1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động qua các hoạt động trợ giúp của CTXH (nghiên cứu trường hợp tại trường trung cấp kinh tế du lịch hoa sữa)

101 410 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thủ tướng chính phủ cũng đã phê duyệt đề án trợ giúp người khuyết tật với mục tiêu đến năm 2020 sẽ dạy nghề và tạo việc làm cho 550 nghìn người thuộc đối tượng này, đồng thời cũng ưu tiê

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU: 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Tổng quan Tình hình nghiên cứu: 3

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn nghiên cứu: 7

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 7

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 8

6 câu hỏi nghiên cứu: 9

7 Phương pháp nghiên cứu: 9

PHẦN NỘI DUNG: 10

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT QUA CÁC HOẠT ĐỘNG CTXH 10

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu: 10

1.1.1 Một số Khái niệm: 10

1.1.1.1 Khái niệm về khuyết tật: 10

1.1.1.2 Khái niệm nghề, đào tạo nghề 11

1.1.1.3 Khái niệm việc làm, việc làm cho Người khuyết tật 12

1.1.1.4 Khái niệm công tác xã hội: 13

1.1.2 Các dạng khuyết tật: 13

1.1.3 Đặc điểm tâm – sinh lý, nhu cầu của Người khuyết tật: 14

1.1.3.1 Đặc điểm tâm- sinh lý: 14

1.1.3.2 Nhu cầu của Người khuyết tật: 16

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu: 18

1.2.1 Thuyết nhu cầu: 18

1.2.2 Thuyết hệ thống: 19

1.3 các yếu tố ảnh hưởng tới vấn đề đào tạo nghề cho người khuyết tật tại trường trung cấp KT-DL Hoa Sữa: 21

Trang 3

1.3.1 Quan điểm về ĐTN cho NKT: 21

1.3.2 Bối cảnh Kinh tế - Xã hội: 25

1.4 Khái quát chung về trường trung cấp KT-DL Hoa Sữa: 26

1.4.1 Điều kiện Tự nhiên, Kinh tế xã hội của Trường Trung Cấp Kinh tế Du Lịch Hoa Sữa: 26

1.4.2 Tóm tắt lịch sử hình thành và phát triển của Trường TC KT-DL Hoa Sữa: 28

1.4.3 Chức năng, nhiệm vụ của trường TC KT-DL Hoa Sữa: 30

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP DL KT-DL HOA SỮA: 34

2.1 Thực trạng Đội ngũ cán bộ, giáo viên trường TC KT-DL Hoa Sữa : 34

2.2 Thực trạng về Cơ sở vật chất của Trường TC KT-DL Hoa Sữa: 40

2.3 Thực trạng về học sinh: 44

2.4 Thực trạng về công tác đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho học sinh tại Trường TC KT-DL Hoa Sữa: 47

2.5 Đánh giá chung về thực trạng đào tạo nghề tại trường TC KT-DL Hoa Sữa: 50

2.5.1 Những thuận lợi trong quá trình đào tạo nghề: 50

2.5.2 Những khó khăn trong quá trình đào tạo nghề: 51

2.5.3 Định hướng giải pháp: 53

CHƯƠNG III: HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI TRƯỜNG TC KT-DL HOA SỮA: 54

3.1 Quy trình tuyển sinh đầu vào của học sinh thuộc nhóm đối tượng là Người khuyết tật tại trường TC KT – DL Hoa Sữa 54

3.2 Các hoạt động trợ giúp nhằm đào tạo nghề cho Người khuyết tật tại Trường TC KT-DL Hoa Sữa: 56

3.2.1 Hoạt động hỗ trợ học phí, chi phí đào tạo: 56

Trang 4

3.2.2 Hoạt động hỗ trợ chi phí đi lại, ăn ở, sinh hoạt: 61

3.2.3 Hoạt động chăm sóc ý tế: 62

3.2.4 Hoạt động Vui chơi, giải trí: 63

3.3 Đánh giá về công tác đào tạo nghề cho người khuyết tật tại trường TC KT-DL Hoa Sữa: 67

3.3.1 Các ngành nghề đào tạo: 67

3.3.2 Nội dung đào tạo: 69

3.3.3 Cấp bằng đào tạo: 71

3.4 Đánh giá hoạt động tạo việc làm, giới thiệu việc làm cho người khuyết tật tại trường TC KT-DL Hoa Sữa: 71

3.4.1 Hoạt động tạo việc làm cho người khuyết tật: 71

3.4.2 Hoạt động giới thiệu việc làm cho người khuyết tật: 73

3.5 Vai trò của NVXH trong trợ giúp Người khuyết tật tại trường TC KT – DL Hoa Sữa: 74

3.6 Các nguồn lực trợ giúp 76

3.6.1 Các tổ chức trong nước: 76

3.6.2 Các tổ chức nước ngoài: 77

3.7 Đánh giá hoạt động trợ giúp trong đào tạo nghề cho người khuyết tật tại trường TC KT-DL Hoa Sữa: 80

3.7.1 Những mặt đã làm được: 80

3.7.2 Những mặt chưa làm được: 82

3.7.3 Đề xuất giải pháp: 83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84

KẾT LUẬN 84

KHUYẾN NGHỊ 86

HỆ THỐNG CÂU HỎI SÂU: 89

Trang 5

NỘI DUNG TRÍCH DẪN

Vì một thế giới không rào cản với người khuyết tật, bài viết ngày CP

Trang 6

03/12/2014.28/2012/NĐ-PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Đối với bất kỳ quốc gia nào, muốn đảm bảo xã hội phát triển bền vững, ngoài yếu tố ổn định về mặt kinh tế, chính trị,… vấn đề đảm bảo An sinh xã hội cũng được coi là nhân tố cốt yếu, các chính sách giảm nghèo bền vững được hiện thực hóa và đảm bảo mang lại hiệu quả nhất định Để đảm bảo được điều đó, việc quan tâm tới các đối tượng yếu thế trong xã hội là một trong những ưu tiên hàng đầu Một trong những nhóm đối tượng được ASXH hướng tới là Người khuyết tật (NKT) NKT thường tự ti, mặc cảm về bản thân nên ít giao tiếp, nói chuyện với người khác Vì vậy, họ khó hòa nhập với cộng đồng đào tạo nghề gắn liền với tìm kiếm cơ hội việc làm cho NKT sẽ giúp họ có cơ hội tiếp xúc, giao lưu với mọi người Dễ dàng hơn cho việc hoà nhập với cộng đồng Tạo điều kiện để NKT phát triển một cách toàn diện và bình thường như những người khác trong xã hội, góp phần đảm bảo công bằng xã hội

Theo điều tra mới đây của Liên Hợp Quốc, trong số hơn 7 tỷ người thì có hơn 1

tỷ người là người khuyết tật, chiếm khoảng 15% dân số Tại khắp nơi trên thế giới, hơn

1 tỷ người khuyết tật đang phải đối mặt với những khó khăn, rào cản về mặt kinh tế, xã hội, thể lực,…1

Việt Nam hiện có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số trong đó 29% khuyết tật khiếm thính, chiếm tỷ lệ cao nhất so với các dạng khuyết tật khác, tiếp đến là nhóm khuyết tật vận động 14,3 % Điều đáng lưu ý là số người khuyết tật đang học nghề ít chỉ 1,94 %, số còn lại hầu như không có nguyện vọng học nghề chiếm 13,7% 4 Trong những năm tới, tỷ lệ người khuyết tật tại Việt Nam có xu hướng tăng lên

Việt Nam đặt ra mục tiêu, năm 2020 sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp Trong đó, phát triển nguồn nhân lực được xem là một trong ba khâu đột phá chiến lược

1 Vì một thế giới không rào cản với người khuyết tật, bài viết ngày 03/12/2014

4 Theo bài báo: Việt Nam sắp tham gia Công ước về Việc làm cho Người khuyết tật, ngày 31/12/2015

Trang 7

thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 Vì vậy, đối tượng người khuyết tật nói chung và người khuyết tật vận động nói riêng cũng nhận được nhiều sự quan tâm đặc biêt không chỉ của đảng và nhà nước,mà còn của cả cộng đồng Thủ tướng chính phủ cũng đã phê duyệt đề án trợ giúp người khuyết tật với mục tiêu đến năm 2020 sẽ dạy nghề và tạo việc làm cho 550 nghìn người thuộc đối tượng này, đồng thời cũng ưu tiên về nhiều mặt cho người khuyết tật cũng như các cơ sở sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật, dạy nghề cho người khuyết tật.Điều này có ý nghĩa vô cùng lớn đối với người khuyết tật

Trên tinh thần ấy, trong hơn 20 năm qua, trường Trung cấp Kinh tế - Du lịch Hoa Sữa (1118 Nguyễn Khoái – Lĩnh Nam – Hoàng Mai – Hà Nội) luôn chú ý, quan tâm phát triển công tác Đào tạo nghề cho NKT Đạt được nhiều kết quả tốt đẹp được thừa nhận và đánh giá cao Góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống cho NKT

Với tầm quan trọng về lý luận và thực tiễn của vấn đề nêu trên, tôi đã chọn hướng nghiên cứu“: Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho Người khuyết tậtqua các hoạt động CTXH (nghiên cứu trường hợp Trường trung cấp kinh tế- du lịch hoa sữa)”làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành CTXH của mình.Trên cở sở

đó, thấy được những mặt hạn chế cũng như những kết quả mà trường đã đạt được trong quá trình trợ giúp người khuyết tật vận động và dựa trên đó đánh giá cũng như nâng cao hiệu quả trợ giúp CTXH đối với người khuyết tật nhằm giúp họ tiếp cận với cơ hội việc làm tốt hơn sau đào tao nghề

2 Tổng quan Tình hình nghiên cứu:

Vấn đề đào tạo nghề và tìm kiếm cơ hội việc làm cho người khuyết tật là vấn

đề được các cấp chính quyền, ban ngành đoàn thể, cũng như các tổ chức trong và ngoài nước trong lĩnh vực này dành nhiều sự quan tâm

Trang 8

Sự quan tâm đó được thể hiện thông qua việc trong những năm gần đây, các chương trình, hoạt động vì người khuyết tật được diễn ra trên địa bàn Hà Nội nói chung, cũng như tại trường TC DL KT-DL Hoa Sữa một cách tích cực và hiệu quả hơn, nhằm tìm hiểu thực trạng đời sống người khuyết tât hiện nay, cũng như đưa ra các biện pháp để hỗ trợ họ,… bên cạnh đó là những bài báo, bài viết xoay quanh về vấn đề đào tạo nghề gắn liền với cơ hội việc làm cho người khuyết tật cũng hướng tới mục tiêu giúp NKT hòa nhập hơn với cộng đồng

2.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới:

Vấn đề việc làm cho người khuyết tật đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm thông qua việc tìm kiếm các giải pháp nhằm trợ giúp người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, một trong những mục tiêu cụ thể là hỗ trợ người khuyết tật trong đào tạo nghề

Công ước quốc tế về “ Quyền của người khuyết tật” đã được thông qua vào tháng 12 năm 2006 Đã cho thấy sự quan tâm của cộng đồng quốc tế với người khuyết tật nói chung và đề cao trách nhiệm của các quốc gia đối với người khuyết tật

Theo báo cáo toàn cầu về trẻ khuyết tật năm 2013 được tổ chức tại Việt Nam,báo cáo đã chỉ ra những cách thức để giúp trẻ khuyết tật hòa nhập vào cộng đồng Báo cáo cho biết trẻ khuyết tật là đối tượng ít được chăm sóc y tế và đi học nhất Các

em nằm trong nhóm trẻ em dễ bị tổn thương nhất bởi nạn bạo hành, xâm hại, bóc lột và

bỏ rơi, đặc biệt khi các em bị giấu giếm hoặc gửi vào các trung tâm bảo trợ - đây là thực trạng phổ biến xuất phát từ sự kì thị của xã hội hoặc do gia đình không có đủ khả năng tài chính để nuôi dưỡng trẻ Khoảng 1/3 các quốc gia trên thế giới vẫn chưa phê chuẩn Công ước về Quyền của người khuyết tật Báo cáo thúc giục các chính phủ phê chuẩn và thực hiện Công ước về Quyền của người khuyết tật và Công ước về Quyền trẻ em, hỗ trợ gia đình của các em để họ có thể trang trải được các chi phí chăm sóc trẻ

có khuyết tật cao hơn so với mức thông thường Đồng thời Báo cáo kêu gọi có các biện

Trang 9

pháp chống phân biệt đối xử trong cộng đồng, trong hoạch định chính sách, và trong số những người cung cấp các dịch vụ xã hội thiết yếu cho trẻ như y tế và giáo dục.5

Đã có rất nhiều công trình trên thế giới nghiên cứu về Người khuyết tật Tuy nhiên các công trình nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc nêu lên thực trạng và đưa đến giải pháp Tác giả xây dựng khóa luận này với mong muốn hỗ trợ người khuyết tật và nhìn nhận họ dưới khía cạnh nhân văn của CTXH

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:

Tại việt Nam, các mô hình trung tâm dành cho người khuyết tật nói chung và người khuyết tật vận động nói riêng đã có từ rất lâu, vì chúng ta nhận thức được rằng người khuyết tật là những đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội và cần được sự quan tâm của cộng đồng tuy nhiên công tác trợ giúp CTXH đối với đối tượng này thì gần đây mới được quan tâm sâu sắc

Tại báo cáo khảo sát về Đào tạo nghề và Việc làm cho người Khuyết tật tại Việt Nam, theo đơn đặt hàng của Tổ chức lao động Quốc tế tháng 8 năm 2008 Tại Việt Nam số các doanh nghiệp dành riêng cho người khuyết tật khá nhiều Hơn 8.000 người khuyết tật làm việc tại các doanh nghiệp này Tuy nhiên, đây phần lớn là các cơ

sở rất nhỏ, hoạt động lợi nhuận thấp như các ngành thủ công mỹ nghệ,matxa , v.v Khả năng được đào tạo một cách phù hợp và/hoặc tham gia các dịch vụ phát triển sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp này rất hạn chế Theo báo cáo, Việt nam có một hệ thống các trung tâm dạy nghề khá đầy đủ, gồm 164 trường đào tạo nghề, 137 trường cao đẳng và trường trung cấp kỹ thuật tham gia vào hoạt động đào tạo nghề; 148 trung tâm dạy nghề và 150 trung tâm dịch vụ dạy nghề và việc làm kết quả phân tich của báo cáo cho thấy tại Việt Nam rất ít người khuyết tật được đào tạo nghề, hướng dẫn việc làm Báo cáo cũng đã có những thông tin về các dịch vụ cơ bản liên quan đến việc làm và đào tạo nghề cho người khuyết tật Tuy nhiên, báo cáo vẫn chưa đưa ra được

5 Báo cáo toàn cầu về trẻ khuyết tật được giới thiệu tại Việt Nam, ngày 30/05/2013

Trang 10

hướng giải quyết trực tiếp để tăng cường các cơ sở, doanh nghiệp tiếp nhận người khuyết tật vào học và làm việc.6

Trong báo cáo tổng kết tình hình thi hành pháp lệnh về người khuyết tật và việc

tổ chức, ban hành các văn bản pháp luật số 62/BC-LĐTBXH năm 2009, đã cho thấy sự

nỗ lực vô cùng to lớn của cả cộng đồng vì người khuyết tật Thể hiện ở việc các chính sách đối với người khuyết tật được cụ thể hóa và đi vào thực tiễn với các nội dung cơ bản như chăm sóc đời sống người khuyết tật; chăm sóc sức khỏe, chỉnh hình, phục hồi chức năng; học văn hóa đối với người khuyết tật; giúp họ tiếp cận văn hóa, thể thao và công trình công cộng; một nội dung được đặc biệt quan tâm tới là dạy nghề và cơ hội việc làm cho người khuyết tật Trong báo cáo này, đã đưa ra những con số cụ thể về thực trạng người khuyết tật Kể từ khi có pháp lệnh, số lượng người khuyết tật được học nghề tăng từ giai đoạn 1999-2004 có gần 19.000 người khuyết tật được học nghề, giai đoạn 2005-2008 có khoảng 8.000 người, gấp 2 lần so với giai đoạn trước Tuy nhiên theo đánh giá của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, tỷ lệ người khuyết tật được đào tạo nghề còn thấp Theo khảo sát năm 2008, có trên 50% người khuyết tật trong độ tuổi lao động có việc làm và chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp Cả nước có hơn 400 cơ sở sản xuất, kinh doanh của thương binh và người khuyết tật, tạo việc làm cho 15.000 lao động khuyết tật Tuy nhiên phần lớn người khuyết tật có việc làm không ổn định, chủ yếu tự tạo việc làm, hoặc làm trong các tổ chức, cơ sở mang tính nhân đạo, từ thiện.7

Ngoài ra còn rất nhiều những nghiên cứu trong nước về người khuyết tật như:

“Báo cáo thường niên về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam” do ban

điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam(NCCD) thưc hiện là một trong những đóng góp quan trọng

6

Báo cáo Khảo sát về Đào tạo nghề và việc làm cho NKT tại Việt Nam

7 Báo cáo tổng kết tình hình thi hành Pháp lệnh về Người tàn tật và các văn bản pháp luật liên quan

Trang 11

“ Báo cáo về trẻ khuyết tật và gia đình Trẻ khuyết tật tại Đà Nẵng – Kiến thức – Thái độ - Hành vi” TNS thực hiện cho Unicef năm 2009

Nghiên cứu “ Chi phí kinh tế của sống với khuyết tật và kỳ thị ở Việt Nam” do

Viện nghiên cứu phát triển Xã hội thực hiện, xuât bản năm 2013

Những tài liệu được công bố trên là những tài liệu tham khảo quan trọng trong việc nghiên cứu và thực hiên đề tài luận văn của tôi

Tất cả các nghiên cứu trên cũng đã ít nhiều nói lên vị trí của người khuyết tật trong xã hội hiện nay, họ được quan tâm và chia sẻ cơ hội để đến gần hơn với cộng đồng, hòa nhập với cộng đồng các nghiên cứu, báo cáo đó ngoài việc mô tả thực trạng người khuyết tật, bước đầu cũng đã đưa ra các định hướng, giải pháp nhằm hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận học nghề và tạo cơ hội việc làm Tuy nhiên các hướng nghiên cứu trên chưa đi vào làm rõ vai trò của NVXH trong hoạt động trợ giúp cũng như hướng trợ giúp CTXH đối với người khuyết tật

Do đó, luận văn tốt nghiệp với đề tài “Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho

người khuyết tật qua các hoạt động trợ giúp của CTXH ” (nghiên cứu tại trường TC

KT-DL Hoa Sữa) hoàn toàn không phải là một chủ đề mới trong hoạt động thực tiễn cũng như trong khoa học nghiên cứu Thế nhưng cái mới của luận văn chính là vừa có bức tranh tổng thể về thực trạng của người khuyết tật trên địa bàn cả nước hiện nay cũng như tại trườngTC KT-DL Hoa Sữa, đồng thời nhấn mạnh tới hoạt động trợ giúp CTXH đối với người khuyết tật tại trường TC KT- DL Hoa Sữa với mục tiêu giúp họ được đào tạo nghề phù hợp và có việc làm sau đào tạo nghề Điều này có vai trò hết sức quan trọng trong nỗ lực giúp NKT hòa nhập cộng đồng và vươn lên sống có ích

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn nghiên cứu:

3.1.Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu đã vận dụng một số lý thuyết CTXH như: thuyết nhu cầu, thuyết hệ thống,… ; nghiên cứu cũng đã đưa ra 1 số khái niệm cơ bản về khuyết tật, người khuyết tật,… Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc bổ sung và phát triển hệ

Trang 12

thống các lý luận, phương pháp trong nghiên cứu về các vấn đề liên quan như CTXH, hoạt động trợ giúp trong CTXH,…

Đề tài góp phần làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu đi sau

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu đưa ra thực trạng về người khuyết tật và vấn đề đào tạo nghề

và việc làm đối với họ Qua đó, đưa ra giải pháp nhằm trợ giúp họ

Đối với người nghiên cứu qua quá trình làm việc, tiến hành nghiên cứu đã có

cơ hội áp dụng các lý thuyết và phương pháp đã được học vào thực tiễn

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Để làm rõ mục đích trên,luận văn có các nhiệm vụ sau đây:

- Làm rõ một số nội dung về lý luận và thực tiễn liên quan đến người khuyết tật Trên cơ sở đó hình thành cơ sở lý luận về công tác xã hội, công tác xã hội với người khuyết tật đông thời luận văn cũng giới thiệu khái quát về kinh nghiệm của quốc tế cũng như ở Việt Nam trong vấn đề đào tạo nghề cho người khuyết tật thông qua những nghiên cứu cụ thể

- Phân tích, đánh giá thực trạng trợ giúp người khuyết tật về vấn đề đào tạo nghề và tạo cơ hội việc làm tại trường TC KT-DL Hoa Sữa Trong đó đánh giá, phân tích những thành tựu và hạn chế Nguyên nhân của thực trạng

- Một số hoạt động trợ giúp của trường trong vấn đề dạy nghề cho người khuyết tật và đề xuất trợ giúp

Trang 13

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng

Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho người khuyết tật qua các hoạt động trợ giúp của CTXH ( nghiên cứu trường hợp trường Trung cấp Kinh Tế- Du Lịch Hoa Sữa )

5.2 Khách thể nghiên cứu

- Người khuyết tật tại trường TC KT-DL Hoa Sữa

- Cán bộ, giáo viên tại trường TC KT-DL Hoa Sữa

- Gia đình có người khuyết tật đang theo học tại Trường TC KT-DL Hoa Sữa

5.3 Phạm vi nghiên cứu:

 Phạm vi về không gian nghiên cứu: tiến hành nghiên cứu tại trườngTC KT-DL Hoa Sữa

 Thời gian nghiên cứu: 1 tháng

 Phạm vi về nội dung nghiên cứu: nghiên cứu về vấn đề dạy nghề cho người khuyết tật bao hàm nhiều vấn đề khác nhau, nhưng do thời gian nghiên cứu có hạn nên

đề tài của tôi xin được tập chung vào các nội dung chính:

+ Thực trạng về vấn đề đào tạo nghề cho người khuyết tật tại trường TC

KT-DL Hoa Sữa

+ Đề xuất các hoạt động trợ giúp công tác xã hội với người khuyết tật nhằm trợ giúp họ được tiếp cận với đào tạo nghề và cơ hội việc làm sau đào tạo nghề

6 câu hỏi nghiên cứu:

(1) Thực trạng đào tạo nghề đối với người khuyết tật tại trường TC DL KT-DL Hoa Sữa?

(2) Hoạt động trợ giúp CTXH về vấn đề dạy nghề cho người khuyết tật tại trường TC DL KT-DL Hoa Sữa diễn ra như thế nào?

(3) Làm thế nào để nâng cao hiệu quả trợ giúp CTXH về vấn đề dạy nghề đối với người khuyết tật tại trường TC DL KT-DL Hoa Sữa?

Trang 14

7 Phương pháp nghiên cứu:

7.1 Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu:

Phương pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, chọn lọc, hệ thống hóa các tài liệu lý luận về vấn đề nghiên cứu là phương pháp thu thập thông tin dựa trên những tài liệu có sẵn của các tác giả trong và ngoài nước nhằm trang bị những kiến thức cơ bản

về đào tạo nghề, giải quyết việc làm, người khuyết tật,…

Phương pháp này được áp dụng phân tích các tài liệu như: Điều kiện tự nhiên, Kinh tế - xã hội của Trường TC KT-DL Hoa Sữa, các báo cáo số liệu về cơ sở vật chất, giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường,

7.2 Phương pháp phỏng vấn sâu:

Phỏng vấn sâu là cuôc đối thoại lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm kiếm thông tin về cuộc sống kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin qua chính ngôn ngữ của người ấy

Phỏng vấn sâu được tiến hành với khoảng 3 người là các cán bộ, lãnh đạo Trường: Trưởng/phó phòng đào tạo, Cán bộ quản lý Trung tâm dành cho Người khuyết tật, ngoài ra cũng tiến hành phỏng vấn học sinh Khuyết tật đang theo học tại Trường

TC KT-DL Hoa Sữa Việc sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm mục đich tìm hiểu thông tin bên ngoài, khai thác thông tin sâu từ phía nhóm đối tượng phục vụ cho nội dung nghiên cứu mong muốn thực hiện…

7.3 Phương pháp quan sát:

Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin xã hội sơ cấp về đối tượng nghiên cứu bằng tri giác trực tiếp, chụp ảnh và ghi chép lại những nhân tố liên quan đên mục đích và đề tài nghiên cứu

Sử dụng phương pháp quan sát nhằm nhận định một cách tổng quan nhất thực trạng đào tạo nghề cho người khuyết tật tại trường TC KT-DL Hoa Sữa và qua đó nâng cao hiệu quả trợ giúp CTXH về vấn đề đào tạo nghề cho người khuyết tật tại trường TC KT-DL Hoa Sữa

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG:

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜI

KHUYẾT TẬT QUA CÁC HOẠT ĐỘNG CTXH 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu:

1.1.1 Một số Khái niệm:

1.1.1.1 Khái niệm về khuyết tật:

 Khái niệm khuyết tật ( Khiếm khuyết):

Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap) Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm hoặc

sinh lý 8

Dựa vào khái niệm có sẵn trên, tôi xin đưa ra cách hiểu của bản thân về khái niệm Khuyết tật: Đó là hậu quả của sự khiếm khuyết, làm giảm thiểu chức năng hoạt động của các cơ quan cảm giác, vận động hay trí não

 Khái niệm Người khuyết Tật:

Theo Đạo luật về Người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 định nghĩa “người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống” 9

Theo Công ước quốc tế về quyền của Người khuyết tật ngày 06 tháng 12 năm

2006, của Đại hội đồng Liên hợp quốc thì: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”.10

Khái niệm trên cũng đã tương đối đầy đủ khi nói đến NKT Từ những khiếm khuyết để xếp vào là NKT và ảnh hưởng của những khiếm khuyết đó đến cuộc sống

Trang 16

của NKT Trên thực tế hiện nay ở nước ta cũng tồn tại nhiều quan niệm về NKT hoặc người tàn tật, vì mỗi một quan niệm đều đứng trên một góc nhìn khác nhau và có mục đích riêng

Theo quy định của Luật Người khuyết tật được Quốc hội thông qua ngày 17/06/2010thì NKT được hiểu là: “Người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” 11

Theo cách hiểu này thì NKT bao gồm cả những người bị khuyết tật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do tai nạn, thương binh, bệnh binh,…

Dựa vào những khái niệm có sẵn ở trên, tôi xin đưa ra ý hiểu của mình về NKT: Đó là những người bị khiếm khuyết một bộ phận hoặc một chức năng bình thường của con người khiến người đó suy giảm hoặc mất hoàn toàn khả năng hoạt động, lao động và gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày

1.1.1.2 Khái niệm nghề, đào tạo nghề

 Khái niệm đào tạo nghề

Theo tài liệu của Bộ LĐTB – XH xuất bản năm 2006 thì khái niệm ĐTN được

hiểu: “Là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và

thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khóa học có thể thực

11 Luật Người khuyết tật, số 51/2010/QH12 Ngày 17/06/2010

12 Đề án trợ giúp người tàn tật giai đoạn 2006-2010, trang 47

Trang 17

Như vậy, khái niệm này đã không chỉ dừng lại ở trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản

1.1.1.3 Khái niệm việc làm, việc làm cho Người khuyết tật

 Khái niệm việc làm:

Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về việc làm Và ở các quốc gia khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố (như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp,…) người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau Chính vì thế không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm

Theo quan điểm của Mac: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp

giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,…) để

Theo Điều 13 Bộ Luật lao động Việt Nam: “Mọi hoạt động tạo ra nhu nhập,

Theo tôi,Việc làm là tất cả các hoạt động của con người tác động vào môi trường tự nhiên hoặc vật chất nhằm tạo ra thu nhập Đồng thời nó cũng là nơi con người làm việc, nơi họ được lao động, cống hiến và thể hiện bản thân

 Khái niệm việc làm cho người khuyết tật

Theo ý hiểu của bản thân, tôi xin đưa ra khái niệm về việc làm cho người

khuyết tật như sau: là mọi hoạt động tạo ra thu nhập cho người khuyết tật, được pháp

luật đồng ý và nghề đó phải phù hợp với điều kiện sức khỏe của bản thân người khuyết tật cũng như nhu cầu của thị trường lao động

1.1.1.4 Khái niệm công tác xã hội:

Năm 1970, Hiệp hội Quốc gia các nhân viên xã hội Hoa Kỳ (NASW) định

nghĩa “CTXH là những hoạt động chuyên nghiệp nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân,

nhóm và cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn, để họ tự phục hồi chức năng hoạt động

13 C.Mác và Ph.ăng-ghen Toàn tập, trang 210

14 Bộ luật lao động Việt Nam, Điều 13, trang 34

Trang 18

trong xã hội và để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đích của

cá nhân” 15

Hiệp hội nhân viên CTXH Quốc tế thống nhất một định nghĩa về CTXH:

“Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan

hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người

và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề.” 16

Tóm lại, CTXH là: một khoa học, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp

các cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế nâng cao năng lực, tăng cường các chức năng

xã hội nhằm ứng phó với những vấn đề xã hội tiêu cực xảy ra từ đó hướng đến mục tiêu phát triển bền vững

Khuyết tật khiếm thính (khuyết tật nghe nói):

Khuyết tật nghe, nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói

Khuyết tật khiếm thị:

15 Bài giảng: “ Công tác Xã Hội trong phát triển Nông thôn (GV: Xuân Phú)

16 Bài giảng: “ Công tác Xã Hội trong phát triển Nông thôn (GV: Xuân Phú)

Trang 19

Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường

Khuyết tật thần kinh, tâm thần:

Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường

Khuyết tật trí tuệ:

Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc

Khuyết tật khác:

Là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp trên.17

1.1.3 Đặc điểm tâm – sinh lý, nhu cầu của Người khuyết tật:

1.1.3.1 Đặc điểm tâm- sinh lý:

Do khiếm khuyết của bản thân nên NKT thường tự ti, mặc cảm, sống khép mình ít giao tiếp với người khác NKT gặp phải rất nhiều khó khăn trong cuộc sống từ việc ăn uống, đi lại, vệ sinh cá nhân, làm việc, học tập, đến việc giao tiếp với mọi người,…vì vậy họ rất cần được chăm sóc, giúp đỡ Nhưng cái họ mong muốn nhận được đó chính là sự quan tâm, đồng cảm từ mọi người trong xã hội chứ không phải sự thương hại, hay bố thí Họ dễ cảm thông với những người đồng cảnh ngộ, biết ơn khi được quan tâm giúp đỡ

Nhiều NKT nặng không thể tự chăm lo chuyện sinh hoạt cá nhân thường xuyên phải nhờ đến sự giúp đỡ của người thân trong gia đình nên họ trở nên buồn chán, bi quan Họ không muốn là người ăn bám, là gánh nặng cho gia đình và xã hội Chịu nhiều nỗi buồn, áp lực nên NKT dễ kích động, nổi cáu khó trong việc kiềm chế cảm

17Nghị định số: 28/2012/NĐ-CP

Trang 20

xúc của bản thân và cũng rất hay tự ái Nếu sống trong những gia đình khó khăn NKT

có cảm giác mình bị bỏ rơi

Mặc dù vậy, đa phần NKT là những người có ý chí, nghị lực cao (đặc biệt là những người KTVĐ nhưng trí tuệ phát triển bình thường) Họ có một khát vọng sống, khát vọng vươn lên mạnh mẽ cái mà người được chúng ta coi là bình thường không phải ai cũng có được NKT biết được hạn chế của mình nên khi thực hiện việc gì họ đều rất kiên trì và quyết làm cho đến cùng Với khả năng thích nghi bù (đặc biệt là hoạt động của các giác quan) và sức khỏe của mình NKT mong muốn được làm những công việc phù hợp để cố thể tự lập, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và cống hiến cho xã hội

Ngoài những đặc điểm chung về tâm, sinh lý kể trên của NKT thì ở mỗi dạng khuyết tật còn có những đặc điểm sinh lý riêng biệt:

Đối với người KTVĐ: Có nhiều nguyên nhân gây nên việc khuyết tật cơ quan

vận động như: Tai nạn giao thông, bẩm sinh, chất độc điôxin, tai nạn lao động,…nhưng nhìn chung đều làm mất hoặc suy giảm chức năng của cơ quan vận động gây nên những khó khăn trong việc di chuyển đi lại Trong khi đó trí tuệ của người KTVĐ hoàn toàn bình thường, thậm chí còn có người có trí tuệ phát triển rất tốt Vì vậy, người KTVĐ có thể theo học và làm trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề mà người bình thường học

Đối với người KTKT: Do cơ quan thính giác bị tổn thương không thể tiếp nhận

được các âm thanh từ bên ngoài và kéo theo khả năng nói và giao tiếp hạn chế Nên người KTKT chủ yếu nhận thức thế giới chủ yếu bằng mắt, có khả năng tri giác thị giác rất phát triển và tinh tế Ngoài ra họ có khả năng nhận thức bằng đa giác quan, kết hợp thị giác, xúc giác, khứu giác và cơ quan vận động vào quá trình nhận thức Vì vậy, người KTKT có thể học nghề bằng cách nhìn và bắt chước làm theo Ở họ có một sự tỷ

mỉ và khéo tay nhất định Song vì không nghe, nói được nên việc tiếp thu kiến thức của người KTKT thường chậm và hay bị sao nhãng

Trang 21

Người KTTT có một số đặc điểm chung về sinh lý như: Hình thể không cân đối;

Ánh mắt nét mặt khờ dại; Khả năng phối hợp tay – mắt kém phản ứng chậm với kích thích bên ngoài; Tiếp thu chậm, mau quên; Sử dụng ngôn ngữ ở mức độ rất hạn chế; Hạn chế hoặc gặp khó khăn khi giải quyết một vấn đề cụ thể; Biểu hiện xúc cảm, tình cảm thất thường Tuy nhiên, mỗi người KTTT đều có những mặt mạnh riêng như: thích

vẽ, thích hát, thích hoạt động thể thao,…Việc dạy nghề cho người KTTT cần sự tâm huyết, tận tình, kiên trì của người dạy vì người KTTT tiếp thu kiến thức rất chậm, ghi nhớ kém và vụng tay chân Song nếu cố gắng kiên trì trong thời gian dài thì người KTTT cũng có thể học các kiến thức, kỹ năng nghề để hình thành thói quen trong công việc

Dựa vào những đặc điểm riêng biệt ấy của từng dạng khuyết tật, Nhà nước và các cơ sở dạy nghề cần có những chương trình ĐTN phù hợp để NKT có nhiều sự lựa chọn nghề nghiệp, cơ hội việc làm và hòa nhập cộng đồng cũng từ đó mà tăng lên cao hơn

Người KTKTh là những người thiệt thòi vô cùng Họ không thể nhìn được xung

quanh và gặp khó khăn trong việc phát âm chuẩn và biểu lộ nét mặt, cử chỉ kèm theo khi giao tiếp Khả năng hiêu và biểu đạt ngôn ngữ kém hơn so với người mắt sáng Tuy nhiên Người NKKTh có thể đạt mức độ phát triển bình thường nếu như được giáo dục

và hỗ trợ phù hợp Người KTKTh có thể phát triển khá tốt về thính giác, khứu giác và xúc giác để họ có cảm nhận tốt hơn về thế giới bên ngoài khi họ không thể nhìn thấy mọi vật xung quanh Họ có thể làm một số công việc đơn giản như đan quạt, mây tre đan, làm tăm, để kiếm sống

Đối với người KTTK,TT: thường dễ bị kích động, khả năng chú ý, tập trung

kém Dạy nghề có thể tạo cho họ cơ hội hòa nhập và có thể hỗ trợ họ thông qua trị liệu tâm lý

Trang 22

1.1.3.2 Nhu cầu của Người khuyết tật:

Nhu cầu của NKT là những đòi hỏi thiết yếu cần được đáp ứng để tồn tại và phát triển NKT cũng có những nhu cầu cơ bản như mọi người trong xã hội, và nhu cầu

là nguồn gốc thúc đẩy NKT hoạt động vươn tới những mục tiêu phát triển của bản thân

Theo quan điểm của nhà tâm lý học A Maslow, con người có 5 loại nhu cầu cơ bản được sắp xếp theo bậc thang từ thấp tới cao Nhu cầu sẽ xuất hiện khi con người nói chung, NKT nói riêng bị thiếu hụt những yếu tố nhất định trong môi trường sống, những thiếu hụt này nếu không được bù đắp kịp thời sẽ gây ra các căng thẳng về tâm, sinh lý Về sinh lý: Xuất hiện trạng thái mất cân bằng trong cơ thể, gây nên cảm giác khó chịu (khát, đói, nóng,…) Về tâm lý: Xuất hiện những cảm xúc tiêu cực khi bị bỏ rơi, không quan tâm, thiếu sự tương tác, tình yêu, sự che chở, đùm bọc,…

Các nhu cầu có quan hệ chặt chẽ với nhau Trước tiên NKT cần đáp ứng ở các mức độ thấp Sau đó, mới tìm đến sự đáp ứng ở các nhu cầu bậc thang cao hơn Về cơ bản NKT cũng có tất cả các nhu cầu của một con người bình thường trong xã hội như:

Ăn, ở, đi lại, khẳng định mình, được quan tâm yêu thương, an toàn, vui chơi giải trí,…Nhưng do đặc thù của bản thân nên những nhu cầu của NKT thể hiện ở một cấp

độ hơi khác:

NKT mong muốn nơi ăn ở của mình có những cơ sở vật chất hạ tầng phù hợp: Giường, công trình công cộng, vệ sinh, giao thông,…thuận tiện, phù hợp với đặc điểm của NKT

Từ những khiếm khuyết của bản thân khiến NKT luôn tự ti, mặc cảm, sống khép mình và rất dễ bị tổn thương nên họ cần những sự quan tâm tinh tế, yêu thương đối đãi thật lòng chứ không phải sự thương hại

NKT có ý chí vươn lên mạnh mẽ Họ mong muốn có những cơ hội học tập, làm việc như người bình thường Họ muốn được khẳng định bản thân mình với xã hội và không làm gánh nặng cho gia đình

Trang 23

Mặc dù NKT có những khiểm khuyết về bản thân song họ cũng có những lo toan, buồn phiền, mệt mỏi,…nên cũng cần có nhu cầu vui chơi giải trí Thậm chí do sống khép mình, ít giao tiếp với mọi người và thế giới bên ngoài nên NKT còn có mong muốn cao về những cách giải tỏa tâm lý, vui chơi phù hợp với bản thân

Nhu cầu tình cảm riêng tư là một trong những nhu cầu NKT rất chú trọng nhưng lại thường bị che đậy, ít được bộc lộ Nhiều NKT có tâm sinh lý phát triển bình thường có nhu cầu cao về việc được quan tâm, chia sẻ tình cảm với người khác giới

Họ cũng muốn có những gia đình cho riêng mình Nhưng rất nhiều lý do như: Tự ti về bản thân, không biết cách thể hiện tình cảm, không tìm được người phù hợp, sợ bị chê cười,…nên NKT thường che giấu tình cảm thật của mình

Thực tế cho thấy, hiện nay một số nhu cầu bậc cao của NKT ít có cơ hội để hiện thực hóa (VD: NKT gặp nhiều khó khăn trong việc học tập, tìm kiếm việc làm, tiếp cận các dịch vụ xã hội,…) NKT rất cần sự trợ giúp phù hợp từ phía gia đình, cộng đồng, xã hội để họ có thêm cơ hội đáp ứng các nhu cầu, để có cuộc sống bình thường, được phát triền và hòa nhập

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu:

1.2.1 Thuyết nhu cầu:

Mỗi con người đều có những nhu cầu về vật chất và tinh thần Các nhu cầu của con người thường rất đa dạng, phong phú và phát triển

Abraham Maslow (1908 – 1970) – nhà tâm lý học gốc Do Thái đã chia nhu cầu con người thành năm thang bậc từ thấp đến cao:

Nhu cầu sống còn: Đây là những nhu cầu cơ bản nhất cả con người Nếu nhu cầu cơ bản này không đạt được sẽ không thể tiến thêm ở bậc nhu cầu tiếp theo Bao gồm: thức ăn, nước uống, bài tiết, thở,

Nhu cầu an toàn: Cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo

Trang 24

Nhu cầu thuộc vào một nhóm nào đó: muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy không muốn cô đơn, bị bỏ rơi ngoài xã hội

Nhu cầu được quý trọng, kính mến: cần có cảm giác được tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng

Nhu cầu về tự thể hiện bản thân: muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt.18

Áp dụng thuyết nhu cầu vào nghiên cứu này chúng ta thấy rằng: việc nâng cao hiệu quả trợ giúp CTXH về vấn đề đào tạo nghề cho NKT nhằm tạo cơ hội cho NKT tại trung tâm được đào tạo nghề phù hợp với khả năng của bản thân, thông qua việc giúp người khuyết tật tìm kiếm các nguồn lực Học nghề và có việc làm là cầu nối giúp người khuyết tật đến gần hơn tới cộng đồng, thông qua đó giúp ngươi khuyết tật có cảm giác được thuôc về một nhóm nào đó Giúp họ găn kết với cộng đồng, không bị tách biệt với cộng đồng bởi những mặc cảm, tự ti Người khuyết tật là những người có những khiếm khuyết Họ luôn có ám ảnh bị mọi người xa lánh, kì thị, là người thừa trong xã hội, không giúp ích được cho cuôc sống Vì vậy khi người khuyết tật có sự tương tác với các thành viên trong xã hội,có được cảm giác tôn trọng, được xã hội tin tưởng, tạo cơ hội cho họ có việc làm để kiếm ra thu nhập, họ sẽ cảm giác gắn kết với cộng đồng và sống có ích hơn Việc đào tạo nghề và giúp NKT có việc làm phù hợp là con đường ngắn nhất giúp NKT hòa nhập cộng đồng, khẳng định được giá trị bản thân

và được khẳng định chính mình như những người bình thường khác Và cũng nhờ vậy, khi được đào tạo nghề, có việc làm và kiếm ra thu nhập cũng giúp NKT được đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất như nhu cầu về ăn mặc, đảm bảo cuộc sống

Trang 25

hệ thống trong môi trường xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu trực tiếp của mình trong cuộc sống”

Các quan điểm hệ thống trong công tác xã hội có nguồn gốc tư lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanfy Sau này lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu: Hanson, Mancosco, phát triển

Tiểu hệ thống là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ Các tiểu hệ thống tạo nên hệ thống lớn hơn Có 3 loại hệ thống thỏa mãn cuộc sống của con người là:

Hệ thống chính thức: Từ các tổ chức xã hội, hiệp đoàn xã hội mà cá nhân là thành viên trong đó; hỗ trợ các nguồn lực trực tiếp cho cá nhân hoặc giúp họ có được các hình thức thương lượng với hệ thống xã hội khác nhau

Hệ thống phi chính thức: Bạn bè, gia đình, hàng xóm, đồng nghiệp,tinh thần, lời khuyên bảo, thông tin, các nguồn lực và hoạt động trợ giúp cụ thể

Hệ thống xã hội: Các hoạt động xã hội, các chương trình tình nguyện, các phong trào xã hội; các bệnh viện, các tổ chức hỗ trợ nhận con nuôi, các chương trình đào tạo nghề; các dịch vụ pháp lý; Các trường học, các cơ sở việc làm, trung tâm phúc lợi

Lý thuyết hệ thống đã chỉ ra các mối liên kết tát yếu trong mạng xã hội giữa cá nhân với cá nhân, và nhóm và ngược lại Trong công tác xã hội điều thể không chú ý tới sư ảnh hưởng qua lại đó Tạo dựng và phát huy những tiềm năng và sức mạnh của

hệ thống sẽ tạo nên những lợi thế trong thực hành CTXH

Vấn đề của NKT là họ không sử dụng được hệ thống một cách hiệu quả có thể bởi 1 số lý do: Hệ thống nguồn lực không tồn tại, NKT không biết sử dụng nguồn lực

ra sao, chính sách của các hệ thống, NVXH cần đóng vai trò trong: giúp NKT tăng cường khả năng của bản thân và tự giải quyết vấn đề của mình, xây dựng mối quan hệ giữa các cá nhân NKT với các hệ thống nguồn lực, giúp cải thiện mối tương tác giữa cá nhân trong các hệ thống nguồn lực, giúp đỡ phát triển và thay đổi chính sách Vậy thì

áp dụng thuyết hệ thống vào trợ giúp NKT trong đào tạo nghề tại trường TC KT-DL Hoa Sữa cho thấy, trường đã và đang làm rất tốt việc kết nối nguồn lực nhằm hỗ trợ tốt

Trang 26

nhất đến NKT Nguồn lực ở đây trước hết là sự huy động, sự hảo tâm và hợp tác từ các

tổ chức trong và ngoài nước trong việc hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, tài chính và cử cán bộ đến trường để đào tạo nâng cao tay nghề cho NKT Ngoài ra các tổ chức còn có sự ủng hộ nhất định trong việc tiếp nhận những NKT của nhà trường vào làm việc tại đơn vị của mình Hiện nay nhà trường có sự cam kết 100% người khuyết tật của trường, sau khi tốt nghiệp được giới thiệu việc làm Bên cạnh đó, trong quá trình học tại trường NVXH có vai trò trong việc vận động, thúc đẩy các nguồn lực sẵn

có của trường như là cố gắng tổ chức các buối ngoại khóa vào dịp lễ, tết và các buổi ngoại khóa nhằm cung cấp kiến thức về SKSS, tệ nạn xã hội, cho NKT

1.3 các yếu tố ảnh hưởng tới vấn đề đào tạo nghề cho người khuyết tật tại trường trung cấp KT-DL Hoa Sữa:

1.3.1 Quan điểm về ĐTN cho NKT:

Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước đã dành nhiều sự quan tâm tới những người yếu thế trong xã hội, và đặc biệt là NKT Vìa vậy, ngày 18/04 hàng năm được chọn là ngày NKT Việt Nam, Ngày quốc tế NKT là 03/12 Nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của NKT trên mọi mặt trong đời sống Giai đoạn 2011-2015 được đánh giá là giai đoạn tập trung thể chế hóa luật pháp và chính sách về NKT Sau khi Luật Người khuyết tật được ban hành, đến nay, hệ thống Luật pháp chính sách về người khuyết tật tương đối đầy đủ, thống nhất và toàn diện với 01 Luật chuyên ngành (Luật Người khuyết tật), nhiều Luật

có nội dung lồng ghép, 05 Nghị định, 16 Thông tư, 10 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.20

Ngày 30/03/2007, công ước Quốc tế về quyền của NKT được phê chuẩn Ngày 22/10/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành một trong những nước thành viên cam kết bảo đảm quyền cho NKT khi tham gia ký vào công ước Việc tham gia ký kết Công

20 Trích bài báo: Lễ ra mắt Ủy ban Quốc gia về NKT Việt Nam , trên cổng thông tin điện tử Sở LĐ-TB và

XH Lào Cai

Trang 27

ước Quốc tế, đã làm thay đổi không chỉ về lượng mà còn về chất trong nhận thức của nhiều cá nhân về NKT.Chính phủ Việt Nam đã thông qua và thực thi nhiều luật và chính sách Trong các quyền lợi dành cho NKT, có đề cập tới Quyền lợi được học nghề

và có việc làm ổn định Phải kể tới một số văn bản chủ yếu sau:

Đầu tiên phải kể tới Luật NKT, Luật Người khuyết tật được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7, thông qua ngày 17 tháng

6 năm 2010; Chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2011 Là một bước tiến lớn

so với Pháp Lệnh người tàn tật, trong việc thừa nhận quyền của người khuyết tật Luật gồm 10 chương, 53 điều quy định quyền và nghĩa vụ của NKT; trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội đối với NKT Điểm mới của luật là tăng cường bổ sung vai trò của CTXH đối với công tác Xã hội hóa hoạt động trợ giúp NKT trong nhiều khía cạnh Trong đó nhấn mạnh dạy nghề và vấn đề việc làm cho NKT Và Luật cũng quy đinh khá chi tiết về vấn đề này tại điều 32 và 33:

Điều 32 (Luật NKT) : Quy định về Dạy nghề cho NKT:

“ 1.Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa

chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác

2 Cơ sở dạy nghề có trách nhiệm cấp văn bằng, chứng chỉ, công nhận nghề đào tạo khi người khuyết tật học hết chương trình đào tạo và đủ điều kiện theo quy định của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề

3 Cơ sở dạy nghề tổ chức dạy nghề cho người khuyết tật phải bảo đảm điều kiện dạy nghề cho người khuyết tật và được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật

4 Người khuyết tật học nghề, giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.”

Điều 33 (Luật NKT): Quy định về Việc làm với NKT:

“1 Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của người khuyết tật

Trang 28

2 Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của người khuyết tật

3 Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật

4 Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về lao động đối với lao động là người khuyết tật

5 Tổ chức giới thiệu việc làm có trách nhiệm tư vấn học nghề, tư vấn và giới thiệu việc làm cho người khuyết tật.”

Luật dạy nghề năm 2006 có quy định tại điều 7: “Hỗ trợ các đối tượng được

hưởng chính sách người có công, quân nhân xuất ngũ, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, người tàn tật, khuyết tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, người trực tiếp lao động trong các hộ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất canh tác và các đối tượng chính sách xã hội khác nhằm tạo cơ hội cho họ được học nghề để tìm việc làm,

tự tạo việc làm, lập thân, lập nghiệp.”

Trong chiến lược phát triển dạy nghề năm 2011-2020, được Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt số 630/QĐ-Ttg ngày 29/05/2012 Nhằm cụ thể hóa các chính sách, và thực thi một cách hiệu quả hỗ trợ NKT Đã nêu cụ thể một số giải pháp nhằm thực hiện đổi mới cơ bản, mạnh mẽ về dạy nghề, tạo động lực phát trển dạy nghề

Ngày 06/10/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết Định thành lập Ủy ban Quốc Gia về NKT Việt Nam, QĐ số: 1717/QĐ-Ttg Việc thành lập Ủy ban là cơ hội và tạo điều kiện để NKT phát huy được quyền của mình Phát biểu tại buổi Lễ ra mắt Ủy ban Quốc Gia về NKT Việt Nam chiều ngyà 18/01/2016, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam

nêu rõ:” Việt Nam đã có nhiều chính sách, hoạt động chăm sóc, hỗ trợ người khuyết

Trang 29

tật, đặc biệt là những nạn nhân chiến tranh Việc tạo điều kiện cho người khuyết tật là trách nhiệm của mỗi người và toàn xã hội”

Có thể nói rằng, nhà nước ta rất quan tâm chú trọng tới công tác đào tạo nghề cho NKT Bên cạnh việc thúc đấy NKT tham gia học nghề, còn đổi mới những chính sách, ưu đãi đối với các cơ sở ĐTN cho những đối tượng yếu thế Tuy nhiên, thực tế vẫn còn một số điểm chưa toàn diện Nhà nước chỉ rót vốn, đầu tư CSVC, học phí, học bổng cho các trường công Vì vậy, đây là một vấn đề còn hết sức khó khăn với những

mô hình tư thục như Hoa Sữa

Trước đây, tại thời điểm thành lập trường năm 1994 chưa có Trung tâm Thêu dành cho NKT Tuy nhiên đến năm 1997, một số gia đình có con em là trẻ khiếm thính tại Hà Nội có nhu cầu cho con em của mình theo học tại Trường đã tìm tới Hoa Sữa với mong muốn cho các em được học nghề Lãnh đạo trường Hoa Sữa đã trăn trở không biết sẽ dạy gì cho các em và dạy như thế nào?

May-Sau quá trình cân nhắc những ngành nghề phù hợp cho NKT, và phù hợp với nhu cầu của xã hội Lãnh đạo nhà trường đã quyết định chọn nghề May-Thêu để dạy cho NKT vì nó phù hợp với điều kiện sức khỏe của NKT Bên cạnh đó, nó tạo ra các sản phẩm phục vụ nhà hàng, khách sạn, dịch vụ du lịch lĩnh vực mà xã hội đang có nhiều nhu cầu, đồng thời hợp với tiêu chí du lịch mà trường đang hướng tới

Trên tinh thần chung là giúp đỡ những thanh niên có hoàn cảnh khó khăn, và yếu thế trong xã hội được học nghề và có việc làm phù hợp Hoa Sữa đã tạo điều kiện, trợ giúp NKT được ăn ở miễn phí,hỗ trợ 100% hoặc 1 phần nào chi phí học tập với từng đối tượng khác nhau

Từ những ngày đầu nhen nhóm đến khi thành lập trung tâm May-Thêu là muôn vàn những khó khăn Từ những khó khăn trong đào tạo xen kẽ giữa NKT và người không khuyết tật, Người khiếm thính với người không khiếm thính, cho đến tìm kiếm giáo viên, xây dựng chương trình học cũng gặp không ít trở ngại Vì học sinh khuyết tật thường gặp khó khăn hơn trong vấn đề lĩnh hội tri thức so với các bạn đồng trang lứa Khó khăn hơn hết là tìm kiếm, vận động các cơ quan, Doanh nghiệp cùng chung

Trang 30

tay với Hoa Sữa giải quyết việc làm cho NKT sau khi ra trường Cái khó của thời điểm

đó là xã hội nhìn nhận NKT cũng khác bây giờ, và họ chưa thực sự tin tưởng vào khả năng của NKT như vậy

Vượt lên trên những khó khăn đó, Hoa Sữa đã đạt được những thành tựu đáng

kể trong công tác ĐTN cho NKT bằng cái tâm, sự tận tụy của thầy cô giáo nhà trường

Và trở thành mô hình làm CTXH tiên phong ở Việt Nam được các tổ chức trong và ngoài nước đến học hỏi và nhân rộng mô hình

Xin được mượn lời của Cô Lê Thị Kim Phượng, nguyên là Hiệu phó nhà

trường, khi được hỏi về quan điểm của nhà trường trong đào tạo nghề cho NKT: “ Đào

tạo nghề cho những thanh niên có hoàn cảnh khó khăn nói chung và NKT nói riêng tại Hoa Sữa đã thể hiện sự nỗ lực, cố gắng không ngừng nghỉ và đồng lòng của tất cả đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường trong những năm qua Những thành tựu và sự ghi nhận của đông đảo các tổ chức, Doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đã và đang

là nguồn động lực to lớn cho nhà trường trong quá trình thực hiện sứ mệnh cao cả là giúp đỡ những thanh niên có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong cuộc sống, được học nghề và có việc làm phù hợp.”

1.3.2 Bối cảnh Kinh tế - Xã hội:

Theo dự báo lao động, đến năm 2020 Việt Nam đạt con số gần 63 triệu lực lượng lao động Trong đó, Nông nghiệp chiếm 35-38%; Công nghiệp - xây dựng chiếm 31%; dịch vụ chiếm 27-29% Ước tính tại thời điểm đấy, nhân lực qua đào tạo của Việt Nam khoảng 44 triệu người, và nguồn nhân lực được đào tạo qua hệ thống dạy nghề khoảng 34,4 triệu người Người khuyết tật, theo thống kê đến năm 2014 là 7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số Tuy nhiên đến năm 2020, dự tính số người khuyết tật chiếm 10% dân số cả nước Như vậy, số lượng NKT có xu hướng tăng lên trong tương lai Mục tiêu của Quốc gia, tới năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.21

21 Bài báo:” Chiến lược Dạy nghề Việt Nam đến năm 2020 và cơ hội hợp tác giữa Việt Nam và Vương Quốc Anh

Trang 31

Phát triển nhân lực được xem như là 1 trong 3 giải pháp đột phá của chiến lược phát triển Quốc gia năm 2011-2020 Trong đó, có thể nói rằng dạy nghề và song song với nó là chất lượng dạy nghề có vị trí đặc biệt góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh nguồn nhân lực và phát triển kinh tế - xã hội Và một đối tượng cũng được đặc biệt quan tâm trong chiến lược nhằm phát triển dạy nghề là nhóm đối tượng yếu thế, trong đó có NKT Trước bối cảnh hội nhập kinh tế của đất nước cùng các Quốc gia trong khu vực và Quốc tế, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách, chế độ quan tâm đặc biệt tới NKT nhằm phát triển hài hòa và tạo sự bình đẳng trong xã hội

1.4 Khái quát chung về trường trung cấp KT-DL Hoa Sữa:

1.4.1 Điều kiện Tự nhiên, Kinh tế xã hội của Trường Trung Cấp Kinh tế Du Lịch Hoa Sữa:

* Điều kiện Tự nhiên:

Trường TC KT – DL Hoa Sữa được xây dựng trong khuôn viên rộng gần 1 ha, nằm ngay chân đê Nguyễn Khoái cách cầu Thanh Trì 400m (tại địa chỉ số 1118 Nguyễn Khoái – Tổ 1 phường Lĩnh Nam – quận Hoàng Mai – thành phố Hà Nội) Với

vị trí của trường nằm ở khu vực xa Trung tâm thành phố, nên ở đây yên tĩnh, tốc độ Đô thị hóa chưa cao và các tệ nạn xã hội chưa phổ biến

Trong khuôn viên trường có nhiều cây xanh, các phương tiện giao thông ít qua lại nên không khí tại trường khá là trong lành Bên ngoài trường có các hộ dân cư sống bao quanh nhưng cũng thưa thớt cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng tương đối tốt

=> Với những đặc điểm điều kiện tự nhiên như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho trường Hoa Sữa trong việc ĐTN cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn

Bên cạnh đó nhà trường cũng gặp một số khó khăn như: Trường ở xa trung tâm nên không thuận lợi cho việc quảng bá, kêu gọi tài trợ, giới thiệu và cung cấp các dịch vụ, ; Các cơ sở thực hành của trường chủ yếu trong khu vực nội thành vì vậy việc gây khó khăn cho học sinh đi thực tập; Trường Hoa Sữa có địa hình khá thấp so với mặt đường và các hộ dân ở đây nên đến mùa mưa lũ nước chảy về chỗ trũng khiến trường

Trang 32

thường xuyên bị ngập làm ảnh hưởng đến các hoạt động học tập, sản xuất của nhà trường Và đoạn đường từ trên đường lớn đi xuống trường khá khó đi, dốc và nhiều đá, gây ít nhiều trở ngại cho học sinh và cả đối tượng học sinh là NKT khi đi lại

* Điều kiện kinh tế - xã hội

Việt Nam đi lên từ nông nghiệp Tuy nhiên, do nhu cầu cuộc sống và điều kiện sống khác biệt giữa thành thị và nông thôn, một số người lao động muốn ra thành thị nhằm kiếm kế sinh nhai nên đã kéo theo lượng di dân lớn từ nông thôn ra thành thị, đặc biệt trong đó có một số lượng lớn các em từ dưới 16 tuổi là những trẻ em trong độ tuổi đến trường Các em sống bằng nhiều nghề khác nhau như đánh giầy, bán báo, Điều kiện làm việc kém, đói ăn, thất học, nguy cơ bị lạm dụng cao, là những nguy cơ luôn rình rập, đe dọa và khiến các em vướng phải các TNXH Cùng với đó là sự phát triển của nền kinh tế thị trường mạnh mẽ, sự phát triển quá nhanh của đô thị, sự phân biệt giữa giàu-nghèo đã ảnh hưởng lớn tới sự bất bình đẳng trong xã hội

Trong bối cảnh đó, 6 cô giáo về hưu nhưng trong lòng còn đầy nhiệt huyết với nghề cùng với một Việt kiều Pháp- Chuyên gia ẩm thực, là đại diện cho hội nhà thuyền

và hội nhà giáo không biên giới pháp tới Việt Nam mong muốn đưa những tinh hoa ẩm thực pháp về quê hương, họ cùng chung ý tưởng đưa đất nước thoát nghèo, tạo sự bình đẳng cho các đối tượng không may mắn trong xã hội, thông qua hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên có hoàn cảnh khó khăn và sau nay với nhu cầu của những gia đình

có con em bị khuyết tât, trường đã mở thêm trung tâm may – thêu để đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho người khuyết tật Ngày 7/11/1994, trường Hoa Sữa chính thức được thành lập22 Trường thành lập trung tâm dạy nghề May – Thêu cho thanh niên khuyết tật năm 1997 do Bà Nguyễn Ly Nga, làm Giám đốc Trung tâm (1997-2011) Mục tiêu của Trung tâm là dạy nghề và giới thiệu việc làm cho em sau khi tốt nghiệp đến làm việc tại các đối tác doanh nghiệp may như: Nhà may Chula, Nhà may Dương

22 Quyết định về việc thành lâọ trường Nữ công tư thục Hoa Sữa, số 2940/QĐUB của UBND thành phố Hà Nội

Trang 33

Gia, , Nhà may Vân Thông và xưởng Thêu ren truyền thống (trong Thiên đường Bảo Sơn), Nhà mốt Xuân…

Trong tình hình kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, các cơ sở về lĩnh vực may mặc và thêu gặp nhiều khó khăn nên nhân sự bị cắt giảm, một số học sinh bị thất nghiệp Ban Giám Hiệu Nhà trường quyết định thành lập xưởng sản xuất hỗn hợp may

và thêu để tạo ra sản phẩm thủ công, các sản phẩm phục vụ cho thực hành bàn – bếp - bánh và các sản phẩm là đồng phục nhà hàng thực hành và dịch vụ…Trường Hoa Sữa

là khách hàng tiêu thụ sản phẩm đồng phục thực hành bàn – bếp – bánh và các đồng phục tại hệ thống nhà hàng dịch vụ của Trường Bên cạnh đó Trung tâm đã nhận được

sự giúp đỡ thông qua việc đặt mua các sản phẩm may thêu như: Trường Citymart, Khách sạn Sapa View ( Sapa), Công ty Dầu khí, Trung tâm Trẻ em Rồng Xanh Nhà trường được sự ưu ái của một số đơn vị đối với học sinh khuyết tật thông qua việc giới thiệu gian hàng trưng bày sản phẩm may thêu tại các Hệ thống siêu thị của Big C: Big

C Thăng Long, Big C Long Biên, Big C Việt Trì, Big C Vĩnh Phúc, Big C Mê Linh…Trường mở gian hàng giới thiệu sản phẩm tại: trụ sở chính của Trường số 1118 đường Nguyễn Khoái, Hà Nội, Nhà hàng Hoa Sữa – Số 2A ngõ Hàng Chuối 2, Phạm Đình Hổ, Hai Bà Trưng, Hà Nội: nhà hàng Hoa Sữa – Baguette&Chocolathanoi trong Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, Nguyễn Văn Huyên, Cầu Giấy, Hà Nội; nhà hàng Hoa Sữa – Baguette&Chocolatsapa, Thác Bạc, Sapa, Lào Cai và cửa hàng Bánh Le Croissant số 1 Phạm Hồng Thái, Hội An; nhà hàng Hoa Sữa - Baguette&Chocolathoian 238 Cửa Đại, Hội An, Quảng Nam Trong những năm tới, nhà trường sẽ còn tiếp tục mở rộng hệ thống đào tạo cũng như hệ thống nhà hàng, cửa hàng thực hành tại Miền Trung như Quảng Nam, Huế

=> Bên cạnh mặt thuận lợi có được để được sự thừa nhận của xã hội như ngày hôm nay trường Hoa Sữa đã phải vượt lên rất nhiều khó khăn mà chủ yếu là khó khăn

về tài chính Mô hình trường Hoa Sữa được nhiều nơi đến học hỏi kinh nghiệm và đề nghị nhân rộng và đây là một mô hình khá lý tưởng đối với các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn nói chung và người khuyết tật nói riêng

Trang 34

1.4.2 Tóm tắt lịch sử hình thành và phát triển của Trường TC KT-DL Hoa Sữa:

1994 – 1995: Ý tưởng thành lập và nền móng đầu tiên

Trường Hoa Sữa thành lập vào năm 1994 với tên gọi “trường Nữ công Tư thục Hoa Sữa” và 23 học sinh Sáu giáo viên nữ về hưu (bà Phạm Thị Vy, bà Đoàn Khuê, bà Phạm Kim Ánh, bà Nguyễn Xuân Trinh, bà Phan Tuyết Lan, bà Trương Bảo Lan) đã chọn “dạy nghề từ thiện cho thanh niên khó khăn làm mục đích hoạt động trước những trăn trở về một cơ hội thay đổi cuộc sống cho những người thiệt thòi và bất hạnh Dự án đầu tiên với Hội Nhà thuyền và Hội Nhà giáo không Biên giới Pháp năm 1995 triển khai chương trình đào tạo nghề Nấu ăn Âu, Bánh mỳ - Bánh ngọt và Phục vụ Bàn

1996 – 1998: Di chuyển địa điểm và hoạch định hoạt động

Từ 6C Phan Chu Trinh, trường di chuyển khu đào tạo tới 449 Bạch Mai và nhà hàng thực hành tới 81 Thợ Nhuộm Trường bắt đầu ký thoả thuận hợp tác với Chương trình Hỗ trợ phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) và Tổ chức Công giáo Chống Đói nghèo và vì sự Phát triển (CCFD- Pháp) tăng cường năng lực đào tạo nghề và tìm việc làm cho thanh niên khó khăn Những thành công bước đầu chứng tỏ hướng đi đúng đắn cho Hoa Sữa, giúp trường tạo dựng được uy tín trong xã hội Sự ra đời của nghề đào tạo May - Thêu cho đối tượng thanh niên khuyết tật là bước tiếp nối hoạt động xã hội mà Hoa Sữa luôn theo đuổi

1999 – 2001: Hoàn thiện cơ sở vật chất

Hoa Sữa được Nhà nước cấp 2000m2 đất tại Lĩnh Nam, Thanh Trì, Hà Nội Trường xây dựng khu nội trú do Quỹ Phát triển VHXH, ĐSQ Tây Ban Nha và khu đào tạo thực hành nghề nhà hàng, khách sạn do tổ chức CCFD và Bộ Ngoại giao Pháp tài trợ

2002 – 2005: Ghi nhận trong nước và quốc tế

Trường đổi tên thành “Trường Trung học Tư thục Kinh tế - Du lịch Hoa Sữa”

và hợp tác với tập thể đối tác Pháp đào tạo cấp bằng nghề hỗn hợp Việt – Pháp Năm

2005, Hoa Sữa nhận giải thưởng Nhân quyền của CH Pháp trở thành Trung tâm thẩm

Trang 35

định nghề theo khuôn khổ dự án “Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam” của Tổng cục Du lịch và Liên minh châu Âu

2006 - nay: Liên tục phát triển uy tín

Trường mở thêm hệ đào tạo nghề và Trung cấp chuyên nghiệp cho các đối tượng có nhu cầu Năm 2008, trường đổi tên thành trường Trung cấp Kinh tế - Du lịch Hoa Sữa Từ năm 2009, trường chính thức chọn ngày 8/11 là ngày kỷ niệm thành lập trường theo Quyết định số 2940/QĐUB của UBND thành phố Hà Nội.23

1.4.3 Chức năng, nhiệm vụ của trường TC KT-DL Hoa Sữa:

Biểu 1: Sơ đồ các Phòng ban chức năng:

23 Trường Hoa Sữa đồng hành cùng sự phát triển của du lịch Việt Nam

Ban Giám hiệu

Khối thực hành SX

Khối hỗ trợ

Khối đào tạo

QL chất lượng

Khoa chế biến món ăn

Trung tâm May - Thêu Phòng CTHS

Hội đồng quản trị

Phòng Đào tạo

Khoa quản trị nhà hàng khách sạn

Trang 36

(Nguồn: Tài liệu do phòng Đào tạo trường Hoa Sữa cung cấp)

Mỗi trường có một cách sắp xếp hệ thống bộ máy tổ chức khác nhau Xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt của mình trong ĐTN cho thanh thiếu niên có hoàn cảnh khó khăn (trường tư thục làm CTXH, coi trọng việc thực hành nhiều rèn luyện

kỹ năng nghề cho học sinh,…) Trường Hoa Sữa có một Hệ thống tổ chức bộ máy riêng biệt Hệ thống bộ máy tổ chức của trường TC KT – DL Hoa Sữa được chia thành 4 hệ thống nhỏ: Quản lý chất lượng, Khối đào tạo, Khối hỗ trợ và Khối thực

hành sản xuất

Chức năng, nhiệm vụ của các Phòng ban:

Ban giám hiệu: Chịu trách nhiệm quản lý chung tất cả các hoạt động của

trường Đảm bảo phát triển đúng theo mục tiêu, định hướng hoạt động của nhà trường Lên kế hoạch cho sự phát triển của trường và dẫn dắt hoạt động để đạt được hiệu quả Công tác đối ngoại

P1 Phòng Công tác học sinh:Tham mưu, quản lý và tổ chức thực hiện các

nhiệm vụ trong các lĩnh vực: Công tác chính trị, tư tưởng; Quản lý học sinh, sinh viên; Quản lý kí túc xá; Học bổng Giúp Hiệu trưởng về công tác giáo dục, quản lý,

khen thưởng, kỷ luật và chế độ chính sách của học sinh trong trường.Nhiệm vụ:

+ Phối hợp với các đơn vị tổ chức tiếp nhận thí sinh trúng tuyển vào học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhà trường, chỉ định Ban cán sự lớp sinh viên lâm thời (lớp trưởng, lớp phó) trong thời gian đầu khoá học

+ Quản lý Ký túc xá của trường, tổ chức tiếp nhận, tiếp sắp xếp nơi ở nội trú cho học sinh của trường Giải quyết các công việc hành chính có liên quan cho học sinh, sinh viên

+ Thống kê, tổng hợp dữ liệu, kiểm tra, phân loại quản lý hồ sơ của sinh viên, xác minh và bổ sung kịp thời những trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ

P2 Phòng Đào tạo

- Ban Tuyển sinh, thực tập việc làm: Chức năng, nhiệm vụ:

Trang 37

+ Phụ trách các hoạt động liên quan đến tuyển sinh, thực tập và việc làm: lập

kế hoạch tuyển sinh hàng năm và từng đợt; kế hoạch thực tập hàng năm của các khóa; tuyển sinh,…

+ Duy trì mạng lưới đối tác tuyển sinh, thực tập và việc làm

+ Xây dựng mạng lưới việc làm với các nhà kinh doanh trong lĩnh vực du lịch (khách sạn, nhà hàng) trong và ngoài nước để duy trì lâu dài việc giới thiệu thực tập và đi làm của học sinh

+ Sắp xếp kiến tập, thực tập cho giáo viên, học sinh trường Hoa Sữa Tìm kiếm việc làm cho học sinh sau khi tốt nghiệp

+ Lấy phản hồi từ các nhà tài trợ để nâng cao chất lượng đào tạo, tiến tới thu hồi một phần kinh phí đào tạo

- Ban Đào tạo: Chức năng, nhiệm vụ:

+ Theo dõi hoạt động dạy – học và thực hành của giáo viên và học sinh trong toàn trường Xây dựng kế hoạch đào tạo, lập thời khóa biểu cho các khóa học Quản lý: chương trình đào tạo, tiến độ giảng dạy, học sinh toàn trường,…

+ Duy trì mạng lưới hợp tác đào tạo với các trường, tổ chức trong và ngoài nước trong việc đảm bảo lâu dài chất lượng đào tạo của trường Hoa Sữa

P3 Trung tâm May – Thêu: Hoạt động độc lập Trung tâm tự chủ về mặt tài

chính Nhiệm vụ chủ yếu là ĐTN cho học sinh khuyết tật, tìm đầu vào và đầu ra cho sản phẩm Và chỗ để GTVL cho học sinh khuyết tật sau khi ra trường

P4 Phòng tài chính – Kế toán:Quản lý trực tiếp công tác tài chính, kế toán

và tham mưu, đề xuất ý kiến giúp Hiệu trưởng tổ chức quản lý và thực hiện công tác hoạt động tài chính, kế toán của Nhà trường.Nhiệm vụ:

+ Quản lý thống nhất toàn bộ hoạt động tài chính, kế toán trong Nhà trường Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của Nhà trường và xây dựng dự toán thu, chi hàng năm của Nhà trường theo qui định của Nhà nước

Trang 38

+ Xây dựng kế hoạch, dự trù, phân bổ kinh phí nhằm bảo đảm phục vụ yêu cầu giảng dạy, học tập và sinh hoạt của nhà trường

+ Quản lý tài chính, hoạt động kế toán theo quy định hiện hành Huy động các nguồn thu.Tổ chức cấp phát, chi trả, đúng, đủ, kịp thời và chính xác

+ Quản lý tài sản, kiểm kê, khấu hao tài sản định kỳ theo quy định

P5 Trung tâm tuyển sinh- hướng nghiệp và giới thiệu việc làm: Chịu trách

nhiệm tuyển sinh tất cả các hệ, các hình thức đào tạo của trường : Trung cấp, sơ cấp, ngắn hạn, đào tạo theo yêu cầu

P6 Phòng Hành chính – Thư viện: Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện

công tác hành chính Thực hiện nghiệp vụ chuyên môn về văn thư, hành chính Trực

tiếp làm nghiệp vụ chuyên môn và nhiệm vụ kế hoạch của Thư viện.Nhiệm vụ:

+ Điều phối nhân lực, phương tiện thực hiện các nhiệm vụ trung tâm: Bố trí thời gian, địa điểm tổ chức các Hội nghị cấp Trường; Tổ chức tiếp khách chuẩn bị

nơi làm việc, ăn ở, đi lại của khách trong và ngoài nước đến trường công tác;…

+ Trực điện thoại, in ấn, kiểm soát, phát hành, lưu trữ các văn bản gửi đi

Nhận, sao gửi, gửi và lưu trữ các văn bản gửi đến

+ Tìm nguồn sách báo, tạp chí (dự trù mua, xin viện trợ) đầy đủ, kịp thời, đa dạng, đáp ứng yêu cầu phục vụ mục tiêu, đối tượng đào tạo của trường Vào sổ phân

loại, sắp xếp SBTC vào tủ: Dễ tìm, dễ thấy, dễ lấy, dễ kiểm tra, dễ vệ sinh, dễ quản lý

P7 Trạm Y tế, tham vấn tâm lý:

- Trạm y tế: Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe,

vệ sinh ATTP, vệ sinh ATLĐ của Trường Tổ chức thực hiện nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật về phòng chữa bệnh theo quy định của Bộ Y tế.Nhiệm vụ:

+ Lập kế hoạch công tác y tế hàng năm, hàng tháng và trực tiếp làm nhiệm vụ chuyên môn theo quy định của Bộ y tế, của trường

Trang 39

+ Tổ chức thực hiện công tác khám chữa bệnh hàng ngày tại trạm y tế Trường, khám sức khỏe tuyển sinh, khám sức khỏe định kỳ cho giáo viên, nhân viên và học sinh

+ Hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh ATTP, ATLĐ và đôn đốc, giám sát các đơn vị thực hiện Kiểm kê thuốc, vật tư y tế hàng tháng Lập kế hoạch mua và kiểm tra chất lượng thuốc, vật tư

- Tham vấn tâm lý: Cung cấp các thông tin, kiến thức cơ bản cho học sinh về sức khỏe sinh sản, về các vấn đề mà học sinh có nhu cầu cần tìm hiểu

+ Hỗ trợ về mặt tâm lý cho học sinh khi cần thiết, kịp thời can thiệp tâm lý khi các em gặp khó khăn trong cuộc sống

Ngoài ra nhà trường còn có hệ thống các nhà hàng thực hành Nơi không chỉ giúp các học sinh thực hành mà còn là nơi tiếp nhận bao thế hệ học trò của Trường sau khi tốt nghiệp được nhận vào làm việc

Hệ thống nhà hàng thực hành: Hệ thống Nhà hàng thực hành của trường được

mở ra để rèn luyện kỹ năng nghề Nhà hàng thực hành và các địa điểm giới thiệu sản phẩm là nơi các nhà tuyển dụng đánh giá chất lượng đào tạo của trường qua đó lựa chọn và tuyển dụng học sinh sau tốt nghiệp Tại đây, học sinh có điều kiện xây dựng

kỹ năng nghề với sự hướng dẫn của giáo viên và có thể phục vụ trực tiếp nhu cầu của khách hàng Lợi nhuận của các nhà hàng thu về dùng để mua nguyên liệu thực hành và các chi phí đào tạo khác Các nhà hàng thực hành chịu trách nhiệm quảng bá sản phẩm của nhà trường( Quản lý học sinh thực hành, dịch vụ ăn uống ra bên ngoài).Hệ thống thực hành của trường Hoa Sữa bao gồm: Nhà hàng Song Thư (34 Châu Long, Ba Đình,

Hà Nội); Cửa hàng bánh Le Croissant và Cơ sở giới thiệu sản phẩm May – Thêu (21D

Hạ Hồi, Hoàn Kiếm, Hà Nội); Café Smile (Số 5 Văn Miếu, Ba Đình, Hà Nội); Nhà hàng thực hành trong Bảo tàng Dân tộc học (Đường Nguyễn Văn Huyên, Cầu Giấy, Hà

Trang 40

Nội); Khách sạn mini Baguette&Chocolat (Số 10 Thác Bạc, Sapa, Lào Cai); Bộ phận Tiệc số 1118 Nguyễn Khoái, Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội);…27

=> Hệ thống tổ chức bộ máy của trường Hoa Sữa có nhiều khác biệt so với các

trường Trung cấp nghề khác, do mục đích đào tạo của trường riêng biệt

27 Những điều cần biết về Trường Trung cấp Kinh tế -Du lịch Hoa Sữa

Ngày đăng: 21/02/2017, 17:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức tuyển dụng  Chức danh  Trình độ đào tạo - Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động qua các hoạt động  trợ giúp của CTXH (nghiên cứu trường hợp tại trường trung cấp kinh tế   du lịch hoa sữa)
Hình th ức tuyển dụng Chức danh Trình độ đào tạo (Trang 42)
Bảng 2: Cơ sở vật chất Trường TC KT-DL Hoa Sữa năm 2014-2015 - Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động qua các hoạt động  trợ giúp của CTXH (nghiên cứu trường hợp tại trường trung cấp kinh tế   du lịch hoa sữa)
Bảng 2 Cơ sở vật chất Trường TC KT-DL Hoa Sữa năm 2014-2015 (Trang 50)
Bảng 3: Một số thông tin cơ bản về NKT tại Hoa Sữa - Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động qua các hoạt động  trợ giúp của CTXH (nghiên cứu trường hợp tại trường trung cấp kinh tế   du lịch hoa sữa)
Bảng 3 Một số thông tin cơ bản về NKT tại Hoa Sữa (Trang 54)
Bảng 4: Các hệ đào tạo của Trường Trung cấp Kinh tế Du Lịch Hoa Sữa - Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động qua các hoạt động  trợ giúp của CTXH (nghiên cứu trường hợp tại trường trung cấp kinh tế   du lịch hoa sữa)
Bảng 4 Các hệ đào tạo của Trường Trung cấp Kinh tế Du Lịch Hoa Sữa (Trang 56)
Biểu 2: Sơ đồ quy trình tuyển sinh chung của trường TC KT – DL Hoa Sữa:  (Nguồn: Phòng Công tác học sinh Trường Hoa Sữa cung cấp) - Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động qua các hoạt động  trợ giúp của CTXH (nghiên cứu trường hợp tại trường trung cấp kinh tế   du lịch hoa sữa)
i ểu 2: Sơ đồ quy trình tuyển sinh chung của trường TC KT – DL Hoa Sữa: (Nguồn: Phòng Công tác học sinh Trường Hoa Sữa cung cấp) (Trang 65)
Bảng 5: Các đối tượng ưu tiên của Hoa Sữa - Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động qua các hoạt động  trợ giúp của CTXH (nghiên cứu trường hợp tại trường trung cấp kinh tế   du lịch hoa sữa)
Bảng 5 Các đối tượng ưu tiên của Hoa Sữa (Trang 66)
Bảng 6: Các nguồn lực trợ giúp từ các tổ chức Quốc tế đối với trường Hoa  Sữa. - Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho người khuyết tật vận động qua các hoạt động  trợ giúp của CTXH (nghiên cứu trường hợp tại trường trung cấp kinh tế   du lịch hoa sữa)
Bảng 6 Các nguồn lực trợ giúp từ các tổ chức Quốc tế đối với trường Hoa Sữa (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w