1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích điều kiện kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và nêu những điểm cần sửa đổi bổ sung (9 điểm nhé)

13 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 35,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các điều kiện kết hôn đã đi vào cuộc sống, trở thành thói quen tốt đẹp trong đời sống hôn nhân và gia đình ở nước ta.Mặc dù vậy, trên thực tế, luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã

Trang 1

A.MỞ ĐẦU Điều kiện kết hôn là một trong những nội dung quan trọng của luật hôn nhân và gia đình Điều kiện kết hôn là chuẩn mực pháp lí để xác lập quan hệ hôn nhân và xây dựng gia đình theo khuôn mẫu nhất định phù hợp với lợi ích chung của Nhà nước và xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định Các điều kiện kết hôn

đã đi vào cuộc sống, trở thành thói quen tốt đẹp trong đời sống hôn nhân và gia đình ở nước ta.Mặc dù vậy, trên thực tế, luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã bộc lộ những thiếu xót, những vấn đề cần được sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện các qui định về điều kiện kết hôn cho phù hợp với sự biến động của

điều kiện xã hội hiện nay Sau đây, tôi xin được Phân tích điều kiện kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và nêu những điểm cần sửa đổi bổ sung.

B.NỘI DUNG Điều kiện kết hôn được qui định tại điều 9, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000:

“Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

1 Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;

2 Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;

3 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật này.”

I Phân tích điều kiện kết hôn theo luật hôn nhân gia định năm 2000:

Kết hôn là việc hai bên nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng, là mốc khởi đầu của quan hệ hôn nhân Nhà nước qui định điều kiện hôn nhân nhằm hướng đến xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc, hôn nhân tự nguyện tiến bộ Điều kiện hôn nhân bao gồm những điều kiện về mặt nội dung và hình thức-pháp luật chỉ bảo

Trang 2

vệ quan hệ hôn nhân tuân thủ đầy đủ những điều kiện này Điều kiện kết hôn về mặt nội dung: điều kiện về độ tuổi, điều kiện về sự tự nguyện của hai bên nam

nữ trong việc kết hôn, việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn được qui định tại điều 10 Điều kiện kết hôn về mặt hình thức: đăng kí kết hôn

1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn:

Khoản 1, Điều 9, Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “ Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên.” Qui định này kế thừa Điều

5, luật hôn nhân và gia đình năm 1986 Xuất phát từ những cơ sở khoa học về tâm lí lứa tuổi, sức khỏe con người Việt Nam, việc pháp luật qui định nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn là nhằm bảo đảm sự phát triển về mặt thể chất, con cái sinh ra được khỏe mạnh, bảo đảm cho đôi nam nữ thực hiện các chức năng sinh đẻ, giáo dục con cái và nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình đối với gia đình Đây là qui định thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với sức khỏe cộng đồng và đảm bảo thực hiện tốt chức năng của gia đình Theo các văn bản hiện hành hướng dẫn áp dụng luật hôn nhân và gia đình thì nam từ 20 tuổi trở lên không bắt buộc phải đủ 20 tuổi, nữ 18 tuổi trở lên không bắt buộc phải đủ 18 tuổi mới có quyền kết hôn Qui định về độ tuổi như vậy là tạo khoảng không gian rộng cho nam nữ lựa chọn thời điểm để kết mà không phải đợi đến tròn 20 tuổi và tròn 18 tuổi Mặt khác, khi đạt độ tuổi trưởng thành, nam nữ có thể tham gia vào quá trình lao động và có thu nhập nên có thể bảo đảm cho họ có cuộc sống ổn định về kinh tế sau khi kết hôn

2 Điều kiện về sự tự nguyện của hai bên nam nữ trong việc kết hôn:

Điều kiện này được qui định tại khoản 2 Điều 9, Luật hôn nhân và Gia đình

năm 2000: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”.

Hôn nhân tự nguyện tiến bộ là nguyên tắc cơ bản xuyên suốt của luật hôn nhân và gia đình các năm 1959, 1986, 2000, nhằm xóa bỏ hoàn toàn chế độ hôn

Trang 3

nhân cưỡng ép, phụ thuộc vào cha mẹ của chế độ hôn nhân gia đình phong kiến

và xây dựng chế độ hôn nhân mới xã hội chủ nghĩa Tự nguyện kết hôn là việc hai bên nam, nữ thể hiện sự đồng ý trở thành vợ chồng của nhau, mỗi bên không

bị tác động ý chí của bên kia hay của bất kì người nào khiến cho họ phải kết hôn

mà không có tình yêu Kết hôn là quyền chứ không phải là nghĩa vụ Vì vậy, không thể có hôn nhân ngoài ý muốn của người kết hôn Đây là điều kiện rất quan trọng được pháp luật nhiều nước quan tâm, phát triển Cuộc sống gia đình chỉ thực sự hạnh phúc khi được xây dựng trên cơ sở sự hòa hợp và tự nguyện của hai bên nam, nữ Sự cưỡng ép, lừa dối từ hai phía đối với nhau, sự cưỡng ép hay cản trở từ phía gia đình xã hội đều không thể đem lại hạnh phúc trong quan

hệ vợ chồng Pháp luật luôn tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của các bên khi xác lập một quan hệ pháp luật, một giao dịch dân sự có thể bị tuyên bố vô hiệu do bị lừa dối cưỡng ép; quan hệ kết hôn cũng có thể bị hủy khi có dấu hiệu cưỡng ép, không tự nguyện

3 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn qui định tại Điều 10.

Điều 10, luật hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định như sau:

“Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:

1 Người đang có vợ hoặc có chồng;

2 Người mất năng lực hành vi dân sự;

3 Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời

;4 Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ,

mẹ kế với con riêng của chồng;

5 Giữa những người cùng giới tính.”

a, Trường hợp cấm thứ nhất: Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn với người khác:

Trang 4

Qui định này là sự kế thừa và cụ thể hóa nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình-nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng Đó là qui định hết sức cần thiết đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của luật hôn nhân gia đình là xóa bỏ chế độ hôn nhân gia đình phong kiến, xóa bỏ sự đối xử bất bình đẳng đối với người phụ nữ, xây dựng hôn nhân tiến bộ xã hội chủ nghĩa

Pháp luật phong kiến Việt Nam qui định người đàn ông có quyền lấy nhiều vợ (Điều 79,80 Bộ dân luật Bắc Kì) Pháp luật của Nhà nước tư sản cũng qui định hôn nhân theo nguyên tắc một vợ-một chồng nhưng trên thực tế nguyên tắc đó đã bị phá bỏ do tệ nạn ngoại tình và mại dâm công khai Theo pháp luật Việt Nam, chỉ những người chưa kết hôn hoặc đã kết hôn nhưng vợ, chồng đã chết hoặc hai người đã li hôn thì mới có quyền kết hôn với người khác Tuy nhiên, cần lưu ý trường hợp người bị Tòa án tuyên bố là đã chết Theo Điều 91

Bộ luật dân sự, một người nếu có sau ba năm kể từ ngày tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật, mất tích trong chiến tranh, bị tai nạn, thiên tai thảm họa….mà sau một thời gian luật định vẫn không có tin tức gì để biết người

đó là còn sống thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu tòa

án tuyên bố người đó là đã chết Sau khi tuyên bố của Tóa án có hiệu lực thì vợ hoặc chồng đó có quyền kết hôn với người khác Trong trường hợp đó việc kết hôn là hoàn toàn hợp pháp Ngoài ra, còn một số trường hợp khác được qui định

cụ thể trong các Nghị định, thông tư, đặc biệt là Nghị quyết số 35 /2000/ QH 10 ngày 9-6-2000 của Quốc hội về thi hành Luật hôn nhân và Gia đình để coi họ là người có vợ, có chồng; Nếu từ sau ngày 1-1-2003 mà họ không đăng kí kế hôn thì pháp luật không côn nhận họ là vợ chồng

b Trường hợp cấm thứ hai: Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn:

Theo điều 24, Bộ luật dân sự và mục 1 điểm c.2 nghị quyết số

02/2002/NQ-HĐTP thì người mất năng lực hành vi dân sự là người “ do bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành

vi của mình”, mất khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền,

Trang 5

nghĩa vụ dân sự Qui định cấm những người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết, phù hợp với quy luật của tự nhiên của qua hệ hôn nhân, bảo đảm hạnh phúc thật sự của vợ chồng Bởi vì, người không

có khả năng nhận thức được hành vi thì không có khả năng thể hiện một cách đúng đắn ý chí của mình trong vấn đề kết hôn, cũng không thể nhận thức và thực hiện được trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ trong đời sống gia đình Mặt khác ,nếu cho đối tượng này kết hôn vừa không đảm bảo nòi giống , vừa rất rẽ bị lợi dụng Nếu họ kết hôn sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi, sức khỏe của vợ, chồng, con cái họ Và, theo điều 24, Bộ luật dân sự : “Mọi giao dịch dân

sự của người mất năng lực hành vi dân sự đều do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện” Nhưng quyền kết hôn là quyền nhân thân của mỗi người nên không thể để cho người đại diện thực hiện Vì thế, về nguyên tắc người mất hành vi dân sự không thể kết hôn Vậy điều kiện để kết hôn là người đó phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự

c Trường hợp cấm thứ 3: Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời:

Khoản 12,13 Điều 8 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000 qui định:

“những người cùng dòng máu về trực hệ là cha, mẹ đối với con; ông bà đối với cháu nội và cháu ngoại”, “những người có họ trong phạm vi ba đời là những

người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất, anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ 3” Qui định cấm kết hôn giữa những người này là hoàn toàn phù hợp với khoa học và phong tục tập quán của nước ta Về mặt khoa học, việc cấm những người này kết hôn với nhau là để đảm bảo thế hệ tiếp theo khỏe mạnh, duy trì nòi giống không mang bệnh tật bẩm sinh, theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì con sinh ra do quan hệ giữa những người

có họ hàng trong phạm vi ba đời thường có những biến chứng như quái thai, thoái hóa, dị dạng do cấu trúc gen di truyền của họ, Về mặt xã hội và truyền

Trang 6

thống dân tộc thì việc kết hôn giữa những người này sẽ phá vỡ tôn ti trật tự trong

họ hàng , cách xưng hô, những chuẩn mực đạo đức bị xâm phạm, suy đồi,

d Trường hợp cấm thứ tư: Cấm kết hôn giữa những người đã từng là cha

mẹ nuôi với con nuôi, giữa những người đã từng là bố chồng với con dâu, mẹ

vợ với con rể, giữa người đã từng là bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Xét về quan hệ thực tế, giữa những người này không có quan hệ huyết thống, tuy nhiên, trước đây giữa họ đã có mối quan hệ cha mẹ-con và có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng Do vậy, việc pháp luât qui định những người này cấm kết hôn với nhau là hoàn toàn đúng đắn, bảo đảm giữ gìn thuần phong mĩ tục của dân tộc, bảo đảm thực hiện các nguyên tắc của cuộc sống, nhằm ổn định mới quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, phù hợp với đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam Đồng thời, quy định này còn nhằm ngăn chặn hiện tượng lợi dụng mối quan hệ phụ thuộc giữa cha mẹ nuôi với con nuôi mà có thể xảy ra hành vi cưỡng ép kết hôn Đây vừa là quy định của pháp luật vừa là quy tắc đạo đức

e Trường hợp cấm thứ 5: Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính.

Cấm kết hôn giữa những cùng giới tính là qui định mới của Luật hôn nhân

và Gia đình năm 2000 Việc cấm kết hôn ‘Giữa những người đồng tính” là một vấn đề khá tế nhị và nhạy cảm Trước đây, luật hôn nhân và gia đình năm 1959

và 1986 chưa dự liệu được trường hợp hai người có cùng giới tính kết hôn với nhau Pháp luật Việt Nam không cho phép những người đồng giới kết hôn với nhau vì điều đó không phù hợp với đạo đức, tập quán và qui luật sinh học

Nhìn chung, phạm vi cấm kết hôn của luật hôn nhân và gia đình năm

2000 so với với luật hôn nhân và gia đình trước đó là rộng rãi và cụ thể, đầy đủ hơn, phù hợp hơn với xã hội hiện tại Nhằm đảm bảo mục tiêu cao nhất là sự yên bình, no ấm và hạnh phúc của mỗi gia đình Tuy nhiên ,thực tế hiện nay vấn có quan niệm cho rằng không nên cấm những người “ đồng tính kết hôn” , nên bỏ quy định cấm này và quy định mềm dẻo hơn, thể hiện sự tôn trọng quyền con

Trang 7

người của họ, đồng thời cần bổ sung quy định về giải quyết hậu quả pháp lí của quan hệ sống chung

4 Điều kiện về đăng kí kết hôn:

Vấn đề đăng kí kết hôn được qui định tại Điều 11, Luật hôn nhân và gia đình

năm 2000: “1 Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi là cơ quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này.

Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều không

có giá trị pháp lý

Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn.

2 Chính phủ quy định việc đăng ký kết hôn ở vùng sâu, vùng xa.”

Đăng kí kết hôn là thủ tục do Nhà nước qui định-như một điều kiện về hình thức- nhằm công nhận việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam nữ là hợp pháp Việc pháp luật qui định sự kiện kết hôn phải được cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền chứng nhận là sự ràng buộc pháp lí, là cơ sở để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng Đăng kí kết hôn là biện pháp để cơ quan Nhà nước có thể kiểm tra và kịp thời ngăn chặn các hiện tượng vi phạm điều kiện kết hôn của nam nữ và tuyên truyền, giải thích pháp luật cho họ hiểu Qui định này phù hợp với khoản 2 Điều 16 Công ước Cedaw- Công ước xóa bỏ mợi sự phân

biệt, đối xử với người phụ nữ, đó là hôn nhân : “bắt buộc phải có đăng kí kết hôn trong hồ sơ chính thức của Nhà nước”.

Khoản 1, điều 11, luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã qui định “ nam,

nữ không đăng kí kết hôn mà sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng” Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không thừa

nhận hôn nhân thực tế, thể hiện rõ thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với những trường hợp kết hôn không tuân thủ qui định của pháp luật Ngoài ra, có những hoàn cảnh đặc biệt như đời sống còn nhiều khó khăn của đồng bào vùng

Trang 8

sâu, vùng xa, điều kiện đi lại khó khăn, nên phải tạo thuận lợi cho nhân dân bằng cách tổ chức đăng kí kết hôn lưu động Chính quyền địa phương cần bố trí cán bộ có thẩm quyền cùng với cán bộ hộ tịch tư pháp hàng tháng tăng cường xuống cơ sở để nắm tình hình và tổ chức đăng kí kết hôn ngay tại nơi cư trú và tích cực phổ biến luật nói chung, luật hôn nhân và gia đình nói riêng đến đồng bào các vùng sâu , vùng xa xôi, hẻo lánh của đất nước

II Một số điểm cần sửa đổi bổ sung với điều kiện kết hôn trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000:

1, Điều kiện về tuổi kết hôn.

Theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định độ tuổi kết hôn đối với nam từ hai mươi tuổi trở lên, đối với nữ từ mười tám tuổi trở lên Như vậy, theo quy định này thì chỉ cần nam bước sang tuổi hai mươi, nữ bước sang tuổi 18 là đủ tuổi kết hôn Việc quy định độ tuổi kết hôn trong Luật là chưa thống nhất với Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự

Cách tính tuổi kết hôn: Theo quy định tại Điều 9 khoản 1 Luật hôn nhân và

gia đình và mục 1 điểm a Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì không bắt buộc nam phải

đủ từ hai mươi tuổi trở lên, nữ phải đủ từ mười tám tuổi trở lên mới được kết hôn; do đó nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn Đồng thời, Công văn số 268/TP-HT ngày 19-4-2001 của Bộ tư pháp cũng quy định độ tuổi kết hôn được hiểu: Nam bước sang ngày hôm sau của này sinh nhật lần thứ 19, nữ bước sang ngày hôm sau của ngày sinh nhật lần thứ 17

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên Người từ đủ mười sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác Đồng thời, theo quy định của Bộ luật Tố tụng

Trang 9

dân sự thì đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Như vậy, nếu cho phép người chưa đủ 18 tuổi kết hôn không những tạo ra sự thiếu thống nhất, đồng bộ trong hệ thống văn bản pháp luật mà còn hạn chế một số quyền của người nữ khi xác lập các giao dịch, hạn chế quyền yêu cầu ly hôn (phải có người đại diện)

Ý kiến cá nhân: Nên quy định tuổi tối thiểu kết hôn đối với nam là từ đủ hai

mươi tuổi trở lên, nữ là từ đủ mười tám tuổi trở lên (tuổi tròn)

2, Cấm kết hôn giữa bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể.

Quy định này dựa trên phong tục tập quán và truyền thống đạo đức Việc quy định như vậy nhằm làm lành mạnh mối quan hệ trong gia đình, bảo đảm thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo đảm các nguyên tắc của cuộc sống, làm ổn định trật tự giữa các thành viên trong gia đình.Tuy nhiên, Về cơ sở khoa học, giữa nhưng người này không có mối quan hệ về huyết thống hay họ hàng Những người này nếu lấy nhau sẽ không ảnh hưởng gì đến giống nòi, thế hệ sau này Đồng thời, nếu họ muốn lấy nhau vì tình yêu chân chính, tự nguyện muốn xây dựng gia đình nếu luật cấm như vậy liệu có vi phạm nguyên tắc tự nguyện Vấn đề cấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự

Ý kiến cá nhân về việc sửa đổi, bổ sung: Không nên đưa quy định cấm kết hôn

những người này vào trong luật Nên để cho vấn đề kết hôn giữa những người này cho phong tục, tập quán, truyền thống đạo đức và dư luận xã hội điều chỉnh thì sẽ tốt hơn

3, Cấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự.

Một người được xem là mất năng lực hành vi dân sự nếu người đó mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình và tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự Trường hợp người bị bệnh tâm thần phân liệt, tâm thần theo mùa hoặc các bệnh khác làm cho lúc có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi lúc thì không có Trường hợp đó cần xử lý như thế nào thì trong luật không quy định cụ thể Nếu

Trang 10

khi người đó đi đăng ký kết hôn là lúc tỉnh táo và hoàn toàn bình thường thì cơ quan có thẩm quyền cũng không thể phát hiện và xử lý được Thời điểm đó, người đó vẫn có khả năng thể hiện một cách đúng đắn ý chí của mình trong vấn

đề kết hôn (điều kiện tự nguyện kết hôn) Như đã phân tích ở phần trên, song thực tế ở nước ta hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau , mà nguyên một nguyên nhân rất chính đáng là do ảnh hưởng của chiến tranh, có nhiều người từ chiến trường trở về , bên cạnh những vết thương trên thân thể , họ còn phải chịu những tổ thất nặng nề về tinh thần, do chấn thương sọ não, dẫn tới khả năng nhận thức Có người đã đã lấy được vợ, được chồng nhưng sinh con thì bị dị dạng do ảnh hưởng của chất độc màu da cam và nhiều thức chất độc khác nữa từ chiến tranh để lại, vì thế những đứa trẻ này khi lớn lên không thể kết hôn được Trong hoàn cảnh này, họ rất cần có người yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ trong cuộc sống Nà nước và xã hội cũng luôn quan tâm, giúp đỡ họ, làm giản bất phần nào những thiệt thòi mà họ phải gánh chịu Vậy nếu có người nào vì tình yêu , gắn bó sâu sắc và tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng chia sẻ cuộc sống với họ thì liệu pháp luật có chấp nhận cuộc hôn nhân đó không ? Đây là vấn đề nhân đạo, do thự tiễn đặt ra mà pháp luật cần giải quyết sao cho phù hợp với đạo lí , tình cảm của người Việt Nam Theo quan điểm riêng , pháp luật phải thừa nhận cuộc hôn nhân đặc biệt này nếu người kết hôn có đủ năng lực hành vi, hoàn toàn

tự nguyện kết hôn với ngườu mất năng lực hành vi Điều này phù hợp với truyền thống nhân đạo của người Việt Nam và cũng dồng thời đảm bảo quyền tự do kết hôn của của con người

Ý kiến cá nhân về việc sửa đổi, bổ sung:Theo quan điểm của tôi, người mắc

bệnh tâm không bị cấm nhưng vẫn có thể không được phép kết hôn Chỉ không được phép kết hôn đối với người đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác không có khả năng nhận thức hành vi của mình (đang trong tình trạng không nhận thức được hành vi của mình) Nhưng vẫn phải thừa nhận cuộc hôn nhân dặc biệt trong trường trên

Ngày đăng: 21/03/2019, 14:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w