Cụ thể qua khóa học, đã cho tôi có hiểu biếtđầy đủ kiến thức lý luận về hành chính nhà nước, nắm vững và vận dụng tốt đường lối,chính sách, pháp luật của nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vự
Trang 1QUY ƯỚC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
GD-ĐT : Giáo dục đào tạo
ĐD CMHS: Đại diện cha mẹ học sinh
KTNB: Kiểm tra nội bộ
GVCN: giáo viên chủ nhiệm
GVBM: giáo viên bộ môn
GTĐB: giao thông đường bộ
TNXH: tệ nạn xã hội
XHHGD: xã hội hóa giáo dục
Trang 2MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 4
B PHẦN NỘI DUNG 5
Chương I Kiến thức về chính trị, quản lý nhà nước và các kỹ năng chung 5
1.1 Lý luận về nhà nước và hành chính nhà nước 5
1.2 Chiến lược và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo 6
1.3 Quản lý giáo dục và chính sách phát triển giáo dục 8
1.4 Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên THPT 10
Chương II Kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành và đạo đức nghề nghiệp 12
2.1 Tổ chức hoạt động dạy học, xây dựng và phát triển kế hoạch giáo dục ở trường trung học Phổ thông 12
2.2 Giáo viên với công tác tư vấn học sinh trong trường THPT 12
2.3 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THPT 15
2.4 Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng trường THPT 16
2.5 Sinh hoạt tổ chuyên môn và công tác bồi dưỡng giáo viên trong trường THPT 17
2.6 Xây dựng mối quan hệ trong và ngoài nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển trường trung học phổ thông 19
Chương III: Liên hệ thực tiễn tại đơn vị công tác 19
3.1 Tìm hiểu chung về tổ chức và quản lý nhà trường 19
3.2 Tìm hiểu về cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh 23
3.3 Tìm hiểu về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học 24
3.4 Tìm hiểu về hoạt động của nhà trường 25
3.5 Tìm hiểu về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội 25
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
A PHẦN MỞ ĐẦU
Thực hiện theo tinh thần thông tư số 23/2015/TTLT-BGD ĐT-BNV thông tư liên tịch quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông công lập, thời gian vừa qua tôi đã tham gia khóa bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp giáo viên THPT hạng II, ở khóa học này, tôi đã được các thầy cô trường ĐH Quy Nhơn bồi dưỡng, truyền đạt 10 chuyên đề về các lĩnh vực kiến thức về chính trị, quản lý nhà nước, các kiến thức về kỹ năng nghề nghiệp chuyên nghành và đạo đức nghề nghiệp
Trang 3Với mục đích trang bị những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao năng lựcchuyên môn, nghiệp vụ, phát triển năng lực nghề nghiệp nhằm đáp ứng tiêu chuẩn chứcdanh nghề nghiệp giáo viên THPT hạng II Cụ thể qua khóa học, đã cho tôi có hiểu biếtđầy đủ kiến thức lý luận về hành chính nhà nước, nắm vững và vận dụng tốt đường lối,chính sách, pháp luật của nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục nói chung và giáodục cấp THPT nói riêng vào thực tiễn công tác dạy học và giáo dục học sinh, thực hiệnnhiệm vụ có tính chuyên nghiệp (quán xuyến, thành thạo và chuẩn mực) theo vị trí chứcdanh nghề nghiệp giáo viên THPT hạng II làm nòng cốt cho việc nâng cao chất lượngdạy học và giáo dục trong các trường THPT, vận dụng thành thạo những kiến thức vềnghiệp vụ chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ phù hợp với chức danh nghề nghiệp giáoviên THPT hạng II theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Đây là những nội dung hết sức bổ ích và cần thiết cho người quản lý, giáo viêngiảng dạy trong việc thực thi nhiệm vụ tại đơn vị đang công tác Với 10 chuyên đề đượcbồi dưỡng đã giúp cho học viên nhận thức được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn mớitrong công tác dạy và học Qua thời gian học tập, bản thân tôi đã tiếp thu được nhiềukiến thức bổ ích sau:
B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG II
KIẾN THỨC VỀ CHÍNH TRỊ, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VÀ CÁC KỸ NĂNG CHUNG
1.1 Lý luận về nhà nước và hành chính nhà nước
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với
sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước Đó chính là hoạt động quản lý gắn liền với hệ thốngcác cơ quan thực thi quyền lực nhà nước - bộ phận quan trọng của quyền lực chính trịtrong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn phương đối với xã hội Quản lý nhà nước đượchiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước Vềnguyên tắc, quyền lực nhà nước hiện nay ở mọi quốc gia trong quá trình thực thi đều đượcchia thành ba bộ phận cơ bản là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp
Trang 4Quyền lập pháp là quyền ban hành và sửa đổi Hiến pháp và luật, tức là quyền xâydựng các quy tắc pháp lý cơ bản để điều chỉnh tất cả các mối quan hệ xã hội theo địnhhướng thống nhất của nhà nước Quyền lập pháp do cơ quan lập pháp thực hiện.
Quyền hành pháp là quyền thực thi pháp luật, tức là quyền chấp hành luật và tổ chứcquản lý các mặt của đời sống xã hội theo pháp luật Quyền này do cơ quan hành phápthực hiện, bao gồm cơ quan hành pháp trung ương và hệ thống cơ quan hành pháp ở địaphương
Quyền tư pháp là quyền bảo vệ pháp luật do cơ quan tư pháp(trước hết là hệ thốngToà án) thực hiện Ở nước ta: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phốihợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hànhpháp, tư pháp” (Điều 2-Hiến pháp nước CHXHCN VN, 2013) Theo cơ chế đó, quyền lậppháp được trao cho một cơ quan duy nhất thực hiện là Quốc hội Ngoài chức năng chủyếu là lập pháp (ban hành và sửa đổi Hiến pháp, luật và các bộ luật), Quốc hội ở nước tacòn thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng khác là giám sát tối cao đối với mọi hoạt động củaNhà nước và quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, chiến lược pháttriển kinh tế-xã hội, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhànước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân Quyền hành pháp được trao choChính phủ và bộ máy hành chính địa phương thực hiện bao gồm quyền lập quy và điềuhành hành chính Quyền tư pháp được trao cho hệ thống Viện kiểm sát nhân dân các cấp
và hệ thống Toà án nhân dân các cấp thực hiện
Hành chính được hiểu là hoạt động chấp hành và điều hành trong việc quản lý một
hệ thống theo những quy định định trước nhằm giúp cho hệ thống đó hoàn thành mục tiêucủa mình Trong hoạt động của nhà nước, hoạt động hành chính nhà nước gắn liền vớiviệc thực hiện một bộ phận quan trọng của quyền lực nhà nước là quyền hành pháp – thựcthi pháp luật Như vậy, hành chính nhà nước được hiểu là một bộ phận của quản lý nhànước
Trang 51.2 Chiến lược và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo
Từ trước đến nay, về cơ bản chương trình giáo dục phổ thông vẫn được xây dựngtheo cách tiếp cận nội dung Chương trình thường chỉ nêu ra một danh mục đề tài, chủ đềcủa môn học nào đó cần dạy và học; tập trung trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn học sinhbiết những gì? Vì thế thường chạy theo khối lượng kiến thức, ít chú ý dạy cách học, đápứng nhu cầu, hứng thú của người học… Chương trình mới chuyển sang cách tiếp cậnnăng lực Đó là cách tiếp cận nêu rõ học sinh sẽ làm được gì và làm như thế nào vào cuốimỗi giai đoạn học tập Cách tiếp cận này không chỉ đòi hỏi học sinh nắm vững nhữngkiến thức, kỹ năng cơ bản mà còn chú trọng yêu cầu vận dụng kiến thức, kỹ năng vàothực hành, giải quyết các tình huống trong học tập và cuộc sống; kết quả hoạt động cũngphụ thuộc rất nhiều vào hứng thú, niềm tin, đạo đức… của người học cho nên chươngtrình cũng rất chú trọng đến mục tiêu phát triển các phẩm chất của học sinh Phát triển cácphẩm chất chủ yếu và các năng lực chung mà mọi học sinh cần có, đồng thời phát triểncác phẩm chất và năng lực riêng của từng học sinh Sự thay đổi căn bản trong cách tiếpcận này sẽ chi phối và buộc tất cả các khâu của quá trình dạy học thay đổi: Nội dung,phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, cách kiểm tra, đánh giá, thi cử; cách thứcquản lý và thực hiện,… Từ đó, tạo sự thay đổi căn bản về chất lượng giáo dục
Theo định hướng nêu trên, khi xây dựng chương trình, mục tiêu giáo dục cần được
cụ thể hóa thành phẩm chất và năng lực cần cho học sinh, được thể hiện dưới dạng yêucầu cần đạt cụ thể cho từng cấp học Năng lực bao gồm năng lực chung và năng lực đặcthù môn học Trong đó, năng lực chung được hình thành và phát triển thông qua tất cả cáclĩnh vực học tập, hoạt động giáo dục; năng lực đặc thù môn học được hình thành và pháttriển thông qua lĩnh vực học tập, môn học tương ứng Năng lực chung là những năng lực
cơ bản, thiết yếu mà ai cũng cần có để bảo đảm thành công trong cuộc sống, học tập vàlàm việc Hệ thống các phẩm chất và năng lực chung được xác định dựa trên cơ sở phântích chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục; mục tiêu giáo dục trong chương trìnhmới; bối cảnh, trình độ và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; trình độ, đặc điểm tâmsinh lý của học sinh Việt Nam; kinh nghiệm và xu hướng quốc tế
Trang 6Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo là việc hết sức trọng đại, cần có sựthống nhất trong nhận thức và hành động; phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân; huyđộng nhiều nguồn lực với sự phối hợp của nhiều cơ quan, ban ngành và các tổ chức xãhội, trong đó ngành giáo dục và đào tạo đóng vai trò chủ đạo, chịu trách nhiệm chínhtrước nhân dân; trước Đảng, Nhà nước và Quốc hội Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đangkhẩn trương, tích cực triển khai các công việc nhằm thực hiện chủ trương, định hướng màNghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã xác định Để thực hiện tốt nghị quyết, mộttrong những nội dung quan trọng cần nhận thức đúng chính là xác định rõ các yếu tố cơbản của giáo dục, đào tạo cần đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ, theo hướng phát triển phẩmchất và năng lực người học Mục tiêu của đổi mới là xây dựng nền giáo dục mở, thực học,thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lí tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lí, gắnvới xây dựng xã hội học tập; đảm bảo các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiệnđại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữvững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc.
Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡngnhân tài gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ quốc Đổi mới hệ thốnggiáo dục theo hướng mở, chủ động phát huy mặt tích cực, hội nhập quốc tế
1.3 Quản lý giáo dục và chính sách phát triển giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.3.1 Ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của cơ chế thị trường với giáo dục
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, khóa XI đã chỉ rõ:Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảmđịnh hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo Vậy, tại sao phải chủđộng phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường và phải bảo đảmđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Vì cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chi phốiảnh hưởng tới toàn bộ các hoạt động của đất nước ta, trong đó có giáo dục và đào tạo.Thành công của quá trình đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo phụ thuộc rất nhiều vào
Trang 7sự chủ động, năng lực của tổ chức, cá nhân trong việc chủ động phát huy mặt tích cực,hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường.
Mặt tích cực của cơ chế thị trường là chú trọng giải quyết quan hệ cung/cầu; cạnhtranh, tạo động lực nâng cao chất lượng đào tạo, chú trọng hiệu quả đầu tư Mặt tiêu cựccủa cơ chế thị trường trong giáo dục là chạy theo lợi nhuận tối đa, bỏ quên lợi ích lâu dàicủa người học, gây bức xúc xã hội Trong khi đó, chức năng xã hội và vai trò quan trọngcủa giáo dục không cho phép biến giáo dục thành thị trường hàng hóa thông thường.Trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần vận dụng những yếu
tố tích cực của kinh tế thị trường để phát triển giáo dục ở phạm vi và mức độ phù hợp
Theo quan điểm của Đảng ta, mục tiêu, nội dung giáo dục và đào tạo phải đảm bảo
vì sự phát triển tốt đẹp của con người và xã hội Để đạt được mục tiêu và nội dung này,Nghị quyết Trung ương 8 đã khẳng định nguồn lực nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu
tư ngân sách cho giáo dục và đào tạo Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiệncông bằng trong tiếp cận giáo dục đối với mọi người dân; hỗ trợ, có chính sách phù hợpcho giáo dục phổ cập, giáo dục bắt buộc, giáo dục vùng dân tộc thiểu số, vùng có điềukiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các đối tượng diện chính sách; thực hiện xã hộihóa giáo dục, tạo điều kiện cho giáo dục ngoài công lập phát triển
Tuy nhiên, Nghị quyết Trung ương 8 cũng chỉ rõ nhiệm vụ mà ngành giáo dục đào tạo phải nhanh chóng thực hiện trong thời gian tới và những năm tiếp theo là chủđộng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo Nhà nướctăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của phápluật, của các chủ thể trong hoạt động giáo dục, đào tạo
-1.3.2 Thực hiện hệ thống giáo dục mở
Nghị quyết cũng đề ra yêu cầu và mục tiêu hướng tới của nền giáo dục Việt Nam làxây dựng hệ thống giáo dục mở Tức là hệ thống giáo dục linh hoạt, liên thông giữa cácyếu tố: nội dung, phương pháp, phương thức, thời gian, không gian, chủ thể giáo dục…của hệ thống và liên thông với môi trường bên ngoài hệ thống Tuy nhiên, hệ thống nàyphải bảo đảm tính sáng tạo cho việc xây dựng, tổ chức các nội dung, hình thức giáo dục;
Trang 8đồng thời tạo cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người; tận dụng các nguồn lực cho giáodục và bảo đảm tính hiệu quả, phát triển bền vững của hệ thống.
Nói cách khác, hệ thống giáo dục mở là hệ thống giáo dục tạo ra cơ hội phát triểnchương trình giáo dục, tạo cơ hội học tập phù hợp cho mọi đối tượng có nhu cầu, khôngphân biệt lứa tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính trong mọi thờigian khác nhau và không gian khác nhau Nhờ đó, việc học tập của con người có điềukiện để thực hiện không ngừng suốt đời
1.3.3 Ổn định hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm
Nội dung nghị quyết đã chỉ rõ là cơ cấu hệ thống giáo dục phải góp phần đảm bảoquyền lợi học tập của người dân Chất lượng giáo dục của mỗi cấp học phải đảm bảo đạtchuẩn quốc gia và tương ứng với chất lượng quốc tế, phát huy hiệu quả đầu tư giáo dục.Thực hiện quan điểm chỉ đạo của nghị quyết, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã xây dựng đề ánphát triển giáo dục trong tình hình mới và khẳng định việc ổn định hệ thống giáo dục nhưhiện nay, tức 12 năm giáo dục phổ thông (GDPT) Lí do thứ nhất là trong lịch sử giáo dụcViệt Nam, mô hình giáo dục 12 năm tồn tại lâu nhất và ổn định nhất (tính từ sau Cáchmạng tháng 8 năm 1945 đến nay, mô hình 12 năm đã tồn tại 32 năm trong phạm vi cảnước) Thứ hai là mô hình GDPT 12 năm đang được thực hiện ở đa số nước trên thế giới.Hơn nữa, việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lựchọc sinh là xu thế quốc tế đã và đang được nhiều nước tiên tiến áp dụng Định hướng nàyđòi hỏi phải gia tăng thời lượng cho việc tổ chức các hoạt động học tập, đặc biệt là hoạtđộng thực hành và vận dụng kiến thức Vì vậy, Bộ Giáo dục - Đào tạo quyết định chọnphương án duy trì hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm
Trang 91.4 Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên Trung học phổ thông hạng II
1.4.1 Các khái niệm về phát triển năng lực nghề nghiệp GV THPT hạng II
Năng lực nghề nghiệp của giáo viên THPT là sự tổ hợp giữa kiến thức và kỹ năng
về chuyên môn mà giáo viên đảm nhận nhằm giúp cho giáo viên có thể tổ chức thànhcông, hiệu quả các hoạt động dạy học, hoạt động thực hành cho học sinh
Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên THPT được hiểu là sự phát triển nănglực nghề nghiệp của một giáo viên dạy một môn học cụ thể thông qua việc nâng cao vốnkiến thức môn học, các kỹ năng dạy học và kỹ năng phục vụ cho hoạt động sư phạm củangười giáo viên nhằm đáp ứng các yêu cầu của vị trí, vai trò người giáo viên phải đảmnhiệm theo vị trí việc làm của họ
Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên THPT bao hàm phát triển năng lựcchuyên môn và năng lực nghiệp vụ của nghề - nghiệp vụ sư phạm Năng lực nghiệp vụ sưphạm của giáo viên được xác định bỡi năng lực thực hiện các vai trò của giáo viên trongquá trình lao động nghề nghiệp của mình Bản thân các vai trò của giáo viên gắn liền với
vị trí việc làm của họ không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo nhu cầu nhiệm vụgiáo dục học sinh và theo yêu cầu của sự biến đổi kinh tế - xã hội
Như vậy, phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên bao gồm cả mở rộng, đổi mớitri thức khoa học liên quan đến giảng dạy bộ môn do giáo viên phụ trách đến mở rộng,phát triển, đổi mới tri thức, kỹ năng thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục trongnhà trường
1.4.2 Các nội dung phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên THPT hạng II
- Phát triển năng lực chính trị: các thầy cô giáo phải là người có bản lĩnh và năng
lực chính trị để giảng dạy, giáo dục học sinh về năng lực chính trị để phát huy vai trò củanhà trường đối với việc duy trì và bảo vệ hệ thống chính trị của quốc gia, của dân tộc Vìnhà trường phục vụ mục đích chính trị
Trang 10- Phát triển năng lực chuyên môn: đây là năng lực cốt lõi của giáo viên nên người
giáo viên không ngừng học tập, bồi dưỡng phát triển về chuyên môn và luôn làm giàu vốntri thức của mình Vì lượng tri thức không ngừng biến đổi và ngày càng gia tăng, tri thứcnghề nghiệp có thể không còn phù hợp hoặc không đủ
- Phát triển năng lực nghiệp vụ sư phạm: kiến thức, kỹ năng về nghiệp vụ sư phạm
luôn biến đổi theo hướng tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa người dạy và người học,giữa người học với người học Trong khi đó, môi trường tri thức khoa học lại mở rộng,nhiều nguồn thông tin khác nhau cùng tác động người học; đòi hỏi giáo viên phải đổi mớiphương pháp dạy học để đáp ứng với nhu cầu của người học và yêu cầu phát triển nănglực cho người học
- Phát triển năng lực tự học, tự bồi dưỡng: tạo kỹ năng tự học, tự bồi dưỡng trong
quá trình trải nghiệm thực tế
- Phát triển năng lực xã hội: vì năng lực xã hội của giáo viên hỗ trợ cho năng lực
chuyên môn; đặc biệt đối với giáo viên các môn kho học xã hội Đồng thời, giáo viên cần
có năng lực xã hội để giáo dục học sinh, và luôn tích ứng trong môi trường luôn biến đổi,nắm bắt được các vấn đề xã hội tránh lạc hậu
Hoạt động giáo dục (HĐGD) theo nghĩa rộng là những hoạt động có chủ đích, có
kế hoạch hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục, được thực hiện thông qua các cáchthức phù hợp để chuyển tải nội dung giáo dục đến người học nhằm thực hiện mục tiêugiáo dục.Theo nghĩa hẹp, HĐGD chỉ các HĐGD được tổ chức ngoài giờ dạy học cácmôn học và được sử dụng cùng với khái niệm hoạt động dạy học (HĐDH) các môn học.Như vậy, HĐGD theo nghĩa rộng bao gồm HĐDH và HĐGD theo nghĩa hẹp
KHGD ở trường phổ thông là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo sao cho phù hợpchương trình và chuẩn chương trình GDPT quốc gia vào thực tiễn nhà trường phổ thông,
Trang 11trên cơ sở đổi mới cách tiếp cận tất cả các thành tố của GDPT quốc gia hiện hành, baogồm phạm vi và kết cấu nội dung, chuẩn cần đạt, phương pháp và hình thức tổ chức dạyhọc; thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, theo yêu cầu phát triển phẩm chất và nănglực người học KHGD nhà trường phổ thông tuân thủ mục tiêu giáo dục, yêu cầu chuẩnchương trình GDPT quốc gia và các yêu cầu giáo dục các tỉnh, thành KHGD nhà trườngphổ thông có thể thay đổi nội dung, cách thức, thời lượng, biện pháp, hình thức dạy học, sao cho phù hợp và đạt hiệu quả.KHGD nhà trường phổ thông do Hội đồng Giáo dục nhàtrường, trên cơ sở tổ/nhóm chuyên môn, các GV xây dựng riêng cho mỗi trường.
2.2 Sinh hoạt tổ chuyên môn và công tác bồi dưỡng giáo viên trong trường trung học phổ thông
2.2.1 Khái niệm tổ chuyên môn
Tổ chuyên môn là một bộ phận của nhà trường, gồm một nhóm giáo viên (từ 3người trở lên) cùng giảng dạy về một môn học hay một nhóm môn học hay một nhómviên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục, tư vấn học đường, được tổ chức lại
để cùng nhau thực hiện các nhiệm vụ theo mục tiêu, chiến lược của tổ, của nhà trường đềra
2.2.2.Vai trò tổ chuyên môn
Tổ chuyên môn là một bộ phận cấu thành của nhà trường THPT Các tổ nhómchuyên môn có mối quan hệ hợp tác với nhau, phối hợp các bộ phận nghiệp vụ khác vàcác tổ chức đoàn thể trong việc thực hiện các nhiệm vụ của tổ, của nhà trường nhằm đạtđược các mục tiêu đã đề ra
Tổ chuyên môn là nơi trực tiếp triển khai các hoạt động của nhà trường, trong đótrọng tâm là hoạt động giáo dục và dạy học
Tổ chuyên môn là đầu mối quản lý mà Hiệu trưởng nhất thiết phải tập trung dựavào đó để quản lý nhà trường trên nhiều phương diện, nhưng cơ bản nhất là hoạt động dạyhọc và hoạt động giáo dục của giáo viên
Tổ chuyên môn là một môi trường trong đó có các mối quan hệ đồng nghiệp gắn
bó, đoàn kết; cùng nhau chia sẻ tâm tư, tình cảm và những khó khăn trong đời sống của
Trang 12giáo viên; kịp thời động viên, giúp đỡ giáo viên trong tổ hoàn thành tốt nhiệm vụ củangười giáo viên trong trường trung học.
2.2.3 Chức năng, nhiệm vụ tổ chuyên môn
- Xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động chung của tổ;
- Hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên, phân phối chươngtrình và các hoạt động khác của nhà trường;
- Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên trong tổ;
- Tham gia đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ theo quy định của Chuẩn nghềnghiệp giáo viên trung học và các quy định khác;
- Giới thiệu tổ trưởng, tổ phó Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên;
- Tổ chức sinh hoạt chuyên môn 02lần/tháng và có thể họp đột xuất theo yêu cầucông việc hoặc theoyêu cầu Hiệu trưởng
2.2.4 Tổ chuyên môn với hoạt động chuyên môn nghiệp vụ trường THPT và công tác bồi dưỡng giáo viên
- Tạo lập môi trường tự học, tự bồi dưỡng và hợp tác chia sẻ;
- Tổ chuyên môn và tổ chức thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học vàgiáo dục trong trường THPT;
- Tổ chuyên môn với công tác bồi dưỡng giáo viên tập sự và bồi dưỡng giáo viêntrong trường THPT;
- Kết hợp các phương thức bồi dưỡng trong bồi dưỡng giáo viên THPT thông quahoạt động của tổ chuyên môn;
- Sinh hoạt tổ chuyên môn theo cụm trường/liên trường nhằm nâng cao chất lượngbồi dưỡng giáo viên THPT
2.2.5 Tổ chuyên môn với việc phát triển nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
- Xây dựng kế hoạch hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng trong kếhoạch hoạt động nâng cao năng lực giáo viên và chất lượng giáo dục;
- Tổ chuyên môn với việc phát hiện vấn đề và xác định chủ đề nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng;
- Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng;