi trọng đúng mức những cơ sở này, việc dạy học sẽ mang tínhtuỳ tiện và không đảm bảo hiệu quả dạy học.
a Vấn đề chính âm trong tiếng Việt:
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của ngôn ngữ có giá trị và hiệu quả vềmặt xã hội Vấn đề chuẩn mực phát âm tiếng Việt đang là vấn đề thời sự, có nhiều
ý kiến khác nhau Nó liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau như chuẩn hoá ngônngữ, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, mục đích của việc xây dựng chính âm
b Vấn đề ngữ điệu của Tiếng Việt:
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên caohay hạ thấp giọng đọc, giọng nói Ngữ điệu là một trong những thành phần củangôn điệu Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yếu tố tham gia tạo thành lờinói
Mỗi ngôn ngữ có một ngữ điệu riêng Ngữ điệu tiếng Việt, như các ngôn ngữ
có thanh điệu khác, chủ yếu được biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng (caođộ), sự nhấn giọng (cường độ), sự ngừng giọng (trường độ) và sự chuyển giọng(phối hợp cả trường độ và cường độ)
Ngữ điệu là một hiện tượng phức tạp có thể tách ra thành các yếu tố cơ bản
có quan hệ với nhau: chỗ nghỉ (ngưng giọng hay ngắt giọng) trọng âm, âm điệu, âmnhịp và âm sắc Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy học sinh biết làm chủ những yếu tốnày
c Cơ sở lý thuyết cơ bản, phong cách học và văn học của dạy đọc:
Việc dạy đọc không thể dựa trên lý thuyết về văn bản những tiêu chuẩn để
Trang 8phân tích, đánh giá một văn bản (ở đây muốn nói đến những bài đọc ở tiểu học) nóichung cũng như lý thuyết để phân tích, đánh giá các tác phẩm văn chương nóiriêng Việc hình thành kỹ năng đọc đúng, đọc diễn cảm và đọc hiểu cho học sinhphải dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá một văn bản tốt: tính chính xác, tính đúngđắn và tính thẩm mỹ, dựa trên những đặc điểm vè các kiểu ngôn ngữ, các phongcách chức năng, các thể loại văn bản, các đặc điểm về loại thể của tác phẩm vănchương dùng làm ngữ liệu đọc ở tiểu học Ví dụ, cách đọc và khai thác để hiểu nộidung một bài thơ, một đoạn tả cảnh, một câu tục ngữ, một truyền thuyết, một bài
sử, một bài có tính chất khoa học thưởng thức… là khác nhau Việc hướng dẫn họcsinh tìm hiểu nội dung bài đọc cũng phải dựa trên những hiểu biết về đề tài, chủ đề,kết cấu nhân vật, quan hệ giữa nội dung và hình thức, các biện pháp thể hiện trongtác phẩm văn học, nhằm miêu tả, kể chuyện và biểu hiện các phương tiện và biệnpháp tu từ… Việc luyện đọc cho học sinh phải dựa trên những hiểu biết về đặcđiểm ngôn ngữ văn học, tính hình tượng, tính tổ chức cao và tính hàm súc, đa nghĩacủa nó Tất cả những vấn đề trên đều thuộc phạm vi nghiên cứu của lý thuyết vănhọc Vì vậy ta dễ dàng nhận thấy phương pháp dạy tập đọc không thể không dựatrên những thành tựu nghiên cứu của lý thuyết văn bản nói chung và nghiên cứuvăn học nói riêng
II TỔ CHỨC DẠY TẬP ĐỌC Ở TIỂU HỌC:
1 Chuẩn bị cho việc đọc:
Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc Khi ngồi đọc cầnphải ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nên nằm trong khoảng 30-35
cm, cổ và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi Ở lớp, khi được côgiáo gọi đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc ngay
Trước khi nói về việc rèn đọc đúng, cần nói về tiêu chí cường độ và tư thếkhi đọc, tức là rèn đọc to, đọc đàng hoàng Trong hoạt động giao tiếp, khi đọcthành tiếng, người đọc một lúc đóng hai vai: một vai - và mặt này thường đượcnhấn mạnh - là người tiếp nhận thông tin bằng chữ viết; vai thứ hai là người trung
Trang 9gian để truyền thông tin đưa văn bản viết đến người nghe Khi giữ vai thứ hai này,người đọc đã thực hiện việc tái văn bản Vì vậy, khi đọc thành tiếng, người đọc cóthể đọc cho mình hoặc cho người khác hoặc cho cả hai Đọc cùng với phát biểutrong lớp là hai hình thức giao tiếp trước đám đông đầu tiên của trẻ em nên giáoviên phải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công, tạo cho các em sự tựtin cần thiết Khi đọc thành tiếng, các em phải tính đến người nghe Giáo viên cầncho các em hiểu rằng các em đọc không phải chỉ cho mình cô giáo mà để cho tất cảcác bạn cùng nghe nên cần đọc đủ lớn để cho tất cả những người này nghe rõ.Nhưng như thế không có nghĩa là đọc quá to hoặc gào lên Để luyện cho học sinhđọc quá nhỏ "lí nhí", giáo viên cần tập cho các em đọc to chừng nào bạn ở xa nhấttrong lớp nghe thấy mới thôi Giáo viên nên cho học sinh đứng trên bảng để đốidiện với những người nghe Tư thế đứng đọc phải vừa đàng hoàng, vừa thoải mái,sách phải được mở rộng và cầm bằng hai tay.
Tôi hướng dẫn học sinh đọc dưới nhiều hình thức: Đọc nối tiếp từng câu,đọc nối tiếp từng đoạn trước lớp, đọc từng đoạn trong nhóm, cho học sinh đọc đồngthanh nếu có Chú ý hình thức đọc cá nhân để phát hiện lỗi và sửa cho học sinh.Giáo viên phải dựa vào đối tượng lớp mình mà chọn hình thức luyện đọc cho thíchhợp
âm vị Tiếng Việt Việc này cần rèn luyện liên tục và thường xuyên
- Đọc đúng các âm đầu: Khi học sinh đọc sai, giáo viên nêu cách phát âmđúng rồi cho học sinh nhìn miệng giáo viên phát âm mẫu để phát âm lại
Ví dụ:
+ lên / nên:
lên: dùng đầu lưỡi và hàm
Trang 10nên: dùng mặt lưỡi và hàm.
+ r / d :
r : dùng đầu lưỡi - hàm
d : dùng gốc lưỡi - hàm
- Đọc đúng âm chính: Có ý thức phân biệt để đọc đúng: ưu tiên, con khướu,
bình rượu, không đọc iu tiên, con khiếu, bình riệu.
- Đọc đúng âm cuối: có ý thức đọc đúng: ngào ngạt, đau đớn không đọc:
Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn (nhiệm vụ này phần dạy đọc củaphân môn học vần phải đảm nhận), đọc không ê a, ngắc ngứ, không vừa đọc vừađánh vần Về sau tốc độ đọc phải đi song song với việc tiếp nhận có ý thức bài đọc.Khi đọc cho người khác nghe thì người đọc phải xác định tốc độ đọc nhanh nhưng
để cho người nghe hiểu kịp được Vì vậy, đọc nhanh không phải là đọc liến thoắng.Tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với tốc độ của lờinói Khi đọc thầm thì tốc độ đọc sẽ nhanh hơn nhiều
b) Biện pháp luyện đọc nhanh:
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu đểhọc sinh đọc theo tốc độ đã định Đơn vị để đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn, bài.Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc Ngoài ra, còn có biệnpháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra của thầy, của bạn để điều chỉnh
Trang 11tốc độ Giáo viên đo tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có số tiếng cho trước và dựtính sẽ đọc trong bao nhiêu phút Định tốc như thế nào còn phụ thuộc vào độ khócủa bài đọc.
Cũng như thơ, sau khi sửa xong lỗi ngắt giọng cho học sinh, giáo viên phảigọi nhiều em đọc, các học sinh khác nghe và nhận xét bạn đọc
Tóm lại:
Việc luyện đọc cho học sinh đọc đúng từ, câu sẽ giúp cho việc đọc đoạn, bàiđược trôi chảy, lưu loát hơn và học sinh nắm chắc được cách đọc đúng văn bảnđược học mà không phải tình trạng học vẹt Ngắt giọng khi đọc bài văn được quyđịnh bởi các yếu tố ngữ pháp: từ đoạn, câu, nên khi đọc phải ngắt nghỉ sau dấuchấm (.) dấu (,) dấu (’) để bài văn được thể hiện mạch lạc rõ ràng, dễ hiểu Đọcđúng chính là điểm cơ bản của phương pháp rèn kỹ năng đọc đạt hiệu quả
1 Quan điểm của giáo viên về giờ tập đọc:
Nhìn chung giáo viên tiểu học đều nhận thức được ý nghĩa của việc tập đọc
và nhiệm vụ chính của dạy đọc vµ coi trọng giờ tập đọc Giáo viên ở các lớp đầucấp cho rằng phần luyện đọc từ, đọc câu là quan trọng hơn còn ở các lớp cuối cấpthì cho rằng phần luyện đọc và phần tìm hiểu bài quan trọng như nhau Nhưng nhìnchung 70% số giáo viên khẳng định việc luyện đọc quan trọng hơn còn về thời gianphân bố trong giờ luyện đọc thì 80% số giáo viên cho rằng thời gian luyện đọc lànhiều hơn, 20% số giáo viên còn lại cho rằng thời gian của 2 phần này như nhau
2 Những phương pháp giáo viên thường sử dụng trong phần rèn đọc:
Hiện nay ở tiểu học, về vấn đề rèn đọc cho học sinh, giáo viên sử dụngphương pháp dạy học cụ thể là: phương pháp làm mẫu, phương pháp luyện đọc
Trang 12theo mẫu, phương pháp luyện tập củng cố, phương pháp hỏi đáp (đặt câu hỏi đểhọc sinh tự tìm và phát hiện từ khó, cách ngắt nhịp câu dài…) và phương phápđóng vai (đối với văn kể chuyện).
II TÌnh hÌnh hỌc sinh:
Để thấy được tầm quan trọng trong bộ môn này Ngay từ đầu năm học, saukhi đã nắm bắt được tình hình sức học của các em, tôi cho các em hiểu được tầmquan trọng của bộ môn Tiếng Việt Trong đó, tập đọc là một phân môn “then chốt”như thế nào? Yêu cầu, đặc trưng của môn này đối với các em là: đọc to tát, rõ ràng,mạch lạc, đọc diễn cảm Vậy mà trên thực tế của lớp: các em đọc còn rất chậm, rấtyếu, còn hơn 50% đọc nhỏ, sai “thêm, bớt”, đọc còn ê a, còn đọc “nhát ngừng”,
một số em đọc còn ngọng những tiếng có âm đầu n / l, ch / tr, s / x Số học sinh
đọc tốt trong cả lớp chỉ có khoảng 4, 5 học sinh Chính vì lẽ đó dẫn đến kết quả:chữ viết sai lỗi nhiều, xấu; văn thì diễn đạt, đặt câu thiếu bộ phận câu; trong giờTập làm văn miệng thì không biết xây dựng bài
III TÌNH HÌNH DẠY TẬP ĐỌC TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC TỐNG
TRÂN:
Được dự các tiết tập đọc của trường nói chung và của khối lớp 2 nói riêngtôi nhận thấy phần lớn giáo viên đều chú ý sửa lỗi phát âm cho học sinh song dothời gian bị hạn chÕ nên việc sửa lỗi do chỉ được thực hiện lướt qua khi luyện đọc
từ hoặc câu giáo viên thường chỉ cho học sinh luyện những từ và câu mà sách giáokhoa yêu cầu chứ chưa chọn lọc ra những từ hoặc câu mà học sinh của mình haynhầm lẫn
Trong giờ tập đọc giáo viªn còn làm mẫu nhiều mà chưa để các em tự pháthiện ra cách đọc Giáo viên còn lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh sửa phát
âm sai do học sinh nói ngọng hoặc do tiếng địa phương
Trong giờ tập đọc nhất là khi có người dự giờ thì giáo viên còn ít chú ý đếnhọc sinh yếu vì đối tượng này thường đọc chậm, làm mất thời gian, làm giảm tiến
Trang 13độ của tiết dạy.
IV MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 2:
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có tác dụng hình thành phát triển ngônngữ cho học sinh Tiếng Việt gồm nhiều phân môn: Tập đọc, từ ngữ, ngữ pháp,chính tả, tập làm văn Phân môn tập đọc có vị trí quan trọng Dạy tốt phân môn nàyđáp ứng một trong 4 kỹ năng sử dụng tiếng Việt Kỹ năng đọc nhanh, chính xác, rõràng, rành mạch và diễn cảm nhờ đó học sinh có những hiểu biết văn học ngôn ngữ
và ngược lại Vì vậy đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là quá trình có liên quanmật thiết với nhau Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh được những tri thức văn hoácủa dân tộc và cũng từ đó giáo dục tình cảm đạo đức cao đẹp cho học sinh, đồngthời phát huy tính sáng tạo, khả năng tư duy cho các em
Đối với học sinh lớp 2 thì yêu cầu của giờ tập đọc là đọc đúng, đọc liền từ,đọc cụm từ và câu: biết ngắt nghỉ (hơi) đúng chỗ trong câu Hiểu các từ thôngthường và các từ mới, hiểu được ý diễn đạt đã đọc (với câu khoảng 10 tiếng trởlên) Bên cạnh nhiệm vụ đọc tốt bài, học sinh còn được phát triển vốn từ
V THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Học hết lớp 1 thì hầu hết các em đã biết đọc Khi bước sang lớp 2 yêu cầu củatiết tập đọc cao hơn Song thực tế nhiều em còn ngại đọc vì đọc còn chậm, ngắtnghỉ không đúng chỗ, lên giọng xuống giọng chưa hợp lý đặc biệt khi đọc thơ, ngắtnhịp thơ, câu văn dài, câu hỏi rất lúng túng, ngắt thiếu chính xác Vì thế khi đọc các
em khó có thể thể hiện được tư tưởng, tình cảm nội dung của bài thơ, bài văn củatác giả và sự đồng cảm của chính mình
Trong quá trình nghiên cứu tuần 28 và 30, các em học phân môn tập đọc, tôikhảo sát lần 1 t¹i líp 2C vµ 2B víi néi dung nh sau:
* Khảo sát:
a Khảo sát ngắt nhịp và ngắt giọng cuối mỗi dòng thơ.
+ Khảo sát qua các lần đọc
Trang 14+ Tên bài: Cây dừa, Cháu nhớ Bác Hồ.
b Khảo sát ngắt giọng khi đọc văn xuôi:
+ Đối tượng khảo sát là cả lớp
+ Tên bài: Ai ngoan sẽ được thưởng.
c Đọc đúng phụ âm đầu, vần, từ ngữ khó, dấu thanh:
Tôi tiến hành bằng cách khảo sát việc đọc sai phụ âm đầu, từ ngữ khó, dấu
thanh qua các bài văn, bài thơ: Sáng kiến của bé Hà, Mẹ, Bé Hoa, Đàn gà mới
nở,
* Kết quả:
Qua nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, đối chiếu với việc dạy trên lớp củagiáo viên tôi thấy trong giờ tập đọc nhất là bước luyện đọc, giáo viên thường chohọc sinh luyện đọc những từ mà sách hướng dẫn nêu ra mà chưa chú ý đến những
từ mà học sinh lớp mình thường đọc sai Nắm được thực trạng trên, tôi đã tiến hànhkhảo sát tình hình 2 lớp 2C (lớp thực nghiệm), lớp 2B (lớp đối chứng), với hai bài
tập đọc “Bông hoa niềm vui” và “Cô giáo lớp em” khả năng đọc của 2 lớp tương đương nhau.
Qua việc khảo sát trên rút ra những điểm chính sau:
+ Văn xuôi: Hầu hết các em đọc sai phổ biến nhất đối với học sinh địa
phương là phụ âm l/n, ch/tr; s/x; r/d
- Còn sai dấu phẩy, dấu chấm phần lớn các em đọc cha đúng
- Dấu ngã các em đọc tương đối đúng
- Về nhịp điệu nhanh, chậm, vừa phải, khoan thai hay khẩn trương, tùy vào
Trang 15nội dung văn cảnh Tất nhiên đọc đúng nhịp điệu là vấn đề khó song nó là "chiếccầu nối" giữa đọc đúng và đọc diễn cảm
+ Về đọc thơ: Qua khảo sát thấy rằng phần lớn các em ngắt giọng cuối dòngthơ đều đúng
- Còn ngắt nhịp thơ giữa các dòng thơ còn sai đối với những bài thơ khó Vìvậy giáo viên nên lưu ý giúp các em ngắt nhịp đúng tạo điều kiện để các em đọcthơ tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn
+ Nguyên nhân của việc đọc sai là: ảnh hưởng cuả việc phát âm tiếng địaphương không chuẩn, do các em không hiểu nghĩa của từ đang đọc, sự cảm thụ vănchương của các em còn hạn chế, do các em chưa phát huy tính tự giác luyện đọc ởnhà
Tóm lại:
Muốn rèn luyện kỹ năng đọc giáo viên xác định và ví mình như một ngườithầy thuốc, có tài chẩn đoán đúng bệnh của bệnh nhân thì chữa trị mới có hiệu quả,phải nắm được mặt mạnh, mặt yếu của bệnh nhân Phát huy mặt mạnh và có biệnpháp tích cực phù hợp giúp các em kịp thời sửa chữa điểm yếu, thì chắc chắn các
em sẽ tiến bộ hơn rút ngắn thời gian mà chất lượng cao hơn
Nhìn vào việc khảo sát trên thấy rõ nếu giáo viên chú ý luyện các lỗi mà họcsinh thường mắc thì việc đọc thành tiếng sẽ đem lại hiệu quả cao
Từ việc nghiên cứu cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận của việc dạy đọc tôinhận thấy nếu dạy như đại trà hiện nay thì chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu dạyđọc ở tiểu học Do vậy ®ể khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu điểm hiện
có ở thực tế Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số biện pháp hướng dẫn học sinh rèn đọcđúng để nâng cao hiệu quả của giờ tập đọc ở lớp 2 Đó là:
I PHÂN LOẠI HỌC SINH::
Trang 16Ngay từ đầu năm nhận lớp, tôi gặp gỡ giáo viên lớp 1 dạy năm trước để tìmhiểu xem trong lớp có em nào đọc yếu, đọc tốt, lấy đó làm cơ sở ban đầu chonhững giờ học đầu tiên.
Trong giờ Tập đọc tôi thường xuyên gọi học sinh đọc nhiều lần, chỉ sau mộttuần tôi đã nắm bắt và phân loại đối tượng học sinh
Bước đầu tôi phân các em ra làm ba loại: Bằng cách gọi từng em lên đọctrong những ngày ôn tập đầu hè, nắm bắt được điểm tốt, xấu, có khuyết nhượctrong bộ môn này, ghi rõ từng phần vào sổ theo dõi của từng em một vào mộtquyển vở riêng; mỗi em một trang, tôi kẻ đôi trang giấy để một bên Toán, một bênTiếng việt; Ghi ba phần: đầu năm, cuối kỳ một, cuối kỳ hai
- Loại 1: Đọc to tát rõ ràng 5 / 37 học sinh
- Loại 2: Đọc to tát, còn đọc “nhát gừng”, chưa đúng 16 / 37 học sinh
- Loại 3: Đọc nhỏ, ê a, ngọng, đọc còn thêm bớt: những học sinh còn lại
II KẾT HỢP VỚI PHỤ HUYNH ĐỂ RÈN HỌC SINH ĐỌC ĐÚNG:
Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm, tôi đã đưa ra tình hình trên Thấy lớp
có nhiều học sinh chưa đạt yêu cầu Các em đọc còn rất chậm, đọc còn ê a, đọc sai, chính vì lẽ đó đã hạn chế học tốt ở các môn khác rất nhiều Tôi đã hướng dẫn chophụ huynh dạy các con cách đọc, cách kiểm tra đọc vì đây cũng là một phần giúptôi trong việc rèn đọc
Tôi đã thông báo kịp thời qua sổ dặn dò về sự tiến bộ của các em nên cũnggiúp cho các em học tập tốt hơn môn tập đọc
III LUÔN KHÍCH LỆ, ĐỘNG VIÊN HỌC SINH:
Với tâm lý học sinh lớp 2 còn ưa nói nhẹ, thích biểu dương nên tôi luôn chú
ý phương pháp nêu gương và khích lệ kịp thời Tôi đã gọi các em đọc tốt, đọc lạisau khi cô đọc mẫu Từ chỗ 2, 3 em tôi nhân điển hình cho các lớp Trước khi gọiđọc cá nhân, tôi gọi 2, 3 em thay nhau đọc Tôi hỏi cả lớp: Các em nhận xét cácbạn đọc đã đúng chưa?
Trang 17Giờ sau tôi hỏi các bạn đọc đã hay chưa? hay như thế nào? Để cho các em tựnhận xét, tự đánh giá về nhau Tôi gọi tiếp một em ở loại 2 lên đọc Sau đó tôi cho
cả lớp nhận xét Sau khi giáo viên nhận xét: “Bạn đọc như vậy đã tốt hơn nhưngcòn hạn chế mặt nào các em?” (Đối với các em, muốn giúp các em tiến bộ tuyệt đốingười giáo viên không được chê hoặc moi những khuyết điểm của các em trước tậpthể lớp mà người giáo viên phải khéo léo dùng lời nói của mình vừa động viên, vừakhích lệ các em thì các em mới chuyển biến nhanh) Các bạn nhận xét xong, tôi bắtđầu nhận xét: “Em đọc đã tiến bộ nhiều, còn mặt này em phải cố gắng hơn, nếu đọcdiễn cảm để diễn đạt được công việc làm của tác giả thì bài đọc rất hay đấy Cô cho
em 8 điểm Lần sau cố gắng hơn sẽ được điểm 9, 10 em nhé”
Rồi bằng những hình thức đối với các em đọc yếu, tôi đã tìm đủ các phươngpháp khắc phục
Cô giáo đọc mẫu cả bài Cho các em giỏi, đọc tốt nhận xét Cho các em kémnhận xét Cô đọc có hay không các em? Các em trả lời có ạ Tôi gọi một em kémtrả lời Cô đọc hay ở chỗ nào? Để tự các em nhận xét Khi các em trả lời xong, tôi
đã nắm được sự nhận thức của từng em yếu rồi tôi bồi dưỡng, sửa cho các em bằngcách cho em đọc lại đoạn tôi đọc Rèn kỹ cách đọc nhiều lần, hướng dẫn cách ngắthơi, nghỉ đúng chỗ Cứ thế nhiều lần em sẽ tiến bộ trông thấy
Đối với những em đọc thiếu thừa tôi bắt đọc đi đọc lại 3 lần câu đó Sau khiđọc xong tôi phân tích bằng những câu: “ Em chuẩn bị làm nhà văn hay sao mà lạidám sửa văn của người khác? Cả lớp cười” Bằng cách sửa như trên đưa vào câu nóikhích lệ sẽ giúp các em nhớ lâu khuyết điểm của mình từ đó các em sửa sẽ nhanhhơn
Việc rèn đọc đòi hỏi người giáo viên không được nản, không được buôngthả Đòi hỏi chúng ta phải tỉ mỉ và cặn kẽ Như đòi hỏi các em ngọng âm: l, n , a
(làm việc thì đọc là nàm việc, anh ấy đọc là ăn ấy ) Tôi hướng dẫn từng các em nghe cô đọc này: khi đọc âm “l” ta phải cong lưỡi và bật nhanh “l” Khi đọc âm
“a” các em phải mở rộng mồm hơi thoát ra mạnh ta sẽ phát âm đúng Cô đọc gọingay trò đọc theo Cứ thế dẫn dắt các em sẽ tiến bộ rõ rệt
Trang 18Giáo viên phải hiểu nguyên nhân của việc đọc sai là: ảnh hưởng cuả việc phát
âm tiếng địa phương không chuẩn, do các em không hiểu nghĩa của từ đang đọc, sựcảm thụ văn chương của các em còn hạn chế, do các em chưa phát huy tính tự giácluyện đọc ở nhà
Nếu em nào tiến bộ ta phải động viên kịp thời bằng nhiều hình thức khen các
em “ Hôm nay các em đọc tốt lắm” Kể ra đọc diễn cảm thì bài sẽ hay hơn Bằngnhững lời khen, khích động cũng một phần giúp các em đọc tốt
Việc cho điểm cũng vậy: Các em đọc xong nhìn vào điểm lần trước nhắc lại
“Lần trước em đọc được 7 Lần này theo em thì cô cho mấy? Cô sẽ cho em 8 điểm.Hơn hôm trước 1 điểm rồi lần sau em cố gắng hơn này sẽ được điểm 9, 10 đấy!”Cách so sánh điểm cũng giúp cho các em đọc tốt hơn lên
IV GIÁO VIÊN ĐỌC MẪU CHUẨN XÁC:
Việc đọc mẫu của giáo viên đối với học sinh lớp 2 là không thể thiếu được.Giáo viên không hạn chế đọc mẫu chỉ là 2, 3 lần mà tuỳ vào đối tượng học sinhtừng lớp, từng địa phương mà có số lần đọc mẫu thích hợp Vì đọc mẫu có thể là cảbài, một đoạn, một câu, hay một từ khó
Muốn cho học sinh đọc tốt thì việc đọc mẫu của giáo viên phải chuẩn xác, cótác dụng làm cơ sở định hướng cho học sinh Giáo viên phải biết hạ giọng, cất caogiọng theo từng loại câu Biết nhấn giọng các từ trong câu Tuỳ theo nội dung từngđoạn văn, bài văn có giọng đọc thích hợp Biết phân biệt lời tác giả, lời nhân vật để
có giọng đọc khác nhau
Người giáo viên đọc chuẩn mực, đọc hay sẽ có sức cuốn hút các em Vì vậy
bất kỳ bài nào tôi cũng phải đọc từ nhiều lần Cũng từ cách đọc mẫu nhiều lần, nógiúp tôi càng hiểu kỹ nội dung bài hơn, giảng cho các em càng hay hơn Cũng từkinh nghiệm đó tôi yêu cầu thứ nhất: “về nhà đọc từ 5 đến 10 lần” Ngắt câu dài,nghỉ đúng chỗ
1 Đọc đúng dạng thơ:
Trang 19Thơ là tiếng nói của tình cảm, là sự phản ánh con người và thời đại một cáchcao đẹp, thơ rất giàu chất trữ tình Vì vậy khi đọc thơ cần thể hiện được tình cảmcủa tác giả gửi gắm trong từ, từng dòng thơ, nhịp thơ để truyền cảm xúc đến ngườinghe Vì vậy đọc thơ phải đọc đúng dòng thơ, vần thơ, thể thơ để thể hiện sắc thái,tình cảm Khi dạy bài tập đọc là thơ thì một công việc không thể thiếu được đối vớigiáo viên và học sinh đó là ngắt nhịp câu thơ Thực tế cho thấy học sinh mắc lỗingắt nhịp là do không tính đến nghĩa chỉ đọc theo áp lực của nhạc thơ Học sinhtìm được trong bài có những dấu câu thì ngắt nhịp ra sao Do vậy khi dạy nhữngbài đọc thơ ở giai đoạn đầu tôi thường chép lên bảng các câu thơ cần chú ý ngắtgiọng rồi hướng dẫn.
Ví dụ: Bài “Mẹ”
Những ngôi sao/ thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ/ đã thức vì chúng con.//
Khi đọc học sinh thường ngắt mỗi dòng thơ một lần là do thói quen nhưng
tôi đã sửa lại và hướng dẫn cho các em cách đọc vắt dòng: cuối dòng 1 đọc vắt
luôn sang dòng 2, cuối dòng 3 đọc vắt luôn sang dòng 4 Cứ như thế cho đến hết
bài
Nhớ em nghe Tiếng chổi tre Chị quét//
Những đêm hè Đêm đông gió rét//
Bên cạnh việc rèn đọc đúng trong các giờ tập đọc ở trên lớp thì trong các tiếttăng cường tiếng Việt tôi cũng thường đưa ra những câu thơ hoặc bài thơ ngắn đểgiúp học sinh luyện đọc và ngắt giọng
Việc ngắt hơi phải phù hợp với dấu câu: Dấu phẩy thì nghỉ ít, dấu chấm thìnghỉ lâu hơn; đọc đúng các ngữ điệu câu: Lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở cuốicâu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câu cảm Vớicâu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến khác
Trang 20nhau Ngoài ra còn đọc hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu
* Luyện đọc diễn cảm:
+ Ngắt giọng biểu cảm: là sự ngắt giọng có ý đồ nghệ thuật
Ví dụ: Ơi / chích choè ơi ! //
Chim đừng hót nữa, //
Bà em ốm rồi Lặng/ cho bà ngủ.//
Việc ngắt giọng ở dòng thơ đầu và dòng thơ cuối tạo nên một không khí imlặng cảm thông với người đang ốm
Hoặc với bài thơ: " Cháu nhớ Bác Hồ" cần hướng dẫn học sinh đọc với nhịp
chậm, trầm lắng thể hiện sự xúc động nghẹn ngào của bạn nhỏ khi nghĩ và nhớ đếnBác
" Đêm đêm/ cháu những bâng khuâng/
Giở xem ảnh Bác/ cất thầm bấy lâu.//
Nhìn mắt sáng,/ nhìn chòm râu,/
Nhìn vầng trán rộng,/ nhìn đầu bạc phơ.//
Càng nhìn/ càng lại ngẩn ngơ,/
Ôm hôn ảnh Bác/ mà ngờ Bác hôn.//
+ Tốc độ: Thay đổi tốc độ đọc gây sự chú ý, có giá trị biểu cảm tốt
- Thể thơ: tùy thuộc vào bài thơ có thể là thơ 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ hoặc 4 - 6 ;
6 - 8
- Nhịp thơ: Nhịp điệu được coi là phương tiện truyền cảm nghệ thuật rất cóhiệu lực của thơ Tùy theo nội dung cần truyền đạt, với những nhịp điệu tương ứng:nhịp ngắn thể hiện sự dồn dập: 2/2, 2/2/2 nhịp 4/4 thể hiện tình cảm sâu lắngcủa bài thơ Phần đọc cần đọc nhanh với nhịp ngắn Đọc chậm với nhịp thơ dài.Qua khảo sát kết quả cho thấy số em đọc ngắt nhịp thơ sai chiếm tỉ lệ cao so vớingắt giọng cuối dòng thơ Vì vậy muốn các em đọc tốt một bài thơ, vấn đề đángquan tâm nhất khi dạy đọc thơ là "ngắt nhịp thơ"
2 Đọc đúng dạng văn xuôi:
Trang 21Tương tự như ở thơ, giáo viên cần chú trọng rèn cho các em biết ngắt, nghỉhơi cho đúng Cần phải dựa vào nghĩa và các dấu câu để ngắt hơi cho đúng Khiđọc không được tách một từ ra làm hai, tức là không ngắt hơi trong một từ Việcngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu, nghĩ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấuchấm Đối với những câu văn dài cần hướng dẫn học sinh ngắt hơi cho phù hợp Cụthể tôi cho học sinh tự tìm những câu văn dài đó hoặc do chính giáo viên đưa ra.Sau đó yêu cầu học sinh xác định cách ngắt giọng, gọi học sinh nhận xét đúng sai.Đối với học sinh lớp 1 giáo viên cũng chưa nên hỏi nhiều quá về việc tại sao các
em lại ngắt giọng như vậy mà nếu thấy đúng thì giáo viên công nhận ngay, còn nếusai thì sửa cho các em và giải thích để các em thấy rõ hơn Sau khi xác định ngắtgiọng ở mỗi câu văn dài bao giờ giáo viên cũng phải nhấn mạnh cho các em thấytầm quan trọng trong việc ngắt, nghỉ đúng ở các câu văn, đoạn văn Muốn xác địnhcách ngắt giọng đúng thì phải dựa vào nghĩa vào các tiếng, từ, dấu câu
Ví dụ: Bài “Chim sơn ca và bông cúc trắng”
Đoạn 1 ta đọc với giọng hồi hộp, nhanh vui thể hiện niềm vui của chú sơn ca
khi nhìn thấy bông cúc, câu: “Cúc ơi !/ Cúc xinh xắn làm sao !// Giọng đọc vui
như một tiếng reo
Nhưng đến đoạn 2 và 3 lại đọc với giọng chậm rãi, nhẹ nhàng, thể hiện niềmthương cảm với con chim bé nhỏ bị nhốt trong lồng
Hay bài : " Ai ngoan sẽ được thưởng" giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc
với giọng nhẹ nhàng, xúc động Nhấn mạnh những từ ngữ thể hiện thái độ trìu mến,
âu yếm, quan tâm của Bác Hồ với các cháu nhi đồng qua đoạn:
- Các cháu ăn có no không ?
- No ạ !
- Các cô có mắng phạt các cháu không ?
Hay: - Cháu biết nhận lỗi, thế là ngoan lắm ! Cháu vẫn được phần kẹo như các bạn khác.
Cần hướng dẫn học sinh biết đọc phân biệt lời kể và lời các nhân vật qua
bài: “Những quả đào” giọng đọc chậm rãi, khoan thai của người ông Nhấn giọng
Trang 22cụm từ để hỏi và thể hiện sự ngưỡng mộ của những đứa cháu khi ăn đào xong.
* Ngữ điệu: là sự thể hiện lên cao hay hạ thấp giọng.
Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn
ở dấu chấm, đọc đúng các ngữ điệu câu: lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở cuốicâu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câu cảm Vớicâu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ giọng khi đọc bộ phận giải thíchcủa câu
Như vậy đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm
Bằng nhiều hình thức dạy khác nhau giáo viên cần gây hứng thú cho học sinhtập đọc Trong quá trình giảng dạy, giáo viên tăng cường cho học sinh luyện đọc,tinh giảm việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài quá dài Hướng dẫn rèn đọc để họcdiễn cảm Mỗi bài Tập đọc, giáo viên cần cho học sinh tự tìm tiếng, từ cần phát âm,giáo viên chọn những tiếng mà học sinh hay mắc lỗi Sau đó cho các em tự nêucách đọc bài thơ, bài văn Khi học sinh đọc, giáo viên chú ý theo dõi, lắng nghe,phát hiện những thiếu sót để uốn nắn hướng việc đọc của học sinh tiếp cận với mẫuphát âm chuẩn
Trong quá trình luyện đọc cho học sinh, nếu có học sinh nào chưa phát âmđúng hoặc đoạn nào chưa diễn cảm, chưa thể hiện được giọng của từng nhân vật thìgiáo viên sửa cho học sinh để học sinh phát âm cho đúng Phần nhận xét cho điểmcủa giáo viên cần nhấn mạnh vào ưu điểm của học sinh, giúp học sinh sửa chữanhược điểm, tránh chê bai học sinh
V ĐỔI MỚI CÁCH DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC:
Với mục đích nâng cao chất lượng đọc của học sinh Giáo viên cần sử dụngcác biện pháp tổ chức dạy học thích hợp nhằm phát huy tính tích cực của học sinhtrong hoạt động rèn luyện kĩ năng đọc (đọc thầm, đọc thành tiếng) Đọc cá nhân,đọc đồng thanh (theo nhóm, bàn, tổ, lớp) Đọc theo vai, tham gia các trò chơi luyệnđọc Để phát triển kỹ năng đọc trên cơ sở đọc đúng, hiểu nội dung và tiến tới đọcdiễn cảm, đọc hay Dạy theo phương pháp mới này trong tiết học thì 100% học
Trang 23sinh trong lớp đều được tham gia đọc bài từ 2, 3 lần trở lờn trong một tiết học.
VI Các phơng pháp và hình thức tổ chức sử dụng trong giờ tập đọc lớp 2.
Cú rất nhiều phương phỏp và hỡnh thức để ỏp dụng cho một tiết dạy nhằmđạt được một kết quả tốt cho giờ học Tuy nhiờn khụng một phương phỏp nào đượccoi là tối ưu, giỏo viờn nờn sử dụng linh hoạt và đồng loạt nhiều phương phỏp đểgiỳp học sinh mỡnh đọc ngày càng tốt hơn Với một số kinh nghiệm của tụi trongnhững năm dạy học, tụi đó tỡm ra những phương phỏp tối ưu nhất để ỏp dụng vàolớp dạy này
1/ Phương phỏp đàm thoại, vấn đỏp.
Giỏo viờn đưa ra nhiều cõu hỏi để học sinh trả lời nhằm phỏt hiện sự hiểubiết của cỏc em hoặc để gợi mở giỳp cỏc em phỏt hiện cỏch đọc
VD: - Cõu văn này cuối cõu cú dấu gỡ ? ( dấu hỏi chấm.)
- Vậy khi đọc những cõu mà cuối cõu cú dấu hỏi chấm chỳng ta phải đọc nhưthế nào?( đọc cao giọng hoặc nhấn giọng ở những từ cuối cõu.)
Khi sử dụng phương phỏp này, giỏo viờn nờn dựng ngụn ngữ dễ nghe, nhẹnhàng, trỏnh cỏu gắt khi cỏc em chậm nhớ, chậm hiểu Hóy ụn tồn dẫn dắt học sinhtừng bước một để dạy cỏc em đọc từng chữ, từng tiếng, từng cõu trong mỗi ngày
2/ Phương phỏp quan sỏt, động viờn khen thưởng học sinh.
Trong tiết dạy tụi thường chỳ ý đến học sinh ớt núi, thụ động, học sinh đọcchậm, đọc yếu để gọi cỏc em thường xuyờn đọc bài Đối với học sinh giỏi - khỏ tụithường khớch lệ, khen ngợi để cỏc em phấn khởi hơn.Cũn đối với học sinh trungbỡnh - yếu tụi nhẹ nhàng an ủi động viờn: “ Cố lờn, rồi cỏc em sẽ đọc tốt như cỏcbạn nếu cỏc em cố gắng đọc bài nhều ở lớp cũng như ở nhà.” Trong tiết dạy tậpđọc, sau khi cho cả lớp đọc xong, tụi mời cỏc em đọc yếu, trung bỡnh lờn bàn giỏoviờn để cựng đọc bài với cụ.Tụi giành nhiều thời gian cho đối tượng này hơn Cựngđọc bài với cỏc em trong giờ ra chơi ( nhưng vẫn để cho cỏc em cú thời gian thưgión, nghỉ ngơi) Khi cỏc em cú biểu hiện tiến bộ tụi thường khen thưởng cỏc embằng những phần quà nhỏ như cuốn vở, viờn phấn màu, cõy bỳt đẹp vv… để cỏc