Việc ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW và các Nghị định của Chính phủ về thựchiện dân chủ ở cơ sở vừa thể hiện tính cấp thiết của việc phát huy quyền làm chủcủa nhân dân, đồng thời còn đặt ra
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở là chủ trương quan trọng củaĐảng và Nhà nước, có ý nghĩa đột phá để giải quyết nhiều vấn đề bức xúc liên quanđến quyền làm chủ của nhân dân, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã từng khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân,
vì dân là chủ” Nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo những lời chỉ dẫn của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã sớm khẳng định mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa,phát huy quyền làm chủ của nhân dân coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực củacách mạng, của sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước Xây dựng chế độ Nhà
nước dân chủ với nguyên tắc “Toàn bộ quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”,
là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động của Đảng và Nhà nước ta trongthời kỳ đổi mới và hội nhập
Việc ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW và các Nghị định của Chính phủ về thựchiện dân chủ ở cơ sở vừa thể hiện tính cấp thiết của việc phát huy quyền làm chủcủa nhân dân, đồng thời còn đặt ra yêu cầu đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ,công chức có đủ phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực, làm việc có năng suất vàchất lượng, không tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân.Nhân dân có quyền được công khai bàn bạc và trực tiếp quyết định những côngviệc quan trọng, thiết thực, gắn bó với quyền lợi và nghĩa vụ của mình, đồng thờiphát huy dân chủ đại diện, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động củachính quyền địa phương cơ sở
Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai trên địa bàn thị trấn Sa Pa, tình hình thựchiện Pháp lệnh dân chủ ở một số cơ sở vẫn còn nhiều khó khăn, do cá biệt còn cócán bộ cơ sở chưa nhận thức được đầy đủ Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, triển khai mộtcách hình thức, chiếu lệ qua loa; trong quá trình giải quyết công việc của nhân dâncòn gây phiền hà; bên cạnh đó một bộ phận nhân dân chưa nhận thức được đẩy đủtrách nhiệm và quyền lợi của mình, luôn đặt quyền lợi của mình nhiều hơn nghĩa vụcủa người công dân, nhất là trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn nhẹ dạ,
cả tin bị các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo, tín ngưỡng
để xúi dục, lôi kéo, kích động đồng bào chống phá các chủ trương của Đảng và Nhànước ta
Từ những cơ sở thực tiễn nêu trên tôi chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả thực
Trang 2CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1 Khái niệm thực hiện dân chủ ở cơ sở
Dân chủ cơ sở không phải là hình thức dân chủ mà là cấp độ thực hiện dân chủ
thông qua hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Phương châm “ Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra ” phải được cụ thể hóa ở các cấp độ: Trung
ương, địa phương và cơ sở Dân chủ - trước hết là một chế độ chính trị Nhà nước
là cơ quan đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân trong việc thực hiện ba quyền:lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;song trong quá trình triển khai thực hiện ở mỗi cấp, mỗi địa phươgn và đặc thùtừng vùng, miền địa phương có những đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội, địa lý,tập quán khác nhau Nên việc phát huy và mở rộng dân chủ trực tiếp của nhân dânvừa là quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân vừa là cuộc vận động dânchủ phát huy tính sáng tạo, trí tuệ của muôn người trong xây dựng đường lối, chủtrương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Đồng thời, qua đó là điềukiện tốt nhất để khắc phục bệnh quan liêu và chống những hiện tượng, hành vithiếu tính dân chủ phát sinh trong bộ máy Nhà nước
Thực hiện dân chủ ở cơ sở là việc thừa nhận và thực hiện thường xuyên cácquyền làm chủ của công dân; tăng cường tính cộng đồng trách nhiệm giữa Nhànước và công dân nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân
ở cơ sở
2 Quan điểm của Đảng về thực hiện dân chủ cơ sở
Quan điểm chỉ đạo việc xây dựng quy chế dân chủ cơ sở đã được Đảng ta chỉ
rõ tại Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/2/1998 của Ban Chấp hành Trung ương Đảngcộng sản Việt Nam về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, các quanđiểm đó là:
Một là, đặt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong cơ chế tổng thể của hệ thống chính trị “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ ” Coi trọng cả ba mặt nói trên, không vì nhấn mạnh một mặt mà coi nhẹ, hạ
thấp các mặt khác
Hai là, vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng và hiệu
lực hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Trang 3các cấp vừa thực hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cấp cơ sở để nhân dân bàn bạc
và quyết định trực tiếp những công việc quan trọng, thiết thực, gắn liền với lợi íchcủa mình
Ba là, phát huy dân chủ phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và nâng
cao dân trí, tạo điều kiện mở rộng dân chủ có chất lượng và hiệu quả
Bốn là, nội dung và các quy chế dân chủ cơ sở phải phù hợp với Hiến pháp,
pháp luật, thể hiện tinh thần dân chủ đi đôi với kỷ cương, trật tự, quyền hạn gắn vớitrách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ; chống quan liêu, mệnh lệnh, đồng thờichống tình trạng vô Chính phủ, lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật
Năm là, gắn quá trình xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ với công tác cải
cách hành chính sửa đổi những cơ chế và thủ tục hành chính không phù hợp
II PHÁP LUẬT THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1 Khái niệm pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở
Dân chủ là một hệ giá trị xã hội mang bản chất giai cấp và tính nhân văn sâusắc Dân chủ là quyền làm chủ của con người trong cộng đồng xã hội Vì vậy dânchủ còn mang tính pháp lý Quyền tự do dân chủ là quyền chính trị, quyền dân sự,kinh tế gắn với mỗi cá nhân không thể chuyển dịch cho người khác và không thểtính thành tiền được Thực hiện quyền làm chủ, hay sử dụng quyền tự do dân chủ là
để giành lấy và bảo vệ các lợi ích vật chất, trước hết là lợi ích kinh tế và lợi ích tinhthần khác Dân chủ không tách rời lợi ích, đồng thời quyền làm chủ của nhân dânphải gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân Nhân dân thực hiện quyền làmchủ bằng hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp
Pháp luật thực hiện dân chủ trực tiếp ở Việt Nam đã hình thành rất sớm ngay
từ Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Theo quy định tạiĐiều 32 Hiến pháp năm 1946, những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ranhân dân phúc quyết, nếu 2/3 tổng số nghị viên đồng ý Cách thức phúc quyết sẽ doluật định Theo Điều 70, việc sửa đổi Hiến pháp phải do đa số nghị viên đề nghịsau đó phải tổ chức trưng cầu ý dân
2 Sự cần thiết xây dựng Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhândân; Sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW, để cụ thể hoá các chủtrương của Đảng, Chính phủ đã ban hành các Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày11/5/1998 (sau được sửa đổi bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/07/2003)
Trang 4kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định các nội dung,phương thức và trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện quyền dânchủ của nhân dân Đây là những văn bản pháp lý quan trọng, đánh dấu một bước
việc thể chế hoá phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra ” của
Đảng nhằm phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân ngay từ cơ sở
Trên cơ sở đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá XI đã thông qua Pháp lệnh
số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007, về thực hiện dân chủ ở xã, phường,thị trấn Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm phát huy quyền dân chủ của nhândân ở xã, phường, thị trấn
3 Nội dung pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở
Tùy từng loại hình cơ sở mà pháp luật thực hiện dân chủ có những nội dungriêng Có nội dung pháp luật thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, ởdoanh nghiệp Nhà nước và ở chính quyền cấp xã
Theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20/4/2007 của Ủy banThường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Pháp lệnh gồm 6chương và 28 điều
3.1 Những nội dung công khai để dân biết
* Chính quyền cấp xã thực hiện công khai các nội dung sau đây để nhân dân được biết, gồm có 11 nội dung sau:
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và dự toán, quyết toán ngân sách Nhà nước hàng năm
- Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền
bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư liên quan đến dự án, công trìnhtrên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điềuchỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã
- Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết cáccông việc của nhân dân
- Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chươngtrình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp
- Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xóa đói,giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sảnxuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế
- Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hànhchính liên quan trực tiếp tới cấp xã
Trang 5- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng củacán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệmChủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp xã.
- Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đềthuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ya kiếnnhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này
- Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chínhquyền cấp xã trực tiếp thu
- Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việcliên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện,
- Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quannhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết
* Hình thức công khai (Quy định tại điều 5 của Pháp lệnh số 34 )
- Niêm yết công khai tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã,thời gian niêm yết công khai theo quy định của pháp luật;
- Công khai trên hệ thống truyền thanh của xã;
- Công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố để thông báo đếnnhân dân
- Chính quyền cấp xã có thể áp dụng đồng thời nhiều hình thức công khai quyđịnh tại khoản 1 Điều này; thực hiện việc cung cấp thông tin theo quy định tại Điều
32 của Luật phòng, chống tham nhũng
+ Công khai bằng hình thức niêm yết
+ Việc công khai trên hệ thống truyền thanh và thông qua Trưởng thôn, Tổtrưởng Tổ dân phố để thông báo đến nhân dân
+ Trách nhiệm tổ chức thực hiện các nội dung công khai
3.2 Những nội dung nhân dân bàn và quyết định
3.2.1 Nội dung, hình thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp
* Nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp
Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xâydựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn,
tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và công việckhác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật
* Hình thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp
Trang 6Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những nội dung trên (Điều 10 của Pháplệnh số 34) bằng các hình thức sau đây:
- Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn,
tổ dân phố;
- Phát biểu lấy ý kiến tới cử tri đại diện hộ gia đình
Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc biểuquyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểuquyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cửtri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố hoặc trong toàn cấp xã thì
Nhân dân có trách nhiệm tham gia bàn và quyết định các công việc của thôn,
tổ dân phố và của cấp xã theo quy định của pháp luật; chấp hành và thực hiện cácquyết định đã có giá trị thi hành
Chính quyền cấp xã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên của mặt trận cùng cấp tổ chức tuyên truyền, vận động, thuyếtphục những cử tri, hộ gia đình chưa tán thành trong việc thực hiện những quyếtđịnh đã có giá trị thi hành
3.2.2 Nội dung, hình thức nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định
* Những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định
- Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố
- Bẫu, bãi nhiện thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư củacộng đồng
* Hình thức nhân dân bàn, biểu quyết
- Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từngthôn, tổ dân phố;
- Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình
Trang 7Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc giảiquyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểuquyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cửtri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố thì tổ chức lại cuộc họp.Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cửtri hoặc cử tri đại diện hộ hộ gia đình, trừ việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm trưởngthôn, tổ trưởng tổ dân phố.
* Giá trị thi hành đối với những việc nhân dân bàn, biểu quyết
- Đối với nội dung quy định tại khoản 1 Điều 13 của Pháp lệnh này, nếu cótrên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tánthành thì có giá trị thi hành sau khi ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phốthuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện ) ra quyết định công nhận
- Đối với nội dung quy định tại khoản 2 Điều 13 của Pháp lệnh này, nếu có
trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tánthành thì có giá trị thi hành sau khi ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định côngnhận
- Đối với nội dung quy định tại khoản 3 Điều 13 của Pháp lệnh này, nếu có
trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình tán thành thì có giá trị thihành sau khi được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã công nhận
* Việc công nhận những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết
- Việc công nhận hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố được thực hiệnnhư sau:
Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố có trách nhiệm báo cáo ngay với Uỷ bannhân dân cấp xã kết quả việc nhân dân bàn, biểu quyết;
Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của Trưởngthôn, Tổ trưởng Tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải lập hồ sơ trình Uỷ bannhân dân cấp huyện;
Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Uỷban nhân dân cấp xã, Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải xem xét, ra quyết định côngnhận; trường hợp không công nhận thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do
- Việc công nhận kết quả bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng
Tổ dân phố được thực hiện như sau:
Trang 8Người chủ trì cuộc họp thôn, Tổ dân phố có trách nhiệm lập biên bản, báo cáongay với Uỷ ban nhân dân cấp xã kết quả bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn,
Tổ trưởng Tổ dân phố;
Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo, Uỷ bannhân dân cấp xã phải xem xét, ra quyết định công nhận; trường hợp không côngnhận thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do
- Việc công nhận kết quả bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân,
Ban giám sát đầu tư của cộng đồng được thực hiện như sau:
Người chủ trì cuộc họp có trách nhiệm báo cáo ngay với Uỷ ban Mặt trận Tổquốc Việt Nam cấp xã kết quả bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân,Ban giám sát đầu tư của cộng đồng;
Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo, Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã phải xem xét, công nhận; trường hợp khôngcông nhận thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do
3.2.3 Trách nhiệm tổ chức thực hiện những nội dung nhân dân bàn và quyết định
* Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
Uỷ ban nhân dân cấp xã lập, thông qua kế hoạch thực hiện những nội dungnhân dân bàn và quyết định; phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp tổ chức thực hiện; chỉ đạo Trưởng thôn, Tổtrưởng Tổ dân phố thực hiện kế hoạch đã được thông qua
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm lập biên bản tổng hợp kếtquả về những nội dung đã đưa ra nhân dân toàn xã bàn và quyết định; tổ chức triểnkhai thực hiện những nội dung đã được nhân dân quyết định; phối hợp với Uỷ banMặt trận Tổ quốc Việt Nam xã tổ chức việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởngthôn, Tổ trưởng tổ dân phố
Uỷ ban nhân dân cấp xã báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về quá trình vàkết quả thực hiện các nội dung nhân dân bàn và quyết định tại kỳ họp gần nhất củaHội đồng nhân dân
* Trách nhiệm của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
Chủ trì, phối hợp với Ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố tổ chức cuộchọp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình, phát phiếu lấy ý kiến cử tri hoặc cử tri
Trang 9đại diện hộ gia đình để nhân dân thực hiện những nội dung quy định tại Điều 10,khoản 1 và khoản 3 Điều 13 của Pháp lệnh này
Lập biên bản về kết quả đã được nhân dân thôn, tổ dân phố bàn và quyết địnhtrực tiếp những công việc của thôn, tổ dân phố
Lập biên bản về kết quả đã được nhân dân thôn, tổ dân phố bàn và quyết địnhtrực tiếp những công việc thuộc phạm vi cấp xã; báo cáo kết quả cho Chủ tịch Uỷban nhân dân cấp xã
Tổ chức thực hiện những công việc trong phạm vi thôn, tổ dân phố đã đượcnhân dân quyết định
3.3 Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định
* Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến
- Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của xã; phương án chuyển đổi
cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới vàphương án phát triển ngành nghề của xã
- Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh;việ quản lý, sử dụng quỹ đất của xã
- Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn xã; chủtrưng, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, táiđịnh cư; phương án quy hoạch khu dân cư
- Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địagiới hành chính liên quan trực tiếp đến xã
- Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của phápluật, theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xãthấy cần thiết
* Hình thức để nhân dân tham gia ý kiến
- Họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dânphố
- Phát phiếu lấy ý kiến cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình
- Thông qua hòm thư góp ý
* Trách nhiệm của chính quyền xã về tổ chức thực hiện những nội dung nhân dân tham gia ý kiến
Trang 10- Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm lập, thông qua kế hoạch để lấy ý
kiến nhân dân về những nội dung thuộc thẩm quyền quyết định của chính quyền
xã, trong đó nêu rõ cách thức triển khai, thời gian và trách nhiệm tổ chức thực hiện
- Uỷ ban nhân dân cấp xã phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp tổ chức thực hiện kế hoạch đã được thôngqua
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức lấy ý
kiến, tổng hợp ý kiến của cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; nghiên cứu tiếp thu
ý kiến và thông báo với nhân dân về tiếp thu ý kiến của cử tri hoặc cử tri đại diện
hộ gia đình
- Trường hợp chính quyền xã quyết định các nội dung quy định tại Điều 19
của Pháp lệnh này khác với ý kiến của đa số thì phải nêu rõ lý do và chịu tráchnhiệm về quyết định của mình
- Đối với những nội dung do cơ quan có thẩm quyền giao cho chính quyền xãđưa ra lấy ý kiến nhân dân thì Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm lập, thông qua kếhoạch thực hiện, trong đó nêu rõ cách thức triển khai, thời gian và trách nhiệm tổchức thực hiện; chỉ đạo tổ chức thực hiện, tổng hợp ý kiến và báo cáo với cơ quan
có thẩm quyền về kết quả lấy ý kiến nhân dân trên địa bàn
- Uỷ ban nhân dân xã báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về quá trình và kếtquả thực hiện các nội dung đưa ra lấy ý kiến nhân dân tại kỳ họp gần nhất của Hộiđồng nhân dân
* Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền cấp trên về tổ chức thực hiện những nội dung nhân dân cấp xã tham gia ý kiến
- Lấy ý kiến nhân dân trước khi quyết định về những việc liên quan trực tiếp
đến quyền và lợi ích của công dân trên địa bàn cấp xã
- Chỉ đạo Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức lấy ý kiến nhân dân trên địa bàncấp xã
- Cung cấp các tài liệu cần thiết cho việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân
- Tiếp thu ý kiến nhân dân về những nội dung đã đưa ra lấy ý kiến Trườnghợp cơ quan có thẩm quyền quyết định các nội dung quy định tại Điều 19 của Pháplệnh này khác với ý kiến của đa số thì phải nêu rõ lý do và chịu trách nhiệm vềquyết định của mình
3.4 Những nội dung nhân dân giám sát
* Nội dung nhân dân giám sát
Trang 11Đó là những nội dung công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dânbàn và quyết định trực tiếp; những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết và những nội
dung nhân dân tham gia ý kiến (Nhân dân giám sát việc thực hiện các nội dung quy định tại các điều 5, 10, 13 và 19 của Pháp lệnh số 34).
* Hình thức để thực hiện việc giám sát của nhân dân
- Nhân dân thực hiện việc giám sát thông qua hoạt động của Ban thanh tranhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng
- Trình tự, thủ tục hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tưcủa cộng đồng được thực hiện theo quy định của pháp luật
- Nhân dân trực tiếp thực hiện việc giám sát thông qua quyền khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc kiến nghị thông qua Uỷban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận cấp xã, Banthanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng
- Trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân được thực hiệntheo quy định của pháp luật
* Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện giám sát của nhân dân
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, tổ chức, cá nhân cócác trách nhiệm sau đây:
- Cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu cần thiết cho Ban thanh tra
nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng;
- Xem xét, giải quyết và trả lời kịp thời các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của
công dân, kiến nghị của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộngđồng, của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trậncấp xã hoặc báo cáo với cơ quan có thẩm quyền về những vấn đề không thuộc thẩmquyền giải quyết của mình;
- Xử lý người có hành vi cản trở hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Bangiám sát đầu tư của cộng đồng hoặc người có hành vi trả thù, trù dập công dânkhiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo quy định của pháp luật
* Lấy phiếu tín nhiệm của nhân dân
- Hai năm một lần trong mỗi nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cấp xã, Ban
Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức lấy phiếu tínnhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịchUỷ ban nhân dân cấp xã
Trang 12- Thành phần tham gia lấy phiếu tín nhiệm gồm các thành viên Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên Ban thường vụ của các tổ chức chính trị - xã hộicấp xã, Trưởng ban thanh tra nhân dân, Trưởng ban giám sát đầu tư của cộng đồng(nếu có), Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng ban công tácmặt trận thôn, tổ dân phố
- Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã gửi kết quả lấy
phiếu tín nhiệm và kiến nghị của mình tới Hội đồng nhân dân cùng cấp và các cơquan, tổ chức có thẩm quyền
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT DÂN CHỦ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ TRẤN SA PA, HUYỆN SA PA
I ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TỰ NHIÊN THỊ TRẤN SA PA
Thị trấn Sa Pa là trung tâm kinh tế chính trị, văn hoá – xã hội của huyện, cóvai trò rất quan trọng trong sự phát triển chung của huyện cũng như toàn tỉnh, cócác điều kiện thuận lợi về tự nhiên để phát triển du lịch và dịch vụ Với diện tích tựnhiên là 2.368 ha (trong đó đất sản xuất nông nhiệp là 356,3ha, đất doanh nghiệpsản xuất 78ha, đất đô thị 78,2 ha, đất lâm nghiệp 1.328 ha), tổng số 2.525 hộ, 9.383khẩu gồm 6 dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn 23 tổ dân phố, cơ cấu kinh tếchủ yếu là du lịch, dịch vụ chiếm 70%, nông lâm nghiệp chiếm 20%, tiểu thủ côngnghiệp 10%; với lợi thế là địa điểm du lịch nổi tiếng tạo điều kiện cho việc giao lưuphát triển về kinh tế, văn hoá của thị trấn
Trong thời gian tới,UBND thị trấn Sa Pa đặt ra nhiệm vụ trọng tâm là tậptrung mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế
Về tiểu thủ công nghiệp, UBND thị trấn chủ trương khai thác tiềm năng củatừng thành phần kinh tế để phát triển tiểu thủ công nghiệp theo hướng kinh tế hànghoá nhiều thành phần, đáp ứng nhu cầu đời sống, phục vụ xuất khẩu, giải quyếtviệc làm, đảm bảo nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng nông thôn mới
Về thương mại - du lịch, dịch vụ, với mục tiêu thương mại - dịch vụ thànhthế mạnh của thị trấn, UBND thị trấn chủ trương tổ chức lại hệ thống lưu thônghàng hoá, xây dựng chợ Văn hoá - Bến xe, các trung tâm buôn bán, đáp ứng nhucầu ngày càng cao của người dân
Về nông nghiệp, UBND thị trấn chủ trương phát triển theo hướng sản xuấthàng hoá hiệu quả và bền vững trên cơ sở giải quyết nhu cầu lương thực, thựcphẩm của nhân dân trên địa bàn Nhằm thực hiện mục tiêu trên, UBND thị trấn đã
Trang 13tiến hành chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, quy hoạch các vùng sản xuấthàng hoá phù hợp với tiềm năng và thế mạnh từng vùng.
Thị trấn Sa Pa cũng thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước đối với các đối tượng chính sách, nhất là ưu đãi người có công; đẩy mạnhphong trào toàn dân chăm sóc phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; quan tâm
và khuyến khích làm việc thiện giúp đỡ người nghèo, tàn tật, trẻ mồ côi không nơinương tựa thông qua các cuộc vận động “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đápnghĩa”…Các hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội diễn ra sôi động,khá hiệu quả và các đoàn thể chính trị - xã hội đặc biệt là Hội Nông dân, Hội phụ
nữ, Hội cựu chiến binh đã thực hiện tốt kênh huy động vốn giúp đỡ người nghèo,các hộ nghèo phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo
II MỘT SỐ KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHẤP LUẬT DÂN CHỦ Ở THỊ TRẤN SA
Các tổ chức trong hệ thống chính trị thị trấn Sa Pa đã phối hợp triển khai sâurộng quy chế dân chủ ở cơ sở dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy thị trấn theo tinh thần
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Đảng uỷ thị trấn Sa Pa đã ra Nghị
quyết lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ năm 2015, đồng thời xây dựng kế hoạch
số 05-KH/ĐU ngày 30/7/2015 để triển khai thực hiện Kế hoạch số 101-KH/HU củaHuyện ủy Sa Pa Đồng thời, tổ chức kiện toàn Ban chỉ đạo thực hiện ở Quy chế dânchủ cơ sở, gồm các thành viên: Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy bannhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Trưởng các đoàn thể nhân dân, cán bộ tư pháp,
kế toán ngân sách thị trấn và các Tổ trưởng tổ dân phố Ban chỉ đạo đã có sự phâncông giao nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên phụ trách ở từng đơn vị tổ dân phố
và chịu trách nhiệm trước Trưởng ban trong việc triển khai thực hiện ở cơ sở
Chỉ đạo tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt Kết luận số 65-KL/TW thôngqua các buổi sinh hoạt sáng thứ hai hàng tuần đối với cơ quan xã, các buổi sinhhoạt Chi bộ, cuộc họp quân dân chính, họp tổ nhân dân, họp thôn, bản, họp cácđoàn thể nhân dân và thông qua hệ thống loa truyền thanh, kết quả