Trong đó, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp theo Luậtdoanh nghiệp được đổi mới hơn so với doanh nghiệp hoạt động theo Luậtdoanh nghiệp nhà nước.. Do vậy, để thực hiện có hiệu quả
Trang 1DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1.1 Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước là bộ phận cấu thành quan trọng nhất củakinh tế nhà nước, quan trọng nhất nhưng không phải đồng nhất và đồngnghĩa với kinh tế nhà nước Do vậy phải điểm lại các quan niệm về doanhnghiệp nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Trênthế giới, khi nghiên cứu hoặc đề xuất phương án cải cách doanh nghiệp nhànước, các học giả có quan niệm khác nhau về doanh nghiệp nhà nước, cácđịnh nghĩa pháp lý và học thuật về doanh nghiệp nhà nước của các quốc giakhác nhau cũng rất khác nhau Ở nước ta quan niệm về doanh nghiệp nhànước qua các thời kỳ đổi mới quản lý cũng đã thay đổi rất nhiều và rất nhiềuhọc giả, nhà quản lý đôi khi lẫn lộn giữa khái niệm doanh nghiệp nhà nướcvới các khái niệm gần nghĩa khác dẫn đến hiểu sai lệch về vai trò, vị trí củadoanh nghiệp nhà nước và cuối cùng dẫn đến cách thức tổ chức quản lý, đổimới doanh nghiệp nhà nước có sự khác nhau giữa các ngành, các địaphương
Trong điều kiện kinh tế kế hoạch hóa tập trung, doanh nghiệp nhànước (trước đây gọi là xí nghiệp quốc doanh) chiếm vai trò độc tôn trongnền kinh tế, đó là những doanh nghiệp hạch toán kinh tế theo nguyên tắc thu
đủ, chi đủ, bao cấp (Trung Quốc gọi là cơ chế ăn nồi cơm chung, Liên Xô cũgọi là cơ chế chi phí) Về mặt sở hữu, đó là những doanh nghiệp do Nhànước đầu tư vốn 100%, trực tiếp quản lý
Trang 2Khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việcchuyển đổi (cải cách, đổi mới) cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp nhànước luôn là vấn đề trung tâm Kết quả là các doanh nghiệp nhà nước khôngnhững thay đổi về nguyên tắc hoạt động, cơ chế quản lý và hạch toán màcòn thay đổi cả cơ cấu sở hữu, phát triển một số hình thức đan xen sở hữuhoàn toàn mới Chính vì vậy, Luật doanh nghiệp nhà nước ban hành ngày20/4/1995 (lần đầu tiên ở Việt Nam) đã đưa ra khái niệm có tính pháp lý vềdoanh nghiệp nhà nước như sau:
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nướcđầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanhhoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xãhội do Nhà nước giao Doanh nghiệp nhà nước có tư cách phápnhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn
bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệpquản lý [1]
Qua gần 10 năm thực hiện, Luật đã có một vai trò rất quan trọngtrong việc củng cố và phát triển doanh nghiệp nhà nước, góp phần tăngcường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, thu hút đầu tư nước ngoài, bảođảm tính định hướng xã hội của nền kinh tế thị trường ở nước ta Tuy nhiên,bên cạnh những kết quả đạt được, thời gian qua còn nhiều doanh nghiệp nhànước hoạt động kém hiệu quả, năng lực cạnh tranh yếu, có nhiều nguyênnhân dẫn đến tình trạng này như những yếu kém về trình độ quản lý, côngnghệ thiết bị lạc hậu trong đó, có một nguyên nhân quan trọng là nhữngvướng mắc về thể chế, chính sách tổ chức quản lý đối với doanh nghiệp nhànước làm cho khu vực doanh nghiệp này thiếu tính năng động, tự chủ, tựchịu trách nhiệm Bên cạnh đó, sau khi Luật doanh nghiệp nhà nước có hiệulực thi hành, đã có nhiều văn bản liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp
Trang 3nói chung được ban hành như Luật doanh nghiệp, Luật thuế, Luật thươngmại Trong đó, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp theo Luậtdoanh nghiệp được đổi mới hơn so với doanh nghiệp hoạt động theo Luậtdoanh nghiệp nhà nước Do vậy, để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hộinghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về sắp xếp, đổimới, phát triển doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và tiến tớihình thành một mặt bằng pháp lý chung cho mọi loại hình doanh nghiệp,Luật doanh nghiệp nhà nước đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từngày 1/7/2004, khẳng định: "Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế doNhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối,được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công tytrách nhiệm hữu hạn" [15].
1.1.2 Phân loại doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước có thể được xem xét phân loại theo nhiềutiêu thức khác nhau Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu:
Xét theo mức độ sở hữu, doanh nghiệp nhà nước có hai loại: Loạidoanh nghiệp nhà nước chỉ có một chủ sở hữu vốn duy nhất là Nhà nước;loại doanh nghiệp nhà nước có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó nhà nướcnắm giữ một phần sở hữu nhất định
Xét theo mục tiêu kinh tế - xã hội, doanh nghiệp nhà nước được chiathành: doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận (hoạt động công ích);doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận (hoạt động kinh doanh) [8], [7]
Căn cứ vào sự khác nhau về địa vị pháp luật, doanh nghiệp nhà nước
có thể chia thành ba loại:
- Doanh nghiệp nhà nước do chính phủ trực tiếp quản lý, không cóđầy đủ địa vị pháp nhân độc lập: loại doanh nghiệp nhà nước có nguồn vốn từ
Trang 4ngân sách của các cơ quan chủ quản thuộc chính phủ và các đại biểu chính phủtham gia vận hành kinh tế mà chủ yếu là các xí nghiệp liên quan đến quốc kếdân sinh như y tế, giao thông công cộng, điện nước, bưu chính, đường sắt, sảnxuất vũ khí Hiện nay, loại doanh nghiệp nhà nước này không còn thấynhiều ở các nước.
- Doanh nghiệp nhà nước có đầy đủ pháp nhân và toàn bộ tài sảnthuộc về nhà nước: Đây là các doanh nghiệp nhà mà toàn bộ tài sản do nhànước đầu tư và có đầy đủ địa vị pháp nhân độc lập Ở các nước trên thế giớiloại hình doanh nghiệp này thường thuộc các lĩnh vực công cộng, lấy việc phục
vụ xã hội làm mục tiêu cơ bản, như: đường sắt, bưu chính, điện, khí, ga, nướcsạch Loại doanh nghiệp nhà nước này là những thực thể kinh tế được lập ra
và kinh doanh dựa vào một pháp quy cụ thể nào đó của nhà nước, đồng thời lệthuộc vào cơ quan quản lý của nhà nước, tuy có đầy đủ địa vị pháp nhân độclập, đồng thời có quyền tự chủ kinh doanh nhất định trong phạm vi đã xác địnhnhưng các doanh nghiệp này đều phải lấy một mục tiêu nào đó của Nhà nướclàm tôn chỉ hoạt động kinh doanh và chấp hành sự điều tiết kinh tế và quản lýnhất định của Chính phủ
- Doanh nghiệp nhà nước hỗn hợp có địa vị pháp nhân độc lập vàNhà nước nắm quyền sở hữu một phần tài sản: phần lớn ở các nước tư bản,doanh nghiệp nhà nước hỗn hợp là hình thức chủ yếu nhất trong mọi loạihình doanh nghiệp nhà nước Đặc điểm lớn nhất của loại doanh nghiệp nhànước này là nhà nước tham dự cổ phần, nhờ đó có thể khống chế chúng.Nhưng doanh nghiệp nhà nước loại này hoạt động kinh doanh theo nguyêntắc của doanh nghiệp tư nhân, thu lợi nhuận kinh doanh qua cạnh tranh vớicác doanh nghiệp khác, đồng thời, bằng chế độ tham dự, nhà nước có thểtriển khai các hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đấtnước bao gồm những công trình cơ sở hạ tầng như ngân hàng, đường sắt,đường bộ, vận tải biển và cũng có thể triển khai mở rộng vào các ngành
Trang 5công nghiệp mới Doanh nghiệp nhà nước theo chế độ nhà nước tham dựngày càng tỏ ra là loại hình doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả nhất [9],[10]
Dựa theo cấp độ quản lý, doanh nghiệp nhà nước được chia thành:
- Doanh nghiệp nhà nước địa phương (doanh nghiệp địa phương): lànhững doanh nghiệp chịu sự quản lý về mặt hành chính của các cơ quan, banngành cấp tỉnh
- Doanh nghiệp nhà nước Trung ương (doanh nghiệp Trung ương): lànhững doanh nghiệp vừa chịu sự quản lý về mặt hành chính của các cơ quan,ban ngành cấp tỉnh cũng đồng thời chịu sự quản lý và chi phối trực tiếp trựctiếp của các cơ quan quản lý cấp trên theo ngành dọc như các Tổng công ty(Tổng công ty Điện lực), các liên hiệp xí nghiệp (liên hiệp xí nghiệp đườngsắt), các Cục, Tổng cục…
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhànước mà nòng cốt là các doanh nghiệp nhà nước và hệ thống thể chế kinh tế
vĩ mô luôn được xác định là hai công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiệnvai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế quốc dân, dẫn dắt nền kinh tếphát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường đượcthể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
Doanh nghiệp nhà nước có vị trí rất quan trọng, góp phần để kinh tếnhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là động lựcthúc đẩy phân bố lại dân cư theo hướng công nghiệp hóa, hình thành các
trung tâm kinh tế văn hóa, đô thị mới, trang bị lại kỹ thuật, đổi mới công
Trang 6nghệ cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đào tạo bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật,công nhân lành nghề và tạo thêm điều kiện hạ tầng để phát triển đất nước.
Nhờ liên tục đổi mới hệ thống chính sách đối với doanh nghiệp nhànước nói riêng và kinh tế nhà nước nói chung, đã bước đầu hình thành đònbẩy thu hút và khuyến khích các thành phần kinh tế khác liên doanh vớidoanh nghiệp nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế
Doanh nghiệp nhà nước là công cụ vật chất để Nhà nước điều tiếtnền kinh tế và hướng dẫn nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa Doanh nghiệp nhà nước đã và đang chiếm vị trí quan trọng trong
nhiều ngành kinh tế chủ chốt, bảo đảm các điều kiện cơ sở hạ tầng, dịch vụ
xã hội ngày một tốt hơn Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò quyết địnhtrong việc cung cấp những sản phẩm trọng yếu cho nền kinh tế quốc dân,như điện, xi măng, sắt thép, phân bón, xăng dầu, giấy viết là lực lượng chủyếu thực hiện các chính sách xã hội thông qua các doanh nghiệp công ích,nhờ có doanh nghiệp nhà nước và lực lượng vũ trang mà chúng ta có khảnăng ứng phó có kết quả trong việc khắc phục ảnh hưởng và hậu quả củathiên tai
Doanh nghiệp nhà nước góp phần điều tiết cơ cấu nền kinh tế theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sự phát triển mạnh của doanh nghiệpnhà nước trong các ngành công nghiệp, dịch vụ góp phần tăng nhanh tỷtrọng GDP của các ngành này trong nền kinh tế; các ngành thuộc cơ sở hạtầng như: giao thông năng lượng, bưu chính viễn thông đã tạo điều kiện chocác thành phần kinh tế khác phát triển Doanh nghiệp nhà nước được thànhlập ở vùng núi, vùng có nhiều khó khăn góp phần thay đổi kinh tế vùng lãnhthổ
Mặc dù đã giảm mạnh về số lượng doanh nghiệp và phần tài trợ củaNhà nước, doanh nghiệp nhà nước vẫn đạt được nhiều tiến bộ trong việc bảo
Trang 7đảm hầu hết yêu cầu sản phẩm và dịch vụ công ích, các điều kiện giaothông, điện, nước, thông tin, vật tư, hàng hóa cho xuất khẩu và thị trườngtrong nước, đóng góp cho ngân sách nhà nước.
Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện
các chính sách xã hội và ổn định kinh tế - xã hội, góp phần cùng với khu vực
kinh tế khác giải quyết các vấn đề việc làm, thu nhập cho người lao động,xóa đói giảm nghèo, phát triển văn hóa giáo dục, y tế làm cơ sở và nền tảngcho yêu cầu từng bước hình thành chế độ mới
Tóm lại, doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay vẫn giữ được vaitrò quan trọng trong nền kinh tế, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thựchiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước
1.1.4 Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Là một loại hình trong cộng đồng các doanh nghiệp hoạt động kinhdoanh trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp nhà nước có các đặctrưng chung như mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác như:
- Là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định,được đăng ký kinh doanh theo quy định nhằm thực hiện các mục đích hoạtđộng kinh doanh
- Chức năng của doanh nghiệp bao gồm các hoạt động sản xuất, cungứng dịch vụ, trao đổi, hợp tác và tiêu thụ sản phẩm
- Mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi ích kinh tế,trước hết là mục đích sinh lợi
- Tư cách pháp nhân của doanh nghiệp là điều kiện cơ bản, quyếtđịnh sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế
Trang 8Ngoài những đặc điểm chung kể trên, các doanh nghiệp nhà nướccũng có những đặc điểm riêng, đó là:
- Chủ sở hữu tài sản, tiền vốn trong doanh nghiệp nhà nước là Nhànước dưới hình thức sở hữu toàn dân Do vậy, các doanh nghiệp nhà nướcthường phải chịu áp lực quản lý hoặc điều tiết của Chính phủ như giá bán,nguồn cung cấp nguyên liệu, họ không được chủ động hoàn toàn trong việclựa chọn các mặt hàng kinh doanh và phương án đầu tư Hơn thế, các doanhnghiệp nhà nước thường chịu sự chi phối của không chỉ một cơ quan chủquản, mỗi cơ quan lại có một yêu cầu riêng về quản lý, vì vậy một quyếtđịnh có tính chiến lược kinh doanh thường được triển khai chậm, có khi cònmất cả cơ hội do phải trình duyệt qua nhiều cửa, nhiều cấp quản lý
- Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ngoài mục tiêu tối đa hóa lợinhuận, vẫn có một số trường hợp lợi nhuận không phải là mục tiêu cơ bảnquan trọng nhất (như đối với doanh nghiệp hoạt động công ích) Vì ngoàiviệc đầu tư phát triển để thu được lợi nhuận tối đa, các doanh nghiệp nhànước đôi khi còn phải đầu tư vào các chương trình phù hợp với kế hoạchquốc gia hoặc hy sinh lợi nhuận để thực hiện các mục tiêu xã hội
- Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, doanhnghiệp nhà nước giữ vai trò then chốt để kinh tế nhà nước thực hiện vai tròchủ đạo và ổn định nền kinh tế - xã hội Doanh nghiệp nhà nước đóng vai tròtích cực như cung cấp những dịch vụ, cơ sở vật chất quan trọng cho nền kinh
tế quốc dân, gánh lấy những rủi ro trong sự phát triển kinh tế; giải quyết mộtloạt các vấn đề kinh tế - xã hội, đồng thời tiến hành các chức năng đặc biệtnhư an ninh, quốc phòng…
Các đặc điểm nêu trên không những có ảnh hưởng và chi phối rất lớnđến công tác hoạch định cơ chế chính sách tài chính đối với doanh nghiệp
Trang 9nhà nước mà còn ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức, quản lý doanh nghiệp nhànước.
1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
1.2.1 Những yếu kém, tồn tại của doanh nghiệp nhà nước cần được khắc phục
Thực hiện đường lối đổi mới, hơn 10 năm qua khu vực doanh nghiệpnhà nước đã có nhiều chuyển biến tích cực, thể hiện được vai trò chủ đạocủa mình trong nền kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, nhữngmặt tích cực, trong quá trình phát triển doanh nghiệp nhà nước còn bộc lộnhững yếu kém, tồn tại, chưa tương xứng với yêu cầu và năng lực sẵn có củadoanh nghiệp nhà nước, cụ thể là:
- Thứ nhất, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của
doanh nghiệp nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với điều kiện và lợi thế
có được; tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước có biểu hiện giảmdần, nợ khó đòi ngày càng lớn
Về hiệu quả kinh doanh, mặc dù đã được đầu tư và ưu đãi nhiều từ phía
Nhà nước, sau nhiều lần sắp xếp tổ chức lại và đổi mới cơ chế, nhưng cácdoanh nghiệp nhà nước vẫn chưa chứng tỏ được hiệu quả của mình so vớikhu vực dân doanh, chưa đáp ứng được mong muốn của Đảng và Nhà nước,chưa tương xứng với tiềm lực và ưu đãi do Nhà nước dành cho
Một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả theo các tiêu chí hiện hành
do Bộ Tài chính quy định, phải đạt các tiêu chuẩn: bảo toàn và phát triển đượcvốn, phải trích đủ khấu hao tài sản cố định; lương bình quân phải bằng hoặcvượt mức bình quân của doanh nghiệp cùng ngành nghề trên địa bàn; trả đầy
đủ các khoản nợ đến hạn, nộp đủ các khoản thuế theo luật định; có lãi và trích
Trang 10lập đủ các quỹ doanh nghiệp như: dự phòng tài chính, trợ cấp mất việc làm, đầu
tư phát triển, khen thưởng, phúc lợi Nhưng theo số liệu báo cáo năm 2003 của
Bộ Tài chính, trong tổng số 4.800 doanh nghiệp nhà nước thì số doanh nghiệpkinh doanh có lãi chiếm 77,2% (nếu tính theo chỉ tiêu hiệu quả chỉ chiếm 56%);
số doanh nghiệp bị lỗ chiếm 13,5% (nếu tính đủ khấu hao giá trị tài sản cố địnhthì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ còn lớn hơn), số còn lại là những doanh nghiệpnhà nước chưa có hiệu quả, nằm trong tình trạng khi lỗ, khi lãi và nếu có lãicũng chỉ là tượng trưng
Về khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp nhà nước rất yếu kém,
biểu hiện rõ nhất là chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh yếu kém ngay tạithị trường nội địa, có nhiều ngành, sản phẩm của doanh nghiệp nhà nướcđang được bảo hộ tuyết đối (ưu đãi, độc quyền) hoặc bảo hộ qua hàng ràothuế quan, trợ cấp (qua ưu đãi tín dụng và bù lỗ, miễn thuế…) nhưng cácdoanh nghiệp nhà nước vẫn chưa chứng tỏ khả năng cạnh tranh của mình,thậm chí nhiều doanh nghiệp lại cố gắng luận chứng để Nhà nước tăngcường các biện pháp bảo hộ mạnh hơn để duy trì việc làm và thị phần Theo
số liệu nghiên cứu gần đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, các mặthàng như thép, xi măng, phân bón, đồ điện dân dụng, kính xây dựng, sứ xâydựng, xe đạp, động cơ nổ đều được bảo hộ bằng cả công cụ thuế quan vàphi thuế quan dẫn đến giá trên thị trường Việt Nam cao hơn giá quốc tế từ10-50% tùy mặt hàng Khả năng cạnh tranh kém của các doanh nghiệp nhànước thể hiện ngay trên thị trường nội địa: ở những ngành có khả năng sinhlợi, thị phần của các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm sút nhườngchỗ cho khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực ngoài quốc doanh, khả năngcạnh tranh kém của các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện Việt Nam đã
và đang thực hiện cam kết hội nhập quốc tế có nguy cơ dẫn đến tình hìnhNhà nước sẽ phải chịu chi phí rất lớn trong tương lai để trợ cấp, duy trì cácdoanh nghiệp nhà nước
Trang 11Tình trạng công nợ của doanh nghiệp nhà nước hiện nay là khá nghiêm
trọng, nợ quá hạn, nợ khó đòi có xu hướng ngày càng tăng Trong số 15,1%
nợ quá hạn ngân hàng thương mại thì doanh nghiệp nhà nước chiếm 64,8%,gây khó khăn lớn đến hoạt động của ngân hàng Theo Báo cáo của Bộ Tàichính đến hết năm 2003, tổng số nợ phải trả lên tới 207.778 tỷ đồng (tăng 10%
so với năm 2002), trong đó nợ quá hạn là 10.716 tỷ đồng, nợ khó đòi là 2.748
tỷ đồng, tỷ lệ nợ này không phải là cao so với các nước trên thế giới nhưngkhả năng thanh toán lại rất thấp Thêm vào đó theo thống kê của Bộ Tàichính, ước tính lượng hàng hóa tồn kho tại các doanh nghiệp nhà nước hiện lêntới 45.600 tỷ đồng, bằng 12,7% tổng giá trị tài sản của khối doanh nghiệp nhànước và 26,2% tổng giá trị tài sản lưu động, trong số hàng tồn kho trên cókhoảng 1.155 tỷ đồng hàng hóa thuộc diện ứ đọng không cần dùng Ngoài
ra, lượng hàng hóa tồn kho lâu ngày bị kém, bị mất phẩm chất cũng lên tới
445 tỷ đồng Do hầu hết hàng hóa tồn kho là vật tư, nguyên liệu có từ thờibao cấp, lỗi thời, không tiêu thụ được và để lâu, chất lượng giảm, kỹ thuậtlạc hậu nên các doanh nghiệp cứ để treo chờ Nhà nước có biện pháp xử lý,điều này làm tăng gánh nặng cho chi phí bảo quản, cất giữ, gây ứ đọng vốn
Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước còn nhiều về số lượng, nhưng lại
nhỏ về quy mô, dàn trải, chồng chéo về ngành nghề và lãnh thổ, địa phươngnên dẫn đến tình trạng manh mún, hạn chế sự tích tụ, tập trung sản xuất
Đến tháng 12/2003 cả nước có 4.800 doanh nghiệp với tổng số vốnnhà nước 139.293 tỷ đồng, bình quân mỗi doanh nghiệp là 29 tỷ đồng Sốdoanh nghiệp nhà nước có vốn dưới 5 tỷ đồng còn chiếm tới 42,45%, trongkhi đó số doanh nghiệp có vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 29,89%; số doanhnghiệp nhà nước có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm gần 50% tổng số doanhnghiệp tại 51 tỉnh, trong đó tại 14 tỉnh số doanh nghiệp nhà nước có vốndưới 5 tỷ đồng chiếm trên 75%, cũng tại các địa phương này, hơn 30% số
Trang 12doanh nghiệp nhà nước có vốn dưới 1 tỷ đồng Đặc biệt có 6 tỉnh con số này
là hơn 50% (Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Kon Tum, Hà Tây, Nam Định và HàNam) [2]
Nhiều doanh nghiệp nhà nước cùng loại hoạt động trong tình trạngchồng chéo về ngành nghề kinh doanh, cơ quan quản lý và trên cùng một địabàn, tạo ra sự cạnh tranh không đáng có trong khu vực doanh nghiệp nhànước với nhau Hiện nay trên một sân bay có đến 4 - 5 doanh nghiệp củaTổng Công ty Hàng không Việt Nam và Cục Hàng không cùng kinh doanh,vừa chồng chéo vừa cạnh tranh lẫn nhau Các doanh nghiệp thuộc cùng mộtngành kinh tế kỹ thuật rất phân tán, manh mún, trực thuộc nhiều cơ quanquản lý khác nhau, điển hình là trong các lĩnh vực thương mại, tư vấn, xâydựng; sự kết hợp, hợp tác giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhau và vớidoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác còn lỏng lẻo và chưa thành
nề nếp
Sự chồng chéo, trùng lặp về ngành nghề, về sản phẩm trong khi thịtrường còn chưa được phát triển và sức mua của nhân dân chưa cao đã dẫnđến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh Đầu tư dàn trải trong khi nguồnvốn rất hạn hẹp, quan hệ cung cầu luôn không cân đối
Thứ ba, trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu, đầu tư đổi mới công
nghệ chậm đã hạn chế khả năng cạnh tranh và hội nhập của các doanhnghiệp
Theo thống kê của Bộ Công nghiệp thì các doanh nghiệp nhà nướcđược trang bị máy móc thiết bị từ nhiều nước khác nhau (26% của Liên Xô
cũ, 25% của các nước Đông Âu, 20% của các nước ASEAN và Bắc Âu, trên18% là các nước khác, còn trong nước chỉ chế tạo chưa đến 12%) và thuộccác thế hệ khác nhau Theo kết quả khảo sát 727 thiết bị và 3 dây chuyềnnhập khẩu của 42 cơ sở của một ngành do Viện Khoa học Bảo hộ lao động
Trang 13thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tiến hành gần đây thì đến 76%thiết bị máy móc nhập khẩu thuộc thế hệ những năm 50 - 60, trên 70% đãhết khấu hao, gần 50% được tân trang lại.
Theo tài liệu của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường qua khảosát nhiều doanh nghiệp thuộc 7 ngành thì máy móc thiết bị, dây chuyền sảnxuất lạc hậu so với thế giới từ 20 đến 30 năm, trình độ cơ khí hóa, tự độnghóa dưới 10%, mức độ hao mòn hữu hình từ 30 đến 50%; có 38% tài sản cốđịnh ở dạng thanh lý; 52% qua bảo dưỡng, sửa chữa, hậu quả là chưa tạo rađược các sản phẩm có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao Một số mặthàng như cơ khí, sắt thép, xi măng, phân bón, kính xây dựng có mức giácao hơn hàng nhập cùng loại từ 20 đến 40% [6], [3]
Thứ tư, tình trạng thiếu việc làm và lao động dôi dư trong các doanh
nghiệp nhà nước đang là một khó khăn lớn, ảnh hưởng đến việc đẩy nhanhquá trình đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước
Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì hiện nay
số lao động không có việc làm trong doanh nghiệp nhà nước khoảng 6%nhưng trong thực tế nhiều doanh nghiệp nhà nước có số lao động quá lớn sovới yêu cầu như ở Tổng Công ty Than Việt Nam, Công ty Gang Thép TháiNguyên, các nhà máy xi măng địa phương… Số lao động không có việc làm
ở các địa phương chiếm tỷ lệ cao hơn, tiếp đến là ở các Bộ, ngành trungương Các địa phương có số lao động không có việc làm đặc biệt cao là HảiDương (33%), Nam Định (27%), Hà Tĩnh (23%), Nghệ An (16%), HảiPhòng (15%) Tổng Công ty Than dôi dư lao động 30%, Tổng Công tyLương thực miền Bắc dôi dư lao động 28% Tổng Công ty Thép Việt Namdôi dư lao động 12%
Trang 14Bên cạnh đó phần lớn người lao động không qua đào tạo hoặc đàotạo rất hạn chế nên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất lao động củadoanh nghiệp Khi chuyển sang cơ chế tự chủ của doanh nghiệp thì Nhànước chưa có cơ chế giám sát về tuyển dụng lao động, trả công lao động vàgắn với hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên việctuyển dụng lao động ở nhiều doanh nghiệp còn rất tùy tiện Mặt khác, cơ chếchính sách hiện hành chưa làm cho doanh nghiệp giảm được số lao động dôidư.
Ngoài ra, phần lớn doanh nghiệp nhà nước ở ta đều được hình thành
từ cơ chế tập trung bao cấp hoặc tiếp quản những cơ sở sản xuất kinh doanhcủa chế độ cũ Trong giai đoạn chuyển tiếp sang cơ chế mới đã cho phép các
cơ quan, trường học, quận huyện được thành lập doanh nghiệp nhà nước để
"tự cứu" nên hầu hết không đủ những điều kiện tối thiểu, trách nhiệm tài sảnkhông được phân định rõ ràng, trang bị quá đơn sơ, đội ngũ giám đốc vàcông nhân không được đào tạo có hệ thống, phương hướng sản xuất kinhdoanh không gắn với yêu cầu lâu dài của thị trường Mặt khác, kinh tế tưnhân còn quá non yếu nên doanh nghiệp nhà nước chưa thể điều chỉnh cơcấu thật mạnh theo hướng tập trung vào những lĩnh vực then chốt của nềnkinh tế
Thứ năm, tình trạng thiếu vốn của doanh nghiệp khá phổ biến Các
doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước đầu tư thành lập nhưng vốn Nhà nướccấp không đủ ở mức tối thiểu cần thiết cho sản xuất kinh doanh Có gần 60%
số doanh nghiệp nhà nước không có đủ vốn pháp định theo Nghị định 50/CPcủa Chính phủ Vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng60% tổng số vốn kinh doanh, trong đó các Tổng Công ty là 75%, các doanhnghiệp do Bộ, ngành quản lý là 45%; các doanh nghiệp do địa phương quản
lý là gần 50% Trên 50% doanh nghiệp chưa có đủ vốn lưu động cần thiết