1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

tâm lý học nhân cách

179 207 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách biết một phần nhân cách con người của người phương Đông xưa dựa vào âm dương ngũ hành là một tiêu chí cần được nghiên cứu nghiêm túc để có thể vận dụng trong tâm lý học nhân cách..

Trang 1

TÂM LÝ HỌC NHÂN CÁCH MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

Tác giả: NGUYỄN NGỌC BÍCH

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NHÂN CÁCH THEO QUAN NIỆM PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI

I - CƠ SỞ TRIẾT HỌC CỦA NHÂN CÁCH PHƯƠNG ĐÔNG

1 Sự khác biệt giữa triết học phương Đông và phương Tây

Do hai nguồn văn hóa khác nhau nên triết học phương Đông khác biệt triết học phương Tây

- Xét về thế giới quan:

Phương Tây cho rằng người và trời khác biệt lẫn nhau

Phương Đông cho rằng có sự hợp nhất giữa trời và người

+ Lão Tử cho rằng: "Người phỏng theo đất, đất phỏng theo trời, trời phỏng theo đạo, đạo phỏng theo tự nhiên"

Như vậy trời - đất - người thông nhau bằng một đạo

+ Khổng Tử cho rằng người và trời thống nhất với nhau

+ Triết học Trung Quốc lấy nhân sinh làm hạt nhân, triết học phương Tây dựa vào siêu hình học và nhận thức luận

Khổng Tử nói: "Chưa biết sự sống làm sao biết được cái chết"

Triết học Trung Quốc coi trọng "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" Xây dựng giá trị đạt được "Thành đức, thành nhân, thành phật, thành thánh"

- Về tinh thần của triết học:

Trung Quốc lấy đạo đức làm tinh thần, lấy chân thực bên trong làm mục đích, lấy nghệ thuật làm tinh thần, lấy việc theo đuổi trạng thái làm cảm hứng

Trung Quốc coi trọng chủ thể đạo đức chứ không coi trọng chủ thể lí tính

Từ đó xem xét nghệ thuật mang màu sắc lãng mạn, chuyển tính và tâm vào vật - giữa người và vật không còn khác biết nhiều nữa mà vật đã thấm đượm tâm người

Nếu như phương Đông người là động vật đạo đức thì phương Tây người là động vật duy lí

2 Những tư tưởng triết học phương Đông

2.1 Tư tưởng nhất nguyên lưỡng cực động

Quan niệm cơ bản của nguyên lý nhất nguyên lưỡng cực động là "đạo học": Hai mà một, một mà hai

Đó là "tư tưởng động" luôn luôn biến đổi từ cực này sang cực khác (không thể nói ra được, không thể dùng một từ nào để định được)

Người phương Tây trắng ra trắng, đen ra đen

Trang 2

Người phương Đông không xác định rõ ràng cái nào tốt cái nào là xấu hẳn: không chịu sự phân tích, không hệ thống hóa, không duy tâm, không duy vật, duy linh duy thực

a) Thể hiện cách hành văn và lập luận của phương Đông

Cách diễn đạt của người phương Đông mập mờ, hư hư, thực thực thiếu sự

- Người phương Đông: "Ý tại ngôn ngoại" (ý ngoài lời), "thư bất tận ngôn" (sách không nói hết lời)

- Hay dùng phương pháp tượng trưng, ngụ ngôn; Thể hiện các nét vẽ trong dịch học vào thi, nhạc, họa

b) Đồng thanh tương ứng

Theo người phương Đông sự hiểu biết do người khác đưa đến là sự hiểu biết không thật - Đọc một cuốn sách, một bài thơ không phải dễ hiểu cuốn sách hoặc bài thơ đó, nó gợi lên những ý tưởng đã ấp ủ từ lâu trong lòng Tức là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu Một câu nói có người không hiểu gì cả, có người hiểu nhiều vấn đề, có sự rung chuyển lạ thường

- Người đệ tử đến tìm thầy để học thì phải biết chờ đợi, nhẫn nại Mình đợi thầy và thầy cũng đợi mình Thầy đợi trò đến lúc trò rất cần và đủ độ nhẫn nại mới dạy Sách phương Đông không giải thích rõ ràng Họ chỉ khêu gợi chứ không truyền bá tư tưởng

c) Ba giai đoạn trong lịch trình diễn biến của tâm thức theo triết học phương Đông

- Giai đoạn 1: chưa có ta Giai đoạn nhất nguyên

Sống theo thiên tính, ngoại cảnh, lẫn lộn giữa lý và tình, giữa nội tâm và ngoại giới Sống vô tâm, bắt chước người xung quanh Đây là thời kỳ của dân tộc bán khai, thần thoại ấu trĩ, giai đoạn trẻ thơ

- Giai đoạn 2: Sự trưởng thành của cái ta Giai đoạn nhị nguyên

Cá tính con người dần dần xuất hiện Tính bắt chước giảm đần Phân biệt rạch ròi thiện ác, trắng đen, vinh nhục Có tâm hồn độc đáo, sáng kiến và phê bình sâu sắc Óc khoa học đóng vai trò quan trọng như phương Tây ngày nay

- Giai đoạn 3: Siêu thoát nhị nguyên

Giai đoạn này không cần đến lý trí nữa, cảm thấy mình không còn cách biệt với vũ trụ, hợp nhất các mâu thuẫn Đó là giai đoạn thoát cái tiểu ngã để nhập vào cái toàn thể

Câu chuyện vườn Eden cho ta biết về diễn biến của tâm thức

Lúc ban đầu loài người sống chung với loài vật và thiên nhiên ADAM và EVA sống trần truồng không phân biệt giới tính Hai người tượng trưng cho âm

- dương

Trang 3

Nhưng EVA ném trái thiện ác rồi đem cho AĐAM ăn Từ khi ăn trái thiện

ác hai người biết xấu hổ và lấy lá che, Chúa trời quở mắng Những muốn trở về trời thì phải trở về tâm vô sai biệt của ban đầu

2.2 Tư tưởng tam nguyên

Tư tưởng này thể hiện rõ trong thái cực đồ

a) Thái cực đồ

- Phần âm màu đen

- Phần dương màu trắng Bao trong một cái vòng tròn Cái đó gọi là đạo Đây là nguyên lý chỉ huy và điều hòa hai lực lượng mâu thuẫn kia

+ Phần dương không hoàn toàn là dương, phần âm không hoàn toàn là âm

Có điểm nhỏ dương trong âm và điểm âm trong dương Nó là mầm mống mạnh

mẽ Nó là hạt giống, có tiềm lực phi thường Nó là nguyên nhân mâu thuẫn nội tại Không có một vật nào trên đời mà thuần tốt hoặc thuần xấu, thuần hại hoặc thuần lợi Đó là do mâu thuẫn nội tại

+ Được gọi là âm khi âm lấn phần dương, gọi là dương khi nào dương lấn

âm Nếu sự lấn át lên cực độ thì liền biến tức khắc Đó là luật "phản phục"

+ Âm dương vừa mâu thuẫn vừa tương đồng; không cái nào phụ thuộc cái nào

+ Nguyên lý tối cao hợp nhất gọi là đạo điều hòa và chi phối hai lực lượng kia, làm cho âm dương không rời nhau

Con người là một "tiểu kiền khôn" (tức là từng đốt nhỏ) Thực thể con người là sản vật của nguyên lý âm dương Nhờ cáo đạo mà thấy rõ nguyên lý tích cực và tiêu cực vừa mâu thuẫn vừa đồng đẳng về giá trị; luôn luôn có luật quân bình trong mọi vật; luật quân bình ấy là đạo hay gọi là thường đạo, trung đạo hay trung dung

b) Các cặp mâu thuẫn

- Mâu thuẫn nhưng nương tựa nhau: Mâu thuẫn nhưng nương tựa nhau để

tồn tại Sáng nương tối mà có, thiện nương ác mà có

- Mâu thuẫn nào cũng chứa đựng lẫn nhau Trong âm có dương, trong dương có âm

- Chuyển hóa lẫn nhau: Cái này biến thành cái kia, âm biến thành dương

và dương biến thành âm

- Quan hệ ngang nhau: Không cái nào hơn cái nào, không cái nào trọng hơn cái nào

- Các cặp mâu thuẫn bị cái thứ ba khống chế làm cho nó không tách rời nhau mà thống nhất với nhau (tam nguyên)

- Sự tác động hai chiều là nguyên nhân của mọi sinh hóa

Hai yếu tố mâu thuẫn đùn đẩy nhau tác động lẫn nhau tạo nên sự biến hóa

Trang 4

- Chân lý không thể chứng minh, chỉ có thể khêu gợi mà thôi "Nói là không biết, biết thì không nói"

Điều này đã ăn sâu vào lối sống của người phương Đông

Họ sống kín đáo, tế nhị, khêu gợi, thi vị

Uống trà thành "trà đạo", chơi hoa biến thành "hoa đạo"

Những cơ sở triết học này đã chi phối tâm lý người phương Đông Vì vậy, việc nghiên cứu tâm lý người phương Đông phải chú ý đến những quan niệm triết học cổ xưa của người phương Đông đã ảnh hưởng đến ngày nay như thế nào để chúng ta có quan điểm đúng đắn trong việc nghiên cứu tâm lý người phương Đông ngày nay, đặc biệt là tâm lý người Việt Nam

II – CÁC TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG VỀ NHÂN CÁCH

1 Thiên địa nhân hợp nhất

“Thiên - địa - nhân” hợp nhất là trời, đất, người hợp thành một Về cơ bản con người mang những thuộc tính của vũ trụ

Về một sinh học, năng lượng vũ trụ của trời đi xuyên qua luân xa 7 (bách hội) rồi xuống tủy sống, còn năng lượng của đất qua luân xa 1 lên phía trên, theo đường tủy sống

Theo triết học phương Đông trời được xem là dương và đất là âm Nhờ có năng lượng âm dương của trời đất mà con người có năng lượng để tồn tại duy trì cuộc sống Như vậy, có sự giao hòa giữa năng lượng của Trời - Người và Đất, thể hiện nguyên lý thiên địa nhân hợp nhất

Trong đời sống xã hội người ta luôn nói: thiên thời, địa lợi nhân hòa để nói lên sự hợp nhất của ba yếu tố trời đất và con người

Về trời ảnh hưởng đến con người và xã hội loài người được thấy một cách

rõ ràng Trời có các hành tinh, mặt trời, mặt trăng, nhiều ngôi sao, đặc biệt 5 ngôi sao: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ có ảnh hưởng rất lớn đối với tâm lý con người Chính mặt trời, mặt trăng, các hành tinh đã có ảnh hưởng đến thời tiết, nhiệt độ, tâm lý con người

Về đất, người ta hay nói đến địa linh Đó là những vùng đất ảnh hưởng một phần đến bệnh tật, sức khỏe, trí tuệ, tình cảm, tính cách, năng lực của con người

và cộng đồng người Ở Việt Nam một số người cho rằng những vùng như chùa Hương, Tam Đảo; Núi Tản Viên, Côn Sơn, Ngũ Hành Sơn, núi Yên Tử, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây là những địa linh

Tồn tại trong không gian và thời gian có lưỡng nghi gọi là âm và dương

Âm đương giao hoà nhau, biến hóa không cùng trong vũ trụ Từ đó sinh ra vạn vật

Âm dương đóng vai trò xoay chuyển không bao giờ ngừng

Chúng cùng tồn tại, nhưng độc lập với nhau, tương phản nhưng hòa đồng, hòa nhập vào nhau, mâu thuẫn nhưng không triệt tiêu nhau để sinh hóa vô cùng

Âm - dương dùng để biểu hiện trong thế giới hữu hình lẫn thế giới vô hình (tư duy, tâm linh, tâm hồn), chúng có trong vạn vật dù có nhìn thấy hay không nhìn thấy

Trang 5

Triết học phương Đông cho trời là dương và đất là âm, đàn ông là dương, đàn bà là âm Đối với đàn ông mặt trước là âm mặt sau là dương và đàn bà thì ngược lại Trong cơ thể con người nơi nào cao là dương, nơi nào thấp là âm Trên dương dưới âm, thịt âm, xương dương

Âm dương còn thể hiện trong môi trường Cái gì nhẹ, lỏng, mềm, nhiều nước là âm và trái lại là dương Những lực hướng tâm đi xuống là dương, những lực nhẹ bốc lên, thoát ra, mở rộng là âm

Tất cả mọi vật đều có âm có dương Không có vật nào tuyệt đối dương hoặc tuyệt đối âm Quả đất so với mặt trời là âm, nhưng so với trăng lại là dương

Những vật có hình thể theo phương thẳng đứng, lực li tâm chiếm ưu thế đều là âm, các hình có phương nằm ngang, lực hướng tâm có ưu thế là dương

Màu nào cho ta cảm giác nóng, ấm áp hơn là dương, mát lạnh là âm Mùi

vị cũng có âm dương Ví dụ: vị chua là cực âm, vị cay là cực dương

Âm dương không những là hai mặt đối lập nhưng dựa vào nhau và phân loại theo một quy luật nhất định Vạn vật và con người không có cái gì là không

có âm dương Âm dương vừa dựa vào nhau vừa lợi dụng lẫn nhau Không có âm thì không có dương Âm dương ở thế cân bằng động, cái này giảm thì cái kia tăng; hết ngày lại đêm, hết nóng lại lạnh, âm dương chuyển hóa cho nhau Âm tiến đến cùng cực sinh dương, dương tiến đến cùng cực sinh âm

Con người không chỉ bị chi phối của quy luật âm dương mà còn bị chi phối của quy luật ngũ hành

Học thuyết cổ đại phương Đông cho rằng thế giới là do năm loại vật chất

cơ bản nhất tạo thành: mộc, thổ, hỏa kim, thủy Sự phát triển về biến hóa của các

sự vật và hiện tượng (trong đó có con người) trong tự nhiên đều là kết quả 5 loại vật chất khác nhau vận động và tác động lẫn nhau Học thuyết ngũ hành được dùng rộng rãi trong các lĩnh vực của khoa học và đời sống

Đặc tính của ngũ hành:

Mộc có đặc tính mọc lên và phát triển

Hỏa có đặc tính nóng, hướng lên trên

Thổ có đặc tính nuôi lớn, phát dục

Kim có đặc tính thanh tĩnh, thu sát

Thủy có đặc tính lạnh lẽo, lắng xuống dưới

Sự phối hợp giữa âm dương và ngũ hành tạo ra đặc tính riêng:

- Dương mộc là cây của đại ngàn, cứng rắn làm trụ cột

- Âm mộc là cây cỏ; có vẻ đẹp kiều diễm, tính yếu mềm

- Dương hỏa là hỏa của mặt trời, chiếu sáng muôn nơi, vạn vật, tính mãnh liệt

- Âm hỏa là lửa của nến, chiếu sáng trong nhà, tính mềm yếu, có đức hy sinh vì người

- Dương thổ là đất trên thành, cứng, hướng dương, dưỡng dục cho vạn vật

có đặc tính là cao thượng

Trang 6

- Âm thổ là đất của ruộng vườn, có chức năng nuôi dưỡng cây cối và ngăn nước, mềm mại và ẩm ướt, ở thấp, hướng về âm, đưa lại hạnh phúc cho mọi người

- Dương kim là kim loại của mũi kiếm, tính cứng khỏe, sát phạt, có đặc tính cương trực

- Âm kim là ngọc quý dùng để trang trí, sáng trong, ấm, có đặc tính là nhu nhược

- Dương thủy là nước của sông, hồ, biển chảy khắp nơi không ngừng, tính mạnh mẽ, thông suốt

- Âm thủy là nước mưa có khả năng biến thành khí, yên tĩnh, mềm yếu có khả năng nuôi nấng vạn vật

Con người là tiểu vũ trụ, là một sinh vật - vô cùng phức tạp vừa đối lập vừa thống nhất Con người chứa trong nó nhiều thông tin tự có và thu nhận từ bên ngoài Và đồng thời có khả năng thu nhận thông tin và phát thông tin Chức năng này chịu ảnh hưởng của âm dương ngũ hành Giữa người và vũ trụ có sự cảm ứng qua lại Đó là quan hệ giữa khí âm dương ngũ hành của trời đất tương sinh tương khắc, tương chế, tương hóa với con người

Âm dương ngũ hành là loại vật chất vô cùng tinh vi chúng ta chưa thể biết

về nó Người xưa muốn biết tác dụng của âm dương ngũ hành đã dùng cách sắp xếp thiên can địa chí của giờ, ngày, tháng, năm sinh của con người - Nó là thứ giao biến của đời người, chứa chất nhiều kịch tính phong phú, mang tính chất dự báo cho tương lai con người và cộng đồng

Âm dương cũng thể hiện trong tâm lý con người

Người ta chia ra 3 loại người: loại người âm, loại người dương và trung tính Người âm tạng thì các đặc điểm về âm trội hơn, người dương tạng thì các đặc điểm về dương trội hơn Có thể dựa vào vẻ mặt, hình dáng, giọng nói, dáng điệu, cử chỉ và tính tình để chia ra các loại người đó

Người ta nhận thấy người dương tạng dễ bị kích thích nhiệt tình sôi nổi Người âm tạng khí chất lãnh đạm, trầm tĩnh Ngoài ra có loại người bình tạng, loại người này cân bằng về mặt tâm lý Đó là loại người tối ưu về thể tạng cũng như tâm lý Để nhận biết người dương và người âm thì căn cứ vào thể tạng

Người dương tạng thân hình to khỏe, da nóng, sắc mặt tươi tắn, giọng nói

to

Người âm tạng thì ướt, mát, sắc mặt xanh, giọng nói nhỏ, tròng đen mắt hướng lên cao

Sở dĩ có người dương tạng hay âm tạng là do chịu ảnh hưởng của di truyền

bố mẹ và sự ăn uống hoàn cảnh sinh hoạt hàng ngày, khí hậu và cách sống của từng người Tính cách của con người cũng chịu ảnh hưởng của ngũ hành Mỗi hành có đặc điểm về tính cách khác nhau Người ta dựa vào 4 tiêu chí: giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh, năm sinh để biết ngũ hành của một người

Người mệnh kim ăn nói nghĩa khí, nếu kim vượng thì tính cách cương trực Người mệnh hỏa thì lễ nghĩa, đối với mọi người nhã nhặn, lễ độ, hay thích nói lý luận Nhưng nếu hỏa nhiều, hỏa vượng thì nóng nảy, vội vã, dễ hỏng việc

Trang 7

Người mệnh thổ là người trọng chữ tín, nói là làm

Nhưng thổ vượng thì hay trầm tĩnh, không năng động, để bỏ mất thời cơ Người mệnh mộc hiền từ, lương thiện, độ lượng bao dung nhưng mộc vượng thì tính cách bất khuất Loại người này thích hợp với nghề nghiệp quân sự

và công an

Người mệnh thủy thì khúc khuỷu, quanh co, nhưng thông suốt, như nước chảy Người mệnh thủy là người trí tuệ, thông minh ham học Nếu thủy vượng thì tính tình hung bạo, dễ gây ra tai họa

Đặc tính của ngũ hành là tương sinh, tương khắc Trong con người cùng

có năm chất khí đó nên cũng có tương sinh, tương khắc

Tương sinh:

Kim sinh thủy Thủy sinh mộc Mộc sinh hỏa Hỏa sinh thổ Thổ sinh kim

Tương khắc:

Kim khắc mộc Thủy khắc hỏa Mộc khắc thổ Hỏa khắc kim Thổ khắc thủy

Nếu trong đời một người ngũ hành tương sinh nhiều sẽ tốt tương khắc nhiều

sẽ xấu Đồng thời dựa vào số lượng hành trong 4 tiêu chí để biết được tính tình

và con đường đời của người đó

Như vậy, để dự đoán được tâm lý con người và hoạt động của con người

sẽ diễn ra như thế nào cần phải xác định cho được thành phần các hành trong mỗi người

Ví dụ: Người sinh giờ mão, ngày 7 tháng 3 năm 1964 có thể đối ra can chi: quí mão, đinh dậu, mậu thìn, giáp dần

Từ đó đối ra âm dương ngũ hành:

Giờ - Quý Mão: âm thuỷ + mộc Ngày - Đinh Dậu: âm hỏa + kim Tháng - Mậu Thìn: dương thổ + thổ Năm - Giáp Thìn: dương mộc + thổ

Dựa vào tính chất tương sinh tương khắc của ngũ hành xem xét mà biết sự tương hợp hay không tương hợp tâm lý của vợ chồng, những người trong gia đình hay một nhóm xã hội hay không

Cách biết một phần nhân cách con người của người phương Đông xưa dựa vào âm dương ngũ hành là một tiêu chí cần được nghiên cứu nghiêm túc để có thể vận dụng trong tâm lý học nhân cách

2/ Người phương Đông không có triết học theo nghĩa thông thường mà chỉ

có đạo học

Trang 8

Người phương Đông theo nhất nguyên luận - từ trước đến nay ta quen cách nghĩ nhị nguyên Nhị nguyên là phân chia các vật trong đời ra làm hai phần biệt lập nhau, mâu thuẫn nhau để tiêu diệt lẫn nhau: Thiện – ác, tâm – vật, tĩnh - động

Theo tư tưởng phương Đông nhất nguyên luận quan niệm sự vật nào cũng

có 2 bề: bề mặt và bề trái Hơn nữa cả hai là một không thể tách rời nhau Nho hay Lão đều quan niệm như vậy

Tư tưởng phương Đông thiên về đạo học hơn triết học

3/ Người phương Đông trọng phẩm hơn là lượng

Văn minh lượng lấy tiến bộ làm lý tưởng Đó là văn minh phương Tây hiện đại

- Người phương Đông lấy "Tận Thiện" làm lý tưởng

Phương Tây tôn sùng tiến bộ, tôn sùng văn minh vật chất, không quan tâm nhiều đến "phẩm" Do đó nhiều người đã than phiền rằng đạo lý ngày nay suy đồi, nhân cách con người thoái hóa, không bằng ngày xưa

Những công trình văn hóa, mỹ nghệ, thơ văn, mỗi ngày bị mai một đi cùng với văn minh lượng, tôn sùng tiến bộ vật chất Tại sao trong thời đại văn minh

mà thấy cái gì cũng sa sút

Người xưa do khoa học kỹ thuật lạc hậu nên sống nghèo nhưng các giá trị văn hóa, tinh thần, mỹ thuật, văn chương, lý luận, tôn giáo, đã đến tận thiện, tận

mỹ

Ngày nay về mặt lượng thì thấy có tăng, nhưng phẩm thì sa sút

4/ Nhân cách người phương Đông thích sự im lặng hơn là nói ra

Chân lý là vô cùng và vô cùng uyển chuyển nên nói ra không hết ý

"Ý tại ngôn ngoại" ý ở ngoài lời nói

Người phương Đông dùng tượng trưng qua chữ hình tượng trong kinh dịch, trong nhạc, họa, ngụ ngôn

5/ Các quy luật vũ trụ chi phối cá nhân và cộng đồng

a Tử vi và Độn giáp có những quy luật sâu xa chi phối con đường phát triển của

cá nhân

- Tử vi cho ta biết con đường phát triển bên trong của từng con người

- Độn giáp cho biết con đường phát triển bên ngoài của các cá nhân

Đây là loại quy luật mang tính khả năng, trong quan hệ bổ sung, ngẫu nhiêu

và tất yếu; mang tính chủ quan và khách quan Ý chí chủ quan của con người góp phần quyết định

b Vũ trụ còn có những quy luật chi phối cộng đồng

Nhưng những quy luật này còn mang tính khả năng, tính khách quan kết hợp với chủ quan

Hiểu được mệnh của cá nhân và cộng đồng - còn phải hiểu đến thân - cái tạo nên ý chí

6/ Con người là tiểu vũ trụ

Con người về cơ bản mang những đặc tính của vũ trụ

Những đặc tính này chi phối sự phát triển con người

Giữa con người và vũ trụ có quan hệ nhau:

Trang 9

Con người - Vũ trụ

Tâm linh - Tâm linh

Vật lý - Vật lý

Trong con người có đại ngã và tiểu ngã

- Đại ngã: là cái một - đạo thấm vào người Đó là cái không tôi hay gọi là cái nó - cái vô thức

- Tiểu ngã là cái tôi: cái tiểu ngã là phụ, đại ngã có vai trò chính

+ Con người thường hay quên cái đại ngã của mình, mà ra quá mức vào tiểu ngã Đó là nguyên nhân làm suy đồi đạo lý làm người

Con người sống lành mạnh phải biết dung hòa giữa đại ngã và tiểu ngã Con người nhận biết được tiểu ngã qua cảm giác và tư duy

Nhưng đại ngã khó nhận biết được Có những phương pháp tiếp cận của cận sinh học, cận tâm lý học, cận vật lý để tìm hiểu đại ngã

Các cấu trúc của tiểu ngã và đại ngã của nhân thế theo Raymond Reaut (Pháp) (xem hình 1, 2, 3, 4, 5)

Con người cũng là một hệ thống mở, con người liên hệ với vũ trụ bao la, nên con ngừời cần biết được các thông tin của vũ trụ

Nhịp sinh học của con người và Trái Đất; ảnh hưởng của mặt trăng và vũ trụ Trong con người có 365 kinh lạc và 365 khớp, phù hợp 365 ngày trong 1 năm

- Quy luật con số: chi phối con số 2 và 5 (2 mắt, 2 chân, 2 tai, 5 ngón tay)

7/ Đời sống tâm lý con người phải cân bằng, không thái quá

- Trong cuộc sống xác thịt và tâm linh phải hài hòa Có nghĩa là âm dương phải điều hòa

Tâm linh là dương Xác thịt là âm

- Âm dương biến đổi theo quy luật: Âm phát triển cực đại sang dương Dương phát triển cực đại sang âm Như vậy mọi sự thái quá sẽ chuyển từ cực này sang cực kia, không tạo nên sự cân bằng

- Mọi sự thái quá sẽ gây cực đoan Ăn uống không điều độ sẽ tạo con người

có khuôn mặt khác đi

- Sự tiến hóa là một quá trình vận động của âm - dương biến đổi nhau:

Âm sinh - Âm tướng Dương sinh - Dương tướng

Âm cực - sinh dương

Dương cực - sinh âm

Ông cha ta nói: "Không ai giàu (quá) 3 họ, không ai khó (quá) 3 đời Thịnh rồi suy, suy rồi thịnh Đó là quy luật của sự tiến hóa

Theo cổ nhân:

+ Thời kỳ dương thịnh từ năm 2196 (trước công nguyên) đến năm 504 khoảng 2700 năm

+ Thời kỳ âm thịnh từ năm 504 đến năm 3204 (2700 năm)

Sự sống chết là quá trình âm tụ và dương tán

Ra đi (cuộc sống) là âm tụ

Trang 10

Trở về (cái chết) là dương tán

Bước ra đi là đại ngã tụ thêm tiểu ngã

Bước trở về là tiểu ngã tan ra để trở lại đại ngã

- Con đường tiến hóa của con người là từ đại ngã đến tiểu ngã rồi từ Tiểu ngã đến đại ngã Tức là con đường đi từ tiên thiên đến hậu thiên (cõi trần) rồi sau

đó đi từ hậu thiên đến tiên thiên (cõi trời)

8/ Sự sáng tạo của nhân cách (con người) là tạo nên ý thức thuần khiết hay còn gọi là minh triết

Sự minh triết nhờ siêu thiền định

Ý thức thuần khiết là cội nguồn của mọi sáng tạo hài hòa cũng như trong bông hoa chất nhựa làm cho cây phát triển là không màu - thuần khiết Bằng sự thuần khiết của ý thức con người sẽ được sự hỗ trợ của tự nhiên để hành động

Sự thanh thản trong tâm hồn con người sẽ có những tư tưởng hoạt động có hiệu lực và làm việc sẽ có kết quả hơn

Trong trạng thái đó con người sẽ phát ra những sóng sinh động và hài hòa với môi trường xung quanh

9) Sự ổn định trong một thời điểm và sự biến đổi theo thời gian của nhân cách

- Xét về một thời điểm của ngũ hành:

Các yếu tố tương sinh

+ Thổ sinh kim + Kim sinh thủy + Thủy sinh mộc + Mộc sinh hỏa + Hỏa sinh thổ

Các yếu tố tương khắc:

+ Kim khắc Mộc + Mộc khắc Thổ + Thổ khắc Thủy + Thủy khắc Hỏa + Hỏa khắc Kim

Xét về các thời điểm khác nhau:

Trang 11

- Mộc suy: Thụ động, nhu nhược, không dám hành động, bi quan, chủ bại Trong mơ thường thấy bị rượt bắt, bị đánh đập không chống lại nổi, thấy cây lá

úa

b) Người Hỏa:

- Hỏa vượng: sôi nổi, nóng nảy, cuồng nhiệt, hay cười vô cớ Trong giấc

mơ thấy màu sắc đỏ tươi như máu, thấy lửa, các vật màu đỏ rực

- Hỏa suy: Tinh thần bất ổn, hay lo lắng, thiếu sáng suốt Trong giấc mơ thấy vật tái xanh, trắng bệch hay đỏ bầm

c) Người Thổ:

- Thổ vượng: vô tư, hay hát, trong giấc mơ thấy cảnh vật màu vàng tươi

- Thổ suy: ưu tư, hay nghĩ ngợi, hay thương nhớ Trong giấc mơ thấy cảnh vàng tía

1 Khái quát về những biểu hiện của nhân cách

Thể hiện qua hình dạng và độ sáng của năng lượng tỏa ra của con người Năng lượng này tỏa ra một màu vàng trên đầu và trên vải lan ra khỏi cơ thể một khoảng từ 3 đến 8 inso

- Tư tưởng càng thanh cao thì càng sáng

- Tính cách ích kỷ giống như những cái mộc

- Tư tưởng hiếu kỳ cao độ có dạng xoắn, màu vàng

- Sự tức giận, kéo dài có hình mũi tên nhọn, màu đỏ

- Tiếng cười hồn nhiên của trẻ em là đường cong màu hồng

- Sự ghen tuông có hình con rắn và màu nâu sạm

- Tiếng cười thân ái có làn sóng tròn đẹp, màu vàng hoặc xanh

- Tiếng cười bỉ ổi giống như tiếng nổ, không biên giới rõ ràng và có màu xám bẩn

- Thái độ nhăn mặt có hình mũi tên đỏ bầm hẳn lên trên

- Tiếng cười ích kỷ có dạng những vũng bùn sôi sùng sục

- Tư tưởng sùng ái có dạng đóa hoa màu xanh lá cây hay hình tháp có đỉnh hướng lên trên

Các năng lượng tỏa sáng có thể giao thoa nhau: khi gặp 2 người yêu nhau thì vòng tỏa sáng sẽ thành vòng cung nối hai quả tim với nhau

Trang 12

Các hình tư tưởng khác nhau sẽ có thời gian sống khác nhau

Khoa học về tư tưởng là một khoa học lớn về nhân cách

Tương lai thế kỷ sau khoa học này sẽ được phát triển

- Cơ thể có khả năng tự phát sáng như tinh tú

2 Trường sinh học và nhân cách

Người ta nhận thức mỗi con người có những dạng trường sinh học khác nhau Điều dễ phụ thuộc vào sự phòng vệ của nhân cách chống lại bên ngoài

- Dạng con nhím: Trường sinh học có nhiều gai nhọn, sắc Một người ngoại cảm có cảm giác các đầu gai đâm vào ngón tay mình

- Dạng rút lui: Một phần trường sinh học rời bỏ trong thân thể giây lát dưới dạng một đám mây (màu xanh nhạt) trong lúc đó thì mặt không đờ đẫn, bề ngoài làm ra vẻ lắng nghe

- Dạng vía lệch ra bên cạnh: Trường sinh học lệch một phần ra ngoài cơ thể vật lý trong một thời gian khá lâu có khi đến mấy năm Trong thực tiễn hiện tượng này gọi là mất linh hay mất vía

- Dạng khước từ miệng: Xuất hiện nhiều năng lượng màu vàng ở đầu và

tắc nghẽn trầm trọng ở cổ Trường sinh học suy yếu hẳn ở phía dưới cơ thể và xuất hiện hiện tượng nhọc nhằn bất động

- Dạng hút vào chủ thể để phòng vệ, hút năng lượng trường sinh học của người xung quanh

- Dạng dao quắm: Chủ thể đang đối đầu với một người hay một nhóm người khác, hình thành một con dao quắm nơi đỉnh đầu của chủ thể, có thể phóng đến đối thủ và tóm lấy đầu đối thủ

- Dạng vòi: Các vòi của chủ thể vươn tới luân xa 3 của đối thủ để đoạt lấy nguyên khí và lôi nó ra ngoài

- Dạng ác khẩu “những mũi tên mềm”: Trường sinh học của chủ thể làm bắn nhiều mũi tên trong không gian gây đau đớn cho đối phương qua ác khẩu, làm nhiễu trường sinh học của đối phương Các mũi tên này chọc tức đối phương, đồng thời giải tỏa cơn giận của chủ thể

- Dạng phối hợp: Chủ thể bắn các mũi tên mềm ở phía trên thân thể để làm

bẽ mặt đối phương, đồng thời né tránh cảm giác của bản thân mình dồn về phía dưới

- Dạng cuồng loạn (hysteris): Chủ thể phản ứng lại các mũi tên của đối phương bằng cách làm cho nó bùng lên sự thịnh nộ của mình để nhiễu trường sinh học của đối phương Qua sự thịnh nộ này nhiều tia chớp đủ màu hỗn loạn tỏa ra

- Dạng ngăn biên giới: Chủ thể tự rút lui ra khỏi tình huống bị đối phương tấn công bằng cách củng cố biên giới của mình

Dạng phô trương quyền lực, ý chí, chủ thể tuyên bố quyền tối thượng của mình làm cho đối phương sợ

3 Nhân cách và vấn đề khai mở luân xa

- Luân xa là nơi tập trung tiếp xúc nguồn năng lượng con người và vũ trụ

- Trong con người có:

Trang 13

+ 21 sóng năng lượng tạo ra đại huyệt

+ Giao thoa 14 sóng tạo ra trung huyệt

+ Giao thoa 7 hoặc nhỏ hơn 7 huyệt tạo thành châm cứu

Có 6 luân xa được khai thác hiện nay là:

+ Luân xa 6 nằm giữa trán liên quan tới vỏ não, làm tăng cường năng lượng

hệ thần kinh và hoạt động chân tay

+ Luân xa 5: ở cột sống ngang vai liên quan đến cơ bắp

+ Luân xa 4: ở cột sống ngay tim Nó giúp con người thanh thản bình tĩnh,

dễ dàng thông cảm với người khác

+ Luân xa 3: ngang thân, liên quan tới gan thận, dạ dày

+ Luân xa 2: đốt sống cuối cùng liên quan tới bài tiết sinh lý

4 Hào quang và nhân cách

a) Các vầng hào quang là năng lượng mang tích tổng hào quang thể của vật chất

Năm 1939 Kirlian đã chụp được hào quang của cỏ cây và con người Người

ta thấy có 7 vầng hào quang bao bọc cơ thể sống

Hào quang có thể cao 2,5m, dày 1m bao quanh thân người

Nếu quan sát kỹ sẽ thấy rõ hào quang 1, 3, 5, 7

Các hào quang có cấu trúc vật chất và mật độ khác nhau, nhưng chúng luôn luôn chuyển động và tạo nên sóng đứng và vật chất mịn

Mỗi vầng hào quang thể hiện hình thái cơ thể sống và tâm lý con người

* Vầng hào quang 1 (cảm giác thể chất)

- Bao sát thân thể khoảng 2,5 cm có màu xanh nhạt hoặc xanh xám

- Tạo nên cảm giác thể chất và hoạt động thể chất

- Màu trong suốt trên nền xanh: vầng hình trái xoan

- Thể hiện thái độ, lời nói trách nhiệm

Trang 14

- Đặc trưng thể hiện bản thể vật chất và tâm linh

Như vậy, trường hào quang của con người có 7 vầng, luôn biểu hiện cảm giác, cảm xúc, tư duy, trí nhớ, tính cách, trạng thái sức khỏe con người

b) Mối tương tác của hào quang:

Đặc trưng của tương tác hào quang là không phụ thuộc vào không gian ba chiều và thời gian tuyến tính

+ Tương tác vật lý trường điện tử

- Lực tương tác tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách

- Tương tác lên vật có từ tính, vật dẫn điện

- Khác dấu thì hút, cùng dấu thì đẩy

- Nguồn phát có thể cùng chiều thông tin

- Truyền dẫn bị tiêu hao

+ Tương tác hào quang

- Không phụ thuộc vào không gian và thời gian

- Tương tác lên bất kỳ vật gì đặc biệt là cơ thể sống

- Như nhau thì cộng hưởng, khác nhau thì chinh phục

- Mọi nguồn phát đều thiếu thông tin

- Ít bị tiêu hao

c) Tác dụng của hào quang

- Tạo khuôn mẫu cho cơ thể sống

Một lá cây xuất hiện sau khi khuôn mẫu hào quang của nó xuất hiện, định hình cho chiếc lá

Những tư duy của con người phát ra định hình cho hình thái hành động cho chủ nhân đó

- Đồng hóa, cộng hưởng hào quang như:

Những tư tưởng lớn, cùng chí hướng, cùng lý tưởng dễ gặp nhau Vì từng năng lượng rung động cùng tần số và hiện tượng cộng hưởng dễ xuất hiện

Muốn cảm hóa người khác, trước hết phải có trường sinh học mạnh, lấn át được hào quang người khác, hoặc chinh phục trường năng lượng đối phương

Những tư tưởng tốt đẹp sẽ tạo được những giao cảm, rung động hào quang người khác

- Phản ứng và phòng vệ năng lượng

Trang 15

Tương tác trường năng lượng sinh học sẽ tạo ra phản ứng và phòng vệ khi các trường hào quang không trùng hợp

Bản thân chủ nhân của trường năng lượng sinh học phát những thông tin không tốt lành sẽ tạo ra màu sắc hào quang u tối xám xịt, tạo những rung động bất ngờ, gây tổn hại hào quang của chính mình và ảnh hưởng đến hào quang của người khác

d) Ảnh hưởng của thông tin lên hào quang:

Ảnh hưởng của thông tin lên hào quang rất lớn, có khi nó định hình và thay đổi hào quang

- Ảnh hưởng của thông tin tốt:

Những thông tin tốt như tình yêu thương sinh ra màu hồng sáng, tính cần mẫn sinh ra màu sáng bạc và ý tưởng về sức khỏe tốt sẽ có màu hoàng kim

Những thông tin tốt sẽ giúp mở rộng hào quang thân thể, kết quả là con người sẽ sống tốt hơn, thánh thiện hơn và có sức mạnh về tinh thần và vật chất

Những thông tin tốt sẽ có tương tác tích cực lên cơ thể sống xung quanh Những thông tin tốt sẽ giúp ích cho cộng đồng, cho xã hội

- Ảnh hưởng của thông tin xấu:

Những tư tưởng hận thù, thành kiến sẽ có tác hại ghê gớm lên hào quang của chính chủ nhân và có ảnh hưởng xấu lên cộng đồng

Những ý nghĩ xấu lâu ngày tạo thành thành trì tác động lên thân thể bên trong, gây nên bệnh tật

Như vậy, giữa hào quang và nhân cách con người có mối tác động làm cho hào quang con người sáng rõ Hào quang là sự biểu hiện một khía cạnh nào đó nhân cách con người

IV – MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH PHƯƠNG ĐÔNG

1 Tính thiện trong nhân cách người phương Đông

Người phương Đông đề cao tính thiện Mọi tu thân, xử thế, chính trị đều hướng tới thiện

- 423 lời Phật dạy được ghi trong Pháp cú kinh đều nói về tính thiện

- 550 bài nói của Khổng Tử trong Luận ngữ đều đề cập tới tính thiện

- 81 chương của Đạo đức kinh của Lão Tử phần lớn đều nói đến thiện Tính thiện trong việc tu thân:

Lão Tử nói: "Ta có 3 vật báu thường ôm giữ: Một là từ, hai là kiệm, ba là không dám đứng trước thiên hạ."

Từ là từ bi hiền lành, rộng lòng thương kẻ khác là người mạnh Mạnh là thắng được mình Như vậy, thì không có kẻ thù Sức mạnh của người quân tử là

Trang 16

Sống giản dị, chất phác (ĐĐK): "Ăn ở giản dị và chất phác, ít riêng tây, ít tham dục"

Giản dị ở vật chất, giản dị trong nội tâm ngôn từ, trong quan hệ với mọi người

Thân và Danh (ĐĐK): "Thân và danh cái nào quý hơn? Ở đời những người biết tự trọng thân mình thì danh lợi đối với họ không đáng giá Cái giá trị nhất của họ là đạo đức."

Biết người là trí, biết mình là sáng

"Biết người là trí, biết mình là sáng" Thắng người là có sức, thắng mình là mạnh Biết đủ là giàu

"Biết người là trí" - Đó là sự nhận biết, nhận thức thế giới, nhận biết người khác Nhận biết người khác chỉ cần lý trí là đủ

Còn biết mình là sáng, bởi vì biết mình phải tự cảm, tự thấu hiểu, tự xét mình thường sai lầm Biết mình là sáng vì phải có năng lực gạt bỏ cái tôi Vì thế biết mình phải cao hơn biết người

Thắng người là sức, thắng mình là mạnh, thắng mình mới khó vì phải đấu tranh với cái tôi của mình

Biết đủ là giàu Mức độ giàu nghèo tùy theo sự ham muốn Muốn nhiều đã

có rồi muốn có nữa Sự ham muốn đó vô vàn Cho nên không biết thế nào là đủ Chỉ khi nào biết đủ mới giàu

Mềm yếu - cứng mạnh

"Người mới sinh ra mềm yếu Khi chết thì cứng mạnh- Vạn vật cỏ cây mới sinh ra thì mềm dịu, khi chết thì khô héo - nên cứng và mạnh là đường chết, mềm

và yếu là đường sống"

Trong quan hệ con người phải biết lúc cương lúc nhu

Nhưng nhu thường là thành công Ngay cả lúc đấu tranh cũng phải lựa lời lần nói cho dịu mềm Lấy mềm thắng cứng, lấy nhu thắng cương mới là lẽ biết đời

Thích Ca:

+ Phải sống hợp đạo đức

"Đời ta yên lặng, không oán, không phiền Người đều thù oán, ta vẫn thản nhiên" Mỗi con người được sống yên vui là nhờ tâm thiện, không thù, không oán Thù oán sẽ nối thù oán Lòng nhân nhân lên lòng nhân

+ Hãy tự thấy mình

Tự thấy là quý, nên gọi vua người Giữ ý rèn mình, tự bớt không thôi Tự thấy mình là điều kiện tiên quyết dẫn đến thiện Thắng mình rất khó thực hiện Phải tự rèn mình, bỏ bớt dục vọng

Trang 17

+ Hãy từ bỏ tham vọng thấp hèn: "Chớ gần thói đê hèn, chớ theo phương càn rỡ, chớ gây giống gian tà; chớ theo đòi làm dở"

+ Dứt bỏ tật xấu: không giận, không kiêu, tham yêu, tránh bỏ Danh sắc đều không; vô vi hết khổ

Những thói xấu như tham lam, oán giận, kiêu căng, hám danh lợi, dục vọng làm hại con người tạo nên thói hư tật xấu

+ Chính ta là vị cứu tinh của ta: Tự ta sẽ làm tất cả

Tự ta sẽ vươn lên, tự ta sẽ tìm con đường để đạt đến sự thành đạt Tự cứu lấy mình, tự hướng vào đạo thiện Việc thành đạt là tại ta

Cư xử với người phải cung tức là phải nhún nhường, kính trọng

Khi làm việc phải nghiêm chỉnh, cẩn thận

Quan hệ với mọi người phải lấy trung làm đầu

Người nhân (luận ngữ)

Tử Cống hỏi: "Nếu ngươi thi ân cho nhân dân và cứu giúp đại chúng, thì người ấy thế nào? Có thể gọi là người nhân được không?"

Khổng Tử đáp: "Sao chỉ gọi là người nhân thôi? Phải gọi là bậc thánh chứ

- Vua Nghiêu, vua Thuấn cũng chưa làm được vậy"

Khổng Tử phân biệt thánh với nhân Thánh cao hơn nhân Được gọi thánh phải trí sáng, tâm thiện, thi ân, cứu giúp đại chúng

Người có đức:

Tử Trương hỏi: Làm thế nào để đi đâu cũng được dễ dàng?

Khổng Tử đáp: Lời nói trung thực, hành vi phải thân kính - như vậy dầu đi đến nước Man; Mạnh cũng dễ dàng

Khổng Tử nói: "Người có đức tất có lời nói hay, người có lời nói hay chưa hẳn đã có đức"

Người có đức nói hay vì có lời đức độ của họ

Khổng Tử quan niệm trong con người cần có 5 đức tính: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Nhưng nhân là cái gốc, đứng đầu các điều thiện của con người

Trang 18

Nhân, Khổng Tử quan niệm phù hợp với từng trường hợp, từng người Nhân là gì? Khổng Tử trả lời cho từng người:

Đối với Nhan Tử: Tự mình trở lại theo lễ là nhân

Đối với Phàn Trì: Yêu người là nhân

Đối với Trọng Cung: Ra cửa phải như tiếp khách lớn, trị dân phải như làm

lễ tế lớn, điều gì mình không muốn ai làm cho mình thì không nên làm cho ai

Đối với Tử Trương: Có thể làm được năm điều trong thiên hạ là nhân vậy:

là cung, khoan, tín, mẫu, huệ Cung thì không khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín thì người ta tin cậy được, mẫu thì có công, huệ thì đủ khiến được người

Nhân còn có nghĩa rộng hơn là nhân ái - yêu người, yêu vật, đó là lòng tự nhiên, bình thản

Người có nhân thì sáng suốt, bình tĩnh

Nhân là gốc lớn của sự sinh hóa trong trời đất Khổng Tử lấy nhân để làm chỗ dựa cho chính trị, học thuật, lễ nghi trong xã hội Đối với từng người nhân là cái gốc để giữ vững nhân cách Nhân cũng có thể thấp cho ai cũng làm được, nhưng cũng là cao vô cùng Nhân là cái đích tu dưỡng của con người Ai đã tu dưỡng đến bậc nhân thì làm việc gì cũng thích hợp với trời đất

Nhân còn có nghĩa là trung, đó cũng là đạo đối với người, với nước và đối với mình

Nhân còn có nghĩa là hiếu đễ Đó là lòng kính yêu cha mẹ, người lớn Tể

Dư bị Khổng Tử mắng là bất nhân vì bất hiếu, không nhớ công ba mẹ bồng bế ba năm mà muốn rút thời gian để tang cha mẹ từ ba năm xuống còn một năm

Nhân cũng gồm có nghĩa Nghĩa là thấy việc gì đáng làm thì làm, không hề mưu tính lợi cho mình, cũng không cần biết hậu quả ra sao

Lễ cũng là một bộ phận của nhân Lễ là ngọn, nhân là gốc "Người không

có đức nhân thì lễ mà làm gì?"

Khi Nhan Uyên hỏi về đức nhân, Khổng Tử đáp: "Khắc kỉ (chế thắng tư dục) mà trở về với lễ thì là nhân Cái gì không hợp lễ thì đừng nhìn, không hợp

lễ thì đừng nghe, không hợp lễ thì đừng nói, không hợp lễ thì đừng làm"

Muốn làm điều nghĩa phải dũng

Khổng Tử nói: "Nhân giả tất hữu dũng" (Người có nhân tất phải có dũng) Nhân phải có trí vì nó sáng suốt thì mới lợi cho đức nhân mới biết cách giúp người mà không làm hại cho người, cho mình

Khổng Tử nói: Ham đức nhân mà không ham học thì bị sự che lấp làm ngu muội Phải sáng suốt mới biết yêu người đáng yêu, ghét người đáng ghét, đề bạt người chính trực, bỏ người cong queo

Nhân còn liên quan với trực, tính thận trọng Nhân gồm nhiều đức tính như không một đức nào đủ là nhân được Ví dụ trung thực chưa phải là nhân Như Tử Văn nước Sở ba lần làm Lệnh doãn mà không mừng, ba lần bị bãi chức mà không hận, lại đem việc cũ bàn giao cho người thay mình, chỉ là trung thực, chứ không chắc có gì để gọi được là nhân

Nhân của Khổng Tử khác với thuyết kiêm ái của Mặc Tử Nhân của Khổng

Tử mang tính đẳng cấp, kiêm ái thì ai cũng như ai, không phân biệt thân sơ, riêng

Trang 19

chung Người nhân thì yêu người tốt ghét người xấu - Còn người kiêm ái thì không phân biệt tốt xấu

Nhân của Khổng Tử khác xa với từ bi của đạo Phật

Phật thương người và cứu giúp chúng sinh Còn nhân của Khổng Tử yêu người giúp cho người tu thân hăng hái sống trong cõi đời chứ không phải trên Niết Bàn

Học thuyết của Khổng Tử có ảnh hưởng rất lớn trong phạm vi thế giới Nhiều quốc gia đã coi học thuyết của ông là quốc giáo; ảnh hưởng của học thuyết của ông rất sâu sắc nhiều lĩnh vực Chính trị, tư tưởng, văn hóa, giáo dục, tâm lý,

xã hội và ảnh hưởng tới nhiều tầng lớp khác nhau, từ người dân đến quan lại, vua tôi Đặc biệt học thuyết của Khổng Tử còn ảnh hưởng to lớn đến nhiều thế hệ con người từ mấy nghìn năm cho đến nay

Nhiều tư tưởng của ông đã ăn sâu vào tâm thức của nhân dân và làm nền tảng cho một nền luân lý dân tộc

Nhưng học thuyết của ông quá cao, nên không ai dung nạp được ông, vua các nước đều xa lánh, không nghe lời khuyên của ông Ngay cả mục đích giáo dục của ông cũng thất bại Ông muốn đào tạo một lớp người có đức có tài ra làm quan giúp dân, nhưng chỉ tạm được mươi người chưa hoàn hảo về đức và tài Trong 40 năm đào tạo mà chỉ được từng ấy học trò có ích thì quả là thất bại

Nhưng học thuyết của ông về nhân ái, vẫn mãi mãi là bài học đạo đức soi sáng nhân cách cho đời sau

3 Tính hòa nhập trong nhân cách của người Việt Nam

Nếu ta coi nhân cách là hệ thống phẩm chất giá trị xã hội của cá nhân về mặt tinh thần thì dễ dàng ta thấy tự hòa nhập là một đặc điểm trong nhân cách của người Việt Nam xưa

Điều thấy rõ nhất con người hòa nhập với thiên nhiên, trời đất, với con người trong cộng đồng và người cộng đồng

Sự hòa nhập đó thể hiện trong mối quan hệ với xóm làng, sự giao lưu trong các 54 dân tộc Việt Nam, với các nước lân bang

Người Việt Nam rất coi trọng quan hệ láng giềng Chính trong mối quan

hệ này người ta giúp đỡ nhau khi tắt lửa tối đèn Thậm chí người Việt Nam còn coi láng giềng hơn cả anh em xa "Bán anh em xa, mua láng giềng gần" Những người nào có những hành động xấu xa không dám về với làng xóm láng giềng

Các hội làng, lễ làng là có dịp cho người Việt Nam hòa nhập Trong các cuộc hội làng người ta hay tổ chức các cuộc thi: thi nấu cơm, đua thuyền, thi chọi gà Đó là những dịp để cho mọi người được hòa nhập trong văn hóa của cộng đồng

Điều đặc biệt trong nhân cách người Việt Nam là sự hòa nhập vào với thiên nhiên, sự hài hòa Mái đình, cây đa, bến nước còn ghi đậm trong tâm trí của người Việt Nam một thời đã sống ở quê hương Cảnh quang chùa thường cũng có một

hồ nước với hoa sen tỏa thơm ngát, núi non bộ, cây bồ đề, cây đại, hoặc tùng, bách Kiến trúc chùa, đình thường thể hiện được nguyên lý âm dương, ngũ hành

Trang 20

Chùa Một Cột ở Hà Nội thể hiện nguyên lý đó Chùa có một cột tròn ở dưới hình vuông ở trên thể hiện âm trên dương dưới Mỗi ngôi chùa đều có gác chuông

- Chuông càng ngân vang xa bao nhiêu thì từ bi của đức Phật càng thấm sâu vào chúng sinh bấy nhiêu Chùa có 4 mái và một nóc là ngũ hành, có 3 cửa gọi là tam quan Cửa định (kiên định theo con đường của Phật), cửa giới (giữ nghiêm giới luật), cửa tuệ (trí tuệ sảng suốt) Tam quan cũng có nghĩa là khổ, vô thưởng, vô ngã Đã bước vào cửa tam quan là đi vào cõi Phật, thoát khỏi trần tục, con người thanh thản

Đàn tế trời ở Huế gọi là đàn Nam Giao Đàn tế lộ thiên gồm 3 tầng bệ chồng lên nhau Tầng dưới hình vuông màu đỏ, thể hiện yếu tố nhân (Người, con

đẻ xích tử), tầng giữa hình vuông, màu vàng (thể hiện đất), tầng bệ trên cùng hình tròn màu xanh tượng trưng cho trời - Ba tầng đó thể hiện thiên địa nhân hợp nhất

Đồ đặt trên bàn thờ Phật hoặc tổ tiên cũng thể hiện âm dương ngũ hành Bát hương thể hiện hành thổ, cây đèn nến biểu hiện hành hỏa, lọ hoa biểu hiện mộc (phương Đông mặt trời mọc là hành mộc, ý nghĩa khai hoa), mâm ngũ quả thuộc hành kim (phương Tây - kết quả): rượu nước hành thủy

Trong mâm ngũ quả cũng thể hiện rõ ngũ hành Cam, quýt đỏ thuộc hỏa, chuối vỏ xanh thuộc mộc, bưởi vàng thuộc thổ, na ruột trắng thuộc kim, hồng tía (đen) thuộc thủy

Như vậy, trong nhân cách người Việt Nam bao giờ cũng muốn mình hòa nhập với thiên nhiên, với cộng đồng, với trời đất, với tổ tiên Sự hoà nhập đó làm cho con người thanh thản, trong sáng Nếu thiếu sự hòa nhập đó con người cảm thấy mình thiếu hụt trong nhân cách, trống vắng trong nhân tâm của mình đối với cộng đồng

Tất nhiên về đặc điểm nhân cách người Việt Nam đã được giáo sư Trần Văn Giàu đúc kết gồm có 7 phẩm chất: Yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa Tôi nghĩ rằng đặc điểm nhân cách người Việt Nam

có những nét đặc trưng nữa, nhất là trong thời kỳ đất nước ta đổi mới hiện nay Phải chăng đó là sự thích ứng hòa nhập với cộng đồng trong nước và thế giới với thiên nhiên, đất trời

Trong chương II chúng tôi đã trình bày tóm lược những tư tưởng phương Đông cổ đại có liên quan đến nhân cách Chúng ta rất trân trọng những giá trị văn hóa của những tư tưởng này Nhiệm vụ của chúng ta là tiếp thu có chọn lọc và với thái độ cầu thị: "đãi cát lấy vàng" Việc ứng dụng những tư tưởng phương Đông cổ đại này phải thận trọng, nghiêm túc trên tinh thần nghiên cứu một cách khoa học thì sẽ đem lại những kết quả nhất định cho việc nghiên cứu nhân cách hiện nay

Trang 21

các học thuyết ấy Ở đây xin giới thiệu một số trường phái lớn trong tâm lý học phương Tây về nhân cách: Phân tâm học, Ghestalt, chủ nghĩa nhân văn và tâm lý học nhận thức của Piaget

I PHÂN TÂM HỌC CŨ VÀ MỚI VỀ NHÂN CÁCH

1 S Freud về nhân cách

Học thuyết có ảnh hưởng to lớn trong các lĩnh vực đời sống xã hội ở phương Tây là học thuyết phân tâm của Freud Sigmund Freud là người Do Thái (1856 - 1939) sinh ở miền trung Tiệp Khắc, học ở Viên (Áo), làm việc ở Áo và sau đó sang Mỹ

a) Các giai đoạn phát triển tư tưởng Freud

Quá trình hình thành tư tưởng của Freud có thể chia làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Freud hợp tác với các nhà khoa học, đặc biệt là Brener từ

năm 1893 - 1895 Ông đã cùng với Brener viết cuốn "Nghiên cứu chứng loạn thần kinh" Sau đó ông tạo ra phương pháp điều trị mới gọi là phân tâm học

Phân tâm học là phương pháp chữa bệnh tâm thần, trong đó ông nhấn mạnh đến tình dục là nguyên nhân chủ yếu của nhiều bệnh thần kinh và tinh thần Đồng thời tình dục cũng tham dự vào việc sáng tạo nền văn hóa nghệ thuật của nhân loại

Tóm lại, trong giai đoạn này ông hợp tác với những thầy thuốc chữa bệnh tâm thần bằng các phương pháp tâm lý học

- Giai đoạn 2 (1895 - 1905): ông nghiên cứu liên tưởng tự do thôi miên và

đặc biệt là giấc mơ

+ Về thôi miên ông đã học phương pháp thôi miên của Charcot thày thuốc chữa bệnh ở Pari và dùng nó để chữa bệnh tâm thần

+ Về phương pháp liên tưởng tự do Đây là phương pháp chính mà Freud dùng để chữa bệnh Những hiện tượng tâm lý như trí nhớ, tư duy, tưởng tượng đều do liên tưởng ở các mức độ khác nhau Trong quá trình liên tưởng tự do ông khám phá ra rằng có một cái gì chống lại sự liên tưởng, đó là cơ chế tự vệ

+ Lý giải giấc mơ Giấc mơ là sự thỏa mãn ước vọng

Theo ông ước vọng là yếu tố chính tạo nên giấc mơ Giấc mơ là sự thỏa mãn việc dồn nén

Ví dụ một người đàn bà mơ giết một con chó Lý do là chồng đi ngoại tình,

bà ta nén giận Bây giờ được thỏa mãn trong giấc mơ Qua giấc mơ thỏa mãn được sự đè nén, chèn ép Nhưng ông cũng không lý giải được tất cả các giấc mơ

- Giai đoạn 3 (1905 - 1920): Trong giai đoạn này ông đã cho xuất bản một

số sách "Năm bài học về phân tâm học" (1909) "Nhập môn phân tâm học" (1917)

Đây là giai đoạn trưởng thành của S.Freud Ông đã phân biệt được ám thị

do thôi miên và ám thị do phân tâm Phương pháp ám thị do thôi miên chỉ tác động bên ngoài, còn phương pháp ám thị phân tâm lại tìm cách trở về cội nguồn của hiện tượng Người bệnh thần kinh không thể thôi miên để chữa bệnh được Trong khi đó nếu dùng phân tâm có thể chữa được Dục vọng con người theo Freud có thể thăng hoa vào các lĩnh vực khác

Trang 22

- Giai đoạn 4 (1920 - 1939): Giai đoạn này ông đề cập đến vấn đề nhân

cách Ông đã nêu lên cấu trúc nhân cách gồm có 3 phần: Nó, tôi và siêu tôi

Sự phát triển tư tưởng của Sigmund Freud có ảnh hưởng to lớn đến các lĩnh vực khoa học: tâm lý học, xã hội học, giáo dục học, triết học, đạo đức học, nghệ thuật và y học

Đây cũng là vấn đề quan hệ đến sự tương phản lập trường hiện nay về một

tư tưởng về vô thức và ý thức

Vì vậy việc nghiên cứu học thuyết Freud có vai trò rất quan trọng trong tâm lý học

b) Sigmund Freud về mặt y học

Phân tâm học ra đời như là phương thuốc chữa bệnh tâm thần Freud đề ra

4 phương pháp để chữa bệnh tinh thần: ám thị, liên tưởng tự do, giải thích giấc

mơ, rửa tội Tất cả các phương pháp đó đều nhằm làm cho cái vô thức con người được bộc lộ ra dưới dạng vô thức

Các phương pháp chữa bệnh tâm thần của ông có những thành tựu nhất định Song ông quá nhấn mạnh về nguồn gốc tình dục sinh ra bệnh tâm thần Do

đó không thể giải thích được tất cả những bệnh nhân có nguồn gốc xã hội khác nhau

c) Về mặt tâm lý học

S Freud xây dựng lý thuyết tâm lý học để giải thích những hiện tượng trong cuộc sống xã hội và làm căn cứ cho chữa bệnh tâm thần Đó là các giả thuyết về năng lượng tâm thần, vô thức và cơ cấu đời sống tinh thần

* Về vô thức:

+ Khái niệm vô thức là khái niệm cơ bản trong học thuyết phân tâm của S Freud Trên cơ sở phân tích những yếu tố thực nghiệm hành vi trong thôi miên, trong giấc ngủ, giấc mơ, các liên tưởng

Theo Freud tất cả những hiện tượng tâm hồn được chia ra 2 nhóm: ý thức

và vô thức Vì vậy, cấu trúc tâm lý phải phân ra hai hệ thống ý thức và vô thức Trong vô thức còn phân chia ra tiền ý thức

Vô thức là những ham muốn hay những biểu tượng bị dồn nén, kiểm duyệt

Đó là những bản năng hoạt động theo nguyên tắc khoái cảm Vô thức ngấm ngầm chi phối, điều khiển hành vi con người Những hành vi mà con người không thể dùng ý thức can thiệp được, gọi là hành vi sai lạc như nói lỡ lời, sự quên hay những biểu hiện trong giấc mơ Nhưng hiện tượng mà ban ngày con người không thỏa mãn thì được thể hiện trong giấc ngủ dưới những hình thức khác nhau do sự can thiệp của vô thức

Để chứng minh cho sự có mặt của vô thức Freud đã đưa ra hiện tượng sau: Một người trong thôi miên đang ngủ được lệnh nửa giờ sau khi tỉnh dậy phải bò một vòng trong phòng Khi trở dậy anh ta không nhớ gì, không biết gì về lệnh bò trong phòng trong giấc ngủ thôi miên Nhưng đến giờ theo lệnh đã quy định, người đó bứt rứt không yên giả vờ đi tìm một cái gì đó trong phòng và sau đó đã

bò một vòng trong phòng như lệnh đã ra, mặc dù anh ta tưởng là mình tự làm việc này Thí nghiệm này chứng tỏ:

Trang 23

1- Có sự hiện diện của vô thức và chủ thể đã hiểu và ghi nhận một mệnh lệnh nhất định Điều mà bộ máy sinh lý không làm được

2 - Có sự can thiệp của vô thức vào ý thức dưới hình thức phản ứng có kỳ hạn

3 - Ý thức của chúng ta có thể tạo ra nhiều lý lẽ hợp lý nhưng giả tạo và bịa đặt Những lý lẽ này không phải là căn nguyên thực của hành động (mà thực

sự là vô thức ngấm ngầm chi phối)

+ Nguồn gốc của vô thức: Nguồn gốc của vô thức là những bản năng nguyên thủy mang tính sinh vật Bản năng này có trong quá trình phát triển chủng loại Ngoài ra những ước mơ, thèm khát, những dục vọng không được thỏa mãn,

bị đè nén tích tụ sẽ trở thành vô thức

+ Năng lượng của đời sống tinh thần bắt nguồn từ hai xu hướng có nguồn gốc sinh vật trong cơ thể con người Đó là xu hướng Eros (thần ái tình trong thần thoại Hy Lạp) và xu hướng Thatanos (theo từ Hy Lạp có nghĩa là chết)

Eros là xu hướng sống, năng lượng libido Libido là những khát vọng, khoái cảm, là những bản năng đam mê tình dục Những đam mê tình dục tạo nên nhu cầu tình dục ở mỗi người Nhưng nhu cầu này luôn luôn bị xã hội ràng buộc theo những chuẩn mực nhất định: ông cho rằng bệnh tâm thần chẳng qua là sự tan rã của nhân cách do sự chèn ép các đam mê tình dục gây ra Trong đời sống con người đam mê tình dục trở thành nguồn năng lượng quan trọng Năng lượng này bị chèn ép đòi hỏi phải được giải thoát Nếu không được giải thoát ra ngoài

xã hội thì nguồn năng lượng libido sẽ thoát ngay trong chính bản thân mình Nguồn đam mê tình dục là nguồn năng lượng vô tận Nó cung cấp năng lượng cho hoạt động con người

Thatanos là xu hướng tự nhiên của cơ thể trở về trạng thái vô cơ Xu hướng này được hòa trong hệ cơ và được hiện ra ngoài như là bản năng xâm hại, biểu hiện hành động phá phách, tàn sát, chém giết trong chiến tranh

Cả hai bản năng tình dục và bản năng xâm hại có nguồn gốc sinh vật là hoạt động lực chính cho đời sống tinh thần của con người Song bản năng tình dục đóng vai trò quyết định trong việc cung cấp năng lượng hoạt động của con người

Mặc cảm là khái niệm trung tâm trong bản năng tình dục Nó là hệ thống biểu tượng phát minh trong vô thức chứa chất xúc cảm ngấm ngầm chi phối ý thức Có nhiều loại mặc cảm: mặc cảm tự ti, mặc cảm hẫng hụt, mặc cảm bị thiếu, mặc cảm ơdip Mặc cảm ơdip được hình thành từ tuổi thơ, gắn liền với tình dục tuổi thơ

Mặc cảm ơdip biểu hiện ở đứa trẻ khoảng 5 tuổi những tình cảm phức hợp vừa khâm phục cha (đối với cháu trai) song lại rất ghét cha và yêu mẹ, muốn dành riêng mẹ cho mình Đối với em gái thì ngược lại, Freud viết rằng: "Vua Odip giận

bố mình là vua Lai rồi lấy mẹ mình là Rocatxơ chẳng qua là thực hiện ham muốn tình dục tuổi thơ của chúng"

Hẫng hụt Khi chủ thể gặp phải trở ngại bên ngoài hoặc bên trong làm cho chủ thể không thỏa mãn được sẽ gây ra mặc cảm hẫng hụt

Trang 24

Hẫng hụt có thể gây ra những phản ứng khác nhau như xâm kích Phản ứng xâm kích chống lại sự trở ngại Nhưng nếu như sự xâm kích không thực hiện được thì nó quay lại chống đối tượng khác hoặc chống lại ngay bản thân mình (tự xâm kích) Do cơ thể có xu hướng muốn làm giảm tuyệt đối sự căng thẳng nên tự đảo lộn lại tổ chức, trở lại trạng thái vô cơ

Bản năng có tính chất cơ bản sau đây:

1 Đặc điểm chung của bản năng là bị kìm nén, nó là nguồn động lực, là sức mạnh cho những hoạt động

2 Mục đích của bản năng là hướng đến sự thỏa mãn bằng cách trực tiếp hay gián tiếp

3 Bản năng hướng đến khách thể Thế giới bên ngoài là đối tượng để bản năng thỏa mãn Bản năng đòi hỏi khách thể phải thỏa mãn ngay lập tức và trực tiếp

4 Chi phối toàn bộ đời sống hoạt động tâm thần của con người

Khối vô thức (cái ấy) là thùng năng lượng tâm thần chứa chất những khát vọng bản năng sục sôi

Hoạt động của "cái ấy" theo nguyên tắc khoái cảm đòi hỏi sự thỏa mãn ngay lập tức những khát vọng bản năng

- Khối ý thức tương đương với cái "tôi" Cái tôi được hình thành do áp lực thực tại bên ngoài, đến toàn bộ khối bản năng Nó bảo đảm các chức năng tâm lý như chú ý, trí nhớ v.v Hoạt động của cái tôi theo nguyên tắc thực tại Con người phải dùng một năng lượng đáng kể để kiềm chế và kiểm soát những bản năng phi

lí của cái ấy Nhiệm vụ của cái tôi là làm cho cái ấy thỏa mãn mà không làm tổn hại đến cơ thể, làm giảm sự căng thẳng một cách tốt nhất Cái tôi có tính chất tự chủ Nó tự chủ về nguồn năng lượng từ trong cấu trúc riêng của nó hoặc trong thùng năng lượng của bản năng tình dục được trung hòa Nó còn tự chủ với môi trường, chọn lọc những kích thích của môi trường

- Siêu tôi (Superego): Siêu tôi là tổ chức bên trong bao gồm tất cả phạm trù

xã hội, đạo đức, nghệ thuật, giáo dục

Siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt

Cả 3 khối này theo nguyên tắc chung là ở trạng thái thăng bằng tương đối Con người lúc ấy ở trạng thái bình thường Nhưng cả 3 khối này luôn luôn xung đột với nhau, sự xung đột này là cơ chế của hoạt động tâm thần

Từ đó Freud nêu ra cơ chế hoạt động tâm lý của con người Đó là cơ chế kiểm duyệt, chèn ép, cơ chế biến dạng, cơ chế siêu thăng, cơ chế suy thoái

Trang 25

Con người sống gồm các bản năng Xu hướng của các bản năng này là luôn luôn vươn lên chiếm đoạt những cái khác (cái tôi và siêu tôi) Nhưng cái tôi không bao giờ cho cái bản năng xâm nhập vào để lấn chiếm nó Cái bản năng không thể xâm lấn được cái tôi vì có cái hàng rào ngăn cách giữa cái siêu tôi và cái "cái ấy"

Cơ chế ngăn cách đó gọi là cơ chế chèn ép Những cái bản năng không thể bị chèn ép mãi, nó tìm cách thoát ra Do đó nó phải biến dạng bằng một hình thức nào đó, gọi là cơ thể biến dạng Bệnh tâm thần, bệnh nói lắp, nói nhịu là hình thức biến dạng của cái tôi bị chèn ép Trong trường hợp nó không thoát lên được thì

nó siêu thăng Chẳng hạn như trường hợp của danh họa Leonadơ Vanh xi - ông

là nhà hội họa kiệt xuất đã biến cái say mê tình dục thành say mê nghệ thuật

Cái siêu tôi xuất hiện từ mối quan hệ đứa trẻ ngay từ những ngày đầu với gia đình Sự dạy dỗ, những quy định của bố mẹ và những người nuôi dạy trẻ Cái siêu tôi không chỉ thể hiện trong sự cấm đoán của cha mẹ mà còn thể hiện trong truyền thống của thế hệ trước truyền lại trong giống loại trong dân tộc

Cơ chế tâm lý của việc hình thành siêu tôi là sự đồng nhất hóa Cá nhân đồng nhất hóa với bên ngoài (cha mẹ và những người giáo dục) Những phẩm chất đạo đức - văn hóa của cha mẹ, người lớn được trẻ em đồng nhất hóa và tạo

ra những phẩm chất riêng của chúng

Theo tâm lý học phân tích hành động của con người diễn ra phù hợp với các lớp nhân cách được mô tả ở trên Đó cũng là bản chất của cấu trúc nhân cách

b- Các giai đoạn phát triển nhân cách

Freud chia ra 4 thời kỳ phát triển nhân cách Nhân cách trẻ phát triển từ lúc

sơ sinh đến lúc trưởng thành Các giai đoạn này trùm lấn lên nhau không có ranh giới rõ rệt

Ba giai đoạn đầu gọi là tiền sinh dục, gồm có:

- Giai đoạn lỗ miệng (Oral) có từ lúc trẻ mới sinh trong giai đoạn này trẻ tìm thấy khoái lạc với việc mút vú mẹ và các động tác quanh vú cũng như các hoạt động quanh lỗ miệng Trẻ có thể dùng ngón tay sờ mó hoặc cho vào mồm

để thỏa mãn lạc thú Tất cả những đồ vật quanh nó đều là đối tượng để chúng thỏa mãn lạc thú lỗ mồm Nếu trong giai đoạn này bố mẹ ngăn cản trẻ mút thì sau này

sẽ gây ra hội chứng nhân cách: nói nhiều, tham ăn, ỷ lại, thụ động

- Giai đoạn hậu môn Anales Giai đoạn này thể hiện ở trẻ năm thứ hai và năm thứ ba Đứa trẻ chú ý tập cho đại tiện đúng phép Bố mẹ chú ý đến đại tiện của trẻ và bài trừ những tật xấu của trẻ trong khi đại tiện Do đó trẻ chú ý tới hoạt động hậu môn

Freud cho rằng trong giai đoạn này trẻ đó bắt đầu hình thành nhân cách

Có mối quan hệ giữa giai đoạn này với một số đặc điểm nhân cách trẻ Đó là kiểu người hậu môn tính chất kiểu người này là tự yêu, tự mâu thuẫn, khuôn phép, phục tùng, bị ép buộc, kiềm chế quá đáng

- Giai đoạn âm vật và dương vật Giai đoạn này trẻ chú ý đến bộ phận sinh dục, nảy sinh ra tình cảm lãng mạn đối với cha hoặc mẹ khác giới S Freud gọi hiện tượng này là mặc cảm ơdíp

Trang 26

Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong việc phát triển nhân cách Những biểu hiện quyến luyến tình dục này có rất sớm ở trẻ Trẻ có thể chú ý đến hình thức của đối tượng khác giới như tóc, quần áo, đặc biệt đối với trẻ nhi đồng thiếu niên đã có hiện tượng này.Trẻ tìm lấy lạc thú trong việc tự kích thích bộ phận sinh dục của mình Trẻ có thái độ tiêu cực đối với đối tượng tình dục Vì vậy cha nhẹ đứa trẻ luôn luôn chú ý đến con cái Điều đó đã gây cho trẻ lo lắng, sợ hãi và

có phản ứng tự vệ Trong trường hợp bình thường trẻ tự vệ bằng cách đồng nhất hóa với cha hay mẹ Trẻ trai bắt chước các hành động và tính cách của người cha Trẻ gái lại bắt chước mẹ Quá trình đồng nhất hóa với cha hoặc mẹ sẽ dẫn tới tập nhiễm văn hóa Đó chính là quá trình xã hội hóa đứa trẻ

Đặc điểm của giai đoạn này trẻ biểu hiện bằng hành động ác dâm và tự hành hạ mình - Sadisme (ác dâm) và Masochistie (tự hành hạ) Ác dâm thường thể hiện trong lời nói mồm và tay Tự hành hạ mình là làm cho mình đầu đón về tâm lý cũng như về vật lý để thỏa mãn tình dục Theo ông tất cả con người bình thường đều có giai đoạn tự hành hạ mình để có cảm giác lạc thú hoặc cảm thấy

có nguồn gốc gây ra lạc thú, ác dâm thể hiện trong vòng sinh dục của mình, và ở loài vật và gây đau đớn cho con người Khuynh hướng ác dâm thể hiện nhiều mức

độ khác nhau đối với cảm giác lạc thú ở từng người Đối với đối tượng khác giới người có tính ác dâm lại đem lại sự đau đớn cho họ, ví dụ như cắn xé, đánh đập,

xỉ vả hành hạ họ thì mình mới thỏa mãn

Trong giai đoạn tiền sinh dục cá nhân hướng đến bản thân mình Đến giai đoạn thứ 4 cá nhân hướng ra đối tượng bên ngoài Giai đoạn này đứa trẻ bắt dầu hướng ra ngoài để thỏa mãn tình dục bắt đầu từ tuổi dậy thì Thời kỳ này bản năng tình dục ở trạng thái tiềm tàng Các năng lượng của con người được sử dụng ở mục đích khác nhau như đi học, vui chơi, bắt chước Hoặc có thể có trẻ hướng ra đối tượng khác giới để làm tình

Đánh giá học thuyết phân tâm của S Freud

Đánh giá học thuyết Freud là một vấn đề phức tạp, có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Có xu hướng thì quá đề cao học thuyết Freud: cho đây là một phát kiến vĩ đại của loài người về mặt vô thức Xu hướng thứ hai lại phủ định học thuyết này vì cho rằng học thuyết này chỉ dựa vào bản năng tình dục để cải quyết hiện tượng tâm lý con người Điều đó là phi lý Xu hướng thứ

ba trung hòa giữa hai xu hướng thứ nhất và thứ hai

- Về mặt triết học, Freud chịu ảnh hưởng triết học Lepnich Lý thuyết bản thể luận của Freud là lấy từ triết học của Lepnich Theo Lepnich thế giới được tạo ra từ đơn tử đơn giản đến đơn tử phức tạp Đơn tử đơn giản tạo nên thế giới

vô sinh, đơn tử phức tạp tạo nên thế giới hữu sinh Trong con người mỗi đơn tử

có thể có nhiều trạng thái, trạng thái ý thức và trạng thái vô thức Vì vậy, con người có lúc nhận thức được, có lúc không nhận thức được Lúc không nhận thức được thì gọi là vô thức Khái niệm vô thức được Freud quan tâm đặc biệt và đã trở thành khái niệm trung tâm trong học thuyết của Freud

S Freud còn chịu ảnh hưởng của triết học Sophehanơ (1788 - 1860) Đây

là nhà triết học duy tâm đề ra thuyết phi lý và lực phi lý Ông cho rằng bản chất

Trang 27

thế giới là ý chí toàn cầu Đó là loại ý chí mù quáng vô nghĩa Sau này trong học thuyết của mình Freud cho rằng bản năng phải thắng ý thức, phi lý phải thắng lý trí Cái phi lý chính là cái vô thức mà Freud quan niệm trong học thuyết của mình

Về mặt triết học S Freud không có đóng góp gì, thậm chí là trái với luận

đề của chủ nghĩa Mác Không thể chỉ lấy vô thức làm cơ sở để xây dựng khoa học tâm lý và lấy vô thức để giải thích mọi hiện tượng xã hội là điều không thể chấp nhận được

- Về mặt y học Học thuyết phân tâm học có giá trị nhất định về mặt y học Trước hết Freud đưa ra phương pháp chữa bệnh tâm thần mới, khám phá ra những mặc cảm vô thức và từ đó đưa ra phương pháp chữa bệnh tâm thần Ông đã chỉ

ra một số hiện tượng vô thức như viết nhầm, nói nhảm, nói nhịu và các triệu chứng khác của bệnh Ông còn vạch ra nguyên nhân của bệnh Đó là những xung đột giữa sự mong muốn và hiện thực Ông đã đề ra phương pháp chữa bệnh tâm thần có chú ý đến quy luật tâm lý lâm sàng, đặc biệt chú ý đến quá trình hình thành cái vô thức và vai trò của nó đối với hành vi con người

Song lý luận y học của ông là không vững chắc chỉ mới là giả thuyết trong lĩnh vực y học mà thôi Luận điểm xuất phát chính của ông là tình dục tuổi trẻ Ông cho đó là nguyên nhân của nhiều bệnh Luận điểm này không xác đáng và mang tính chủ quan Ông cho rằng những rối loạn tình dục trẻ thơ là nguyên nhân dẫn đến rối loạn thần kinh ở tuổi trưởng thành Mặc dù chưa có ai bác bỏ được quan điểm này của Freud một cách thành công, nhưng chúng ta cũng thấy không phải bất kỳ bệnh thần kinh nào cũng xuất phát từ rối loạn tình dục tuổi thơ Nhiều bệnh tâm thần gắn liền với điều kiện gia đình và xã hội mà cá nhân sống

Ông cho rằng tình dục là lĩnh vực không ý thức được Do đó khi chưa bệnh ông thường gợi cho bệnh nhân nói về quá khứ của mình Khi bệnh nhân dừng lại

là dấu hiệu sự từng trải của họ Thầy thuốc cần tập trung khai thác Như vậy những luận điểm trong y học của.Freud đều chưa có cơ sở khoa học xác đáng, cần có sự nghiên cứu làm sáng tỏ hơn

- Về mặt tâm lý học: Đóng góp to lớn của S Freud là đưa ra giả thuyết về

vô thức, tiềm thức là những mặt quan trọng trong đời sống tâm lý của con người Ngày nay người ta đã thừa nhận vô thức là có thật trong đời sống tâm lý con người Trong hội nghị về vấn đề vô thức ở Tbilixi năm 1979 người ta đã kết luận

vô thức có tồn tại trong làm thần con người Nhà tâm lý học Pasin cho rằng hoạt động vô thức là một vấn đề to lớn mà các khoa học về con người cần đi sâu Vấn

đề vô thức là vấn đề lớn trong hành vi con người cũng như vấn đề của nhân cách Hiện nay khoa học ngày càng làm sáng tỏ vấn đề vô thức Nhưng tâm lý học cũng chưa có khả năng hiểu hết được vấn đề này Những học thuyết phân tâm học về

vô thức là viên gạch đặt nền móng cho việc nghiên cứu tâm lý học trong tương lai Mặt khác đóng góp của Freud còn ở chỗ đưa ra một số cơ chế tâm lý như cơ chế tự vệ, dồn nén, các mặc cảm, đồng nhất hóa, các giai đoạn phát triển nhân cách Những khái niệm này hiện nay được làm phong phú thêm trong tâm lý học

Tuy nhiên học thuyết phân tâm học cũng có những sai lầm Nó đối lập hoàn toàn với nguyên nhân của tâm lý học Mác xít Nó tách rời điều kiện xã hội với

Trang 28

việc hình thành nhân cách, và cho rằng cái sinh vật và vô thức là yếu tố quyết định việc hình thành nhân cách Đối tượng của tâm lý học không phải là ý thức

mà là vô thức S Freud đã tuyệt đối hóa bản năng tình dục của con người Coi sự thỏa mãn tình dục là động lực của hoạt động Ông giải thích mọi hiện tượng của đời sống xã hội thông qua tình dục Mọi hiện tượng xã hội, tệ nạn, chiến tranh đều do bản năng tình dục gây nên Điều đó không thể chấp nhận được

Chủ nghĩa sinh vật trong học thuyết phân tâm biểu hiện quá lộ liễu, dung tục, nên một số người cộng tác với Freud cũng như học trò của ông phải rời bỏ học thuyết Freud và hình thành học thuyết phân tâm học mới phát triển theo nhiều trường khác nhau Tiêu biểu của các hướng đó có Karl Jung, Alped Adler và Erich Fromm

2 Phân tâm học mới về nhân cách

a) Karl Jung về nhân cách

Karl Jung (1879 - 1961) là bạn và người cộng tác với Freud, là người phát triển học thuyết Freud theo một hướng mới

Karl Jung bắt đầu sự nghiệp là bác sĩ trong bệnh viện thần kinh ở Thụy Sĩ

- Về vô thức: ông phê phán lập trường của Freud về vô thức Ông cho rằng hành vi con người được điều chỉnh bằng vô thức cả ý thức Đó là quá trình điều chỉnh tổng hợp, là một hệ thống tự điều chỉnh

Ý thức được hiểu là mối quan hệ của nội dung cái tôi Ý thức không đồng nhất với tâm lý mà còn có vô thức nữa Vô thức là hiện tượng được thể hiện ở sự quên, những kinh nghiệm đã được xác định trước đây bị ức chế, che lấp chưa trở

về được với ý thức

Ông cho rằng con người có vô thức đạo đức bẩm sinh Các hoạt động của con người có tính chất bản năng và tạo thành vô thức tập thể Điều đó được thể hiện trong nền văn hóa dân tộc cũng như trong nghệ thuật Chúng có những biểu tượng tượng trưng cho mọi thời đại và mọi nơi Mỗi dân tộc có những truyền thuyết, thần thoại riêng đặc trưng cho biểu tượng của dân tộc đó Ví dụ hình ảnh con rồng đặc trưng cho nền văn hóa Việt Nam, hình ảnh chú bé Thánh Gióng trong thần thoại Việt Nam là biểu tượng có tính chất tập thể Ông cho rằng có vô thức tập thể, bởi vì mỗi người đều tiềm tàng trong mình một di sản tinh thần được truyền từ nhiều thế hệ trong nền văn hóa dân tộc và nền văn minh nhân loại

Bản năng con người có tính chất tập thể, mỗi hiện tượng của xã hội đều giống nhau cho mỗi cá nhân Vì vậy, hình thức phản ứng của mỗi cá nhân cũng giống nhau Vô thức tập thể được hình thành từ tổng số các bản năng và hình mẫu

cổ sơ

Jung không thừa nhận bản năng tình dục của Freud là quyết định tâm lý con người Nhưng ông lại thừa nhận trong con người có vô thức như Freud đã quan niệm Vì vậy, về bản chất học thuyết của Jung vẫn là học thuyết phân tâm được cải biên thành học thuyết phân tâm học mới

- Cấu trúc nhân cách theo Jung

Thế giới bên ngoài

Nhân cách (Person)

Trang 29

Kiểu nhân cách Jung chia nhân cách làm 2 loại: Loại nhân cách hướng nội

và loại nhân cách hướng ngoại Cả 2 kiểu đều thể hiện mối quan hệ đối với thế giới bên ngoài

Kiểu hướng ngoại và hướng nội đều có chức năng tư duy, chú ý, tình cảm,

ý chí Về bản chất các kiểu này đều sử dụng năng lượng tâm lý để thực hiện chức năng của mình

Nhưng kiểu hướng ngoại về bản chất là hướng ra thế giới bên ngoài, sử dụng năng lượng vào mục đích khách thể Còn nhân cách hướng nội năng lượng

sử dụng vào các quá trình bên trong là chủ yếu

Về nhân cách Jung cho rằng con người có 3 lớp vô thức

Những vô thức này chi phối số phận con người trong việc chọn lựa tình yêu, bạn bè, nghề nghiệp, trong ốm đau, chết chóc

+ Lớp thứ nhất là vô thức cá nhân thể hiện trong cuộc sống hàng ngày + Lớp thứ hai là vô thức gia đình thể hiện trong động lực gây ra đồng tính luyến ái vô thức và sự trỗi dậy của bản năng

+ Lớp thứ ba là vô thức tập thể xuất phát từ hình tượng cổ sơ có nguồn gốc văn hóa chủng tộc

Quan điểm của Jung về nhân cách còn gọi là lý luận nhân cách tầng sâu

Lý luận nhân cách tầng sâu xuất phát từ quan niệm vô thức Vô thức được xác định bằng những sự kiện của hành vi

Những nét nhân cách và sự hư hỏng nhân cách là do xung đột có tính chất bản năng của hành vi Đó là những bản năng trực tiếp và bản năng tức thời

Lý luận nhân cách tầng sâu là một khám phá mới về vô thức Song điều này chưa đủ để nói lên bộ mặt nhân cách con người Nhân cách con người còn thể hiện ở những phẩm chất khác như năng lực, khí chất cũng như bộ mặt đạo đức trong nhân cách con người Những cái này Jung chưa đi sâu nghiên cứu

b) Alfred Adler (1870 - 1937)

Trang 30

Nhà tâm lý học người Áo Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố ở châu Âu và Mỹ Là nhà nghiên cứu tâm lý học cá nhân, Adler đã dùng phương pháp của tâm lý học phân tích trong nghiên cứu của mình Song về nội dung ông xuất phát từ quan niệm năng lực tâm hồn và nhấn mạnh đến hành vi xã hội

Ông cho rằng tất cả hành vi của con người đều chịu ảnh hưởng của xã hội Nhân cách thống nhất với hoàn cảnh và môi trường xã hội

Trong tư tưởng cơ bản của ông vẫn là vô thức bản năng hay là năng lượng tâm hồn là những cơ chế của tính tích cực, của xung đột và là cơ chế bảo vệ

- Về quan niệm nhân cách, ông cho rằng "Đời sống tâm hồn của con người

là mục đích đã vạch sẵn"

Tính mục đích có các hình thức sau đây:

+ Tính sinh vật có chức năng bẩm sinh

+ Tính xã hội là hiện tượng đời sống có ảnh hưởng đến cộng đồng, mang tình cảm xã hội

+ Tính hợp lý đối với ý thức đối với hành động có kế hoạch của con người Những mục đích này định hướng hành vi hoạt động của con người Trong

đó chức năng tâm hồn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhân cách

Nó là cơ quan bảo đảm sự thích ứng của con người trong xã hội

Ông đề ra nhân cách kém cỏi và sự cố gắng bù trừ

Theo ông con người bao giờ cũng cảm thấy mình kém cỏi có những thiếu sót và phải cố gắng bù đắp những thiếu sót đó

Trong cuộc sống con người luôn luôn muốn mình hơn người khác: cố gắng vươn lên Sự cố gắng vươn lên đó có người vượt quá mức tạo thành siêu việt hơn người Con người còn có sự bù trừ siêu đẳng Khi có nhược điểm trong lĩnh vực này lại thành siêu đẳng trong lĩnh vực khác

Ví dụ một cô gái kém cỏi về nhan sắc thì lại bù trừ trong lĩnh vực học hành

Cơ chế bù trừ của Adler khác với cơ chế bù trừ ở Freud là ở chỗ sự bù trù trong quan niệm của Freud xuất phát từ động cơ tình dục, còn bù trừ của Adler xuất phát từ động cơ xã hội

Sự bù trừ là có thật trong đời sống con người Nhưng sự bù trừ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố xã hội có tính chất quyết định Ở đây Adler quá thổi phồng tính chất bù trừ trong đời sống con người, mà không thấy vai trò hoạt động con người trong xã hội

c) Erich Fromm

Một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng hiện nay theo xu hướng Freud mới là Erich Fromm (1901) E.Fromm sinh ở Phrăngphuốc (đầu thế kỷ 20) sau sang Mỹ, trở thành nhà phân tâm học Mỹ Ông có ý đồ pha trộn phân tâm học của Freud và học thuyết xã hội học của Mác vào nhau là xây dựng nên lý thuyết "chủ nghĩa nhân đạo mới" Ông cho rằng Mác và Freud đều vẽ nên một mẫu người trong xã hội tư bản Trong xã hội này con người làm ra máy móc, và đồng thời con người cũng hoạt động như một cái máy Chính vì vậy trong xã hội đó con người không có nguồn vui thật sự, con người không có tình cảm, không có lý trí

Trang 31

và không có tình yêu Ông tìm thấy con người tự do trong nhân cách của Freud

và con người tự do trong xã hội của Mác Về tâm lý học, Froom cho rằng cơ chế

tự nhiên và xã hội trong con người là vô thức, đó là cái phi lý, hạt nhân của nhân cách Nó biểu hiện sự mong muốn vươn tới cái hài hòa toàn diện của con người Ông cho rằng nhu cầu tạo ra cái tự nhiên trong con người Những nhu cầu đó là: 1) Nhu cầu quan hệ giữa người và người; 2) Nhu cầu tồn tại "cái tâm" con người; 3) Nhu cầu về sự bền vững và hài hòa; 4) Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, với giai cấp, với tôn giáo; 5) Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu Những nhu cầu này là thành phần tạo nên nhân cách Bên cạnh thừa nhận cái tự nhiên trong con người, ông còn nói đến yếu tố xã hội Song trong xã hội có các nhóm, các thành phần song song với nhau Ví dụ, gia đình song song với xã hội, nhân cách song song với tiến bộ xã hội Chính vì vậy ông cho rằng tiến bộ xã hội là do tâm lý con người

Ông không chỉ nghiên cứu về con người mà còn nghiên cứu môi trường xã hội Ông cho xuất bản cuốn "Lí luận xã hội" (1970) nhằm trình bày "những cơ sở linh hồn của xã hội mới" Trong tác phẩm "Hữu thời hay chính thời" ông cho rằng động lực kích thích hành vi con người gồm có hữu thời và chính thời Hữu thời được hiểu là cái tôi sở hữu, đi liền với nguyên tắc vô nhân đạo, theo xu hướng cầu lợi, sự tham lam Theo Freud hữu thời đó là dấu hiệu xã hội vô nhân đạo - tức

là xã hội tư sản Hữu thời vận động không ngừng vì ở trong điều kiện của nền kinh tế tư bản Để cho con người tốt hãy rời bỏ hữu thời đến với chính thời Con người chính thời không thèm muốn gì cả, con người ở chốn cực lạc, đầy vui sướng, mọi khả năng của con người đều được tận dụng

Ông mưu toan lấy vấn đề sinh học để thay thế cho quy luật xã hội, từ đó điều chỉnh xã hội Trong xã hội tư bản vấn đề xâm lược làm cho ông lo lắng và tìm cách giải thích Theo ông xâm lược với nghĩa tốt sẽ dẫn tới hành vi yêu đương Còn xâm lược xấu là nguy cơ đe dọa cuộc sống riêng của con người Sự xâm lược

là bản năng của con người Sự ham mê của con người cũng là bản năng tự nhiên nhờ đó mà cuộc sống luôn luôn vươn lên

Lý luận xã hội của ông đã trở thành lý luận không tưởng Ông vẽ ra mô hình con người mới giữa các đặc điểm sau:

- Con người mới phải từ bỏ vật chất để sống thanh thản

- Con người phải làm cho cuộc đời có ý nghĩa

- Phải có lòng yêu thương và trân trọng cuộc sống

- Phải trau dồi tình yêu thương vốn có

- Phải khắc phục được tính tự yêu mình và chấp nhận tính chất hạn chế trong cuộc sống con người

Tất cả những đặc điểm này thật đáng quý nhưng đó chỉ là con người trừu tượng chung chung không thể thực hiện trong xã hội tư bản

Cái sai của Fromm là dung hòa giữa chủ nghĩa Freud và chủ nghĩa Mác

Sự thật không thể có cơ sở tự nhiên nào do Freud tạo ra làm cơ sở cho chủ nghĩa Mác Đồng thời sự tiến bộ xã hội do động lực kinh tế quyết định chứ không do yếu tố tâm lý nào như Fromm đã giải thích

Trang 32

II TRƯỜNG PHÁI GESTALT VỀ NHÂN CÁCH

Trong phần này chúng ta không có điều kiện nghiên cứu toàn bộ trường phái Gestalt về nhân cách Trong trường phái này có một số nhà nghiên cứu nổi tiếng như Wutheme, Kohler, Kolfka Đặc biệt nhà nghiên cứu nổi tiếng nhất trong trường phái này là Kurt Lewin Nếu như hầu hết các nhà tâm lý học Gestalt quan tâm đến vấn đề tri giác, lục tập tư duy, thì K Lewin lại quan tâm đến vấn đề động

cơ, nhân cách và tâm lý học xã hội Ông không chỉ là nhà tâm lý học nổi tiếng mà

còn là nhà sinh vật học, nhà vật lý, nhà toán học, nhà nghệ thuật và là nhà văn

Về mặt tâm lý ông đưa ra thuyết "trường tâm lý" Vấn đề trường tâm lý không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong nhân cách mà còn có ý nghĩa to lớn trong tâm lý học xã hội Theo ông thế giới xung quanh ta là thế giới của các sự vật và

có những tiến tự nhất định Vì vậy, con người luôn luôn tồn tại trong một hoàn cảnh, một trường tâm lý nào đó Giữa chủ thể và môi trường có sự tác động qua lại thường xuyên Bằng thực nghiệm ông đã chứng minh sự có mặt của trường tâm lý và tiến trị của sự việc K Lewin nêu một ví dụ về tiên trị dương và tiên trị

âm Có một đứa trẻ đi chơi thấy một phiến đá Nó đi vòng quanh phiến đá, vỗ tay vào phiến đá, nhưng không ngồi lên phiến đá Ông cho rằng phiến đá có tiên trị dương, có nghĩa là phiến đá này đã lôi kéo đứa trẻ làm cho nó muốn ngồi lên đó Trẻ có hành động muốn ngồi trên phiến đá, tức là trẻ hướng tới tiên trị dương Hòn đá mang tiên trị dương:

Hòn đá P↑ Đứa trẻ

K Lewin còn đưa ra một ví dụ nữa để chứng minh cho sự xuất hiện của trường nhân cách

Ông mời tất cả các khách thể thực nghiệm vào trong một phòng Trong phòng này có để các đồ vật khác nhau: bút chì, cái chuông, quyển vở, tạp chí v.v Ông cho khách thể thực nghiệm biết mình được nghiên cứu trí thông minh hoặc

từ nhỏ

Sau đó ông đề nghị khách thể thực nghiệm chờ một chút "tôi quên mất rằng tôi phải đi gọi điện thoại đã" - Người thực nghiệm nói và đi ra khỏi phòng - Nhưng sau đó ông bí mật quan sát những người được làm thực nghiệm sẽ làm gì khi còn một mình trong phòng Ông thấy rằng khi thực nghiệm trên sinh viên, giáo sư, hoặc bất kỳ một người nào đó với đồ vật - một số thì lật sách, số khác thì bấm chuông, cầm bút chì hoặc cầm một vật nào đó Từ đó ông đặt câu hỏi, người lớn đứng đắn như vậy lại làm những động tác đó và ông tự trả lời rằng trong hoàn cảnh mà chủ thể không hình thành một ý định rõ rệt, tức là chủ thể không thực hiện một hành động có ý nghĩa thì hành vi lúc này trở thành hành vi "tức cảnh"

do trường quy định – Hành vi tức cảnh hay hành vi trường đó là hành vi thoáng qua Ông cho rằng môi trường xung quanh có khả năng gây ra hành động hướng

về sự vật có tiên trị dương và tránh xa sự vật có tiên trị âm Như vậy, sự vật nào cũng có một tiên trị nhất định Tiên trị này tồn tại nhờ khả năng nhu cầu của con người Sự vật nào cũng nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó

Trang 33

Phân tích các thực nghiệm, K Lewin cũng thấy rằng có những bộ phận người thực nghiệm đứng ngoài "trường" và thực hiện hành động theo ý định của mình Còn khách thể thực nghiệm nào cảm nhận quyền lực của trường thì phụ thuộc vào nó, thực hiện các hành động đối với trường Thường những người có hành động ý chí nào đó không chịu ảnh hưởng của trường Hành vi con người thực hiện theo 2 kiểu: kiểu thứ nhất hành vi được thực hiện phụ thuộc vào nhu cầu của chủ thể với môi trường Kiểu thứ hai không phụ thuộc vào nhu cầu mà phụ thuộc vào môi trường Trong trường hợp người bệnh tâm thần thường phụ thuộc vào môi trường để hành động Những người bình thường cũng có hành vi tức cảnh phụ thuộc vào trường - Những phân biệt giữa người có hành vi tức cảnh bình thường và người bệnh là ở người bình thường hành vi tức cảnh ít hơn hành

vi ý chí, còn ở người bệnh hành vi tức cảnh nhiều hơn hành vi ý chí

Về sau ông đưa ra khái niệm "không gian sống" để giải thích hành vi của nhân cách - không gian sống bao gồm cả trường tâm lý

Không gian sống - đó là nhân cách và hoàn cảnh trong mối tác động qua lại lẫn nhau tạo nên hành vi trong một thời điểm nào đó - Không gian sống được biểu hiện bằng không gian hai chiều trong đó có con người vận động - Không gian sống chứa đựng con người, các mục đích con người tìm đến, các mục tiêu

mà con người lẩn tránh, các giới hạn của sự vận động và con người để đạt mục đích đó

Không gian sống của K Lewin là tất cả những cái gì có ảnh hưởng tới con người Vì vậy, những vật nào không có ảnh hưởng tới nhân cách thì không hiện

ra trong không gian sống dù cho sự vật đó nằm bên cạnh Ngược lại một sự việc nào mà con người có nghĩ về nó và nó có quan hệ tới con người thì sự vật ấy tồn tại trong không gian sống cho dù về vật chất nó không tồn tại trước mắt của người

đó Một người nghĩ rằng một tai họa sẽ đến với họ, họ sợ, mặc dù tai họa đó không

có trước mặt họ, chỉ là tưởng tượng Song sự tưởng tượng tai họa đó vẫn có trong không gian sống của người đó

Theo quan niệm của Lewin không gian sống không phải trong mọi trường hợp con người đều có ý thức được nó Một cá nhân có thể bị ảnh hưởng các yếu

tố của môi trường mà mình không ý thức được Điều quan trọng trong không gian sống là mục đích con người tìm đến hoặc xa lánh nó Vì vậy, ông cho rằng vị trí,

sự vật hay hoàn cảnh mà cá nhân muốn tiếp cận thì gọi là tiên trị dương (+) Bất

kỳ cái gì mà cá nhân muốn tránh thì được xem là tiên trị âm (-)

Lêwin biểu diễn hành vi của cá nhân trong môi trường như sau:

B = F (P,E) B: Hành vi P: Nhân cách E: Môi trường xung quanh

Hành vi B là hàm số của nhân cách P và môi trường xung quanh E Trong

đó E là trường bên ngoài của cái lực và tác động cụ thể, còn nhân cách P là trường bên trong của hệ thống sức căng (trường tâm lý bên trong) Con người và môi trường là hai cực (mômen) của cùng một chính thể hành vi (không gian sống)

Trang 34

Quan niệm của Lewin và không gian sống không phải là không gian hình học hai chiều Không gian hai chiều không thể biểu diễn được không gian sống của ông Do đó ông tạo ra không gian "địa thế học" (Topologia), không gian này

có thể đãn ra mọi phí mà không có sự khác biệt nào Địa thế học quan tâm đến biên giới các vùng, chứ không quan tâm đến hình thái và kích thước các vùng Lewin quan tâm đến tiên trị dương và tiên trị âm trong vùng không gian sống Tiên trị dương là nhằm thỏa mãn những nhu cầu nào đó của cá nhân Nhu cầu này

có thể là nhu cầu cụ thể như kẹo đối với đứa trẻ, thức ăn đối với con người, hoặc

có thể là nhu cầu trừu tượng như nhu cầu có một địa vị nhất định trong xã hội Tiên tri âm có thể dùng cho những hoàn cảnh đặc biệt như hình phạt đối với trẻ phạm khuyết điểm; cảm giác tội lỗi khi có hành động giết người

Các rào cản ngăn chặn hành động cá nhân tiến đến mục đích có thể là cụ thể như cửa bị đóng mà không có chìa khóa để mở đối với người có nhu cầu vào nhà, hoặc đề thi khó đối với học sinh, hoặc trừu tượng như một vị trí xã hội nào

đó mà cá nhân có nhu cầu hướng đến

Nhưng con người cùng một lúc có nhiều tiên trị, cần phải chọn một tiên trị nào đó để hướng đến Để biểu diễn vấn đề này ông thêm vào không gian sống một vectơ chỉ lực, chiều dài của vectơ là lực biểu diễn cường độ của lực Tâm lý địa thế sẽ cho ta biết hành vi có thể xảy ra Nếu ta biết rõ về không gian sống của con người, có những thông tin về người ấy thì có thể dự đoán về hành vi của người ấy

Lý luận và các công trình thực nghiệm của K Lewin về không gian sống

đã đưa ông chiếm một vị trí cao trong tâm lý học nhân cách

Các khái niệm "trường tâm lý", "không gian sống" thể hiện một phương pháp mới miêu tả hành vi hiện thực của nhân cách Ông đã khám phá ra động lực của mối quan hệ cá nhân và hoàn cảnh, nhu cầu, nguyện vọng Ông đã sơ đồ hóa các khái niệm tâm lý bằng trường không gian, địa thế, véc tơ

Song lý luận về trường không gian sống cũng có những khó khăn mà không thể giải quyết được Ví dụ ta không thể biết được cấu trúc của không gian sống của một con người Hoàn cảnh con người sống luôn luôn thay đổi do đó không gian sống cũng thay đổi Vì vậy, nếu dựa vào không gian sống thì khó đánh giá được nhân cách con người

Quan điểm của K Lewin là quan điểm của trường phái Gestalt mang cấu trúc trọn vẹn Nhân cách được xét trong hoàn cảnh, trong nhóm, nhưng những quy định về chính trị, kinh tế đối với hành vi nhân cách không được ông để ý đến một cách thỏa đáng Vì vậy, lý luận nhân cách của ông không tách khỏi sự sơ lược trong quan niệm của Gestalt

III TÂM LÝ HỌC NHÂN VĂN VỀ NHÂN CÁCH

Tâm lý học nhân bản ra đời như là một khuynh hướng đối lập với tâm lý học hành vi và phân tâm học Nếu tâm lý học hành vi lấy điều kiện bên ngoài quyết định cho tân lý con người thì phân tâm học lấy điều kiện bên trong làm nguyên tắc quyết định Tâm lý học nhân văn khác với hai khuynh hướng trên là

Trang 35

ở chỗ nó không tạo nên một bộ mặt lý luận thống nhất về nhân cách Trường phái tâm lý học nhân văn là sự tổng hợp nhiều khuynh hướng mới và nhiều trường phái tư tưởng khác nhau Nhưng những nhà tâm lý nhân văn đều có chung những

tư tưởng là tôn trọng con người, tôn trọng giá trị sáng tạo, và trách nhiệm con người, tôn trọng các phẩm giá cá nhân con người Tâm lý học nhân văn nhấn mạnh đến cơ sở triết học về con người

Trường phái nhân văn đã hình thành ở Mỹ gồm các nhà tâm lý học nổi tiếng như C Rogels, R May, A Mascou, G.Allport, Ch Buhle, A Sutich, J Bugental, K Golds Tein, C Moustakas

Những nhà tâm lý học nhân văn đã nêu lên các nguyên tắc hoạt động của mình:

1 - Hướng đến việc nghiên cứu nhân cách và những kinh nghiệm của con người là phương hướng nghiên cứu chính Còn việc nghiên cứu hành vi là phương hướng phụ trong việc nghiên cứu tâm lý con người

2 - Dựa vào sự tự đánh giá, tự thực hiện, tự lựa chọn để đánh giá chất lượng phát triển con người

3 - Quan tâm đến giá trị tiềm năng bẩm sinh của mỗi con người, cũng như những đặc điểm riêng của mỗi người

Những nguyên tắc trên đã chỉ đạo trong việc nghiên cứu nhân cách con người Đặc điểm của tâm lý học nhân văn về nhân cách được thể hiện các điểm sau:

- Nghiên cứu cá nhân trong mối quan hệ bên trong và bên ngoài

- Quan tâm một cách tích cực vấn đề con người trong đó tính tự chủ đối với hoàn cảnh khoa học, chính trị, tôn giáo cũng như các mục đích khác

- Nhấn mạnh đến mặt chủ thể trong con người - tức là con người tự nhìn thấy, cảm thấy, hiểu được bản thân mình và thế giới

- Nghiên cứu những khái niệm và giá trị của con người ít quan tâm đến nhưng sự kiện và những công trình thực nghiệm

- Nhấn mạnh đến vị trí dương của nhân cách Nghiên cứu nhân cách phải đặc biệt quan tâm đến tính sáng tạo của con người, không quan tâm đến việc nghiên cứu nhân cách bệnh

- Không quan tâm nghiên cứu nhân cách trong quá khứ, mà chỉ tăng cường nghiên cứu nhân cách trong hiện tại và tương lai (Theo Bugental, J F T, 1967)

Nếu như chủ nghĩa hành vi dựa vào phương pháp tư duy toán học và thực nghiệm để nghiên cứu hành vi con người thì tâm lý học nhân văn đã dựa vào những kinh nghiệm chủ quan để phân tích nhân cách con người Họ từ chối việc tiếp thu nhưng yếu tố tiến bộ của nhiều trào lưu tâm lý học tiến bộ, mà lại quay

về với truyền thống tôn giáo nên rơi vào quan niệm duy tâm, phản khoa học Sự

ra đời của tâm lý học nhân văn là thể hiện sự khủng hoảng về hệ thống phương pháp nghiên cứu về tâm lý học trong các nước tư bản chủ nghĩa

Để thấy rõ khuynh hướng này chúng tôi nêu ra một vài tác giả tiêu biểu

Trước hết hãy kể đến nhà tâm lý học nổi tiếng Mỹ là Abruham H Maslow (1908 - 1970), đã từng là chủ tịch hội tâm lý nhân văn đầu tiên ở Mỹ

Trang 36

Về nhân cách ông đưa ra hệ thống nhu cầu, quá trình nhận thức, triệu chứng nhân cách và năng lực Tất cả những yếu tố này tạo nên động lực thúc đẩy hành

vi con người Động cơ thúc đẩy mạnh mẽ nhất là nhu cầu

Theo ông có thể chia ra năm loại nhu cầu:

- Nhu cầu sinh lý: như nhu cầu thỏa mãn đói, khát, sinh dục, những nhu cầu này có tính chất bản năng, có cả ở động vật

- Nhu cầu an toàn: nhu cầu về sự yên ổn, trật tự và an ninh

- Nhu cầu yêu thương, nhu cầu lệ thuộc

- Nhu cầu được thừa nhận; nhu cầu thành đạt, kết quả, nhu cầu về niềm tin

- Nhu cầu tự thực hiện như nhu cầu sáng tạo, nhu cầu hiểu biết, nhu cầu tri thức, nhu cầu nghệ thuật

Các loại nhu cầu này được chia làm nhu cầu cấp thấp và nhu cầu cấp cao + Nhu cầu cấp cao

 Nhu cầu tự thực hiện

 Nhu cầu được thừa nhận

 Nhu cầu yêu thương, lệ thuộc

+ Nhu cầu cấp thấp

 Nhu cầu an toàn

 Nhu cầu sinh lý

Ông cho rằng nhu cầu sinh lý là mạnh nhất, còn nhu cầu tự thực hiện là nhu cầu yếu nhất Nhu cầu yêu thương - lệ thuộc là nhu cầu vừa cấp thấp vừa cấp cao

Thứ tự các nhu cầu được ông nêu ra là rất quan trọng

Những nhu cầu này xuất hiện theo thứ tự trong quá trình phát triển chủng loài, cũng như phát triển của cá nhân Đồng thời đây cũng là thứ tự thỏa mãn các nhu cầu đó Nếu nhu cầu cấp thấp không thỏa mãn thì nhu cầu cấp cao cũng không thể thực hiện được Con người sống trong điều kiện nghèo nàn thì chỉ chú ý đến điều kiện thỏa mãn nhu cầu sinh lý và an toàn Sống trong điều kiện giàu có khi nhu cầu cấp thấp không còn đáng lo lắng nữa thì người ta chú ý đến nhu cầu cấp cao Nhu cầu tự thực hiện là nhu cầu cao nhất nhằm phát triển tiềm năng của cá nhân Nhu cầu này khác nhau ở mỗi người bởi vì mỗi người đều có tiềm năng riêng khác nhau Có người có nhu cầu tự thực hiện trên lĩnh vực văn chương, người khác thì có nhu cầu lãnh đạo, v.v Những nhu cầu này không bị sự kiểm soát của xã hội Nhưng không phải ai cũng thực hiện được nhu cầu này, bởi vì còn những nhu cầu khác chưa thực hiện được

Maslow cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng của con người Những nhu cầu như giao tiếp, tình yêu, lòng kính trọng đều có tính chất bản năng đặc trưng cho giống người Như vậy, theo Maslow "tính người" của nhu cầu và các xung động của con người được hình thành và phát triển trong quá trình phát sinh chủng loài Các nhu cầu đều dựa trên cơ sở di truyền nhất định Chính vì vậy, học thuyết nhu cầu của Maslow có điểm giống học thuyết S Freud

Trang 37

IV – CÁC XU HƯỚNG KHÁC VỀ NHÂN CÁCH Ở PHƯƠNG TÂY

A Tâm lý học nhận biết về nhân cách (thấu cảm)

Để hiểu được tâm lí học hiện sinh ta hãy nghiên cứu những tác giả tiêu biểu của "tâm lý học nhận biết"

Tâm lí học nhận biết cho rằng cái bản chất trong con người chính là sự định hướng tinh thần của nó: sự định hướng này là mà bộ phận của nguồn gốc tinh thần chung của nhân loại Cải tạo nhân loại bằng phương pháp tinh thần đó

Tư tưởng đó ảnh hưởng nhiều đến các nhà tâm lí học hiện sinh, các nhà triết học, nhà văn

Đại biểu nổi tiếng của Tâm lí học nhận thức (thấu cảm) là E Sprauger (1882 - 1963)

Các luận điểm cơ bản của ông:

1) Cái tâm lí phát triển từ cái tâm lí

2) Cái tâm tí dẫn tới sự hiểu biết trực giác các mẫu hoạt động của sự sống 3) Không nên tìm những nguyên nhân khách quan trong việc phát triển nhân cách con người, mà tìm ở sự pha trộn giữa nhân cách và giá trị văn hóa tinh thần của xã hội Đó cũng là một thuộc tính của tinh thần

Ông cho rằng cái chủ yếu trong nhân cách con người là sự định hướng quý giá, nhờ đó mà con người có thể nhận biết thế giới Sự định hướng quí giá này là sản phẩm của trạng thái văn minh của nhân loại

Ông phân biệt được xúc cảm và sự nhận biết Sự nhận biết nằm ngoài thời gian và vĩnh cửu Còn xúc cảm chỉ là nhất thời Vì vậy chỉ cần nói đến nhận biết chứ không nói đến xúc cảm

Theo ông nhân cách được thể hiện ở 6 mẫu người trong đời sống

1) Mẫu người lý thuyết:

Là người hướng đến sự hiểu biết, nhận biết các quy luật, nhận biết bản chất thế giới, nhận biết các mối quan hệ giữa con người với nhau Mẫu người lí thuyết này có thể là người bất kỳ: tiểu thương, thầy thuốc, kế toán viên Đây là loại người định hướng chủ yếu của cuộc sống là tư duy trên bình diện lý luận về cái gì đang diễn ra, là thiết lập những quy luật nào đó Bản thân ông cũng thuộc loại người này

Ông nói: "Con người lí luận ở dạng thuần túy chỉ biết có sự ham mê, ham

mê tính toán, ham mê học hỏi, ham mê lí giải xác lập mối quan hệ, lí luận hóa Những lo lắng quan tâm tách rời khỏi cuộc sống thực tiễn Nó có thể bất lực và tuyệt vọng trong tìm hiểu, phấn khởi vì phát hiện lí thuyết Thế giới đối với họ là phát triển vô tận các bản thể và các quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Nó nhìn vào tương lai xa thẳm bao gồm nhiều thời đại Nó liên kết trong mình tính cụ thể, tính quy luật chung và luân lí học Ở dạng tự nhiên và thuần túy mẫu sống ấy được thể hiện ở các nhà bác học chuyên nghiệp Những người này chìm đắm trong thế giới khái niệm của mình và không thể tìm ra mối liên hệ trực tiếp với bất cứ một hiện tượng nào " Ông cho rằng Platon, Kant là những đại biểu điển hình của mẫu người này

2/ Mẫu người kinh tế:

Trang 38

Đặc trưng kiểu người này là tìm thấy sự lợi lộc trong nhận thức Ông không cho loại người này là ích kỷ chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình Loại người này trong nhận thức của họ phải dẫn tới lợi ích, cho bản thân, cho gia đình, cho cộng đồng, cho nhân loại Ông cho rằng "nếu Kant là cái đầu thì Lametri là cái tay"

Kỹ thuật và kiến thức tự nhiên là mẫu người kinh tế Những người loại này có giá trị ở chỗ là vừa nhận thức vừa sáng tạo Họ hướng đến thực nghiệm để nhận thức thế giới

Ông nói: Trong bình diện chung nhất của mẫu người kinh tế là mẫu người đạt lợi ích trên hàng đầu trong mối quan hệ sinh hoạt đối với nó Đối với nó tất

cả đều trở thành phương tiện để duy trì cuộc sống, duy trì cuộc đấu tranh để tồn tại và cải thiện cuộc sống một cách tốt nhất

Nó tiết kiệm vật liệu, sức lực, thời gian để đạt lợi ích tối đa Có hai mẫu người kinh tế: Mẫu người trong sản xuất và mẫu người trong tiêu dùng Nếu trong điều kiện dồi dào vật chất thì mẫu người tiêu dùng sẽ hướng đến những nét thẩm

mỹ Nếu trong điều kiện thiếu thốn vật chất anh ta sẽ trở thành người keo kiệt, ích kỷ, buồn bã

Các nghề nghiệp tạo thành con người kinh tế như người làm ruộng, người chăn nuôi, người công nhân, nhà buôn có những nét khác nhau Sự phát triển của nền kinh tế làm phát triển kiểu người này

3/ Mẫu người thẩm mỹ:

Những người này nhận thức thế giới thông qua ấn tượng và diễn đạt nó bằng hình tượng Họ nhận thức bằng sự hài hòa hay không hài hòa Nếu họ thấy thiên nhiên hài hòa thì thấy dễ chịu, nếu không hài hòa thì thấy khó chịu

Mẫu người này thể hiện rõ ở các họa sĩ, nhạc sĩ, nhà điêu khắc, nghệ sĩ v.v Cũng có thể có ở người bình thường Họ khao khát tự thể hiện những thẩm

mỹ mà thôi

Mẫu người thẩm mỹ thực sự như Rafaen

Mẫu thẩm mỹ và mẫu kinh tế muốn giao lưu với con người, còn mẫu lí thuyết ít muốn giao lưu với con người Định hướng của người nghệ thuật dựa vào màu sắc, hình đáng, nhịp điệu của đời sống, thiên nhiên, thông qua sự hài hòa của cuộc sống

Theo ông ái tình là một hình thức thẩm mỹ của sự giao lưu Ái tình (tình dục) là biểu tượng của giao lưu tinh thần Điều này ông nói đến thanh niên, ông yêu mến thanh niên vì thanh niên lãng mạn, hiểu biết thẩm mỹ

4/ Mẫu người vị tha

Mẫu người tập đoàn là mẫu người muốn tìm mình trong người khác, song

vì người khác, ham muốn tình yêu nhân loại Người tập đoàn hành động vì người khác Đó là tình yêu cao thượng Theo ông, Peslalôxia sống theo kiểu người này,

L N Tôntôi cũng là kiểu người này

Kiểu người này không chịu sống theo nguyên tắc theo tiêu chuẩn nên thường vô chính phủ Mặt khác kiểu người này sống theo gia trưởng Kiểu người này hướng đến hành vi XHCN

Trang 39

Ông phân biệt tình yêu của kiểu người này Tình yêu với những người cùng huyết thống và tình yêu dựa trên tinh thần thuần túy Tình yêu của người mẹ dựa vào huyết thống (bản năng) Tình bạn là tình yêu thuần túy tinh thần Tình yêu là cái tôi cao cả, thấy bản thân mình trong người khác

5/ Mẫu người chính trị

Người chính trị không phải là kiểu người ham muốn quyền hành chính trị, ham muốn quyền lực Quyền lực thật là quyền lực xây dựng trên giá trị tinh thần chân chính Đó là các nhà chính trị Họ ham muốn quyết định hành động của người khác Đây cũng không nhất thiết là những người giám đốc, những nhà chính trị, mà có ở tất cả ở những con người có sự xác định quyền lực bằng tinh thần

Họ muốn có quyền lực phải nhân danh nhiều người Người lãnh tụ có quyền lực

vì sự ủng hộ của một nhóm người Đó là những người có cá tính mạnh mẽ

6) Mẫu người tôn giáo:

Đó là người mà định hướng nhân cách của họ là ý nghĩa cuộc sống Họ hướng dẫn đến việc tìm ra quy luật của ý nghĩa cuộc sống Họ chứng minh rằng

có một sức mạnh siêu tinh thần nào đó Họ cho rằng cái vĩnh hằng đang quyết định đời sống con người Đây có thể không phải là người theo một tôn giáo nào

mà là người đi tìm ý nghĩa cao siêu nhất, chân lí nhất như Brunô - Những người này đã chết do lỗi của nhà thờ

Con người tôn giáo hướng mọi giá trị tinh thần vào cảm xúc

Nhận xét:

Sự phân loại này của ông nhằm chứng minh rằng ở con người không phải

có sự khác nhau về cơ thể, về hành vi, mà là do giá trị định hướng tinh thần của con người Các định hướng tinh thần không xuất phát từ xã hội, từ điều kiện sống,

mà từ bản ngã tinh thần Quan niệm tâm lí đẻ ra tâm lí là thể hiện duy tâm cực đoan Tâm lí học nhận biết không tìm hướng đi đúng đắn cho tâm lí học Đó là

xu hướng duy tâm trong tâm lí học

B - Thuyết hiện sinh về nhân cách

Thuyết hiện sinh (Existentialisme, Phénoménologie) là học thuyết về triết học và tâm lý học Thuyết này cho rằng con người có khả năng cảm nhận những cái mình đang sống, những cái đã trôi qua, về sự tự do của bản thân và mối quan

hệ với người khác Họ tìm cách mô tả một cách khách quan tất cả những cảm nhận cá nhân và phân tích cơ cấu và cơ chế của nhưng cảm nhận đó

Những người đại diện nổi tiếng của trường phái này là nhà triết học Husserl

và Sartre

Người nổi tiếng trong tâm lý hiện sinh là Kale Ixperx

Năm 1935 ông viết cuốn sách: "Ý nghĩa của cảm xúc" Sách này được tái bản nhiều lần ở Mỹ trong những năm sáu mươi Chủ nghĩa hiện sinh trong tâm lý phủ nhận chức năng của não trong việc phản ánh hiện thực khách quan

Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh:

1 - Tâm lý, ý thức không có cơ sở từ cơ chế sinh lý

2 - Hành động của con người bao giờ cũng có tính chất tự nhiên trong sự phản ánh mối quan hệ con người với xung quanh

Trang 40

3 - Ý thức phản ứng là nét đặc trưng của con người, nhờ đó mà con người thoát khỏi hoàn cảnh và chống lại hoàn cảnh

4 - Con người luôn luôn hướng vào thế giới nội tâm, hoàn cảnh bị tách rời khỏi con người

Như vậy, học thuyết hiện sinh đã chống lại học thuyết Freud về vô thức, học thuyết hành vi và học thuyết môi trường quyết định

Chủ nghĩa hiện sinh đã lập luận như sau:

Về quan điểm thứ nhất tâm lý, ý thức không có cơ chế sinh lý, vì bộ não chỉ giúp cho sự lan truyền các kích thích nó hoạt động một cách cơ giới chứ không

có tính chất tâm lý Do đó tâm lý, ý thức phụ thuộc vào nhân cách con nguời Về quan điểm thứ hai cho rằng hành động con người mang tính chất tự nhiên; có nghĩa là tính chủ quan thể hiện đặc điểm nhân cách con người

Về quan điểm thứ ba cho rằng ý thức phản ứng là nét đặc thù của con người chứ không phải phản ánh hiện thực khách quan Điều này có thể thể hiện trong tri giác Ông chia ra hai loại trị giác: tri giác ngoại giới và tri giác tư duy Tri giác ngoại giới phản ảnh thế giới xung quanh Tri giác tư duy phản ánh sự nhận thức con người về thế giới do Khi con người tri giác thế giới và thấy thế giới hoàn toàn khác, nghĩa là lúc đó con người đã tiến hành tri giác tư duy - con người lúc

ấy sẽ mất nhân tính Ví dụ, khi tôi giơ cánh tay lên, tôi nhận biết việc làm của mình nhằm mục đích gì Đó chính là lúc tư duy ngoại giới Nhưng khi làm việc

đó một cách vô thức thì đó là tri giác tư duy Rõ ràng họ lẫn lộn việc tư duy và tri giác, vô thức và ý thức, hành động giữa người bình thường và người bệnh

Về quan điểm thứ tư Nếu con người hướng vào nội tâm thì dễ dàng lảng tránh thế giới bên ngoài Thế giới bên ngoài bị loại trừ khỏi mối quan hệ cái tôi Điều đó nói lên rằng con người có khuynh hướng độc lập với thế giới bên ngoài

và cũng từ đó tạo nên cá tính riêng của mình khác với người khác Nhân cách được quan niệm là một bản thể đặc biệt không phụ thuộc vào điều kiện khách quan Sự khác nhau không phải số lượng, tốc độ của các hiện tượng tâm lý mà là

sự sai biệt tính chất toàn vẹn của hệ thống cá nhân

Đóng góp của hiện sinh là họ đã mạnh dạn phê phán tất cả các trường phái tâm lý như Phân tâm học, hành vi chủ nghĩa

Họ thừa nhận giá trị, cá tính của con người Nhưng họ sai lầm là ở chỗ

"đánh mất" yếu tố khách quan trong quyết định nhân cách, cái tâm lý phát triển cái tâm lý Họ coi nhẹ nghiên cứu nhận thức của con người

Học thuyết hiện sinh thường đề cập tới cái tôi Đó là cái tôi hiện thực và cái tôi lý tưởng

Ruth Wylie (1968) cho rằng cái tôi có thể coi là một cấu trúc phức hợp của những yếu tố tương hỗ tạo nên con người Theo quan niệm của Wylie đó là quan niệm khái quát phù hợp với các mặt sau:

1 Con người đã kinh qua cuộc sống như là một thực thể khác nhau, thực thể khác nhau ấy có thể phân biệt với thực thể khác

2 Cảm xúc của con người được duy trì qua thời gian

3 Tính chất vật lý của cá nhân với tư cách như là kinh nghiệm của cá nhân

Ngày đăng: 05/03/2019, 21:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w