Đắk Lắk cũng là một phầncủa không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là disản văn hóa phi vật thể của nhân loại, tài nguyên du lịch nhân văn của tỉnh có giá trịca
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Đắc Lắc là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên, Việt Nam Đắk Lắk được xem làmột trong những cái nôi nuôi dưỡng không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên,được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật nhân loại thế giới côngnhận
Đăk Lăk có địa hình hướng thấp dần từ đông nam sang tây bắc Vì nằm trong vùngkhí hậu cận xích đạo nên chia thành hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa Chínhđiều kiện khí hậu và địa hình, đã làm cho Đăk Lăk có những địa danh tham quan ấntượng khi du lịch Cộng với văn hóa lâu đời của vùng dân tộc thiểu số đã khiến cho dulịch Đăk Lăk trở thành nguồn khám phá bất tận đối với du khách Đắk Lắk là mộttrong những tỉnh giàu tiềm năng về du lịch của Việt Nam vì Đắk Lắk có nhiều di tích,thắng cảnh và có truyền thống văn hóa đa dạng đặc biệt, Đắk Lắk có Bản Đôn là mộtđịa danh đã được đưa vào bản đồ du lịch thế giới vì truyền thống săn bắt, thuần dưỡngvoi rừng và Buôn Ma Thuột được xem như là một trong những "thủ phủ cà phê"
Đắk Lắk có bản sắc văn hoá đa dạng như các trường ca truyền miệng lâu đời ĐamSan, Xinh Nhã dài hàng nghìn câu; như các ngôn ngữ của người Ê Đê, ngườiM'Nông ; như các đàn đá, đàn T'rưng, đàn k'lông pút Đắk Lắk cũng là một phầncủa không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là disản văn hóa phi vật thể của nhân loại, tài nguyên du lịch nhân văn của tỉnh có giá trịcao gắn liền với sự đa dạng của sắc tộc với những giá trị độc đáo về kiến trúc, mỹthuật, âm nhạc, văn hóa, lễ hội Ngoài ra, Đắk Lắk còn có các ngôi nhà dài truyềnthống của người bản địa mà theo huyền thoại có thể "dài như tiếng chiêng ngân" hoặccác bến nước tại các buôn làng của đồng bào dân tộc Ê đê, M'nông thể hiện đờisống, sinh hoạt văn hóa và phong tục tập quán của các cộng đồng dân cư bản địa, tạonên những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch cộng đồng Ở Daklak vẫn còn lưugiữ các lễ hội đáng chú ý gồm có Lễ mừng lúa mới, Lễ bỏ mả, Lễ hội đâm trâu, Lễcúng Bến nước, Lễ hội đua voi, Lễ hội Cồng chiêng và Lễ hội cà phê… được tổ chứcđều đặn hàng năm như một truyền thống
Đắk Lắk có đến 44 dân tộc anh em đang sinh sống nên ẩm thực ở đây rất thực đadạng, có đủ các món ăn của cả 3 miền Bắc, Trung, Nam Nhiều người còn đánh giá làhàng quán ở Đắk Lắk nấu ăn ngon, hợp khẩu vị của đa số Đáng chú ý là các món ăndân dã Tây nguyên như Gà nướng Bản Đôn, các món nấu với lá giang, cà đắng, cácmón chế biến từ cá sông…Và ở Đắk Lắk nổi tiếng có rượu cần với nhiều nhãn hiệunhưng đặc biệt nhất thì lại phải nói đến rượu Ama Kông Ở các buôn làng ở Đắk Lắkcòn có những sản phẩm gia dụng như bàn, ghế và kể cả thuyền độc mộc đẽo từ nhữngcây rừng lớn nguyên vẹn tạo nên những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinhthái, cộng đồng
Trang 2Trước đây, Daklak đã xây dựng một số nhà máy thủy điện như nhà máy thủy điện ĐaNhim trên sông Đa Nhim, Đrây H’ling trên sông Xrepok, thủy điện Yaly trên sôngXeran, sau đó đã xây thêm Xeran 3A, Xeran 4, Playkrong Trên sông Xrepok có cácnhà máy thủy điện Buôn kuop, Xrepok 4,… Trên hệ thống sông Đồng Nai có cáccông trình thủy điện Đại Ninh, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4 đang được xây dựng Rõ ràngđây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội của vùng Các hồ thủyđiện còn đem lại nguồn nước tưới quan trọng trong mùa khô và có thể khai thác phục
vụ du lịch và nuôi trồng thủy sản Do cơ sở hạ tầng còn thiếu, nhất là về giao thôngvận tải còn kém phát triển nên vấn đề phát triển du lịch chưa thực sự được nhiều dukhách quan tâm tìm hiểu và trải nghiệm
Nhận thức được tầm quan trọng về tài nguyên du lịch của tỉnh Daklak và mong muốnphát triển mô hình du lịch cộng đồng tại Daklak một phần nào giúp người dân bản địanâng cao đời sống kinh tế cho người dân bản địa nên nhóm 3 đã chọn chủ đề “tăngcường du lịch làm giảm đói nghèo cho tỉnh Đaklak”
Lý do chọn đề tài:
Đắk Lắk cũng là một phần của không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, đượcUNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, tài nguyên du lịchnhân văn của tỉnh có giá trị cao gắn liền với sự đa dạng của sắc tộc với những giá trịđộc đáo về kiến trúc, mỹ thuật, âm nhạc, văn hóa, lễ hội Ngoài ra, Đắk Lắk còn cócác ngôi nhà dài truyền thống của người bản địa mà theo huyền thoại có thể "dài nhưtiếng chiêng ngân" hoặc các bến nước tại các buôn làng của đồng bào dân tộc Ê đê,M'nông thể hiện đời sống, sinh hoạt văn hóa và phong tục tập quán của các cộngđồng dân cư bản địa, tạo nên những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch cộngđồng Ở Daklak vẫn còn lưu giữ các lễ hội đáng chú ý gồm có Lễ mừng lúa mới, Lễ
bỏ mả, Lễ hội đâm trâu, Lễ cúng Bến nước, Lễ hội đua voi, Lễ hội Cồng chiêng và Lễhội cà phê… được tổ chức đều đặn hàng năm như một truyền thống Do Đắk Lắk cóđến 44 dân tộc anh em đang sinh sống nên ẩm thực ở đây rất thực đa dạng, có đủ cácmón ăn của cả 3 miền Bắc, Trung, Nam Nhiều người còn đánh giá là hàng quán ởĐắk Lắk nấu ăn ngon, hợp khẩu vị của đa số Đáng chú ý là các món ăn dân dã Tâynguyên như Gà nướng Bản Đôn, các món nấu với lá giang, cà đắng, các món chế biến
từ cá sông…Về rượu, ở Đắk Lắk tuy phổ biến rượu cần với nhiều nhãn hiệu nhưngđặc biệt nhất thì lại phải nói đến rượu Ama Kông Ở các buôn làng ở Đắk Lắk còn cónhững sản phẩm gia dụng như bàn, ghế và kể cả thuyền độc mộc đẽo từ những câyrừng lớn nguyên vẹn tạo nên những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch cộngđồng
Nhận thức được tầm quan trọng về tài nguyên du lịch của tỉnh Daklak và mong muốnphát triển mô hình du lịch cộng đồng tại Daklak một phần nào giúp người dân bản địanâng cao đời sống kinh tế cho người dân bản địa nên nhóm 3 đã chọn chủ đề “tăngcường du lịch làm giảm đói nghèo cho tỉnh Đaklak” để muốn gửi đến Thầy và các bạnmột vài ý tưởng nhằm đẩy mạnh việc quảng bá và tạo ra nhiều sản phẩm du lịch cộng
Trang 3đồng – một hình thức của du lịch làm giảm đói nghèo để hình ảnh của du lịch Daklak
là một điểm sáng, điểm tham quan hấp dẫn trong lòng du khách tương lai
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TỈNH DAKLAK
1 Khái quát về tỉnh Đăklak:
1.1 Tài nguyên tự nhiên.
1.1.1 Vị trí địa lý:
Tỉnh Đắk Lắk có diện tích 13.125,37 km2 Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng TâyNguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, có độ caotrung bình 400 – 800 mét so với mặt nước biển, tỉnh lị Buôn Ma Thuột nằm cách HàNội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai,phía Đông giáp Phú Yên và Khánh Hoà, phía Nam giáp Lâm Đồng và Đắk Nông,phía Tây giáp Campuchia
Tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 01 thành phố, 01 thị xã và 13huyện Trong đó có 184 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 152 xã, 20 phường và 12thị trấn
1.1.2 Khí hậu:
Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng Vùng phía Tây Bắc có khí hậu nắngnóng, khô hanh về mùa khô; vùng phía Đông và phía Nam có khí hậu mát mẻ, ôn hoà.Khí hậu sinh thái nông nghiệp của tỉnh được chia ra thành 6 tiểu vùng là tiểu vùngbình nguyên Ea Súp chiếm 28,43% diện tích tự nhiên, tiểu vùng cao nguyên Buôn MêThuột – Ea H’Leo chiếm 16,17% diện tích tự nhiên, tiểu vùng đồi núi và cao nguyênM’Đrắk chiếm 15,82% diện tích tự nhiên, tiểu vùng đất ven sông Krông Ana –Sêrêpôk chiếm 14,51% diện tích tự nhiên, tiểu vùng núi cao Chư Yang Sin chiếm3,98% diện tích tự nhiên, tiểu vùng núi Rlang Dja chiếm 3,88% diện tích tự nhiên.Nhìn chung khí hậu khác nhau giữa các dạng địa hình và giảm dần theo độ cao: vùngdưới 300 m quanh năm nắng nóng, từ 400 – 800 m khí hậu nóng ẩm và trên 800 m khíhậu mát Tuy nhiên, chế độ mưa theo mùa là một hạn chế đối với phát triển sản xuấtnông sản hàng hoá
Khí hậu có 02 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đếnhết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hàng năm.Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4năm sau, lượng mưa không đáng kể
1.1.3 Địa hình và Thổ nhưỡng:
Trang 4Địa hình của tỉnh rất đa dạng: nằm ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là một caonguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồngbằng thấp ven theo các sông chính Địa hình của tỉnh có hướng thấp dần từ Đông Namsang Tây Bắc Thổ nhưỡng tỉnh Đăklăk phần lớn là đất đỏ Bazan màu mỡ, một phần
là đất pheralit
Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Đắk Lắk đó là tàinguyên đất Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, trong đó chủ yếu là nhómđất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa, đất gley, đất đen Các đấthình thành từ đá bazan có độ phì khá cao (pH/H2O từ trung tính đến chua, đạm và lântổng số khá) Sự đồng nhất cao giữa độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế củacác nhóm đất và loại đất, được phân bố trên cao nguyên Buôn Ma Thuột trải dàikhoảng 90 km theo hướng đông bắc - tây nam và rộng khoảng 70 km Phía bắc caonguyên này (Ea H’Leo) cao gần 800 m, phía nam cao 400 m, càng về phía tây chỉ còn
300 m, bề mặt cao nguyên rất bằng phẳng chỉ còn điểm một vài đồi núi
Nhóm đất phù sa (Fuvisols): Được hình thành và phân bố tập trung ven các sông suốitrong tỉnh Tính chất của loại đất này phụ thuộc vào sản phẩm phong hoá của mẫuchất
Nhóm đất Gley (Gleysols): Phân bố tập trung ở các khu vực thấp trũng thuộc cáchuyện Lắk, Krông Ana và Krông Bông
Nhóm đất xám (Acrisols): Là nhóm lớn nhất trong số các nhóm đất có mặt tại ĐắkLắk, phân bố ở hầu hết các huyện
Nhóm đất đỏ (Ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan).Là nhóm đất chiếm diệntích lớn thứ hai (sau đất xám) chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan toàn TâyNguyên Đất đỏ bazan còn có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 6265%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao rất thích hợp với các loại câycông nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu và nhiều loại cây ănquả, cây công nghiệp ngắn ngày khác Đây là một lợi thế rất quan trọng về điều kiệnphát triển nông nghiệp của tỉnh Đắk Lắk
1.1.4 Sông ngòi:
Với những đặc điểm về khí hậu-thủy văn và với 3 hệ thống sông ngòi phân bố tươngđối đều trên lãnh thổ (hệ thống sông Srepok; hệ thống sông Ba, hệ thống sông ĐồngNai) cùng với hàng trăm hồ chứa và 833 con suối có độ dài trên 10 km, đã tạo choĐắk Lắk một mạng lưới sông hồ khá dày đặc
1.1.5 Nguồn nước ngầm:
Tập trung chủ yếu trong các thành tạo Bazan & Trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại chủyếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt Chất lượng nước thuộc loại nướcsiêu nhạt, độ khoáng hoá M= 0,1 - 0,5, pH = 7-9 Loại hình hoá học thường làBicacbonat Clorua - Magie, Can xi hay Natri
Trang 5bổ chủ yếu ở vườn Quốc gia Yok Đôn và các khu bảo tồn Nam Kar, Chư Yangsin cónhiều loại động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ nước ta và có loại được ghi trong sách
đỏ thế giới.Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển
KT-XH của tỉnh Trong rừng có nhiều loại động vật hoang dã như: voi, hổ, tê tê, nai, bòtót…
1.2 Tài nguyên nhân văn.
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển:
Dân tộc: dân số toàn tỉnh tính đến năm 2012 đạt 1.796.666 người, mật độ dân số đạthơn 137 người/km² Trong đó, dân số sống tại thành thị đạt 432.458 người, dân sốsống tại nông thôn đạt 1.364.208 người.Dân số nam đạt 906.619 người, dân số nữ đạt890.047 người.Cộng đồng dân cư Đắk Lắk gồm 47 dân tộc.Trong đó, người Kinhchiếm trên 70%; các dân tộc thiểu số như Ê Đê, M'nông, Thái, Tày, Nùng chiếm gần30% dân số toàn tỉnh
Dân số tỉnh phân bố không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phốBuôn Ma Thuột, thị trấn, huyện lỵ, ven các trục Quốc lộ 14, 26, 27 chạy qua nhưKrông Búk, Krông Pắk, Ea Kar, Krông Ana Các huyện có mật độ dân số thấp chủ yếu
là các huyện đặc biệt khó khăn như Ea Súp, Buôn Đôn, Lắk, Krông Bông, M’Đrắk,
Ea Hleo v.v…
Trên địa bàn tỉnh, ngoài các dân tộc thiểu số tại chỗ còn có số đông khác dân di cư từcác tỉnh phía Bắc và miền Trung đến Đắk Lắk sinh cơ lập nghiệp.Trong những nămgần đây, dân số của Đắk Lắk có biến động do tăng cơ học, chủ yếu là di dân tự do,điều này đã gây nên sức ép lớn cho tỉnh về giải quyết đất ở, đất sản xuất và các vấn đềđời sống xã hội, an ninh trật tự và môi trường sinh thái
Đắk Lắk là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có những nét đẹp vănhoá riêng Đặc biệt là văn hoá truyền thống của các dân tộc Ê Đê, M'Nông, Gia Rai…với những lễ hội cồng chiêng, đâm trâu, đua voi mùa xuân; kiến trúc nhà sàn, nhàrông; các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như các bộ cồng chiêng, đàn đá, đàn T'rưng; cácbản trường ca Tây Nguyên là những sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể quý
Trang 6giá, trong đó “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đã được tổ chứcUNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhânloại Tất cả các truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc tạo nên sự đa dạng,phong phú về văn hóa của Đắk Lắk.
Dân tộc Ê Đê thuộc ngữ hệ Malayô - Pôlinêdiêng, địa bàn cư trú chủ yếu là các huyệnphía Bắc và phía Nam: từ Ea Hleo, Buôn Hồ xuống M’Đrắk và kéo dài lên Buôn MaThuột Dân tộc M'nông thuộc ngữ hệ Môn-Khơme, địa bàn cư trú chủ yếu là cáchuyện phía Nam và dọc biên giới Tây Nam
2 Khái quát tiềm năng du lịch tỉnh Đaklak:
2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên:
Đắk Lắk là tỉnh trung tâm của vùng Tây Nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng trongphát triển KT-XH, trong đó hoạt động du lịch có đủ tiềm năng để đưa du lịch thànhmột ngành kinh tế mũi nhọn Đắk Lắk được nhiều khách du lịch trong và ngoài nướcbiết đến như một điểm du lịch hấp dẫn với nhiều địa danh cho phép khai thác theohướng kết hợp cảnh quan, sinh thái, môi trường và truyền thống văn hoá của nhiềudân tộc trong tỉnh như hồ Lắk, cụm thác Gia Long – Dray Sap, cụm du lịch BuônĐôn, thác Krông Kma, Diệu Thanh, Tiên Nữ… bên cạnh các vườn quốc gia, khu bảotồn thiên nhiên Chư Yang Sin, Easo…
2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn:
Với đặc điểm địa lý của một vùng đất cao nguyên quy tụ 47 dân tộc và tài nguyên dulịch đa dạng, toàn tỉnh có 23 di tích lịch sử cách mạng, 02 di tích lịch sử văn hoá, 13
di tích kiến trúc nghệ thuật, 8 di tích khảo cổ, 71 di tích thắng cảnh, 25 danh lamthắng cảnh Có 9 di tích được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận di tích quốcgia, Bảo tàng Đắk Lắk có hơn 8.000 hiện vật văn hoá lịch sử
Đến Đắk Lắk là đến với vùng đất có nhiều rừng núi, sông hồ và những thác nướchùng vĩ, hòa cùng không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên – một “Kiệt táctruyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể” của nhân loại Cùng với nét độc đáo trongvăn hóa, Đắk Lắk còn là vùng đất của những lễ hội khá đặc trưng đã được du kháchtrong và ngoài nước biết đến với rất nhiều lễ hội đặc sắc mang đậm nét các dân tộcsinh sống trên mảnh đất này Đặc biệt gần đây Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột đã đượcChính phủ công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia được tổ chức hai năm một lần vào thángba
Một số lễ hội tiêu biểu của Đaklak như Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột và Liên hoanvăn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Lễ mừng lúa mới “Kin lẩu khẩu mẩu” đây là Lễhội độc đáo của người Thái, Lễ cúng sức khỏe cho voi của đồng bào Tây Nguyên, Lễhội đua Voi, Lễ cúng bến nước, Lễ bỏ mả
Trang 7Di tích lịch sử: Tỉnh Đaklak là một địa phương có bề dày lịch sử hình thành và pháttriển, là một địa phương có truyền thống cách mạng, nơi bắt đầu mở màn cho chiếndịch Hồ Chí Minh lịch sử nên có nhiều di tích lịch sử như: Biệt điện Bảo Đại, Hang
đá Dak Tuar, Nhà đày Buôn Ma Thuột, Bảo tàng văn hóa các dân tộc tỉnh Đắk Lắk,Bia Lạc Giao, chùa sắc tứ Khải Đoan, mộ vua saưn voi Khujunop…
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TRẠNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
CHO DÂN TỘC VÙNG DU LỊCH ĐĂK LĂK
203,1188,614,5
240,6221,718,9
449,8422,027,8
460,3431,828,5
499,1468,131,0
501069
801748
1072149
1152336
1202400
Doanh thu du lịch trên địa bàn tỉnh không ngừng tăng lên, từ 73,7 tỉ đổngnăm 2004 lên 199,3 tỉ đồng năm 2010 và 235 tỉ đồng năm 2011 (tăng gấp3,2 lần) và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2004 - 2011 là20%/năm
Hệ thống cơ sở lưu trú, nhà hàng, khu vui chơi giải trí ngày càng nhiều, đápứng nhu cầu khách du lịch
Để khai thác hết lợi thế về tài nguyên du lịch, tỉnh đang tập trung vào cácsản phẩm du lịch sinh thái và du lịch văn hóa, du lịch thể thao, khám phá,
du lịch Festival cà phê, cồng chiêng, du lịch cưỡi voi…để ngành có nhiềuđóng góp vào TTKT, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân trêntoàn địa bàn Tỉnh cũng cố gắng kết nối giữa địa phương với các tỉnh trong
Trang 8vùng Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ tạo tour du lịchliên kết nhằm thu hút đông đảo du khách (đặc biệt với du khách nướcngoài)
Sự phát triển của các hình thức TCLTDL, đặc biệt là các điểm du lịch, cụm du lịch vàtuyến du lịch đã thúc đẩy du lịch tăng trưởng nhanh, góp phần khai thác có hiệu quảtài nguyên du lịch, làm thay đổi bộ mặt KT – XH, CSVC kỹ thuật của ngành ngàycàng được hoàn thiện;
Tuy nhiên, mới chỉ có số ít địa điểm được khai thác; hoạt động du lịch tập trung ởthành phồ Buôn Ma Thuột, Buôn Đôn và huyện Lắk; các cụm khác hầu như tồn tại ởdạng tiềm năng; tính thời vụ trong sự phát triển du lịch còn cao; sự liên kết, phối hợpgiữa các hình thức TCLTDL còn lỏng lẻo, chưa tạo nên được sản phẩm du lịch hấpdẫn để kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của khách; mức độ đóng gópGDP của du lịch trong tổng GDP toàn tỉnh còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng
to lớn
Vì vậy trong những năm tiếp theo, tỉnh cần phải có những định hướng và giải phápphát triển mang tính khả thi để phát triển ngành du lịch; để ngành có vai trò to lớn hơntrong việc thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch CCKT của tỉnh và thực hiện việc xóađói giảm nghèo cho người dân
Cơ cấu kinh tế năm 2011: công nghiệp xây dựng chiếm 26,66%; nông lâm thủy sản50,21% và dịch vụ 23,13%
Cơ cấu kinh tế của Đắk Lắk, vùng TN và cả nước năm 2004- 2011 (%)
Các ngành 2004Đắk Lắk 2011 2004Tây Nguyên 2011 2004Cả nước2011Nông - lâm - thủy sản 56,5 54,3 52,9 48,1 21,8 22,0
Dịch vụ du lịch phát triển nhanh, có nhiều tuyến, điểm, cụm du lịch với hệ thốngCSVC phục vụ ngày càng được phát triển, góp phần vào sự tăng trưởng và chuyểndịch CCKT của tỉnh trong những năm qua
Trang 9Bảng 1.1 Vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Đắk Lắkgiai đoạn 2004- 2011
2,243,516,839,7
3.833,8100,036,361,8-1,9
34,425,140,5
8.275,8100,034,365,7
34,425,140,5
9.026,0100,032,767,3
34,028,737,3
10.365,4100,035,660,53,9-
34,526,339,2
Là điều kiện để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, nhất là các dân tộcthiểu số ở vùng sâu, vùng xa Vốn đầu tư thông qua các chương trình dự án đầu tư choPTKT, góp phần từng bước chuyển dịch CCKT và có vai trò quan trọng xây dựngtuyến phòng thủ biên giới quốc gia
Là tỉnh giàu tiềm năng về du lịch, cả về phong cảnh tự nhiên và văn hóa nhân văn,cùng nhiều khu bảo tồn thiên nhiên, vùng rừng nguyên sinh khác Có nền văn hóa đadạng đặc trưng với những lễ hội độc đáo như cồng chiêng Tây Nguyên, Lễ hội đuavoi, đâm trâu
Nhiều vấn đề xã hội bất cập chưa được giải quyết như áp lực về tăng dân số, tỷ lệ hộ nghèotuy giảm nhanh nhưng vẫn còn cao và thiếu bền vững; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộcthiểu số vẫn còn cao Giải quyết đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số còn chậm và lúng túng.Khoa học, công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân chưa đáp ứngđược yêu cầu; môi trường sinh thái bị tác động mạnh bởi chất lượng rừng ngày càng suygiảm,…
Kể từ khi tách tỉnh năm 2004 đến nay, việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tếnhằm đem lại công ăn việc làm cho người dân, xóa đói giảm nghèo, tăng GDP cho địaphươngthì nền kinh tế, Đắk Lắk đã đạt được những thành tựu đáng kể Tốc độ TTKT
Trang 10nhanh, CCKT có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, bước đầu đã phát huy được các lợithế để phát triển
Bảng 3.1 Vị trí của Đắk Lắk trong vùng Tây Nguyên năm 2011
Chỉ tiêu
Vùng Tây Nguyên
% so với toàn vùng Đắk
Lắk
Kon Tum
Gia Lai
Đắk Nông
Lâm Đồng
137.960,728.797,31.876,6
24,033,633,099,080,0
33,831,441,0
17,78,57,082,0112,0
5,17,25,7
28,425,023,695,0100,0
21,129,618,5
12,09,810,5106,0103,0
13,39,921,3
17,923,125,9113,0115,0
26,721,913,5
So với 5 tỉnh trong vùng Tây Nguyên, tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2004- 2011 thấpnhất, luôn ở dưới mức 10%, trong khi 4 tỉnh còn lại luôn duy trì ở mức hai con số.GDP/người đứng thứ 3/5 tỉnh (sau Lâm Đồng và Đắk Nông) do quy mô dân số đông
CCKT chủ yếu là nông, lâm nghiệp và chuyển dịch vừa chậm vừa không ổn định Tỉtrọng khu vực N-L-TS của Đắk Lắk đến năm 2011 cao thứ 2/5 tỉnh vùng Tây Nguyên(sau Đắk Nông: 59,1%) Trong vòng 8 năm tỉ trọng khu vực 1 luôn chiếm trên 50%GDP, năm cao nhất chiếm 57,2% (2005) và năm thấp nhất cũng là 50,2% (2010)
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ giai đoạn 2004-2011
Trang 112.Du lịch
3.Khách sạn, nhà
hàng
0,055,95
0,18,6
0,18,2
0,18,1
0,17,0
0,17,0
2 Định hướng làm giảm đói nghèo cho vùng du lịch Đăk Lăk
lý Còn mùa mưa từ giữa năm đến cuối năm Nếu du khách đi vào mùa mưa thì sẽ gặpkhó khăn khi di chuyển trên đường đất Vì vậy khi đi du lịch Đăk Lăk nên tránh mùamưa Nhưng nếu du khách muốn thưởng thức cảnh đẹp của Daklak thì nên đi du lịch
từ tháng 12 đến tháng 4 vì tháng 12 ở Tây Nguyên là mùa dã quỳ nở vàng rực đất trờiTây Nguyên và từ cuối tháng 2 đến đầu tháng 3 dương lịch là mùa hoa cafe nở trắngtrời
Do tính thời vụ du lịch nên nhu cầu đi du lịch của du khách cũng sẽ thay đổi mức độ
nhu cầu theo từng giai đoạn trong năm và các hoạt động du lịch tại các điểm du lịch
cũng bị ảnh hưởng theo
Chiến lược du lịch cần xác định những thị trường ưu tiên Việc xác định này có ảnhhưởng đến các chính sách về loại hình sản phẩm được ưa chuộng và chiến lược tiếpthị
Khi lựa chọn thị trường mục tiêu, cần phải cân nhắc đến yếu tố mùa vụ trong du lịch
vì đây là nhân tố chính để thực hiện phát triển du lịch giảm đói nghèo cho Daklak
Và cần chú trọng khai thác các điểm mạnh để phát triển du lịch sao cho có hiệu quảkinh tế cao với người dân bản địa Chính vì lẽ này mà phần lớn các điểm du lịch đều
Trang 12hướng vào việc tiếp cận những thị trường mà mình hiểu rõ để đạt hiệu quả kinh tế caotrong tương lai
2.1.2 Tiềm năng phát triển
Đắk Lắk có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Đây là vùng đất còn đậm nét hoang
sơ và bí ẩn đối với du khách trên nền tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn rấtphong phú, đa dạng Ít có nơi nào được thiên nhiên ban cho nhiều cảnh quan đẹp như
ở đây
Các đối tượng tự nhiên có khả năng thu hút khách du lịch trước hết là VQG Yok Đôn,VQG Chư Yang Sin, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô,thác Đrây Nur, thác Krông Kmar,hang đá Đắk Tuor với các sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch sinh thái Những cảnh đẹpkhác còn có bãi đá sông Krông Bông với hình thù như đàn voi khổng lồ đang vượtsuối, hồ Lắk rộng 500 ha, thông với sông Krông Ana uốn khúc như dải lụa ôm lấy thịtrấn Liên Sơn Đắk Lắk nổi tiếng với địa danh Bản Đôn, quê hương của những ngườithợ săn bắt và thuần dưỡng voi với nhiều huyền thoại
Mặt khác, nét độc đáo của Đắk Lắk là sự phong phú, đa dạng của phong tục tập quán
và sinh hoạt văn hoá, là nơi hội tụ của 44 dân tộc anh em cùng chung sống Tuy nhiên,cũng cần phải chú ý về thời gian diễn ra các lễ hội
2.1.2.1 Lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên
Thời gian diễn ra lễ hội: Hiện nay vẫn chưa có thời gian diễn ra lễ hội cồng chiêngTây Nguyên cụ thể mà mỗi năm tổ chức vào một thời điểm khác nhau.Địa điểm diễn
ra lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên: Luân phiên trong 5 tỉnh Tây Nguyên đó là ĐăkLăk, Lâm Đồng, Kontum, Đăk Nông và Gia Lai
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có thể nói là một lễ hội lớn và hấp dẫnnhất ở Tây Nguyên mà ai cũng muốn một lần được tham dự Nhờ vào những truyềnthống quý báu còn lưu giữ và sự tinh tế trong nét văn hóa của người dân Tây Nguyên
mà lễ hội này đã trở thành một di sản truyền khẩu và phi vật thể nhân loại được tổchức UNESCO công nhận Trong mùa lễ hội, du khách sẽ được hòa mình vào nhữnggiai điệu hào hùng hay nhẹ nhàng được phát ra từ những chiếc cồng chiêng do người
Trang 13dân Tây Nguyên tự tay làm ra, được cùng những chàng trai, cô gái Tây Nguyên camúa bên đống lửa bập bùng và thưởng thức đặc sản Tây Nguyên để hiểu rõ hơn vềcuộc sống văn hóa của người dân nơi đây.
2.1.2.2 Lễ hội đua voi ở Bản Đôn
Thời gian diễn ra lễ hội: Tháng 3 hàng năm là thời điểm lễ hội đua voi ở Buôn Đôn.
Địa điểm diễn ra lễ hội: Buôn Đôn, xã Krông na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk.Diễn ra từ ngày 12/3 đến ngày 14/3, lễ hội đua voi Buôn Đôn được tổ chức với mụcđích khẳng định tinh thần thượng võ và phô diễn tài nghệ của những người thuầndưỡng voi Tây Nguyên
2.1.2.3. Lễ hội cà phê Buôn Mê Thuột
Cà phê là cây trồng chủ đạo của nền nông nghiệp Tây Nguyên nói chung và tỉnh ĐắkLắk nói riêng vì vậy không có gì lạ khi ở đây tổ chức hội cà phê nằm tôn vinh loại câytrồng đã giúp đời sống của bà con Đắk Lắk trở nên khấm khá hơn
Đây là lễ hội mang tầm vóc quốc gia được tổ chức 2 năm một lần tại thành phốBuôn Mê Thuật - trung tâm văn hóa chính trị của tỉnh Đắk Lắk Lễ hội chỉ mới bắt đầuvào năm 2005 nhưng đã trở thành nét đẹp văn hóa không thể thiếu của người dân TâyNguyên
Ngoài quảng bá, tôn vinh cà phê và các sản phẩm làm từ nó, lễ hội còn thu hút khách dulịch bởi những hoạt động thú vị mang đậm bản sắc văn hóa Tây Nguyên như: tổ chứcdiễn tấu cồng chiêng, đi cà kheo, lễ diễu hành của voi và những hoạt động thể thaokhác,
2.1.2.4. Lễ cúng bến nước
Là một lễ hội văn hóa quan trọng của người Ê Đê ở Tây Nguyên, lễ cúng bến nướcđược tổ chức hàng năm sau thu hoạch để cầu cho mưa thuận, gió hòa Lễ cúng bếnnước được bắt đầu với một hồi chiêng ngân dài khi mà bà con trong vùng thắp hươngcúng ông bà tổ tiên để báo cáo rằng con cháu đã về đông đủ Đợi đến hồi chiêng thứ 2thầy cúng sẽ thực hiện nghi thức cúng Yàng (cúng Trời) để cầu mưa Kết thúc lễ cầumưa, các cô gái dân tộc trong trang phục truyền thống lưng đeo gùi theo thầy đến bến
Trang 14nước đầu buôn Mỗi hoạt động này lại cách nhau một tiếng chiêng Cuối cùng thầycúng đọc lời khấn cầu mong Thần nước mang nước, nguồn sức sống quan trọng nhấtđến cho buôn làng Buổi lễ kết thúc, người dân làng sẽ quây quần bên nhau, cùnguống rượu cần, kể chuyện về mùa màng hay ăn những món ăn truyền thống của dântộc.
2.1.2.5. Lễ bỏ mả
Là lễ hội của người Đắk Lắk diễn ra để người còn sống có thể thực hiện hết bổn phậncủa mình với người đã khuất, sau lễ này người ta có thể yên tâm và chắc chắn rằngngười đã khuất sẽ được đầu thai Thế nên dù mặc tang phục nhưng với người dân ĐắkLắk đây vẫn được coi là một lễ hội vui nhất trong năm
2.1.2.6. Lễ mừng lúa mới
Lễ mừng lúa mới của các tộc người J'rai và Bahnar thường diễn ra trong khoảng thờigian từ tháng 11 dương lịch năm trước cho đến tháng 1 năm sau trong khắp các tỉnhcủa Tây Nguyên, đặc biệt là ở Đắk Lắk Thời gian này, người dân ở đây rảnh rỗi bởi
vụ mùa đã kết thúc và họ để cho đất "nghỉ ngơi" theo đúng tập quán Đầu tiên, lễ hộidiễn ra trong cả buôn làng rồi từng nhà lại tổ chức riêng theo điều kiện của gia đình.Nhà nào khá giá thì thịt lợn, mời thầy cúng rồi chia thịt cho cả buôn làng, nhà nào khókhăn thì mua miếng thịt về cúng thần Pôm Trong những ngày này cả buôn làng rộnràng tiếng cồng chiêng và nô đùa của người dân
2.1.2.7. Lễ hội đâm trâu
Đây là một trong những lễ hội truyền thống của người Tây Nguyên nói chung và tỉnhĐắk Lắk nói riêng, lễ hội nhằm mục đích tế thần linh hoặc những người đã có côngchủ trì thành lập buôn làng, ăn mừng chiến thắng, ăn mừng mùa màng bội thu hay ănmừng các sự kiện quan trọng khác Con trâu sẽ là vật hiến tế để cầu thần phù hộ chobuôn làng được khỏe mạnh, ấm no, để mừng ngày mùa hay để mừng chiến thắng Tùymỗi dân tộc mà lễ hội này được diễn ra vào một khoảng thời gian, không gian khácnhau Tuy nhiên nghi thức cơ bản đều giống nhau
Bởi vậy, Đắk Lắk có tiềm năng lớn về phát triển du lịch song hoạt động này trongnhững năm qua phát triển chưa xứng với tiềm năng Mặc dù vậy ngành du lịch từng