Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non huyện Hóc Môn vẫn còn nhiều bất cập: đội ngũ giáo viên mầm non dù đa số đã đạt ch
Trang 11
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
NGUYỄN THỊ THANH TIÊN
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN HÓC MÔN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 22
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
NGUYỄN THỊ THANH TIÊN
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN HÓC MÔN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 8 14 01 14 Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THẾ LƯU
Đồng ý tên đề tài và nội dung của luận văn
Kí và ghi rõ họ tên
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Nguyễn Thị Thanh Tiên
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực theo thực tế nghiên cứu, chưa từng được bất cứ tác giả nào khác nghiên cứu
và công bố
Trong luận văn có sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, của cơ quan tổ chức đều được trích dẫn và chú thích nguồn gốc đầy đủ
Tp HCM, ngày 30 tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Tiên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo trường Đại học Sài Gòn đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Bằng tình cảm chân thành, kính trọng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến TS Trần Thế Lưu - người Thầy đã dành nhiều thời gian quan tâm, chỉ bảo tận tình, trực tiếp giúp đỡ, động viên và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài cho đến khi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban Giám hiệu tất cả các Trường mầm non; các giáo viên Trường MG Bông Sen 1, MG Bé Ngoan 1, MN Bé Ngoan, MN 19/8, MN Bé Ngoan 3, MN Tân Xuân, MN Tân Hòa, MN Sơn Ca, MN Sơn Ca 3 trên huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ, tham gia đóng góp ý kiến, cung cấp
tư liệu, số liệu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã luôn động viên, khuyến khích, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Kính chúc quý thầy, cô cùng quý đồng nghiệp luôn dồi dào sức khỏe, thành công trong công tác
Tp HCM, ngày 30 tháng 11 năm 2018
Nguyễn Thị Thanh Tiên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT VII
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu 5
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 5
4 Giả thuyết nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Dự kiến đóng góp mới của luận văn 7
9 Cấu trúc của đề tài 8
CHƯƠNG 1 9
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 9
Ở TRƯỜNG MẦM NON 9
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 9
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 13
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 16
1.2.1 Khái niệm hoạt động dạy học ở trường mầm non 16
1.2.2 Khái niệm quản lí và quản lí hoạt động dạy học ở trường mầm non 19
1.3 HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON 25
1.3.1.Mục tiêu của hoạt động dạy học ở trường mầm non 25
1.3.2 Nội dung của hoạt động dạy học ở trường mầm non 26
Trang 61.3.3 Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học ở trường mầm
non 27
1.3.4 Kiểm tra, đánh giá trong dạy học ở trường mầm non 30
1.4 NỘI DUNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON 30
1.4.1 Lập kế hoạch dạy học ở trường mầm non 30
1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học ở trường mầm non 31
1.4.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch dạy học ở trường mầm non 35
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch dạy học ở trường mầm non 36
1.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON 37
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 37
1.5.2 Các yếu tố khách quan 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2 40
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 40
2.1 Khái quátvề huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh 40
2.1.1 Tình hình kinh tế xã hội huyện Hóc Môn 40
2.1.2 Tình hình giáo dục mầm nontrên địa bàn huyện Hóc Môn 40 2.2 Thực hiện nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy học ở các trườngmầm non thuộc huyện Hóc Môn,Thành phố Hồ Chí Minh 41
2.2.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng 41
2.2.2 Nội dung nghiên cứu 41
2.2.3 Mẫu khảo sát thực trạng 42
2.2.4 Phương pháp thực hiện và quy ước thang đo 42
2.3 Thực trạng hoạt động dạy học cho trẻ ở các trường mầm non trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh 43
2.3.1 Thực trạng về đội ngũ giáo viên ở các trường mầm non trên địa bàn huyện 43
Trang 72.3.2 Thực trạng nhận thức về ý nghĩa hoạt động dạy học ở trường
mầm non trên địa bàn huyện 46
2.3.3 Thực trạng nhận thức về mục tiêu hoạt động dạy học ở các trường mầm non trên địa bàn huyện 49
2.4 Thực trạng về công tác quản lí hoạt động dạy học cho trẻ ở cáctrường mầm non trên địa bàn huyện Hóc MônThành phố Hồ Chí Minh 51
2.4.1 Kế hoạch hoạt động dạy và học ở các trường mầm non trên địa bàn huyện 51
2.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động dạy và học ở các trường mầm non trên địa bàn huyện 54
2.4.3 Chỉ đạo hoạt động dạy và học ở các trường mầm non trên địa bàn huyện 64
2.4.4 Kiểm tra - đánh giá hoạt động dạy và học ở các trường mầm non trên địa bàn huyện 66
2.5 Thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng và nguyên nhân hạn chế trong hoạt động dạy và học ở các trường mầm non trên địa bàn huyện 68 2.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dạy học 68
2.5.2 Nguyên nhân hạn chế trong hoạt động dạy học 69
2.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh 71
2.6.1 Ưu điểm 71
2.6.2 Hạn chế 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
CHƯƠNG 3 74
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 74
3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 74
3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 74
3.1.2 Đảm bảo tính pháp lý 74
3.1.3 Đảm bảo tính kế thừa 75
3.1.4 Đảm bảo tính vừa sức 75
Trang 83.1.5 Đảm bảo tính hệ thống 75
3.2 Biện pháp quản lí hoạt động dạy học cho trẻ ở các trường mầm non thuộc huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh 75
3.2.1 Nâng cao nhận thức về ý nghĩa và mục tiêu của hoạt động dạy học ở trường mầm noncho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí 75
3.2.2 Xây dựng kế hoạch hoạt động dạy học ở trường mầm non theo hướnglấy trẻ làm trung tâm 78
3.2.3 Đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học đáp ứng nhu cầuđiều kiện nhà trường 81
3.2.4 Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong và ngoài nhà trường đảm bảo chất lượng của hoạt động dạy học cho trẻ 83
3.2.6 Mối quan hệ giữa các biện pháp 87
3.3 Trưng cầu ý kiến chuyên gia về các biện pháp 87
3.3.1 Thực hiện trưng cầu ý kiến chuyên gia 87
3.3.2 Kết quả thực hiện trưng cầu ý kiến chuyên gia 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 100
Trang 104
Trang 111 Bảng 2.1: Thông tin chung về giáo viên và cán bộ
2 Bảng 2.2: Kết quả khảo sát về nhận thức ý nghĩa
3 Bảng 2.3: Kết quả khảo sát về nhận thức mục tiêu
4 Bảng 2.4: Kết quả khảo sát về thực trạng xây dựng
5 Bảng 2.5: Kết quả khảo sát về thực trạng thực hiện
6 Bảng 2.6: Kết quả khảo sát về thực trạng thực hiện
7 Bảng 2.7: Kết quả khảo sát về thực trạng kiểm tra -
8 Bảng 2.8: Kết quả khảo sát về thực trạng các yếu tố
9 Bảng 2.9: Kết quả khảo sát về các nguyên nhân hạn
1 Bảng 3.1: Kết quả khảo sát về đánh giá tính cần thiết 81
Trang 120 và khả thi của các biện pháp
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, để phát triển kinh tế - xã hội, tất cả các quốc gia trên thế giới đều chú trọng việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt chú trọng đến giáo dục Việt Nam, với xu thế hội nhập quốc tế và bước vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề chất lượng nguồn nhân lực được đặt lên hàng đầu Đại hội lần thứ XI, các đột phá phát triển kinh tế - xã hội 2011 -
2020 Đảng ta đã nhấn mạnh: “Phát triển nhanh nguồn lực, nhất là nguồn lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ ”[5], và tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng ta lần thứ XII tiếp tục khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, với tiến bộ khoa học - công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động”[7] Muốn vậy, ngay từ bậc học mầm non, học sinh phải được trang bị đầy đủ kiến thức, năng lực, phẩm chất cần thiết đáp ứng mục tiêu giáo dục đã đề ra
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa
XI đã nêu mục tiêu cụ thể đối với giáo dục mầm non: “Giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1 Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020 Từng bước chuẩn hóa hệ thống các
Trang 14trường mầm non Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục”[6].
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên, nền tảng của bậc học phổ thông, của hệ thống giáo dục quốc dân Chính vì thế, muốn nâng cao chất lượng GD -
ĐT thì cần thiết phải bắt đầu từ việc nâng cao chất lượng giáo dục của cấp học mầm non Giáo dục mầm non là nhân tố quan trọng trong việc xây dựng cấp học mầm non trở thành cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, tạo điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí và trang bị những cơ sở ban đầu hết sức trọng yếu để phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam tương lai Muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì yếu tố quan trọng hàng đầu là nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
Trong các trường mầm non GV là người có uy tín, là “thần tượng” đối với tuổi nhỏ, là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục mầm non, vì họ là những người trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ, là lực lượng chủ yếu thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường Người GV có vai trò quyết định đối với quá trình dạy và học, một lực lượng có “chức năng đặc biệt” chi phối và định hướng cho nguồn nhân lực tương lai của đất nước GV thông qua các hoạt động giảng dạy và giáo dục góp phần cung cấp những kiến thức cơ bản cần thiết cho học sinh Đồng thời cũng chính giáo viên là người có ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình hình thành nhân cách các công dân trẻ tuổi Chính vì thế, báo cáo của Bộ chính trị tại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX đã nêu chủ trương: “đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục đủ sức đủ tài cùng với đội ngũ nhà giáo và toàn xã hội chấn hưng nền giáo dục nước nhà” và “chú trọng việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống nhà giáo”
Trang 15Hoạt động dạy học là hoạt động quan trọng, chủ yếu, có vai trò quyết định đến chất lượng giảng dạy của người thầy, quyết định sự tồn tại và phát triển của nhà trường, là một trong những hoạt động quan trọng nhất trong nhà trường, nó quyết định vấn đề sinh tồn của nhà trường, quyết định đến chất lượng giáo dục Chính vì vậy mà “Quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non” có tầm quan trọng chiến lược, có tính chất quyết định chất lượng giáo dục và dạy học trong nhà trường, bởi lẽ lao động sư phạm là lao động sáng tạo, đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức sâu và toàn diện, luôn bổ sung cái mới nhằm hoàn thiện nghệ thuật sư phạm Tính đa dạng, phức tạp của hoạt động giảng dạy - giáo dục đòi hỏi người lãnh đạo nhà trường phải thường xuyên chú ý đến hoạt động chuyên môn của giáo viên
Hoạt động dạy học mầm non rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ Bởi não con người phát triển đặc biệt nhanh chóng trong ba năm đầu đời và nếu không nhận được sự kích thích đầy đủ trong giai đoạn này, phát triển sẽ bị chậm lại, đôi khi là mãi mãi Những năm đầu đời mang lại một “cửa sổ cơ hội” để đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ về kỹ năng ngôn ngữ, khả năng xã hội, suy nghĩ và thể chất về sau này của trẻ [34]
Ngoài ra, hoạt động dạy học ở trường mầm non còn cung cấp những biểu tượng riêng lẻ, hệ thống hiện thực xung quanh của trẻ Mặt khác, giúp trẻ định hướng trong không gian, trong môi trường xung quanh và chuẩn bị cho trẻ lĩnh hội các tri thức khoa học ở các cấp học sau này Bên cạnh đó, hoạt động dạy học còn giúp trẻ hình thành những kỹ năng, kỹ xảo cảm giác vận động, sử dụng đồ vật, đồ chơi và các hoạt động tạo hình, âm nhạc; hình thành ở trẻ những kỹ xảo nhận thức, các hoạt động trí tuệ, ngôn ngữ và học tập Đồng thời, giáo dục và phát trẻ hứng thú, động cơ học tập, năng lực nhận thức, tình cảm ý chí và các phẩm chất tâm lý cá nhân phù hợp với trẻ
Trang 16Trong nhiều năm qua, giáo dục mầm non Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và huyện Hóc Môn nói riêng đã có bước phát triển đáng ghi nhận nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao chất lượng giáo dục để học sinh được phát triển một cách toàn diện Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non huyện Hóc Môn vẫn còn nhiều bất cập: đội ngũ giáo viên mầm non dù đa số đã đạt chuẩn và trên chuẩn
về trình độ đào tạo nhưng vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, chưa đáp ứng yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học; tỉ lệ giáo viên lớn tuổi vẫn còn cao; chế độ, chính sách động viên giáo viên còn nhiều bất cập…
Vì các lí do nói trên, việc nghiên cứu đề tài “Quản lí hoạt động dạy học
ở các trường mầm non huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh” là hết
sức cần thiết, góp phần đóng góp trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học ở các trường mầm non của huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 172 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non và khảo sát đánh giá thực trạng về quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, luận văn đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non trên địa bàn huyện góp phần nâng cao chất lượng dạy học cho giáo viên ở các trường mầm non của huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học ở các trường mầm non
Đối tượng nghiên cứu: Quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết nghiên cứu
Việc quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã có những kết quả nhất định, tuy nhiên còn nhiều tồn tại trong việc thực hiện các chức năng quản lí hoạt động dạy học như: chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học cho giáo viên, có thể ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng giáo dục của huyện
Nếu xây dựng được hệ thống lí luận về quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non và làm sáng tỏ thực trạng về quản lí hoạt động dạy học cho giáo viên ở các trường mầm non huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh thì
sẽ đề xuất được các biện pháp quản lí hoạt động dạy học cho giáo viên huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh có tính cấp thiết vả khả thi, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường mầm non trong tình hình mới
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non
Trang 185.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động dạy học ở các trường mầm non và quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh và khảo nghiệm nhận thức về tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản lí hoạt động dạy học của Hiệu trưởng ở các trường mầm non huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
Về địa bàn nghiên cứu: Đề tài khảo sát 10/17 trường mầm non công lập huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh: Trường MN 2/9, Trường MN Sơn
Ca, Trường MN Bé Ngoan, Trường MN Tân Xuân, Trường MN Sơn Ca 3, Trường MG Bông Sen 1, Trường MN Bé Ngoan, Trường MN Tân Hoà, Trường MG Bé Ngoan 1, Trường MN 19/8
Về khách thể khảo sát: khảo sát Phó trưởng phòng, các chuyên viên bậc học mầm non Phòng Giáo dục và Đào tạo, Hiệu trưởng và giáo viên ở các trường mầm non huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
Về thời gian nghiên cứu: từ năm học 2016 - 2017 đến năm học 2017 - 2018 Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học của Hiệu trưởng đối với giáo viên ở các trường mầm non huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu, tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến
Trang 19hoạt động dạy học cho giáo viên ở các trường mầm non để xây dựng khung lí luận về quản lí hoạt động dạy học cho giáo viên ở trường mầm non
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: để quan sát những hoạt động quản lí dạy học của giáo viên mầm non
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: để tìm hiểu thực trạng hoạt động dạy học của giáo viên ở trường mầm non và quản lí hoạt động dạy học cho giáo viên ở trường mầm non; để khảo sát tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất
Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn cán bộ quản lí, giáo viên về hoạt động dạy học của giáo viên ở các trường mầm non và quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu, kết quả nghiên cứu thu thập được trong quá trình nghiên cứu
8 Dự kiến đóng góp mới của luận văn
Về lí luận: Hệ thống hóa lí luận về quản lí hoạt động dạy học ở trường mầm non; hình thành khung lí thuyết về quản lí hoạt động dạy học ở trường mầm non
Về thực tiễn: Làm rõ thực trạng quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
Đề xuất được một số biện pháp quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 209 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của quản lí hoạt động dạy học ở trường mầm non Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non
huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động dạy học ở các trường mầm non
huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Hoạt động dạy học cũng như công tác quản lí hoạt động dạy học trong trường mầm non luôn được sự quan tâm nghiên cứu từ nhiều nhà chuyên môn nhằm giúp hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em Trong phần này, người nghiên cứu trình bày những công trình liên quan đến nghiên cứu vấn đề,
cụ thể:
Đầu tiên cách thức rèn luyện tính cách, đạo làm người của Khổng Tử (551 - 479 TCN) - Nhà triết học nổi tiếng của Trung Quốc và cũng là người khai sinh ra Nho giáo Ông cho rằng, để giúp con người có những nét tính cách riêng cần phải rèn luyện thường xuyên và ngay từ lúc còn nhỏ “Tập được từ lúc nhỏ như thiên tính, thói quen như tự nhiên”, đối với người dạy phải “phát huy tính tích cực, sáng tạo, phát huy năng lực, nội sinh, dạy học sát đối tượng,
cá biệt hóa đối tượng, kết hợp học và hành, lý thuyết với thực tiễn, phát triển hứng thú, động cơ ý chí người học” Đồng thời, ông xây dựng học thuyết
“Nhân - Trí - Dũng”, trong đó “Nhân” là tình cảm là tình thương con người
Từ đó, trong quá trình luyện tập cho trẻ, đòi hỏi nhà giáo dục phải thực hiện thường xuyên và đặt yếu tố tình thương lên hàng đầu [23,tr.57]
Ngoài ra, theo trường phái phát triển có ba yếu tố cần lưu ý trong hoạt động sư phạm, giáo dục trẻ như: (1) Dạy học không bao giờ có thể trực tiếp vì trẻ em không nhận ngay những gì được nói ra Thay vào đó trẻ em chuyển hoá cái chúng nghe thấy bằng chính kiến thức và trải nghiệm của bản thân Do vậy,
Trang 22bất cứ điều gì người dạy nói với một đứa trẻ là đã tước đi cơ hội tự thân khám phá của trẻ; (2) Kiến thức không phải thông tin có thể được phân phát một đầu
và mã hóa, lưu trữ, lấy ra và tái sử dụng ở một đầu khác Mà kiến thức là trải nghiệm được xây dựng thông qua tương tác với thế giới (con người và sự vật)
Do vậy, trong quá trình dạy học không đánh đồng kiến thức với thông tin - và xây dựng kiến thức với quá trình xử lý thông tin; (3) Một giáo viên giỏi là một người giúp cho trẻ em khám phá, biểu lộ, trao đổi - và mở rộng - quan điểm của họ từ bên trong Người giáo viên không phải là vai chính trên sân khấu mà
là người hướng dẫn trong cánh gà [1, tr.10-18]
Nhà giáo dục Ph.Phơ Bách (1782 - 1852) đã đề xuất phương pháp dạy học phù hợp cho trẻ mẫu giáo là vừa chơi vừa học Theo ông, con người có 4 bản năng: hoạt động, nhận thức, văn học và tôn giáo Vì vậy, mục đích của giáo dục là phát triển những gì sẵn có trong con người Đồng thời, để đáp ứng nhu cầu của trẻ, ông đề cao quan niệm trong hoạt động vui chơi “Trò chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo và cần phải giáo dục trẻ thông qua trò chơi” [10]
Theo đó, tác giả Montessori (1870 - 1952) là Tiến sĩ y khoa, bà cho rằng
“khiếm khuyết của tâm trí là vấn đề của giáo dục chứ không phải là vấn đề của
y khoa” bà có nhiều công trình nổi tiếng trong đó có cuốn sách “Giáo dục nhân loại học” và “ngôi nhà của trẻ” nhà y được nhận giải thưởng Nobel về hòa bình năm 1949, bà phát hiện, trẻ từ 0 - 6 tuổi rất nhạy cảm cũng là quãng thời gian quan trọng và quý giá nhất của mỗi người, sự phát triển và trãi nghiệm của trẻ trong giai đoạn này ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống tương lai của trẻ Chúng có thể tiếp nhận thông tin từ môi trường sống xung quanh rất nhanh Những đứa trẻ có hiện tượng lạ như: chúng thích lặp lại, thích trật tự, thích yên tĩnh, thích làm việc hơn là vui chơi, cảm thấy thỏa mãn vơi công việc mình làm mà không cần làm vì phần thưởng; chúng chọn tự do, chúng có kỷ
Trang 23luật mang tính tự phát; có danh dự cá nhân, có lòng tự trọng rất cao; những đứa trẻ từ 4 - 5 tuổi thì lại tự nhiên bộc phát cảm hứng viết chữ khi không có
sự hướng dẫn của người lớn Đồng thời, bà chỉ ra được những yêu cầu của một trường học phải có bao gồm: (1) Có một môi trường học được chuẩn bị tốt phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ em; (2) Trong lớp học có ít nhất một giáo viên có chứng nhận được đào tạo chính quy và có một năm kinh nghiệm thực
tế, có khả năng hiểu nhu cầu của trẻ, biết cách sử dụng và thiết kế giáo cụ, biết phối hợp với phụ huynh như thế nào; (3) Học sinh gồm những đứa trẻ có độ tuổi khác nhau (từ 0 - 1,5 tuổi; 1,5 - 3 tuổi; 3 - 6 tuổi), có hoàn cảnh gia đình khác nhau; (4) Có một bộ giáo cụ đáp ứng nhu cầu phát triển về thể chất và tinh thần cho trẻ; (5) Về mặt sắp xếp thời gian biểu, cần có một khoảng thời gian để trẻ em được tự do lựa chọn nhu cầu phát triển về thể chất và tinh thần cho trẻ; (6) Trong một bầu không khí hòa bình, cổ vũ bọn trẻ cùng hợp tác và giao lưu, cùng nhau học tập, cùng nhau thảo luận, an ủi tình cảm của trẻ; (7) Thực hiện mở cửa với bên ngoài, cho phép phụ huynh và du khách đến quan sát theo hẹn trước [14, tr.12 - 20]
Các nhà nghiên cứu cho rằng những yếu tố quyết định đến sự thành công của giáo dục là vai trò của giáo viên, nội dung và phương pháp, giáo cụ phù hợp với khả năng của trẻ và có cả môi trường giáo dục thích hợp Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả và hệ thống được hoạt động theo mục tiêu đề ra cần có những nguyên tắc và cách thức quản lí khoa học được áp dụng
Theo nghiên cứu khác, Peter Mittler (2000) đã nhận định, thay đổi môi trường giáo dục nhà trường và hệ thống quản lí giáo dục là rất quan trọng đối với giáo dục trẻ em Việc thay đổi này bao gồm việc sửa đổi chương trình và phương pháp dạy học, thúc đẩy sự tham gia của phụ huynh Nhận định trên được đưa ra sau khi tác giả đã dành sự quan tâm và chú ý của mình vào việc thay đổi, tạo môi trường giáo dục thích hợp cho việc thực hiện tổ chức quản lí
Trang 24giáo dục trẻ em Trong đó, tác giả đã đặt ra các vấn đề cụ thể như điều chỉnh
và sắp xếp chương trình như thế nào; giáo viên cần lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học như thế nào; các phương pháp giáo dục được thực hiện trong các cơ sở giáo dục đảm bảo cho trẻ phát triển; sự tác động can thiệp hỗ trợ từ phía giáo viên và vai trò, sự tham gia của phụ huynh học sinh, tất cả phải được cụ thể trong một kế hoạch tổng thể và theo giai đoạn phát triển [30]
Ngoài ra, theo một số kết quả nghiên cứu của Kate Asheroft and Lorraine foreman-Peck (1994) và Ann R.J Briggs and Daniel Sommefeldt (2002) vềquản lí dạy và học hiệu quả Các tác giả đã đưa ra những hướng nghiên cứu về việc quản lí dạy và học, cụ thể hóa tiến trình dạy và học, từ đó phát huy công tác quản lí chương trình và quản lí tiến trình dạy và học sao cho hiệu quả nhất Các tác giả cũng đưa ra sơ đồ quản lí nhà trường xuất phát từ kết quả cần đạt được trong học tập của học sinh, trên cơ sở đó thiết kế chương trình, nội dung, lựa chọn hệ thống phương pháp và kế hoạch dạy học một cách hiệu quả [31]&[32]
Trong tác phẩm “Tools for Teaching, 2012” của tác giả Fred Jones đã trình bày những kinh nghiệm của cá nhân về cách thức quản lí lớp học, tạo động lực và hứng thú để người học được học tập một các độc lập thông qua các trò chơi và các công cụ dạy học, rèn luyện kỹ năng hợp tác cho người học cũng như tinh thần trách nhiệm của giáo viên trong giảng dạy [29]
Qua các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới cho thấy, công tác quản lí hoạt động dạy học của nhà trường có vai trò quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Tuy các công trình chưa tập trung nghiên cứu đầy
đủ về quản lí hoạt động dạy học cho trẻ trong trường mầm non, nhưng để đạt được hiệu quả trong công tác quản lí dạy và học cho trẻ cần có kế hoạch cụ thể, cũng như khả năng tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện trong công tác quản lí
Trang 251.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam những nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực quản lí trường mầm non và đặc biệt là quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường mầm non chỉ mới được quan tâm nhiều những năm gần đây
Tác giả Đinh Văn Vang (1996) đã tổng kết và phân tích những vấn đề
cơ bản trong lý luận quản lí nhà trường mầm non Những nghiên cứu của ông được trình bày trong tác phẩm “Một số vấn đề quản lí trường mầm non” Nội dung của tác phẩm nêu rõ: mục đích, ý nghĩa của công tác quản lí trong trường mầm non; cơ cấu tổ chức quản lí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của nhân cách tham gia vào công tác quản lí nhà trường, đặc biệt là hiệu trưởng và giáo viên mầm non; nội dung công tác của người hiệu trưởng trường mầm non
Sau nghiên cứu này, tác giả Phạm Thị Châu (2002) cũng đã nghiên cứu vấn đề công tác quản lí của hiệu trưởng trường mầm non trong tác phẩm “Một
số vấn đề quản lí giáo dục mầm non” Nội dung của tác phẩm nêu một số khái niệm về quản lí, quản lí giáo dục; hệ thống mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp quản lí trường mầm non; vai trò của hiệu trưởng trong công tác quản lí trường mầm non… Các tác phẩm viết khá đầy đủ cả về lý luận và thực tiễn công tác quản lí ở trường mầm non
Các bài viết, các công trình nghiên cứu về hoạt động dạy học cho học sinh thu hút nhiều nhà nghiên cứu chuyên môn tham gia Trong đó, kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Thị Hương (2012) cho ta thấy bản chất của hoạt động dạy học là bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học Chức năng của hoạt động dạy là sự định hướng, tổ chức, hướng dẫn, động viên, kiểm tra đánh giá của giáo viên và khả năng tự tổ chức, tự điều khiển để hình thành tri thức, kỹ năng và thái độ của người học trong hoạt động học Hoạt động dạy học hay
Trang 26hoạt động học tập - nhận thức, người học luôn sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học để lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng Theo tác giả, hoạt động dạy của giáo viên bao giờ cũng phải hướng tới và tạo ra hoạt động học của học sinh Từ đó, trong hoạt động day học, giáo viên mang vai trò chủ đạo
sử dụng nội dung, phương pháp phù hợp với mục tiêu dạy học và người học đóng vai trò chủ động để hình thành tri thức, kỹ năng và thái độ [13]
Theo Trần Kiểm (2013), trong xu thế hiện nay, dạy học là quá trình vận động của các chủ thể (GV và HS) trong mối quan hệ tương tác giữa ba tác nhân bao gồm: người học, người dạy và môi trường Theo tác giả, trong quá trình này, người học là người thợ, người dạy là người định hướng, người đồng hành cùng người học, giúp cho người học hình thành phương pháp học, nhất là phương pháp tự học Trong dạy học, thường bắt gặp một số cách tiếp cận như: Tiếp cận cùng tham gia (participatory approach), dạy học giải quyết vấn đề (problem - solving), dạy học làm chủ (mastery teaching), dạy học theo tình huống (teaching with cases), dạy học lấy trẻ làm trung tâm (child - centred approach) Đồng thời, theo ông cho rằng, do phương thức dạy học thay đổi nên phương thức quản lí dạy học cũng thay đổi theo và quản lí bây giờ “ là tạo điều kiện để thuộc cấp hoặc người học và người dạy phát huy nội lực của mình”, Chẳng hạn như, quản lí theo phân cấp từ trung ương đến tận cơ sở, hoặc nhà trường, người Hiệu trưởng phải thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của giáo viên và học sinh [16, tr131-133]
Theo đó, vấn đề dạy và học của học sinh nói chung và những vấn đề liên quan đến quản lí hoạt động dạy học cho trẻ trường mầm non nói riêng, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường được một số tác giả tham gia nghiên cứu và thể hiện trong các bài báo, luận văn, luận án tốt nghiệp như: Công trình nghiên cứu của Đoàn Thị Thanh Thủy (2017), tác giả nghiên cứu về các kỹ năng của trẻ trong trường mầm non Theo tác giả, những hoạt động của trẻ
Trang 27mầm non, hoạt động chơi, hoạt động giao tiếp, hoạt động ngôn ngữ, hoạt động nhận thức, điều kiện sống của trẻ trong nhà trường và trong gia đình là những điều kiện thuận lợi giúp trẻ mầm non hình thành kỹ năng sống [24].
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Cảnh (2017) chỉ ra rằng, công tác nuôi dưỡng là những công việc cần thiết phải làm nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của người được nuôi dưỡng về thức ăn hoặc các chất dinh dưỡng và những
gì cần cho cuộc sống, sức khỏe và phát triển của trẻ Từ đó, kết quả nguyên cứu cho thấy, công tác quản lí nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non còn nhiều hạn chế, tuy giáo viên, cán bộ quản lí mầm non có tinh thần vượt khó, chịu đầu
tư, đổi mới phương pháp, hình thức nuôi dưỡng trẻ, nhằm phát triển toàn diện cho trẻ nhưng chưa tích cực, hình thức tổ chức còn hạn chế, chưa phát huy được tính tích cực hoạt động của trẻ Về công tác quản lí chưa mang tính khoa học, mất nhiều thời gian, sự năng động, linh hoạt và sáng tạo, việc tổ chức, phối hợp trong hệ thống còn lỏng lẻo Với lý do là, sự chỉ đạo nâng cao chất lượng nuôi dưỡng tại trường mầm non trong nhiều năm chưa có sự đổi mới, nhận thức về tầm quan trọng trong công tác nuôi dưỡng trẻ chưa được sự quan tâm của đội ngũ giáo viên nhà trường, chính sách tiền lương cho cán bộ đội ngũ giáo viên còn nhiều bất cập, chưa thỏa đáng với cường độ, công sức lao động, giáo viên ít có cơ hội tiếp xúc với bên ngoài để học hỏi nâng cao trình
độ chuyên môn [4]
Tác giả Dương Thị Thúy Hoa (2018), đã đề cập đến một số đổi mới phương pháp của hoạt động giáo viên trong trường mầm non như: cách đổi mới cách thực hiện phương pháp; đổi mới cách tiếp cận trẻ; tăng cường luyện tập, thực hành để rèn luyện hành vi và thói quen cho trẻ; đổi mới việc tổ chức các hoạt động đa dạng, phong phú và phù hợp với trẻ; đổi mới việc sử dụng các phương tiện, kỹ thuật hiện đại; đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả dạy học của trẻ Kết quả nghiên cứu thực trạng, tác giả đã chỉ ra những hạn chế như
Trang 28giáo viên chưa nắm vững các phương pháp dạy học tích cực cho trẻ, thiếu thời gian cho các hoạt động đổi mới phương pháp, sỉ số trẻ/GV vượt quá quy định nên không đủ thời gian cho việc quan sát từng trẻ, thiếu thốn về phương tiện
và điều kiện dạy học, giáo viên thiếu kỹ năng lập kế hoạch dạy học theo chủ
đề, thiếu kỹ năng trong việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực, thiếu tài liệu và môi trường cho trẻ hoạt động Bên cạnh đó, tác giả đã đề xuất một số biện pháp như: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên về đổi mới phương pháp, tăng cường công tác xây dựng kế hoạch đổi mới phương pháp theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ, tăng cường việc tổ chức chỉ đạo thực hiện đổi mới phương pháp, cũng như các điều kiện phục vụ hoạt động đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực của trẻ [11]
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy, phần lớn các nhà chuyên môn thường tập trung vào nghiên cứu về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ hay giáo dục về kỹ năng, thể chất cho trẻ mầm non, còn về hoạt động dạy học đối với trẻ trong trường mầm non ít được quan tâm nghiên cứu Hoạt động dạy học nhằm giúp trẻ hình thành tri thức, kỹ năng và phẩm chất thông qua nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức phù hợp tăng khả năng chủ động học tập và khám phá của trẻ, đồng thời, người giáo viên phải đóng vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học Từ đó, để mang lại hiệu quả từ hoạt động dạy học cho trẻ trong trường mầm non, nhà quản lí phải xây dựng kế hoạch cụ thể, tổ chức thực hiện cũng như sự chỉ đạo và kiểm tra đánh giá thích hợp
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Khái niệm hoạt động dạy học ở trường mầm non
* Hoạt động dạy học
Theo Phạm Thành Nghị (2013), “Hoạt động là hình thức tương tác tích cực của mối quan hệ biện chứng giữa con người và thế giới xung quanh Mối
Trang 29quan hệ này diễn ra theo hai chiều giữa con người là chủ thể với khách thể hoạt động Khách thể của hoạt động bao gồm các sự vật, hiện tượng tự nhiên
và thế giới đồ vật do con người tạo ra, các ký hiệu, biểu tượng” Theo đó, hoạt động dạy học được hiểu là “hoạt động của người lớn giúp đỡ trẻ em lĩnh hội nền văn hóa xã hội, nhằm tạo ra sự phát triển tâm lý” [20, tr.51]
Theo quan niệm truyền thống, dạy là hoạt động chuyên biệt của xã hội nhằm truyền thụ cho thế hệ sau những tri thức khoa học, kỹ năng và phương pháp hành động đã sáng tạo và tích lũy được qua các thế hệ Hoạt động dạy về bản chất là sự tổ chức nhận thức tích cực của người học Từ đó, các chức năng của hoạt động dạy học bao gồm: định hướng, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển,
ủy thác, kích thích, động viên, trợ giúp, tham vấn, kiểm tra, đánh giá hoạt động của người học [13, tr.26]
Qua đó, hoạt động dạy học là bao gồm hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh thông qua sự hướng dẫn của giáo viên, cũng như sự chỉ đạo, tổ chức, hỗ trợ của giáo viên, giúp học sinh chuyển hoá
và hình thành được những tri thức và kinh nghiệm thực tiễn
* Trường mầm non
Trường mầm non bao gồm các khối chức năng như khối nhóm trẻ, lớp mẫu giáo; khối phòng phục vụ học tập; khối phòng tổ chức ăn; khối phòng hành chính quản trị; sân vườn Đồng thời, về số lượng chỗ học được quy định tối thiểu 50 chỗ học cho 1000 dân (50 chỗ/1000 dân) để thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến sáu tuổi và lớp học được phân chia thành hai nhóm, trẻ dưới 3 tuổi và từ 3 đến 6 tuổi, cụ thể như sau:
- Trẻ từ 3 tháng tuổi đến dưới 3 tuổi gọi là nhóm trẻ: Từ 3 đến 12 tháng tuổi: 15 trẻ; từ 13 đến 24 tháng tuổi: 20 trẻ; từ 25 đến 36 tháng tuổi: 25 trẻ;
Trang 30- Trẻ từ 3 đến 6 tuổi gọi là lớp mẫu giáo: Từ 3 đến 4 tuổi: 25 trẻ; từ 4 đến 5 tuổi: 30 trẻ; từ 5 đến 6 tuổi: 35 trẻ [25, tr.7];
Ngoài ra, trường mầm non có những nhiệm vụ và quyền hạn như: Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; Tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật; Quản lí cán bộ, giáo viên, nhân viên để thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Huy động, quản lí, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật; Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa hoặc theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn; Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Tổ chức cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và trẻ em tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng; Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo quy định; Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [2]
Từ đó, trường mầm non là cơ sở giáo dục mầm non, là nơi diễn ra các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có tổ chức bao gồm nhà trẻ
và lớp mẫu giáo, trong đó trẻ được nhận vào học có tuổi từ 3 tháng đến 6 tuổi
* Hoạt động dạy học ở trường mầm non
Hoạt động dạy học ở trường mầm non là bao gồm những hoạt động giảng dạy của giáo viên mần non và hoạt động học tập của trẻ thông qua sự hướng dẫn nhiệt tình của giáo viên, sự chỉ đạo, tổ chức, hỗ trợ, động viên, của giáo viên, cũng như khả năng thực hiện những phương pháp dạy học, nội dung chương trình phù hợp nhằm giúp trẻ mầm non có thể tiếp thu, chuyển hoá và hình thành được những tri thức và kinh nghiệm thực tiễn
Trang 311.2.2 Khái niệm quản lí và quản lí hoạt động dạy học ở trường mầm non
* Quản lí
Theo F.W.Taylor (1856 - 1915) cho rằng, “Quản lí là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và sẽ làm cái đó bằng những phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [33]
Theo Harol Koontz (2002): “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Mục tiêu của nhà quản lí là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lí là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lí là một khoa học” [27, tr 138]
Theo Nguyễn Lộc (2009) quan niệm rằng, “Quản lí là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên tổ chức và
sử dụng tất cả những nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được các mục tiêu của nó” [18, tr.12]
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên) cùng Phạm Khắc Chương, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Diện và Lê Tràng Định (2009) định nghĩa rằng, “Quản lí là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm lực, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường” trong quyển
Giáo trình Giáo dục học -Tập 2 [21]
Trang 32Ngoài ra, các công trình nghiên cứu khác đã thể hiện nhiều chức năng quản lí “nhiều tác giả đã coi các chức năng quản lí về lập kế hoạch, tổ chức, thúc đẩy, kiểm tra là trung tâm của cuộc bàn luận về quản lí” [9, tr.13].
Theo đó, quản lí còn được thể hiện qua 4 chức năng như: lập kế hoạch,
tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra, cụ thể: (1) Chức năng lập kế hoạch: Là nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức Kế hoạch là việc duy nhất liên quan đến việc thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của tập thể Vì vậy, lập kế hoạch là nền tảng của quản lí; (2) Chức năng tổ chức: Là sự tổng hợp các hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu Đó là việc xây dựng và duy trì cơ cấu nhất định về những vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác trong tổ chức Hay, chức năng tổ chức là sự phân chia các nhiệm vụ thành những công việc, trao quyền hạn, xác định những nguyên tắc và quyền quyết định cho từng bộ phận; (3) Chức năng lãnh đạo: Là sự tác động, như một nghệ thuật hay một quá trình tác động đến con người sao cho họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức; (4) Chức năng kiểm tra: Là quá trình đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được xác lập nhằm tìm ra những ưu điểm, những mặt hạn chế để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức và lãnh đạo [19, tr.20]
Theo phạm vi nghiên cứu đề tài, quản lí được hiểu là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra đánh giá việc dạy học ở trường học
* Quản lí giáo dục
Theo quan niệm về quản lí trong giáo dục của Trần Kiểm, bao gồm quản lí giáo dục cấp vĩ mô và cấp vi mô, trong đó: (1) Đối với cấp vĩ mô, quản lí giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, kế hoạch,
hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường), nhằm thực hiện
Trang 33có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội; (2) Đối với cấp vi mô, trong phạm vi nhà trường, hoạt động quản lí giáo dục bao gồm nhiều công tác như quản lí hoạt động dạy học, quản lí hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp, quản lí giáo viên, quản lí học sinh, quản lí tài chính, cơ sở vật chất nhằm thực hiện chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [15, tr.9 -12].
Mặt khác, quản lí giáo dục cũng giống như quản lí nói chung, bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra, cụ thể như sau:
- Lập kế hoạch quản lí giáo dục, bao gồm: Xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những phương tiện và điều kiện cần thiết trong một khoảng thời gian nhất định của hệ thống quản lí Việc lập kế hoạch quản lí giáo dục cũng chia ra làm 2 cấp độ vĩ mô và vi mô
- Tổ chức trong quản lí giáo dục: Thiết kế các cấu trúc, các bộ phận sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức giáo dục Đồng thời, việc thực hiện chức năng này phải chú ý đến phương thức hoạt động, đến quyền hạn của từng
bộ phận, tạo sự liên kết theo hàng ngang và hàng dọc Đặc biệt chú ý đến việc
bố trí các cán bộ quản lí - người vận hành các bộ phận của tổ chức;
- Lãnh đạo trong quản lí giáo dục là quá trình chủ thể quản lí sử dụng quyền lực quản lí và tình cảm tác động đến đối tượng quản lí (con người, bộ phận) một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ, hướng vào việc đạt mục đích chung cho toàn hệ thống Ngoài ra, người lãnh đạo hệ thống phải có kiến thức chuyên môn, có kỹ năng thu hút người khác và năng lực tổ chức thực hiện quyết định
- Kiểm tra trong quản lí giáo dục: là một quá trình đo lường, thẩm định, xác định một hành vi cụ thể của cá nhân hoặc tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định Mặt khác, có thể xem xét và kiểm nghiệm mức độ phù
Trang 34hợp của quá trình hoạt động của các đối tượng quản lí với các quyết định của
tổ chức đã được xây dựng [15, tr.47 -80]
Từ đó, quản lí giáo dục trong phạm vi đề tài này là hoạt động có chủ đích phù hợp chủ thể quản lí tác động lên đối tượng được quản lí thông qua thực hiện các chức năng quản lí nhằm làm cho hệ thống giáo dục được vận hành và đảm bảo đạt mục tiêu giáo dục đã đề ra
mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và có kế hoạch đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới”[22, tr.34]
Theo J.Krishnamurti nhà trường lý tưởng là một cơ sở giáo dục lớn và phát triển mạnh mà trong đó trẻ em được học cùng nhau, sản sinh ra những tài năng cho đất nước và không một giá trị nền tảng nào có thể đạt được nhờ vào
sự giáo dục của đám đông, mà chỉ có thể nhờ vào việc học tập và thông hiểu những khó khăn, xu hướng và năng lực của từng đứa trẻ Lập ra một ngôi trường mang ý nghĩa sống còn trong cuộc đời đứa trẻ, qua đó giúp các em trở thành con người toàn diện và có trí tuệ Điều quan trọng nhất là nhà trường nơi
mà tất cả những người thầy nên đến với nhau một cách tự nguyện thoát ra khỏi thói thường của thế giới là cơ sở đúng đắn duy nhất cho một trung tâm giáo dục thực sự [17, tr.98 - 102]
Theo Phạm Viết Vượng (2008) quan niệm rằng, “Quản lí nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của
Trang 35giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao giáo dục và đào tạo trong nhà trường”[26,tr.17 -19].
Như vậy, quản lí trường mầm non là quá trình tổng thể bao hàm các quá trình: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, và kiểm tra đánh giá các mặt hoạt động của nhà trường với nội dung quản lí trẻ em, quản lí trẻ em học hòa nhập (nếu có), quản lí nhân sự, giáo viên, quản lí chuyên môn (dự giờ, tham quan học tập, ghi chép các nội dung sinh hoạt chuyên môn), quản lí tài sản, cơ sở vật chất, tài chính, quản lí bán trú, quản lí sổ kế hoạch giáo dục trẻ em, theo dõi trẻ (điểm danh, khám sức khỏe, theo dõi đánh giá trẻ) và quản lí các mối quan hệ giữa nhà trường với các tổ chức giáo dục ngoài nhà trường, xã hội
* Quản lí hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học bao gồm hoạt động dạy (định hướng, tổ chức, hướng dẫn, điều kiển, ủy thác, kích thích, động viên, trợ giúp, tham vấn, giúp
đỡ, kiểm tra, điều chỉnh…) và hoạt động học (tự tổ chức, tự điều khiển, tiếp nhận, chuyển hóa, cấu trúc lại kinh nghiệm phát triển bản thân ), hoạt động dạy học là hoạt động phối hợp tương tác và thống nhất biện chướng giữa hoạt động chủ đạo của người học và hoạt động chủ động của người học nhằm thực hiện mục tiêu dạy học Bản chất của hoạt động dạy học là hoạt động học tập nhận thức tích cực, độc đáo của người học dưới sự tổ chức, hướng dẫn sư phạm của giáo viên Trong hoạt động học tập - nhận thức, người học vừa là đối tượng vừa là chủ thể của quá trình nhận thức Hoạt động học tập - nhận thức không chỉ đơn thuần là một quá trình tiếp thu tri thức thụ động, mà trước hết là hoạt động tích cực của người học Trong quá trình nhận thức, người học sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học
để lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và tạo nên những biến đổi, phát triển bản thân về tinh thần cũng như thể chất dưới sự tổ chức, chỉ đạo
Trang 36của giáo viên Từ đó, mục tiêu của hoạt động dạy học là thường đề cập đến tri thức, kỹ năng và thái độ Đồng thời, có sự phối hợp giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học chặt chẽ và tương tác nhau[13, tr.28].
Theo Nguyễn Thị Bích Yến (2010), quản lí hoạt động dạy học thực chất là những tác động của chủ thể quản lí vào quá trình dạy học được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của lực lượng xã hội nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường Theo đó, quản lí hoạt động dạy học là nhiệm vụ quan trọng Trong quá trình quản lí dạy học ở trường, Hiệu trưởng phải tập trung và dành nhiều thời gian trong công tác quản lí hoạt động dạy học bao gồm: Gắn hoạt động dạy học với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho đội ngũ giáo viên thực hiện phương pháp dạy học phù hợp cũng như tạo động lực cho đội ngũ giáo viên nâng cao tinh thần làm việc và sáng tạo; Kết hợp phát huy cao độ tính chủ động sáng tạo của mỗi cá nhân trong tập thể với sự thống nhất trong hệ thống quản lí nhà trường; Bảo đảm chất lượng dạy học một cách bền vững; Xây dựng môi trường học tập thân thiện, an toàn, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, để mỗi học sinh đều thấy được “mỗi ngày đến trường
là một ngày vui”; Xây dựng cơ chế và có chính sách phù hợp nhằm phát huy tối đa nội lực đi đôi với sự tranh thủ tiềm lực của các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường [28]
Từ đó, quản lí hoạt động dạy là những tác động có chủ đích của chủ thể quản lí đến quá trình dạy học cho học sinh, bao gồm: việc thực hiện chương trình dạy học, sự phân công dạy học, soạn bài và chuẩn bị lên lớp, giờ lên lớp của giáo viên, việc vận dụng phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học phù hợp, việc dự giờ và phân tích sự phạm bài học, quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập, giúp học sinh phát triển toàn diện về
Trang 37tri thức, kỹ năng và thái độ theo mục tiêu giáo dục của nhà trường thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra đánh giá việc dạy học
* Quản lí hoạt động dạy học ở trường mầm non
Quản lí hoạt động dạy cho trẻ ở trường mầm non là những tác động có chủ đích của chủ thể quản lí đến quá trình dạy học cho trẻ, bao gồm: việc thực hiện chương trình dạy học, sự phân công dạy học, soạn bài và chuẩn bị lên lớp, giờ lên lớp của giáo viên, việc vận dụng phương pháp, phương tiện
và hình thức dạy học phù hợp, việc dự giờ và phân tích sự phạm bài học, quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện về tri thức, kỹ năng và thái độ theo mục tiêu giáo dục của nhà trường thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra đánh giá việc dạy học tại trường mầm non Đây cũng là bốn chức năng trong quản
lí, người nghiên cứu tiếp cận và làm cơ sở trong quản lí hoạt động dạy học ở trường mầm non
1.3 HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.3.1 Mục tiêu của hoạt động dạy học ở trường mầm non
Dạy học cho trẻ mẫu giáo là hoạt động hợp tác dạy và học cùng nhau giữa giáo viên và trẻ, trong đó giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ tự khám phá thế giới xung quanh thông qua các đồ vật, tranh ảnh, phương pháp, phương tiện và hình thức hoạt động dạy học phù hợp Đối với trẻ, trẻ đóng vai trò tích cực lĩnh hội kiến thức và kỹ năng cần thiết cho việc học tập sau này Từ đó, mục tiêu dạy học ở trường mầm non là giúp trẻ lĩnh hội được những tri thức sơ đẳng nhất, phát triển quá trình nhận thức, ngôn ngữ và một số kỹ năng của hoạt động học tập cần thiết, góp phần phát triển các năng lực chung của trẻ, giúp trẻ phát triển một cách hài hòa, hòa nhập và thích nghi với việc học ở bậc Tiểu học [3]
Trang 381.3.2 Nội dung của hoạt động dạy học ở trường mầm non
Theo Luật Giáo dục mầm non, nội dung dạy học trong trường mầm non
là “giúp trẻ biết kính trọng, yêu mếm, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo
và người trên; biết yêu quý anh chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học” [12]
Từ đó, nội dung dạy học cho trẻ không phân chia theo từng môn riêng
lẻ, mà được thực hiện theo các chủ đề gần gũi với trẻ, bao gồm các nội dung như:
(1) Phát triển tri thức (nhận biết và ngôn ngữ): Giai đoạn mầm non là giai đoạn trẻ làm quen với ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ nói hằng ngày Ngôn ngữ có sự ảnh hưởng từ những vùng miền khác nhau, tuy nhiên không ảnh hưởng nhiều đến khả năng làm quen của trẻ Sự phát triển mạnh về ngôn ngữ ở trẻ từ 4 - 5 tuổi ở hai dạng chú ý có chủ định và không chủ định Những công việc mà cha mẹ, cô giáo giao cho trẻ là điều kiện tốt để trẻ phát triển chú
ý có chủ định Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mang tính chất hoàn cảnh, tình huống gắn liền với sự vật, con người, hiện tượng đang xảy ra trước mắt trẻ Do
đó, giáo viên mầm non phải được trang bị kiến thức và kỹ năng sư phạm chuyên ngành tốt nhằm uốn nắn và giúp trẻ chỉnh sửa những lỗi trong việc làm quen với ngôn ngữ Ngoài ra, giáo viên mầm non cũng phải có khả năng giúp trẻ phát triển khả năng nhận thức về thế giới xung quanh và nhận thức được hành vi ứng xử của mình thông qua những hài học hay các hoạt động vui chơi cùng bạn bè;
(2) Phát triển kỹ năng:Phát triển hình thành kỹ năng cho trẻ là một điều quan trọng không kém mà các giáo viên mầm non luôn coi trọng trong quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện hoạt động dạy học cho trẻ, thông qua những bài tập thể dục, khám phá thế giới xung quanh, trò chơi tập thể sẽ giúp trẻ phát
Trang 39triển có khả năng sử dụng tay và các ngón tay để lấy đồ vật hoặc vẽ Đồng thời, giáo viên mầm non là người không những giúp trẻ khám phá và phát huy hết những điểm mạnh của mình, mà còn giúp trẻ phát triển tốt các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự lập, kiềm chế, giải quyết vấn đề Đặc biệt, giúp trẻ sống
có trách nhiệm, luôn sẵn sàng ứng phó với mọi vấn đề và thử thách, tăng khả
năng hòa đồng với đám đông và giúp trẻ tự tin hơn trong mọi hoạt động;
(3) Phát triển phẩm chất - cảm xúc (mỉm cười hay giao tiếp bằng mắt):Trẻ bắt đầu học các kỹ năng xã hội từ khi mới ra đời Sự phát triển các mối quan hệ và kỹ năng xã hội bị tác động bởi những người chăm sóc trẻ cũng như tính cách của những người mà trẻ tiếp xúc Từ đó, trong những mối quan
hệ mà trẻ được chăm sóc chu đáo, trẻ sẽ học được cách thể hiện, xử lý và cách điều chỉnh cảm xúc của mình cũng như bắt đầu khám phá môi trường xung quanh Việc phát triển tình cảm là tiền đề quan trọng cho việc phát triển toàn diện của trẻ và là nguồn lực thúc đẩy sự phát triển các lĩnh vực khác Do đó, giáo viên có thể chủ động tổ chức các hoạt động của trẻ theo hướng tích hợp
và tích hợp theo chủ đề, cũng như tăng cường các hoạt động để trẻ được trải nghiệm, rèn luyện các kỹ năng sống cần thiết Ngoài ra, nội dung hoạt động phải linh hoạt, bám sát mục tiêu của chủ đề, tự nhiên gây hứng thú cho trẻ, giúp trẻ trải nghiệm và bộc lộ hết cảm xúc; hoạt động cần đơn giản, gần gũi, thiết thực với cuộc sống trẻ [36]
1.3.3 Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học ở trường mầm non
Các phương pháp dạy học cho trẻ phải phù hợp và thông qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi để giúp trẻ có điều kiện khám phá và phát triển toàn diện Đặc biệt phải chú trọng trong việc nêu gương, động viên, khích lệ
[12] Đồng thời, hình thức dạy học được thực hiện thông qua các hoạt động
Trang 40trong lớp hoặc ngoài trời, theo cả tập thể hay từng nhóm nhỏ hoặc cá nhân với những phương pháp thích hợp thường được sử dụng như: Phương pháp trực quan - minh họa; phương pháp thực hành - trải nghiệm; phương pháp sử dụng trò chơi; phương pháp làm thí nghiệm đơn giản; phương pháp dùng lời nói; phương pháp nêu gương và đánh giá, trong đó:
(1) Phương pháp thực hành - trải nghiệm: là phương pháp bao gồm thực hành thao tác với đồ vật, đồ chơi (trẻ sử dụng và phối hợp các giác quan, làm theo sự chỉ dẫn của giáo viên, hành động đối với các đồ vật, đồ chơi như cầm, nắm, đóng mở, xếp chồng, xếp cạnh nhau… nhằm phát triển các giác quan và rèn luyện thao tác tư duy); thực hiện trò chơi (sử dụng các loại trò chơi với các yếu tố chơi phù hợp để kích thích trẻ tự nguyện, hứng thú hoạt động tích cực giải quyết nhiệm vụ); nếu tình huống có vấn đề, luyện tập (cho trẻ lặp đi lặp lại các động tác nói Cử chỉ, điệu bộ theo yêu cầu của giáo viên nhằm củng cố kiến thức và kỹ năng);
(2) Phương pháp trực quan - minh họa: đây là phương pháp cho trẻ quan sát, tiếp xúc, giao tiếp với các đối tượng, phương tiện nghe nhìn thông qua kết hợp với lời nói, nhằm giúp trẻ phát triển các giác quan, tu duy Đặc biệt là sự phát triển về ngôn ngữ trẻ;
(3) Phương pháp sử dụng trò chơi: là phương pháp sử dụng các bài tập luyện bằng hệ thống các trò chơi, bao gồm trò chơi có luật, sáng tạo Từ đó, trò chơi cần được lựa chọn phù hợp với phương pháp dạy học và đảm bảo đúng luật và kết hợp được với các biện pháp khác;
(4) Phương pháp làm thí nghiệm đơn giản: các thí nghiệm làm bật những đặc điểm, dấu hiệu, tính chất của các đối tượng cụ thể, tìm những mối liên hệ giữa các hiện tượng bản chất của chúng Giáo viên thực hiện thí nghiệm và tạo điều kiện cho trẻ tham gia quan sát, tìm ra sự thay đổi, cho trẻ