1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận chuyên viên chính: Những thuận lợi, khó khăn trong cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay và thực trạng cải cách hành chính ở Tổng cục Môi trường

56 724 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 105,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cải cách một bước nền hành chính nhà nước được xác định làtrọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, với mục tiêunhằm xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng

Trang 1

Những thuận lợi, khó khăn trong cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay

và thực trạng cải cách hành chính ở Tổng cục Môi trường

Họ và tên: Nguyễn Văn Hưng

Sinh ngày: 16/6/1975

Cơ quan công tác: Tổng cục Môi trường

Hà Nội, ngày 02 tháng 11 năm 2015

Trang 3

II Các giải pháp về cải cách hành chính ở Tổng cục Môitrường 52

KẾT LUẬN 53

KHẢO 55

LỜI NÓI ĐẦU

Cải cách hành chính là một công việc quan trọng, trên thế giới hiện naykhông có nước nào là không tiến hành nhiệm vụ cải cách hành chính, cải cách

tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước Nhưng đồng thời đây cũng là một công việc

vô cùng khó khăn và phức tạp

Cơ quan hành chính tại Việt Nam trong thời gian trước đây đã chứng tỏ

là kém hiệu lực Bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều tầng nhiều nấc, với nhữngchồng chéo, mắt xích trung gian không cần thiết; sự phân định chức năng nhiệm

vụ quyền hạn giữa các cơ quan tổ chức và cán bộ Nhà nước không rõ ràng, cónhiều mâu thuẫn; hoạt động quản lý trì trệ, quy trình ra quyết định chậm chạp,kém hiệu quả Bên cạnh đó, quyết định quản lý ban hành nhiều nhưng khôngđược thực hiện nghiêm chỉnh, chất lượng các viên chức, công chức giảm sút,việc sắp xếp cán bộ nhiều khi tuỳ tiện Các nguyên tắc quản lý Nhà nước chưađược nhận thức và áp dụng đúng đắn, vừa tồn tại bệnh tập trung quan liêu, vừa

có nhiều biểu hiện tư do, tuỳ tiện, vô chính phủ… Tất cả các hiện tượng trên

đây đã được các cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước nhắc đến nhiều

lần

Nói đến cải cách là nói đến việc thay đổi cơ bản một trạng thái, một đốitượng, làm cho đối tượng đó có sự biến đổi phù hợp với yêu cầu khách quan củaquá trình phát triển, làm cho nó tốt hơn theo nhu cầu của con người Công cuộccải cách hành chính mà Việt Nam đã bắt đầu thực hiện từ nhiều năm trước đâynhằm hướng tới việc thay đổi trạng thái của cơ chế hành chính hiện hành, làmcho nó thay đổi phù hợp với yêu cầu của thời kỳ phát triển mới của đất nước

Trang 4

Tất nhiên, cuộc cải cách này không nhằm thay đổi nền tảng của nền hành chínhnhà

nước Việt Nam mà chỉ làm thay đổi cơ chế vận hành của nó theo yêu cầu quản

lý đất nước trong thời kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường có sự điều tiếtcủa Nhà nước

Cải cách hành chính ở Việt Nam được tiến hành với một số đặc điểm nổibật là:

Việt Nam đã đang trong quá trình đổi mới với những thành công ban đầu.Đất nước đã vượt qua được cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài trongnhiều năm, nền kinh tế đã bắt đầu chuyển động theo cơ chế thị trường có sự điềutiết của Nhà nước

Trong khi đó, nhiều nước trên thế giới trong quá trình phát triển của mìnhcũng tiến hành cải cách hành chính để đổi mới hoạt động của bộ máy nhà nướcnhằm tiếp tục đưa đất nước tiến lên và phát triển một cách bền vững Những bàihọc của nhiều nước tiên tiến, theo nhiều con đường khác nhau đã tác động đếnViệt Nam làm thay đổi nhận thức của nhiều nhà lãnh đạo đất nước Nhiều người

ở Việt Nam dần dần đã nhận ra rằng, cải cách nền hành chính nhà nước là mộtđòi hỏi có tính quy luật Việt Nam cũng nằm trong quy luật đó

Hơn nữa, bản thân nền hành chính nhà nước của Việt Nam được hìnhthành và vận hành qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, tuy đã có nhiều đónggóp cho việc quản lý đất nước, nhưng thực tế cũng cho thấy, khi bước vào thời

kỳ hòa bình xây dựng và trước đòi hỏi quản lý nền kinh tế vận hành theo cơ chếthị trường, nó ngày càng bộc lộ nhiều khuyết tật có tính cố hữu, ngày càng bộc

lộ sự xa dân, quan liêu Đặc biệt bộ máy rất cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực

và hiệu quả, thủ tục điều hành rất nặng nề, gây phiền hà cho dân Chế độ vàtrách nhiệm công vụ không rõ ràng, thiếu minh bạch Cán bộ, công chức cónhiều người sách nhiễu dân, lãng phí và tham nhũng ngày càng nên phổ biến, có

tổ chức và trở thành quốc nạn Như vậy, Việt Nam muốn phát triển không thểnào không tiến hành cải cách để đổi mới nền hành chính nhà nước Thật ra,trước khi đưa ra chiến lược cải cách hành chính, vào thời kỳ gian khó nhất củađất nước sau ngày thống nhất, Đảng cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh một cáchcông khai trong toàn Đảng rằng, “Đảng phải thay đổi, phải đổi mới, đất nướcphải tiến hành cải cách nhiều mặt” Trong nhiều văn kiện chính thức của mình,Đảng cộng sản Việt Nam nhận định rằng, nếu không cải cách nền hành chính thì

sự tồn vong của chế độ sẽ bị ảnh hưởng là điều chắc chắn

Ngày nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu Cải cáchhành chính đang thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sựphát triển đất nước Việt Nam đang là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ haitrên thế giới, công nghiệp và dịch vụ phát triển, đầu tư nước ngoài xu hướng

Trang 5

chung là tăng, nhiều vấn đề xã hội đang được giải quyết tốt .Tuy nhiên, ở Việt

Nam đang còn rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội đã tồn tại từ lâu và mới nảy sinhcần phải được giải quyết tích cực và có hiệu quả Bên cạnh đó, bối cảnh toàn cầuhoá đang đặt ra trước Việt Nam những thách thức và cơ hội mới đòi hỏi phải cónhững cố gắng cao độ Điều đó cũng có nghĩa là quá trình cải cách hành chính ởViệt Nam còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết Cái khó trongcải cách hành chính ở Việt Nam là phải tiến hành một cuộc cải cách hành chính

có tính chất cách mạng từ quản lý lập trung quan liêu, bao cấp sang quản lý

trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng dân chủ

Trước xu thế toàn cầu hoá kinh tế và văn hoá, cải cách hành chính trởthành một trào lưu, là một nhu cầu tự thân, nỗ lực của hầu hết các quốc gia trênthế giới, nhằm xây dựng một nền hành chính nhà nước hiện đại, năng động, hiệuquả, giảm phiền hà, một nền hành chính lấy đối tượng phục vụ làm tôn chỉ, mụcđích chủ yếu,để từđó xây dựng, phát triển vàhoàn thiện nền hành chính

Ở Việt Nam hiện nay, công cuộc cải cách hành chính nhà nước đang làtâm điểm trong các nỗ lực của Đảng và Nhà nước nhằm tiến tới phát triển, hoànthiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “Nhà nước của dân, do dân, vìdân”, xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thựchiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” và

là điều kiện căn bản để góp phần đạt được các mục tiêu của kế hoạch phát triểnkinh tế -xã hội quốc gia

Đảng ta, tại Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần IX đã khẳng định tiếp tục

“ Xây dựng một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từngbước hiện đại hoá” không chỉ là mục tiêu của công cuộc cải cách hành chính màcòn là chủ trương góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội đến 2010 ở Việt Nam

Đại hội XI tiếp tục khẳng định: Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủtục hành chính; giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hàcho tổ chức và công dân

Chính vì vậy, tôi đã chọn vấn đề “Những thuận lợi, khó khăn trong cải cách hành chính ở nước ta hiện nay và thực trạng cải cách hành chính ở Tổng cục Môi ” để làm đề tài cho tiểu luận Lớp bồi dưỡng chuyên viên chính

khoá VI - Học viện Tư pháp

Kết cấu của tiểu luận gồm:

Mục lục

Chương I: Lý luận về cải cách hành chính

Chương II: Những thuận lợi, khó khăn trong cải cách hành chính ở ViệtNam hiện nay

Trang 6

Chương III: Thực trạng cải cách hành chính ở Tổng cục Môi trường trongnhững năm gần đây

Chương III: Giải pháp cải cách hành chính ở Việt Nam trong thời gian tớiKết luận

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

I Khái niệm và vai trò của cải cách hành chính

1 Khái niệm cải cách hành chính

Hiện nay trên thế giới, về mặt lý thuyết, có nhiều quan niệm khác nhau vềcải cách hành chính Có quan niệm cho rằng cải cách hành chính là sự cải tổ vàđiều chỉnh cơ cấu tổ chức do đó dẫn đến sự thay đổi về chức năng, phương thứcquản lý và cơ cấu nhân viên Đây là quan niệm có tính phổ biến và chủ đạo nhất.Song, do quan điểm về ý thức hệ và tình hình thực tế của các nước khác nhaunên nội dung, mục tiêu cải cách hành chính cũng khác nhau Tuy vậy, cải cáchhành chính đều xuất phát từ thực tiễn và phát sinh chủ yếu do nguyên nhân sau:yêu cầu tất yếu của phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu tất yếu của việc cải tạo,điều chỉnh của cơ cấu hành chính, kết quả tất yếu của sự tác động của tiến bộkhoa học vào quản lý hành chính Về tính chất, cải cách hành chính là một sựbiến đổi hay cách mạng trong lĩnh vực thượng tầng kiến trúc và quan hệ sảnxuất, có tính chất chính trị và giai cấp rõ rệt Tuy nhiên, từ góc độ hành chính thìcải cách hành chính phải phục tùng nhu cầu khách quan của sự phát triển lựclượng sản xuất xã hội và thúc đẩy khoa học hoá sự quản lý công việc của toàn

bộ hệ thống hành chính nhà nước, nên nó có tính cộng đồng xã hội nhất định.Tuy nhiên, tính chất của cải cách hành chính ở các nước khác nhau, vẫn có sựkhác biệt về bản chất Tính chất khác biệt chủ yếu về mặt chính trị, tính cộngđồng biểu hiện ở các khía cạnh sau đây:

Trang 7

- Cải cách để thúc đẩy việc khoa học hoá, hiệu suất hoá công việc quản lýhành chính;

- Cải cách là để kích thích công tác và tính tích cực của cán bộ, côngchức, phát huy đầy đủ năng lực sáng tạo của họ

- Cải cách là để xây dựng hệ thống quản lý Nhà nước có cơ cấu hợp lý,công năng đầy đủ, chức năng rõ ràng, tinh giản mà hiệu quả cao, có cơ chế tựkiểm soát để thích ứng với sự thay đổi phát triển của tình hình kinh tế xã hội

Từ những phân tích trên đây, cải cách hành chính có thể được hiểu mộtcách khái quát, chung nhất, đó là:

Cải cách hành chính là hoạt động của Chính phủ căn cứ vào yêu cầu pháttriển kinh tế, chính trị của xã hội mà hiện đại hoá, khoa học hoá, hiệu suất hoáthể chế hành chính, cơ cấu tổ chức, chế độ công tác, phương thức quản lý đểnâng cao năng suất và hiệu lực hành chính của toàn bộ nền hành chính nhànước

2 Vai trò của cải cách hành chính đối với sự phát triển của đất nước

Cải cách hành chính được Đảng và Nhà nước ta xác định là khâu đột phátrong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cần Từ nhiều năm nay, vấn đề cảicách hành chính rất được quan tâm, trên các văn bản quản lý của cơ quan nhànước và các phương tiện thông tin đại chúng đều thường nhắc nhở đến cácchuyện "một cửa", xóa bỏ "xin cho", giảm bớt giấy phép và thủ tục phiền hà v.v.Đánh giá chung là chương trình cải cách hành chính thực hiện chậm, công việckhông dứt điểm, chưa đi vào bề sâu, làm cho chủ trương cải cách hành chínhchưa thực sự trở thành khâu đột phá trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hộiqua từng thời kỳ Có nguyên nhân trong tổ chức điều hành, song trong khi chuẩn

bị tiếp tục mở rộng và đi sâu hơn nữa trong những năm tới, cũng cần làm rõ hơn

về vai trò, thực chất, nội dung của cải cách hành chính để chương trình có thểđạt được kết quả xứng đáng

a) Về vị trí, vai trò của cải cách hành chính trong sự nghiệp phát triển

và đổi mới

Cải cách hành chính ở phương Tây còn gọi là cải cách chính phủ, ở TrungQuốc gọi là cải cách thể chế quản lý hành chính, nội dung không khác nhau baonhiêu, đều nhắc đến các yêu cầu điều chỉnh quan hệ giữa cơ cấu hành chính vàcác cơ cấu xã hội khác, hoặc quan hệ nội bộ của cơ cấu hành chính, điều chỉnhchức năng, tổ chức và nhân sự hành chính Mục đích của cải cách hành chính lànâng cao hiệu suất hoạt động hành chính, thích ứng với những thay đổi, đòi hỏicủa môi trường trong nước và quốc tế

Đối với nước ta, đang chuyển đổi sang một nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học,

Trang 8

công nghệ mới, nhiệm vụ cải cách hành chính nặng nề gấp đôi và đã trở thànhbức xúc đối với tiến trình phát triển và đổi mới.

Hiện nay, mặc dầu đã có không ít thành tích cải cách, nhưng quản lý hànhchính vẫn là khâu chậm trễ và nhiều khi cản trở những cố gắng phát triển, dù là

về kinh doanh, đầu tư, sự nghiệp, hay dịch vụ đời sống Không chỉ khâu thủ tụcphiền hà, không dứt điểm làm tốn thời gian giải quyết công việc của người dân

và doanh nghiệp, mà còn nhiều chỗ chồng chéo về quyền hạn, không phân định

rõ về trách nhiệm, không hợp lý về tổ chức, trình tự, thiếu nâng cao về trình độnghiệp vụ và ý thức trách nhiệm , làm cho các hoạt động kinh tế và đời sống bịtrì trệ, sửa đi và sửa lại nhiều lần, không kịp thời, kém hiệu quả Các khâu hoạtđộng kinh tế, văn hóa, xã hội đều phải qua khung cửa bộ máy hành chính nhànước thì mới thành hiện thực Vì vậy, nếu không kịp thời đổi mới hoạt độnghành chính thì nhịp độ và chất lượng của sự nghiệp phát triển đều bị ảnh hưởng,phát triển càng nhanh, càng rộng thì ảnh hưởng đó lại càng nghiêm trọng

Mặt khác, cải cách hành chính cũng là "đầu ra" của các cuộc cải cáchkhác, như cải cách kinh tế, cải cách tư pháp, kể cả cải cách chính trị, trong cuộcđổi mới toàn diện đang tiến triển Thực khó có thể hình dung nổi trong điều kiệnthủ tục phiền hà, bộ máy trì trệ, nhân sự bất cập như một số nơi hiện nay lại cóthể thực hiện được thông suốt những thay đổi rất căn bản từ kinh tế kế hoạchsang kinh tế thị trường, từ doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần,

từ những cơ quan sự nghiệp nhà nước sang các tổ chức sự nghiệp xã hội Trongthời gian qua, cải cách hành chính đã đi sau cải cách kinh tế, đến thời gian tớiphải "bứt" lên trước các cuộc cải cách khác thì mới có thể bảo đảm tiến trình đổimới thực hiện thuận lợi

b) Về trọng tâm của cải cách hành chính

Chương trình cải cách hành chính gồm có các nội dung: cải cách thể chế,cải cách thủ tục hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức, viên chức, đổi mới cán bộ, cải cách tài chính công, hiện đại hoá hànhchính Trong thực hiện, Chính phủ thường nhấn mạnh ưu tiên cải cách thủ tụchành chính, còn bộ máy tổ chức được đổi mới tùy theo từng nhiệm kỳ, quản lýcán bộ đổi mới từng bước và cải cách tài chính công thì thực hiện kết hợp cùngvới cải cách kinh tế

Việc nhấn mạnh ưu tiên cải cách thủ tục hành chính là hoàn toàn đúngđắn và cần thiết Ai cũng thấy cách làm việc của các cơ quan nhà nước cònrườm rà, phiền toái, gây tốn kém thời gian và tiền của của Nhà nước, nhân dân

và doanh nghiệp Song chỉ nhấn mạnh cải cách thủ tục lúc này là chưa đủ Trongcác lý do dẫn đến tình hình trên, có vấn đề chưa tìm hiểu rõ thực chất, trọng tâmcủa cải cách hành chính ở nước ta là gì để không chỉ dừng lại ở bề nổi

Nội dung cải cách hành chính ban đầu chỉ bao gồm cải cách thủ tục, tổ

Trang 9

chức và cán bộ, đến khi bắt đầu chương trình cải cách hành chính giai đoạn

2001 - 2010 thì đã đổi cải cách thủ tục thành cải cách thể chế và bổ sung thêmcải cách tài chính công, hiện đại hoá nền hành chính Việc đặt cải cách thể chếlên hàng đầu cũng đã nói lên trọng tâm của cải cách, song trong tiến trình thựchiện đã chưa làm nổi lên được ý tưởng nhấn mạnh đó Thực tế hơn mười nămqua cũng cho thấy song song với cải cách thủ tục, cần đồng thời đi sâu vào thựcchất của công tác hành chính của nước ta và tiến hành cải cách cả gốc và ngọncùng một lúc thì mới có thể đạt được kết quả thiết thực và kịp thời đáp ứng yêucầu bức xúc của phát triển và đổi mới nói chung

Có thể khẳng định cải cách thể chế là nội dung cốt lõi và thực chất của cảicách hành chính của nước ta hiện nay Thể chế nói chung bao gồm có các quyđịnh chung và các tổ chức để thực hiện các quy định đó Thể chế hành chính nóiriêng được hiểu là một hệ những quy tắc, quy chế ràng buộc các quan hệ giữa cơcấu hành chính nhà nước với các cơ cấu xã hội khác (tổ chức chính trị xã hội, tổchức kinh tế, nhân dân rộng rãi), kể cả quan hệ trong nội bộ cơ cấu hành chính

và các hình thức tổ chức được thiết lập (các thiết chế) để thực thi những quychế, quy tắc trên, thực hiện quản lý nền hành chính nhà nước Như vậy, cải cáchthể chế hành chính có nghĩa là điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ cấu hành chínhvới các cơ cấu xã hội khác và đồng thời điều chỉnh tổ chức bộ máy hành chính

để thích ứng với những yêu cầu của tình hình mới Nội dung cụ thể của cải cáchthể chế hành chính bao gồm từ điều chỉnh chức năng hệ thống hành chính, đổimới cơ cấu hệ thống hành chính (phân công, phân cấp), đến đổi mới cơ chế,phương thức hoạt động của hệ thống hành chính (trực tiếp, gián tiếp, quy trình,quy phạm, v.v.) Rõ ràng, đây là nội dung chủ yếu của cải cách hành chính Nếugiải quyết tốt khâu cải cách thể chế thì những nhiệm vụ cải tiến bộ máy, nângcao trình độ đội ngũ cán bộ, viên chức, lành mạnh hóa tài chính công chắcchắn sẽ tiến hành thuận lợi Ngược lại, nếu không có cải cách thể chế thì nhữngthay đổi về bộ máy, nhân sự, tài chính cũng không có cơ sở để thực hiện

Có thể khẳng định cải cách thể chế (hành chính) là nội dung cốt lõi vàthực chất của cải cách hành chính của nước ta hiện nay Cải cách thể chế hànhchính có nghĩa là điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ cấu hành chính với các cơ cấu

xã hội khác và đồng thời điều chỉnh tổ chức bộ máy hành chính để thích ứng vớinhững yêu cầu của tình hình mới

Mặt khác, thể chế hành chính phụ thuộc trực tiếp vào thể chế chính trị và

có quan hệ hữu cơ với các thể chế kinh tế, pháp lý, văn hóa, xã hội, cho nên cảicách thể chế hành chính cũng nằm trong lĩnh vực cải cách thể chế nói chung,phải tương hợp (nếu không nói là đi sớm hơn một bước) với các cuộc cải cáchthể chế kinh tế, tài chính, tiền tệ, tư pháp , và chuẩn bị đón trước những bướcđổi mới về thể chế chính trị

Trang 10

Chúng ta chuyển đổi từ thể chế kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường

mà không thay đổi chế độ xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa Đồngthời, chúng ta chủ trương phát triển nhanh và bền vững trong điều kiện không cómột mô hình có sẵn để tham khảo Những tình hình đó càng thôi thúc phải hoànthành cuộc cải cách thể chế hành chính một cách khẩn trương, kịp thời và hoànchỉnh

c) Xác định chức năng của Chính phủ trong tình hình mới

Trong quá trình đổi mới thể chế hành chính, việc quan trọng đầu tiên làđiều chỉnh chức năng của Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của Nhànước, vì những cải cách khác về thủ tục hành chính, bộ máy hành chính, phươngthức hoạt động và quản lý, quy trình, quy phạm hành chính, nhân sự hànhchính cũng chỉ nhằm thực thi những chức năng mới của Chính phủ

Bước vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong mộtthế giới đang toàn cầu hóa, quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, giữa Nhà nước

và xã hội, giữa Nhà nước trung ương và địa phương cần có nhiều thay đổi theohướng cái gì thị trường có thể làm được và làm tốt hơn, cái gì xã hội có thể lođược và lo tốt hơn, cái gì địa phương có thể làm được và làm tốt hơn thì nên đểdành cho thị trường, xã hội, địa phương chia sẻ với Nhà nước, do đó mà chứcnăng của Nhà nước và Chính phủ đương nhiên phải có sự điều chỉnh cho phùhợp với thực tế khách quan

Theo tinh thần trên, vai trò của cơ quan hành chính cao nhất của Nhànước phải được nghiên cứu làm rõ Trong lĩnh vực kinh tế, Chính phủ cầnchuyển dần từ vai trò tác nhân kinh tế chính yếu, trực tiếp hoạt động sản xuấtkinh doanh, sang vai trò người thúc đẩy phát triển, người trọng tài kinh tế Tronglĩnh vực quản lý chính trị, vai trò của Chính phủ chuyển dần từ người cho phép,người gia ân sang người bảo đảm, người tạo điều kiện cho mọi công dân thựchiện các quyền cơ bản theo luật pháp, các quyền tự do dân chủ ngày càng đượcpháp luật bảo hộ Trong lĩnh vực xã hội, vai trò của Chính phủ cũng chuyển dần

từ người phân phát phúc lợi (đồng đều và hạn chế) sang người đảm bảo an sinh

xã hội cho mọi người, người cung cấp dịch vụ sự nghiệp tối thiểu, đồng thời bảođảm nguồn dịch vụ khác theo yêu cầu toàn xã hội

Tóm lại, cần có nhận thức sâu hơn về vai trò đột phá của công tác cải cáchhành chính trong thời gian tới, chú trọng đi vào chiều sâu, lấy cải cách thể chếhành chính làm nội dung cốt lõi và trọng tâm của cải cách hành chính hiện nay.Trong cải cách thể chế hành chính, điều quan trọng trước hết là xác định lại haythiết kế lại chức năng của Nhà nước và Chính phủ, từ đó mở ra hướng đi cho cácbước cải cách hành chính tiếp theo Bước tiến sâu hơn về cải cách hành chính làtiếp tục đổi mới quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý trong mối quan hệ thể chế

Trang 11

"Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" đang cần được nghiêncứu thấu đáo.

II Quan điểm của Đảng về cải cách hành chính

Cuộc cải cách hành chính đặt trong khuôn khổ các quan điểm và chủtrương của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới hệ thống chính trị và cải cách

bộ máy nhà nước Cải cách và hoàn thiện nền hành chính nhà nước gắn liền vớixây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảngđối với Nhà nước nói chung và nền hành chính nói riêng, nhằm giữ vững và pháthuy bản chất của giai cấp công nhân, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân,

do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nền hành chính phải được tổ chứcthành một hệ thống thống nhất ổn định, hoạt động thông suốt, trên cơ sở phâncông, phân cấp và chếđộ trách nhiệm rành mạch, có kỷ cương nghiêm ngặt, cơquan hành chính và cán bộ, công chức nhà nước chịu sự giám sát chặt chẽ củanhân dân áp dụng các cơ chế, biện pháp hữu hiệu ngăn ngừa những hành vi mấtdân chủ, tự do, tùy tiện, quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà chodân Các chủ trương, giải pháp cải cách hành chính phải gắn liền chặt chẽ vớibước đi của đổi mới kinh tế, với yêu cầu phát triển đất nước trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, hình thành và hoàn thiệncác yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững trật

tự, kỷ cương trong các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng caođời sống của nhân dân Cải cách hành chính là nhiệm vụ rộng lớn, phức tạp đòihỏi có tầm nhìn bao quát với những giải pháp đồng bộ, kết hợp chặt chẽ cải cáchhành chính với đổi mới hoạt động lập pháp, cải cách tư pháp Cải cách hànhchính phải được tiến hành từng bước vững chắc, có trọng tâm, trọng điểm, lựachọn khâu đột phá trong từng giai đoạn cụ thể

Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đã mở ra một

kỷ nguyên mới trong xây dựng, đổi mới, mở cửa, phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ ngghĩa, mở rộng hợp tác quốc tế Trên cơ sở đánhgiá, xác định đúng những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế- xãhội trầm trọng, nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VI đã chỉ rõ nguyên nhâncủa mọi nguyên nhân là công tác tổ chức và đề ra chủ trương thực hiện một cuộccải cách lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước Thực hiện Nghị quyết Đạihội VI, tổ chức bộ máy nhà nước đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọnnhẹ, bớt đầu mối Tuy nhiên, nhìn chung tổ chức và biên chế của bộ máy nhànước vẫn còn quá cồng kềnh, nặng nề, đòi hỏi tiếp tục được cải cách, đổi mới

Tại Đại hội toàn quốc lần VII, đã thông qua nghị quyết chỉ rõ việc tiếp tụcphải cải cách bộ máy nhà nước và đề ra những nhiệm vụ cho Nhà nước về sửađổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, sửa đổi cơ cấu tổchức và phương thức hoạt động của Chính phủ, của chính quyền địa phương

Trang 12

Trên cơ sở những nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra, trong nhiệm kỳ này đã tiếnhành đợt sắp xếp lần thứ hai kể từ Đại hội VI hệ thống chính trị ở nước ta baogồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựngđất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chiến lược ổn định và pháttriển kinh tế-xã hội đến năm 2000, khẳng định bước tiến về lý luận, nhận thức vềnền hành chính nhà nước Cương lĩnh nêu rõ, về Nhà nước “phải có đủ quyềnlực và có đủ khả năng định ra luật pháp về tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xãhội bằng pháp luật Sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hànhchính, kiện toàn các cơ quan lập pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản

lý của Nhà nước” Chiến lược cũng đặt nhiệm vụ trọng tâm cải cách “nhằm vào

hệ thống hành chính với nội dung chính là xây dựng một hệ thống hành chính vàquản lý hành chính nhà nước thông suốt, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu quả ”.Thực hiện Nghị quyết Đại hội VII, tháng 4/1992, Hiến pháp mới thay thế Hiếnpháp 1980 đãđược Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thôngqua Hiến pháp 1992 ghi nhận đầy đủ, rõ hơn về sự phân công, phối hợp giữa 3quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong tổng thể quyền lực thống nhất củaNhà nước Sau Đại hội VII, từ 1992 đến 1995, đây là giai đoạn phát triển mạnh

mẽ tư duy, quan niệm, nhận thức của Đảng về nền hành chính nhà nước và vềcải cách hành chính Hội nghị Trung ương 8 khoá VII (1/1995) đã đánh dấubước phát triển mới về quan điểm, nhận thức xây dựng và phát triển nền hànhchính nhà nước Cải cách một bước nền hành chính nhà nước được xác định làtrọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, với mục tiêunhằm xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúngquyền lực và từng bước hiện đại hoá nhằm phục vụđắc lực đời sống nhân dân,thúc đẩy tiến trình đổi mới, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh

Tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), bên cạnhviệc tiếp tục khẳng định nhất quán mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nướcdân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá đã đưa ra một loạt chủtrương, giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong cải cách hành chính thời gian tớinhư điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ,nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách cơ quanhành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; tiếp tục cải cáchdoanh nghiệp nhà nước, tách rõ chức năng quản lý nhà nước với sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng độingũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chốngquan liêu, tham nhũng…

Trang 13

Tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2011-2016), tiếp tụchoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ phòng, chống thamnhũng, lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí.

III Mục tiêu, nhiệm vụ của cải cách hành chính

Cải cách hành chính ở Việt Nam là công việc hết sức mới mẻ, diễn ratrong điều kiện thiếu kiến thức và kinh nghiệm về quản lý hành chính Nhà nướctrong thời kỳđổi mới, mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý củaNhà nước đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, nên có nhiều vấn đề phải vừa làm,vừa tìm tòi, tổng kết đúc rút kinh nghiệm Do vậy, việc hình thành quan niệm vànhững nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc cải cách hành chính cũng như việc

đề ra những nội dung, phương hướng, chủ trương, giải pháp thực hiện trongtừng giai đoạn là một quá trình tìm tòi sáng tạo không ngừng, là một quá trìnhnhận thức liên tục, thống nhất trong tiến trình đổi mới Cho nên, cải cách hànhchính ở Việt Nam vừa có tính chiến lược, vừa có tính chiến thuật giai đoạn,được xác định trong khuôn khổ những mục tiêu chung và những mục tiêu cụ thểcần đạt được trong từng giai đoạn nhất định

- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứngyêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Đến năm 2010, hệ thốnghành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa

2 Những mục tiêu cụ thể

- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệuquả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước

- Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minhbạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệpthuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính

- Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới

cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tínhdân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơquan hành chính nhà nước

Trang 14

- Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệquyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đấtnước.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, nănglực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước

Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thểchế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chútrọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, côngchức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chấtlượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công

3 Nhiệm vụ của cải cách hành chính

a) Cải cách thể chế:

- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở Hiến pháp năm

1992 được sửa đổi, bổ sung;

- Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết

là quy trình xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định, thông tư

và văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương nhằm bảo đảm tínhhợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, cụ thể và khả thi của các văn bản quy phạmpháp luật;

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách,trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sựcông bằng trong phân phối thành quả của đổi mới, của phát triển kinh tế - xãhội;

- Hoàn thiện thể chế về sở hữu, trong đó khẳng định rõ sự tồn tại kháchquan, lâu dài của các hình thức sở hữu, trước hết là sở hữu nhà nước, sở hữu tậpthể, sở hữu tư nhân, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữukhác nhau trong nền kinh tế; sửa đổi đồng bộ thể chế hiện hành về sở hữu đấtđai, phân định rõ quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất, bảo đảm quyền củangười sử dụng đất;

- Tiếp tục đổi mới thể chế về doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là xácđịnh rõ vai trò quản lý của Nhà nước với vai trò chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhànước; tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước với chức năng quảntrị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; hoàn thiện thể chế về tổ chức và kinhdoanh vốn nhà nước;

- Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về xã hội hóa theo hướngquy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc chăm lo đời sống vật chất và

Trang 15

tinh thần của nhân dân; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia cung ứngcác dịch vụ trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh;

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế về tổ chức và hoạtđộng của các cơ quan hành chính nhà nước; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện cácvăn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ, Hội đồngnhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp;

- Xây dựng, hoàn thiện quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa Nhànước và nhân dân, trọng tâm là bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhândân, lấy ý kiến của nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sáchquan trọng và về quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quanhành chính nhà nước

b) Cải cách thủ tục hành chính:

- Cắt giảm và nâng cao chất lượng thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnhvực quản lý nhà nước, nhất là thủ tục hành chính liên quan tới người dân, doanhnghiệp;

- Cải cách thủ tục hành chính giữa các cơ quan hành chính nhà nước, cácngành, các cấp và trong nội bộ từng cơ quan hành chính nhà nước;

- Kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các thủ tục hành chính theo quyđịnh của pháp luật;

- Công khai, minh bạch tất cả các thủ tục hành chính bằng các hình thứcthiết thực và thích hợp; thực hiện thống nhất cách tính chi phí mà cá nhân, tổchức phải bỏ ra khi giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhànước; duy trì và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính;

- Đặt yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựngthể chế, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tăng cường đối thoại giữa Nhà nướcvới doanh nghiệp và nhân dân; mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của các tổchức và chuyên gia tư vấn độc lập trong việc xây dựng thể chế, chuẩn mực quốcgia về thủ tục hành chính; giảm mạnh các thủ tục hành chính hiện hành; côngkhai các chuẩn mực, các quy định hành chính để nhân dân giám sát việc thựchiện;

- Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quyđịnh hành chính để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các quy định hành chính vàgiám sát việc thực hiện thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính nhà nướccác cấp

c) Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước:

- Tiến hành tổng rà soát về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu

tổ chức và biên chế hiện có của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính

Trang 16

phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dâncấp tỉnh, cấp huyện, các cơ quan, tổ chức khác thuộc bộ máy hành chính nhànước ở trung ương và địa phương (bao gồm cả các đơn vị sự nghiệp của Nhànước); trên cơ sở đó điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, sắpxếp lại các cơ quan, đơn vị nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trốnghoặc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; chuyển giao những côngviệc mà cơ quan hành chính nhà nước không nên làm hoặc làm hiệu quả thấpcho xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận;

- Tổng kết, đánh giá mô hình tổ chức và chất lượng hoạt động của chínhquyền địa phương nhằm xác lập mô hình tổ chức phù hợp, bảo đảm phân địnhđúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, sát thực tế, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng

mô hình chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn phù hợp

Hoàn thiện cơ chế phân cấp, bảo đảm quản lý thống nhất về tài nguyên,khoáng sản quốc gia; quy hoạch và có định hướng phát triển; tăng cường giámsát, kiểm tra, thanh tra; đồng thời, đề cao vai trò chủ động, tinh thần tráchnhiệm, nâng cao năng lực của từng cấp, từng ngành;

- Tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhànước; thực hiện thống nhất và nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa,một cửa liên thông tập trung tại bộ phận tiếp nhận, trả kết quả thuộc Văn phòngHội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện; bảo đảm sự hài lòng của cánhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên80% vào năm 2020;

- Cải cách và triển khai trên diện rộng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệmcủa các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công; chất lượng dịch vụ công từng bước đượcnâng cao, nhất là trong các lĩnh vực giáo dục, y tế; bảo đảm sự hài lòng của cánhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trong các lĩnh vực giáodục, y tế đạt mức trên 80% vào năm 2020

d) Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viênchức:

- Đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơcấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và phục

vụ sự nghiệp phát triển của đất nước;

- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đứctốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục

vụ nhân dân thông qua các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, có hiệu quả;

- Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật vềchức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ của cán bộ, công chức, viên chức, kể cả cán bộ,công chức lãnh đạo, quản lý;

Trang 17

- Trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị,xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức hợp lý gắn với vị trí việc làm;

- Hoàn thiện quy định của pháp luật về tuyển dụng, bố trí, phân côngnhiệm vụ phù hợp với trình độ, năng lực, sở trường của công chức, viên chứctrúng tuyển; thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh; thituyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý từ cấp vụ trưởng

và tương đương (ở trung ương), giám đốc sở và tương đương (ở địa phương) trởxuống;

- Hoàn thiện quy định của pháp luật về đánh giá cán bộ, công chức, viênchức trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; thực hiện cơ chế loại bỏ,bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tínvới nhân dân; quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viênchức tương ứng với trách nhiệm và có chế tài nghiêm đối với hành vi vi phạmpháp luật, vi phạm kỷ luật, vi phạm đạo đức công vụ của cán bộ, công chức,viên chức;

- Đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức,viên chức; thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng theo các hình thức: Hướng dẫn tập

sự trong thời gian tập sự; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, viênchức; đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡngbắt buộc kiến thức, kỹ năng tối thiểu trước khi bổ nhiệm và bồi dưỡng hàngnăm;

- Tập trung nguồn lực ưu tiên cho cải cách chính sách tiền lương, chế độbảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công; đến năm 2020, tiền lương của cán bộ,công chức, viên chức được cải cách cơ bản, bảo đảm được cuộc sống của cán

bộ, công chức, viên chức và gia đình ở mức trung bình khá trong xã hội Sửađổi, bổ sung các quy định về chế độ phụ cấp ngoài lương theo ngạch, bậc, theocấp bậc chuyên môn, nghiệp vụ và điều kiện làm việc khó khăn, nguy hiểm, độchại Đổi mới quy định của pháp luật về khen thưởng đối với cán bộ, công chức,viên chức trong thực thi công vụ và có chế độ tiền thưởng hợp lý đối với cán bộ,công chức, viên chức hoàn thành xuất sắc công vụ;

- Nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụcủa cán bộ, công chức, viên chức

đ) Cải cách tài chính công:

- Động viên hợp lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực chophát triển kinh tế - xã hội; tiếp tục hoàn thiện chính sách và hệ thống thuế, cácchính sách về thu nhập, tiền lương, tiền công; thực hiện cân đối ngân sách tíchcực, bảo đảm tỷ lệ tích lũy hợp lý cho đầu tư phát triển; dành nguồn lực cho con

Trang 18

người, nhất là cải cách chính sách tiền lương và an sinh xã hội; phấn đấu giảmdần bội chi ngân sách;

- Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhànước, nhất là các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty; quản lý chặt chẽ việc vay

và trả nợ nước ngoài; giữ mức nợ Chính phủ, nợ quốc gia và nợ công trong giớihạn an toàn;

- Đổi mới căn bản cơ chế sử dụng kinh phí nhà nước và cơ chế xây dựng,triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ theo hướng lấy mục tiêu và hiệuquả ứng dụng là tiêu chuẩn hàng đầu; chuyển các đơn vị sự nghiệp khoa học,công nghệ sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm; phát triển các doanh nghiệpkhoa học, công nghệ, các quỹ đổi mới công nghệ và quỹ đầu tư mạo hiểm; xâydựng đồng bộ chính sách đào tạo, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ xứng đáng nhântài khoa học và công nghệ;

- Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính nhà nước,tiến tới xóa bỏ chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay thế bằng cơ chếcấp ngân sách dựa trên kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soátđầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan hành chínhnhà nước;

- Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xãhội chăm lo phát triển giáo dục, đào tạo, y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình, thểdục, thể thao

Đổi mới cơ chế hoạt động, nhất là cơ chế tài chính của các đơn vị sựnghiệp dịch vụ công; từng bước thực hiện chính sách điều chỉnh giá dịch vụ sựnghiệp công phù hợp; chú trọng đổi mới cơ chế tài chính của các cơ sở giáo dục,đào tạo, y tế công lập theo hướng tự chủ, công khai, minh bạch Chuẩn hóa chấtlượng dịch vụ giáo dục, đào tạo, y tế; nâng cao chất lượng các cơ sở giáo dục,đào tạo, khám chữa bệnh, từng bước tiếp cận với tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ các chính sách bảo hiểm y tế, khám, chữa bệnh;

có lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân

e) Hiện đại hóa hành chính:

- Hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động của Mạng thông tin điện tử hànhchính của Chính phủ trên Internet Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin -truyền thông trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước để đến năm2020: 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chínhnhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; cán bộ, công chức, viên chứcthường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc; bảo đảm dữ liệuđiện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong các cơ quan; hầu hết các giao dịch

Trang 19

của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử,mọi lúc, mọi nơi, dựa trên các ứng dụng truyền thông đa phương tiện; hầu hếtcác dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên Mạng thông tin điện tử hànhchính của Chính phủ ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ ngườidân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau;

- Ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong quy trình xử lý côngviệc của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhànước với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạtđộng dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công;

- Công bố danh mục các dịch vụ hành chính công trên Mạng thông tinđiện tử hành chính của Chính phủ trên Internet Xây dựng và sử dụng thống nhấtbiểu mẫu điện tử trong giao dịch giữa cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức và

cá nhân, đáp ứng yêu cầu đơn giản và cải cách thủ tục hành chính;

- Thực hiện có hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng trong các cơ quanhành chính nhà nước;

- Thực hiện Quyết định số 1441/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2008 củaThủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch đầu tư trụ sở cấp xã, phườngbảo đảm yêu cầu cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của

bộ máy nhà nước;

- Xây dựng trụ sở cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương hiện đại,tập trung ở những nơi có điều kiện

CHƯƠNG II NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

I Những thuận lợi

1 Về thể chế hành chính và thủ tục hành chính

Hiện nay, Nhà nước ta đã ban hành tương đối đầy đủ hệ thống các vănbản chính sách, pháp luật điều chỉnh các quan hệ hành chính, đảm bảo cho bộmáy hành chính hoạt động thông suốt Hệ thống thể chế hành chính trên các lĩnhvực từng bước được đổi mới, trước hết là đã hình thành thể chế kinh tế tươngđối phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Các thể chế hành chính Nhà nước, bao hàm việc xây dựng và hoàn thiệnpháp luật và cơ cấu bộ máy tổ chức đã và đang được cải tiến theo hướng đơngiản, rõ ràng, tinh gọn, ngày càng rộng mở đối với doanh nghiệp và nhân dân,chặt chẽ đối với cán bộ, công chức Các quan hệ kinh tế, dân sự, hành chínhđược luật hoá, cởi bỏ thói quen hành động cảm tính, suy luận chủ quan của cán

bộ, công chức khi xử lý công việc, chứng tỏ sự thay đổi về tư duy đó và đang

Trang 20

diễn ra rất tích cực Hệ thống luật pháp ngày càng chú trọng nguyên tắc côngbằng, bình đẳng giữa cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức, cá nhân chịu sựđiều chỉnh Thói quen nhờ đỡ các mối quan hệ quen biết để giải quyết công việccho nhanh gọn của người dân và doanh nghiệp cũng dần hạn chế bởi các chếđịnh đã quy định chặt chẽ thời hạn giải quyết công việc và có xu hướng rút dầnthời gian xuống mức thấp nhất.

Trong năm 2014, đã có 29 luật được Quốc hội thông qua, tiếp tục từngbước hoàn thiện hệ thống pháp luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, xã hộitrong nhiều lĩnh vực, trong đó có nhiều luật có tính chất quan trọng, định hướngcho việc triển khai và thực hiện công tác cải cách hành chính trên một số lĩnhvực, như: Luật Xây dựng, Luật Công chứng, Luật Đầu tư (sửa đổi), Luật Hảiquan (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế, Luậtquản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp,Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt Trong đó, thựchiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnhvực thành lập, tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đãkhẩn trương rà soát, hoàn thiện Luật doanh nghiệp (sửa đổi) để Chính phủ trình

và được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII

Trong năm 2014, công tác cải cách thể chế tiếp tục tập trung việc triểnkhai thi hành Hiến pháp năm 2013 Bộ Tư pháp đã xây dựng, trình Thủ tướngChính phủ ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch của Chính phủ tổ chức triểnkhai thi hành Hiến pháp Trên cơ sở đó, tất cả các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quanthuộc Chính phủ và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương đã ban hành Kế hoạch tổ chức thi hành Hiến pháp và tổchức thực hiện đúng với yêu cầu của Trung ương và phù hợp với điều kiện, đặcđiểm của từng bộ, cơ quan, địa phương Công tác tổ chức rà soát, lập danh mục

đề xuất văn bản quy phạm pháp luật cần bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hànhmới phù hợp với quy định của Hiến pháp được chú trọng triển khai Trong năm

2014 đã có 102.306 văn bản được các bộ, ngành và địa phương tiến hành rà soát,trong đó có 282 văn bản được kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặcban hành mới Đồng thời, có 205 văn bản, bao gồm: 91 luật, 02 nghị quyết củaQuốc hội, 27 pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; 40 nghị định củaChính phủ, 01 Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng; 03 quyết định của Thủtướng Chính phủ; 42 thông tư liên tịch, thông tư, quyết định của Bộ trưởng, Thủtrưởng cơ quan ngang bộ cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hànhmới bảo đảm phù hợp với Hiến pháp và pháp luật trên tổng số 9.698 văn bảnquy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốchội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

Để đảm bảo tiến độ, chất lượng xây dựng các dự án luật, pháp lệnh triểnkhai thi hành Hiến pháp năm 2013, Bộ Tư pháp trình Thủ tướng Chính phủ ban

Trang 21

hành Quyết định thành lập Hội đồng Tư vấn thẩm định các dự án luật, pháp lệnhtriển khai thi hành Hiến pháp, giúp Chính phủ đảm bảo tính thống nhất, chínhxác và đồng bộ trong việc cụ thể hóa tinh thần, nội dung các quy định của Hiếnpháp trong các dự án luật, pháp lệnh Trong năm 2014, Hội đồng Tư vấn đã cónhiều đóng góp tích cực trong quá trình tư vấn, thẩm định, cho ý kiến đối vớicác dự án luật quan trọng như dự án Luật Tổ chức Chính phủ sửa đổi, Luật Tổchức chính quyền địa phương, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi, Luật Banhành văn bản quy phạm pháp luật hợp nhất

Trong năm 2014, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tiếp tục chủ trì triển khaithực hiện Đề án “Cải cách thể chế và tăng cường phối hợp trong quản lý và điềuhành kinh tế vĩ mô giai đoạn 2011-2020” được phê duyệt tại Quyết định số1317/QĐ-TTg ngày 06/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ nhằm nâng cao hiệuquả phối hợp của các bộ, ngành trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô Trongthời gian qua, các quyết định về chính sách vĩ mô đã ngày càng phản ánh được

nỗ lực chung của các bộ, ngành Trung ương và chính quyền địa phương; các nộidung đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế mà trọng tâm là táicấu trúc đầu tư, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước và tái cấu trúc hệ thống ngânhàng khi xây dựng để trình cấp có thẩm quyền ban hành đã có sự phối hợp chặtchẽ giữa các cơ quan Do đó, đã góp phần đạt hiệu quả trong quản lý và điềuhành; thể hiện được tính công khai, minh bạch Trên cơ sở đó, Quy chế phối hợp

đã được 4 Bộ, cơ quan ngang bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công Thương,Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký kết trong tháng 12 năm 2014 Từ đó, đã bảođảm được tính thống nhất, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý kinh tế vĩmô; ứng phó kịp thời, hiệu quả với các biến động kinh tế - xã hội trong từng thời

kỳ Bên cạnh đó, tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường kinhdoanh thuận lợi, minh bạch, tăng khả năng dự báo để góp phần tăng cường thuhút đầu tư, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và tạo nền tảng cho tăngtrưởng bền vững

2 Về bộ máy, tổ chức.

- Chức năng và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính từChính phủ, các Bộ, ngành trung ương đến ủy ban nhân dân các cấp đã có nhiềuthay đổi tiến bộ, tập trung nhiều hơn vào quản lý nhà nước;

- Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ và cơ quan hành chính các cấpđược sắp xếp, điều chỉnh, thay đổi theo hướng tinh gọn hơn Bộ máy hành chính

từ Trung ương đến cơ sở vận hành phát huy tác dụng, hiệu quả tốt hơn, cùng vớichủ trương hạn chế biên chế từ mấy năm nay, giảm số lượng đầu mối (nơi phátsinh các thủ tục hành chính) cấp bộ, ngành từ Trung ương đến cơ sở và trongtừng cơ quan, đơn vị Vấn đề tiền lương cũng được nhìn nhận một cách công

Trang 22

bằng hơn, chế độ tiền lương được cải thiện từng bước trong khả năng của ngânsách, chính là cơ sở vật chất quan trọng để thực hiện cải cách hành chính.

- Một số cơ quan Nhà nước đó đi tiên phong trong áp dụng hệ thống quản

lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, tạo động lực đáng kể trong cải tiến hoạtđộng của bộ máy hành chính Nhà nước

Trong năm 2014, việc hoàn thiện thể chế về tổ chức bộ máy được tậptrung triển khai thực hiện Trước hết là xây dựng Dự án Luật Tổ chức Chính phủnăm 2001 (sửa đổi) và Dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương phù hợp vớiHiến pháp năm 2013 theo Chương trình công tác của Chính phủ, của Quốc hội

Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ đã trình 02 dự ánLuật này tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội Khóa XIII để xin ý kiến các vị Đại biểuQuốc hội

Trong năm 2014, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hànhhoặc cho ý kiến chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện nhiều đề án liênthông có liên quan trực tiếp đến người dân, như: Đề án thực hiện liên thông cácthủ tục hành chính: đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tếcho trẻ em dưới 6 tuổi (Quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 4/8/2014); Đề ánThiết lập hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy địnhhành chính và tình hình, kết quả giải quyết thủ tục hành chính tại các cấp chínhquyền Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo nhằm tiếp tục đẩymạnh triển khai thực hiện Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửaliên thông theo quy định tại Nghị định số 37/2014/NĐ-CP và Nghị quyết số 19/NQ-CP Đây là cơ sở pháp lý để thực hiện nghiêm quy chế thực hiện cơ chế mộtcửa, cơ chế một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địaphương, đặc biệt trong thực hiện thủ tục hành chính lĩnh vực đầu tư, đất đai, xâydựng

3 Về đội ngũ cán bộ, công chức

Hiện nay, đội ngũ cán bộ công chức bộ máy hành chính nhà nước đã đượcnâng lên về mọi mặt, cả về trình độ chính trị lẫn chuyên môn Việc quản lý, sửdụng cán bộ, công chức được đổi mới một bước theo các quy định của Pháplệnh Cán bộ, công chức: từ khâu tuyển chọn, đánh giá, thi nâng ngạch, khenthưởng, kỷ luật đến đào tạo, bồi dưỡng Chế độ, chính sách tiền lương bước đầuđược cải cách theo hướng tiền tệ hóa Nhận thức của phần lớn cán bộ, công chứcNhà nước đã có sự thay đổi cơ bản, từ cách tư duy hành chính theo kiểu ''hànhdân'' đó chuyển sang tư duy ''phục vụ'' Sự tiến bộ trong nhận thức đó trực tiếptác động đến lề lối, tác phong làm việc của cán bộ, công chức từ cấp lãnh đạođến nhân viên khi thi hành công vụ Việc tiếp công dân và giải quyết các khiếunại của dân được coi trọng hơn Các cuộc gặp gỡ và giải đáp vướng mắc, kiếnnghị của doanh nghiệp đã được tổ chức thường xuyên ở nhiều cơ quan, được cấp

Trang 23

lãnh đạo cao nhất tham dự, đã giải quyết trực tiếp các kiến nghị trong khuôn khổpháp luật quy định

4 Cải cách tài chính công

Công tác cải cách quản lý, tổ chức thực hiện thu, chi ngân sách nhà nướcđạt được nhiều kết quả tích cực Bộ Tài chính đã ban hành văn bản quy định về tổchức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước, góp phần bảo đảm thực hiện cácnhiệm vụ thu, chi và bội chi ngân sách nhà nước theo dự toán Quốc hội đã quyếtđịnh, Thủ tướng Chính phủ giao Công tác cải cách, đơn giản hóa các thủ tục hànhchính thuế, hải quan, tăng cường công tác kê khai thuế qua mạng internet, mởrộng, triển khai nộp thuế qua hệ thống ngân hàng, đẩy mạnh tự động hóa quytrình tiếp nhận giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính thuế, góp phần giảm thiểu chiphí tuân thủ cho người nộp thuế trong năm 2014 đã được đẩy mạnh thực hiện

Trong năm 2014, Bộ Tài chính đã chủ trì phối hợp với Bộ Nội vụ banhành Thông tư liên tịch số 71/2014/TTLT-BTC-BNV ngày 30/5/2014 quy địnhchế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính đốivới các cơ quan nhà nước Theo đó, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phươngtiếp tục quản lý chặt chẽ biên chế, tiết kiệm tối đa các khoản chi thường xuyên

để tăng thu nhập, làm cơ sở để tiến tới đưa tiền lương thành thu nhập chính củacông chức, góp phần thực hiện đề án cải cách chính sách tiền lương Bộ Tàichính cũng đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày14/02/2015 thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP về thực hiện cơ chế tự chủ tàichính tại các đơn vị sự nghiệp công lập Về thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịutrách nhiệm tại các tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo Nghị định số115/2005/NĐ-CP và Nghị định số 96/2010/NĐ-CP, Bộ Tài chính đang chủ trìphối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng dự thảo Thông tư liên tịchthay thế Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày 07/5/2007hướng dẫn định mức xây dựng dự toán kinh phí thực hiện đề tài, dự án khoa họccông nghệ sử dụng ngân sách nhà nước và Thông tư liên tịch hướng dẫn sửa đổi,

bổ sung Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT-BTC-BKHCN ngày 04/10/2006hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của các Đề tài, Dự án khoa học công nghệ có

sử dụng ngân sách nhà nước

5 Hiện đại hóa hành chính

Trong năm 2014, để tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tintrong cơ quan nhà nước, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có các văn bản thammưu với Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ nhằm đôn đốc, chỉ đạo triển khai

có hiệu quả hiện đại hóa nền hành chính tại các bộ, ngành và địa phương Theo

đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có báo cáo việc triển khai Chương trìnhquốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin giai đoạn 2011-2015; có văn bản gửicác bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tổ chức chính trị, chính

Trang 24

trị - xã hội và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đônđốc triển khai Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướngChính phủ và hướng dẫn xây dựng Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin năm

2015 Bộ Thông tin và Truyền thông đã công bố kết quả đánh giá mức độ ứngdụng công nghệ thông tin năm 2013 của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quanthuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Việc triển khai thực hiện Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg ngày 5/3/2014của Thủ tướng Chính phủ về áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêuchuẩn TCVN 9001:2008 vào hoạt động quản lý nhà nước đã được các bộ,ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc, bảo đảm quy trình giải quyết công việccủa cơ quan hành chính khoa học, công khai, minh bạch; góp phần nâng caochất lượng giải quyết công việc, tạo thuận lợi cho đội ngũ công chức trong thựcthi nhiệm vụ và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các cấp lãnh đạo,quản lý đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ của công chức và cơ quan hànhchính nhà nước

II Những khó khăn trong cải cách hành chính

Cải cách nền hành chính nhà nước đã tiến hành được nhiều năm, tuynhiên, vẫn còn mang nặng dấu ấn, “tàn dư” của cơ chế quản lý tập trung, quanliêu bao cấp, chưa đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi phải có cơ chế quản lýthích hợp thực tiễn, công cuộc đổi mới toàn diện, dân chủ hoá các mặt của đờisống xã hội, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điềukiệm hội nhập sâu, rộng kinh tế nước ta với nền kinh tế toàn cầu; yêu cầu pháttriển một nền hành chính lấy mục đích phục vụ nhân dân, vì dân, cũng như hiệulực, hiệu quả quản lý hành chính chưa cao

1 Về thể chế hành chính

Mặc dù hệ thống thể chế hành chính đãđược các cấp, các ngành tích cựcban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lýhành chính và yêu cầu hội nhập quốc tế Tuy nhiên, hệ thống thể chế hành chínhvẫn còn nhiều điểm chưa đồng bộ, còn chồng chéo và thiếu thống nhất; thủ tụchành chính trên nhiều lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp; trật tự, kỷ cương chưanghiêm Nhiều thủ tục hành chính còn rườm rà, nhiêu khê, đòi hỏi quá nhiềugiấy tờ, phải qua nhiều cửa, nhiều dấu, nhiều tầng nấc trung gian, đồng thờithiếu thống nhất, tuỳ tiện thay đổi và thiếu công khai đã gây phiền hà cho nhândân, nhất là những người ít hiểu biết về thủ tục hành chính Hệ thống các thủ tụchành chính đã cản trở, gây phiền hà cho nhân dân trong việc thực hiện quyền vànghĩa vụ của mình, gây trở ngại cho việc giao lưu và hợp tác quốc tế, gây ra tệcửa quyền, tệ giấy tờ trong guồng máy hành chính và là ''miếng đất'' thuận lợicho nạn tham nhũng, lãng phí, làm giảm lòng tin của nhân dân vào chính quyền

ý thức chấp hành pháp luật hành chính của một bộ phận cán bộ, công chức còn

Trang 25

yếu, quen giải quyết công việc theo ''lệ'' chứ chưa theo luật, pháp chế xã hội chủnghĩa chưa được đảm bảo.

2 Về tổ chức, bộ máy hành chính

- Bộ máy hành chính nhà nước còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều cửa,nhiều dấu, chức năng của một số cơ quan còn chồng chéo, chưa rõ ràng, nhiềukhi cản trở lẫn nhau, hạn chế hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính Có lĩnhvực thìôm đồm, bao biện, có lĩnh vực và có nơi thì buông lỏng quản lý, dẫn đếnmột số cá nhân lợi dụng để trục lợi, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước vànhân dân Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ máy hành chính trongnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được xác định thật rõ,

sự phân công, phân cấp giữa các ngành và các cấp chưa thật rành mạch, triệt để,

cụ thể và phù hợp Tình trạng chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan cùngcấp, cấp trên và cấp dưới còn chồng chéo, nhiều khi hạn chế lẫn nhau, dẫn đếnhiệu lực, hiệu quả quản lý thấp

- Bộ máy hành chính ở các địa phương và cơ sở chưa thực sự gắn bó vớidân, không nắm chắc được những vấn đề nổi cộm trên địa bàn, lúng túng,bịđộng khi xử lý các tình huống phức tạp

- Phương thức quản lý hành chính vừa tập trung quan liêu lại vừa phântán, chưa thông suốt; chưa có những cơ chế, chính sách tài chính thích hợp vớihoạt động của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức làm dịch vụcông;

3 Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức:

Đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh thầntrách nhiệm, năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính; phong cách làm việcchậm đổi mới; tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân tiếp tục diễn ranghiêm trọng trong một bộ phận cán bộ, công chức Nhìn chung chưa đáp ứngđược yêu cầu của công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vàhội nhập quốc tế; ý thức nghề nghiệp chưa cao, tôn trọng kỷ luật lao động cònyếu; đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ công chức bị suy thoái; thái độphục vụ nhân dân còn thấp, một bộ phận cán bộ công chức tồn tại thái độ thờ ơ,''lãnh cảm'' với dân, đặt mình ở vị thế ban phát quyền lợi cho dân Những vấn đề

đó đó làm chính quyền ngày càng xa dân, giảm lòng tin của dân đối với chínhquyền Về số lượng thì có nơi, có lĩnh vực thừa và ngược lại, có nơi, có lĩnhvực thì thiếu; thiếu đội ngũ cỏn bộ công chức có chất lượng cao, tận tụy vớinghề, vừa hồng vừa chuyên;tình trạng cán bộ nhiều nhưng chất lượng hoạt độngchẳng bao nhiêu, chưa có trình độ ngang tầm nhiệm vụ, bố trí chưa đúng ngườiđúng việc, bằng cấp và năng lực chưa tương ứng với chức danh v.v

Trang 26

III Nguyên nhân hạn chế, yếu kém

Thực trạng hạn chế, yếu kém cải cách hành chính ở nước ta trong thờigian qua do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan gây ra

- Một là, nhận thức của cán bộ, công chức về vai trò và chức năng quản lý

của Nhà nước, về xây dựng bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy hành chínhnhà nước trong tình hình mới, điều kiện mới chưa thật rõ ràng và chưa thốngnhất, còn nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn chưa được làm sáng tỏ, còn nhiềuchủ trương, chính sách, quy định của pháp luật ra đời trong cơ chế tập trung,quan liêu bao cấp chưa được kịp thời sửa đổi, thay thế

- Hai là, việc triển khai các nhiệm vụ về cải cách hành chính chưa được

tiến hành đồng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị doĐảng lãnh đạo, cải cách hành chính chưa gắn bó chặt chẽ với đổi mới hoạt độnglập pháp và cải cách tư pháp

- Ba là, cải cách hành chính gặp trở ngại lớn do đụng chạm đến lợi ích cục

bộ của nhiều cơ quan hành chính, nhiều cán bộ, công chức trong bộ máy nhànước ở trung ương và địa phương; ảnh hưởng của cơ chế tập trung quan liêu,bao cấp còn đè nặng lên nếp nghĩ, cách làm của không ít cán bộ, công chức;cuộc cải cách chưa được chuẩn bị tốt về mặt tư tưởng

- Bốn là, các chế độ, chính sách về tổ chức và cán bộ, về tiền lương còn

nhiều điều chưa phù hợp, chưa tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc cải cách

- Năm là, những thiếu sót trong công tác chỉđạo của Chính phủ, các Bộ,

ngành trung ương và ủy ban nhân dân các địa phương trong việc tiến hành cảicách hành chính; sự chỉ đạo thực hiện các chủ trương đã đề ra thiếu kiên quyết

và chưa thống nhất

- Sáu là, cải cách hành chính diễn ra chậm, thiếu sự kiểm tra, đánh giá sát

sao; nhiều hiện tượng tiêu cực phát sinh từđội ngũ cán bộ, công chức từ cấp caođến cấp cơ sở chậm được phát hiện xử lý nghiêm minh, kịp thời Hiện tượngphát sinh tiêu cực cả một tập thể, ngay từ chính những cán bộ chủ chốt cả ở hệthống bộ máy Đảng và chính quyền có nơi, cóđịa phương xả ra trầm trọng, gâybất bình trong dư luận, giảm lòng tin của nhân dân vào chế độ

IV Nhận xét, đánh giá chung

1 Ưu điểm:

- Trên cơ sở sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướngChính phủ trong năm 2014, các bộ, ngành, địa phương đã đẩy mạnh triển khaicải cách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức trên nhiều nội dungnhư tiến hành kiểm tra cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính, ứngdụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước Qua đó, đã đạt

Trang 27

được nhiều kết quả quan trọng về thể chế, về tổ chức bộ máy, về cải cách thủ tụchành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức,

- Các thành viên của 2 Ban Chỉ đạo đã phối hợp tốt với các Bộ, ngành vàđịa phương tổ chức kiểm tra, đôn đốc thực hiện cải cách hành chính theo ngànhhoặc lĩnh vực tại các bộ, ngành và địa phương Thông qua đó, cải cách hànhchính đã được triển khai đồng bộ hơn, có sự tham gia của nhiều cấp, nhiềungành hơn

- Việc triển khai các nội dung hoạt động đẩy mạnh cải cách chế độ công

vụ, công chức đã và đang được tiến hành ở tất cả các cơ quan hành chính nhànước Tính đến nay, tại các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương đã thành lập và kiện toàn Ban Chỉ đạo đẩy mạnh cảicách chế độ công vụ, công chức của Bộ, ngành, địa phương mình; kịp thời banhành quy chế làm việc và xây dựng kế hoạch triển khai xác định vị trí việc làmcũng như các nội dung khác có liên quan; tổ chức tập huấn cho các đơn vị thuộc

và trực thuộc phương pháp xác định vị trí việc làm và chỉ đạo, triển khai việcxác định vị trí việc làm trong phạm vi Bộ, ngành, địa phương

- Bộ Nội vụ đã tập trung nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện thể chế để tạo

cơ sở pháp lý cho các Bộ, ngành, địa phương triển khai các nhiệm vụ của cảicách chế độ công vụ, công chức, nhằm mục tiêu xây dựng một nền công vụchuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả Đã xây dựng được

hệ thống thể chế quản lý công chức và viên chức theo đúng tinh thần và các quyđịnh của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức

- Một số Bộ, ngành, địa phương đã chủ động, phối hợp với Bộ Nội vụtriển khai thực hiện một số cơ chế mới (kể cả làm thí điểm) trong công tác tuyểndụng, sử dụng và quản lý công chức, như việc áp dụng hình thức thi tuyển bằngphần mềm trên máy tính; triển khai xác định vị trí việc làm; thí điểm tổ chức thituyển công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý; xây dựng tiêu chuẩn chức danhngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức

- Các Bộ, ngành, địa phương đã chú trọng nâng cao chất lượng công táckiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các văn bản, chính sách của Bộ, góp phần pháthiện những thiếu sót, bất cập trong xây dựng và tổ chức thực hiện các chế độ,chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn nghiệp vụ về côngtác quản lý cán bộ, công chức, viên chức

2 Tồn tại, hạn chế:

- Hoạt động rà soát các luật, pháp lệnh của các Bộ, cơ quan chưa đáp ứngyêu cầu về tiến độ, chất lượng; chưa công bố được danh mục các văn bản củaChính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan, địa phương phải dừng thihành Việc xây dựng và ban hành các Nghị định, Thông tư còn chậm, sự phối

Trang 28

hợp giữa Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ với các Bộ, ngành chưa chặt chẽ,nhịp nhàng

- Việc tổ chức thực thi 25 nghị quyết của Chính phủ tại một số bộ, ngànhcòn chậm; việc đánh giá tác động thủ tục hành chính còn hình thức nên chưa kịpthời loại bỏ hoặc thay thế những thủ tục hành chính không cần thiết, không hợp

lý trong quá trình dự thảo; thủ tục hành chính chậm được công bố và niêm yếtcông khai; vẫn còn một bộ phận cán bộ, công chức nhũng nhiễu, tiêu cực tronggiải quyết thủ tục hành chính; hiện tượng yêu cầu thêm các giấy tờ ngoài thànhphần hồ sơ theo quy định vẫn còn phát sinh

- Các cơ quan có thẩm quyền quản lý còn chưa mạnh dạn triển khai giaoquyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập, thiếu các giải pháp khuyếnkhích các đơn vị sự nghiệp công lập đăng ký thực hiện tự chủ; còn chậm đẩymạnh xã hội hóa các hoạt động dịch vụ công

- Cải cách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức mặc dù đã đạtđược nhiều kết quả nhưng công tác tuyên truyền cung cấp thông tin, tạo sự đồngthuận trong nhân dân và xã hội chưa hiệu quả, chưa đạt được yêu cầu, do đótrong dư luận vẫn cho rằng cải cách hành chính, cải cách công vụ, công chứccòn chậm

- Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa nền hành chính ởmột số bộ, tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế Tỷ lệ cán bộ, công chức đượccung cấp hộp thư điện tử chính thức còn ít, hệ thống thư điện tử và hệ thốngquản lý văn bản và điều hành chưa được kết nối trên diện rộng, chưa thực sựkhai thác hết những tính năng, chức năng của các hệ thống quản lý văn bản vàđiều hành Tuy số lượng dịch vụ công trực tuyến được cung cấp trên các Trang/Cổng Thông tin điện tử ngày càng tăng, nhưng chủ yếu là dịch vụ công trựctuyến mức độ 1 và 2; còn ít bộ, ngành cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ

3 và 4 trong tiếp nhận, xử lý hồ sơ trực tuyến

- Việc triển khai đầu tư xây dựng trụ sở cấp xã, phường theo Quyết định1441/QĐ-TTg ngày 6/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kếhoạch đầu tư trụ sở cấp xã, phường, bảo đảm yêu cầu cải cách hành chính, nângcao hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước còn chậm

- Nhiều Bộ, ngành, địa phương còn chưa chủ động, tích cực trong việc tổchức triển khai một số nội dung, chủ trương đổi mới để đẩy mạnh cải cách chế

độ công vụ, công chức tại Bộ, ngành, địa phương mình, như việc tổ chức thituyển bằng phần mềm trên máy tính; xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêuchuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức

Ngày đăng: 01/08/2022, 16:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w