Đối với định nghĩa lòng tự trọng như là năng lực, một trong những định nghĩa sớm nhất và thường được cho là một hướng tiếp cận hữu ích để có thể can thiệp vào lòng tự trọng là định nghĩa
Trang 2Tâm Lý Học Đông Tây là bản tin điện tử do WE Link phát hành với mục tiêu xây dựng
một diễn đàn nơi độc giả cùng chia sẻ những góc nhìn khác nhau về tâm lý học Đó có thể là góc nhìn khoa học, góc nhìn từ cuộc sống, từ chính kinh nghiệm hành nghề tâm
lý, hay góc nhìn của một người quan tâm đến tâm lý học như một công cụ để nâng cao chất lượng cuộc sống
Bản tin Tâm Lý Học Đông Tây sẽ ra mắt độc giả trong tuần đầu tiên của mỗi tháng và
mỗi kỳ phát hành sẽ xoay quanh một chủ đề nhất định Chủ đề của tháng 8 là Tâm lý học nhân cách
Mỗi bản tin sẽ bao gồm các chuyên mục sau:
- Tin tức & Sự kiện Chuyên mục dành đăng các tin bài đáng chú ý về các sự kiện hoặc
các nhân vật liên quan đến tâm lý học với mục tiêu cung cấp cho độc giả những tin thời
sự quan trọng trong lĩnh vực tâm lý học trong nước và quốc tế
- Khoa học tâm lý Nơi chia sẻ những bài viết tổng luận và các kết quả nghiên cứu khoa
học của các nhà chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu và thực hành tâm lý Các bài nghiên cứu được trình bày theo đúng chuẩn quốc tế của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association) về định dạng bài viết và cách thức trích dẫn
- Chuyện ngành, chuyện nghề là nơi chia sẻ tâm tư và trải nghiệm của chính những
người trong ngành.Từ đó, độc giả sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về cuộc sống của các nhà tâm lý học cũng như đam mê của họ với ngành nghề và khát vọng phát triển tâm lý học
để góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người Việt
- Psych Café Nơi độc giả sẽ khám phá nhiều góc nhìn, nhiều luồng quan điểm khác nhau
về các đề tài tâm lý học mang tính thời sự Độc giả được khuyến khích đóng góp ý kiến
để làm cho cuộc tranh luận phong phú, sôi nổi hơn với mục tiêu cuối cùng là chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm sống
- Ai? Chuyện gì? Ở đâu? Giới thiệu thông tin về các tổ chức, cá nhân, hoặc sự kiện có liên
quan đến tâm lý học tại Việt Nam và trên thế giới
- Tôi là ai? Ai là tôi? Đăng tải các bài viết thú vị và các trắc nghiệm giúp độc giả khám
phá bản thân và những người xung quanh
- Tâm lý học cho cuộc sống với các bài viết ứng dụng tâm lý vào những sinh hoạt và những
mối quan hệ xã hội thường nhật mong muốn đem khoa học tâm lý đến với mọi người một cách gần gũi và thiết thực hơn
- Trên kệ sách Đồng hành cùng độc giả với những quyển sách liên quan đến tâm lý học
không thể bỏ qua
- Nghiên cứu mới Cập nhật cho các nghiên cứu tâm lý học vừa được công bố để độc giả
nhanh chóng nắm bắt xu hướng phát triển của bộ môn khoa học tâm lý trên khắp thế giới
Để bản tin thực sự trở thành nơi học hỏi, chia sẻ, giao lưu phong phú và ý nghĩa, Ban biên tập kêu gọi tất cả độc giả cùng nhau đóng góp bài viết cho các chuyên mục của bản tin Hãy để tiếng nói của chúng ta được lắng nghe, kinh nghiệm của chúng ta được chia
sẻ, kiến thức của chúng ta được phản biện, và những đóng góp của chúng ta vào sự phát triển của khoa học tâm lý ở Việt Nam được ghi nhận Đó cũng là những lợi ích thiết thực
mà bản tin mong muốn đem lại cho độc giả
Ban biên tập rất mong nhận được những góp ý chân thành của độc giả để bản tin Tâm
Lý Học Đông Tây thật sự trở thành một kênh giao lưu hiệu quả và thú vị giữa những người có cùng mối quan tâm đến tâm lý học, cùng chung tâm huyết muốn đóng góp vào
sự phát triển của bộ môn khoa học này tại Việt Nam
Trân trọng,
Để gửi bài viết đóng góp cho bản tin, hoặc gửi góp ý nhằm giúp phát triển bản tin, xin liên
Liên hệ gửi bài: Ngô Thúy Anh
ĐT: 0932.754.762
Email: press@welink.vn với tiêu đề “Bản
tin TLH Đông Tây-Tên chuyên mục-Tên
bài viết”
Ban biên tập: Ngô Thúy Anh
Nguyễn Đức Như Thủy
Với sự cộng tác của :
Đinh Thị Mai Anh
Huỳnh Thị Thanh Nhân
Trương Thị Kim Oanh
Lê Ngọc Thanh Thủy
- Ai? Chuyện gì? Ở đâu? 9
- Tâm lý học cho cuộc sống 13
- Tôi là ai? Ai là tôi? 15
- Trên kệ sách 17
- Nghiên cứu mới 20
góp ý của chuyên gia và độc giả nhằm giúp Bản tin Tâm Lý Học Đông Tây ngày càng phong phú và hữu ích.
Trang 3TIN TỨC & SỰ KIỆN TIN THẾ GIỚI
THÊM 3 VỞ DIỄN BROADWAY ĐƯỢC GHI NHẬN THÂN THIỆN VỚI TỰ KỶ
11/07/2013, AP
New York – Những buổi nhạc kịch thân thiện với trẻ tự kỉ mang tên “Độc ác”, “Người nhện: Dập Tắt bóng tối”, và “Vua
sư tử” sẽ được biểu diễn vào cuối năm nay và năm sau
Quỹ phát triển sân khấu, một tổ chức phi lợi nhuận cung cấp những buổi trình diễn trên sân khấu, đã cho biết lịch trình chiếu sẽ là: “Vua sư tử” vào 29 tháng 09, “Người nhện” vào ngày 16 tháng 11, và “Độc ác” vào ngày 02 tháng 03 Quỹ đã mua tất cả vé của các buổi diễn buổi chiều và sẽ cung cấp chúng cho các trẻ em và người lớn mắc hội chứng tự kỷ với một mức giảm giá nhất định
Các buổi diễn sẽ có một số thay đổi nhỏ để giúp người mắc chứng tự kỷ cảm thấy thoải mái hơn khi xem, bao gồm việc cắt giảm các âm thanh chói tai và ánh sáng nhấp nháy Những khu vực yên tĩnh với những chiếc ghế xốp và sách tô màu, cùng với các chuyên gia về tự kỷ cũng sẽ luôn có mặt bên trong nhà hát dành cho những ai cảm thấy quá choáng ngợp
Nguồn: http://iaccpla2013.org/about/
HỘI THẢO LẦN THỨ 35 CỦA HIỆP HỘI TÂM
LÝ HỌC ĐƯỜNG QUỐC TẾ (ISPA)
17- 20/ 07/2013, Porto, Bồ Đào Nha
Chủ đề cho Hội thảo lần thứ 35 của Hiệp hội Tâm lý học đường
quốc tế là “Tương lai của các dịch vụ Tâm lý học đường: Liên kết
sự sáng tạo với các nhu cầu của trẻ”.
Chương trình khoa học lần thứ 35 của Hiệp hội Tâm lý học đường Hoa Kỳ dựa trên sự kết hợp của các hình thức trình bày như: các bài diễn thuyết chủ đạo, các hội nghị chuyên đề, các hội thảo, các buổi thuyết trình theo chủ đề, thảo luận bàn tròn, và các buổi trưng bày ảnh Hội nghị bao gồm các hình thức trình bày đa dạng từ nhiều lĩnh vực khác nhau của tâm lý học đường, và cung cấp cơ hội để gặp gỡ các nhà nghiên cứu và nhà thực hành từ các quốc gia khác nhau trên thế giới
ISPA đã tổ chức các buổi hội nghị quốc tế trong vòng hơn 40 năm qua Mục đích của các buổi hội nghị này là kết hợp các nhà nghiên cứu, thực hành và chuyên gia đào tạo thuộc lĩnh vực tâm lý học đường trên khắp thế giới cùng chia sẻ về chuyên môn của mình, học hỏi thêm về sự phát triển mới và gặp gỡ các đồng nghiệp
Nguồn: http://www.apa.org/news/press/releases/2013/07/business-relationship.aspx
APA KHEN NGỢI QUYẾT ĐỊNH CỦA DOMA LÀ CHIẾN THẮNG CỦA KHOA HỌC, CHO GIÁ TRỊ CON NGƯỜI.
Chủ tịch APA Donald N.Bersoff, PhD, JD đã phát biểu: “Tòa án Tối Cao của Mỹ hôm nay đã tuyên bố việc lật đổ sự bảo
vệ cho Bộ luật Hôn nhân là một chiến thắng lớn cho khoa học xã hội và là một sự thừa nhận các giá trị cơ bản cho tất cả công dân nước Mỹ Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ rất hài lòng rằng tòa án đã không tìm được lý do hợp pháp nào để phủ nhận sự cư xử công bằng nằm dưới sự kiểm soát của bộ luật liên bang đối với các cặp đôi đồng tính”
Theo bản vắn tắt từ APA, việc từ chối hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính là bêu xấu họ “Các nghiên cứu thuộc chủ nghĩa thực nghiệm đã thể hiện rằng các khía cạnh tâm lý và xã hội của các mối quan hệ gắn kết giữa các cặp đôi đồng tính phần lớn đều tương tự với các cặp đôi dị tính Giống các cặp đôi dị tính, cặp đôi đồng tính hình thành các gắn bó tình cảm sâu đậm và sự gắn kết Các cặp đôi dị tính và đồng tính đều phải đối mặt với các vấn đề tương tự liên quan đến sự thân mật, tình yêu, sự công bằng, sự chung thủy, sự bền vững, và họ cũng trải qua các quá trình tương tự để giải quyết các vấn đề này”
Nguồn: http://www.apa.org/news/press/releases/2013/06/doma-decision.aspx
Sưu tầm và biên dịch: Thanh Thủy
Trang 4Có nhiều định nghĩa đã được các tác giả đề cập đến trong những năm qua, mỗi tác giả đều tiếp cận theo một khía cạnh riêng của mình Tuy nhiên trên
căn bản có hai kiểu định nghĩa về lòng tự trọng Đó là kiểu định nghĩa lòng tự
trọng như là năng lực, và định nghĩa lòng tự trọng như là sự xứng đáng.
Đối với định nghĩa lòng tự trọng như là năng lực, một trong những định nghĩa sớm nhất và thường được cho là một hướng tiếp cận hữu ích để có thể can thiệp vào lòng tự trọng là định nghĩa của William James
Sự tự cảm nhận của chúng ta trong thế giới này hoàn toàn phụ thuộc vào những gì chúng ta có được và làm được Nó được xác định bằng tỷ lệ của những khả năng thực tế của chúng ta với mẫu số là những kỳ vọng của chúng
ta và tử số là những thành công của chúng ta, như vậy một phân số có thể được tăng lên bằng cách giảm mẫu số và tăng tử số (1890/1983, trang 296)
cá nhân cụ thể thì không nhất thiết phải liên quan đến lòng tự trọng khi nó được định nghĩa theo cách này (Mruk, 2006, trang 13)
Số lượng thành công hay thất bại của một người có thể thay đổi, điều này có nghĩa rằng lòng tự trọng cũng là một hiện tượng năng động và phải được duy trì, đặc biệt là trong thời kỳ thách thức hay đe dọa (Mruk, 2006, trang 13) Điều quan trọng nhất của chúng ta là cố gắng duy trì, bảo vệ và nâng cao lòng tự trọng bằng cách cố gắng có được thành công và tránh thất bại trong những lĩnh vực mà mình đã đặt cược phẩm giá của mình trên đó (Mruk, 2003, trang 291)
Với định nghĩa lòng tự trọng như là sự xứng đáng, vào năm 1969, Nathaniel Branden trong quyển The Psychology of
Self-Esteem, ông đã nói như sau:
Lòng tự trọng có hai khía cạnh liên quan đến nhau: nó đòi hỏi một ý thức về sự hiệu quả cá nhân và ý thức về giá trị cá nhân Nó là tổng hợp của sự tự tin và tự tôn trọng Đó là một niềm tin cho rằng một người là có năng lực để sống và xứng đáng được sống (1969, trang 110)
Branden xác định lòng tự trọng dựa trên cơ sở triết học, đặc biệt là những gì được gọi là khách quan, hơn là trên thực nghiệm nghiên cứu Làm việc từ vị thế này, ông tin rằng con người có một nhu cầu cơ bản để cảm thấy có giá trị/ xứng đáng, nhưng việc đó chỉ có thể đạt được bằng năng lực hành động (Mruk, 2006, trang 19) Branden định nghĩa sự
Trang 5Khoa học tâm lý
Một khía cạnh nhận định về lòng tự trọng khác đó là tiếp cận theo khía cạnh giá trị và sự chấp nhận của mỗi người đối với chính mình, định nghĩa này mang tính trung gian giữa định nghĩa lòng tự trọng như là năng lực và sự xứng đáng Như định nghĩa của Guindon:
“Lòng tự trọng là thái độ đánh giá các thành phần của bản thân, phán đoán về tình cảm được đặt trên khái niệm về bản thân bao gồm cảm giác về giá trị và sự chấp nhận mà chúng ta được phát triển và duy trì như là một hệ quả của sự nhận thức về năng lực và thông tin phản hồi từ thế giới bên ngoài” (2002, trang 207)
Tuy nhiên, lòng tự trọng không phải chỉ là một cấu trúc đơn mà có vẻ nó giống như là một hệ thống mà theo Guindon
nó có hai thành phần, là thành phần lòng tự trọng toàn thể và thành phần lòng tự trọng chọn lọc:
Lòng tự trọng toàn thể: là một ước tính mang tính tổng thể nói chung về giá trị bản thân, một mức độ tự chấp nhận hay tôn trọng chính mình, một đặc điểm hoặc xu hướng tương đối ổn định và lâu dài trên toàn thể, bao gồm tất cả các đặc điểm trực thuộc và đặc tính bên trong bản thân (self)
Lòng tự trọng chọn lọc : là một sự đánh giá các thành phần và đặc điểm cụ thể hoặc phẩm chất bản thân, vào những thời gian hoàn cảnh khác nhau và mang tính tạm thời, mà đó là sự lượng định và kết hợp thành một đánh giá tổng thể của bản thân, hoặc lòng tự trọng toàn thể (2002, trang 207)
Thuyết hai yếu tố về lòng tự trọng được Tafarodi và Swann Jr trình bày vào năm 1995 Theo Mruk thì:
Bằng cách này sự hiểu biết về lòng tự trọng được toàn diện hơn so với những quan điểm khác, có nghĩa là nó có thể cung cấp các khả năng khác nhau hoặc thậm chí tích hợp các tài liệu khác của lĩnh vực này […] nó là ý tưởng mà năng lực và
sự xứng đáng làm việc cùng nhau để tạo nên lòng tự trọng (2006, trang 24)
Theo thuyết này, lòng tự trọng được định nghĩa theo một cách khác:
Lòng tự trọng là tình trạng sống của một người có năng lực trong việc giải quyết những thách thức của cuộc sống một cách xứng đáng theo thời gian (Mruk, 2006, trang 28).
Theo Mruk (2006), cấu trúc cuộc sống của lòng tự trọng bao gồm năm yếu tố chính:
• Trạng thái, là từ được lựa chọn để đại diện cho khía cạnh này của lòng tự trọng bởi vì trạng thái ngụ ý rằng đó là một cái gì đó ổn định, hợp lý trong khi vẫn mang tính mở cho những thay đổi trong những điều kiện nhất định Ví dụ như tình hình kinh tế, tình trạng hôn nhân của một người… Trong ý nghĩa này, mỗi người chúng ta có xu hướng sống ở một mức
độ ổn định tương đối, đối với cả mức độ lòng tự trọng đặc trưng của chúng ta
• Năng lực, là tập hợp cụ thể đặc điểm về thể chất, nhận thức và kỹ năng xã hội hoặc kỹ năng của một cá nhân, cũng như các điểm yếu trong các lĩnh vực này Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng năng lực là một quá trình, cần có thời gian học và thực hành để tìm hiểu làm thế nào để làm chủ các nhiệm vụ trong cuộc sống Năng lực được kết nối với lòng tự trọng vì các cá nhân đối phó với những thách thức khác nhau của cuộc sống trên cơ sở của những kỹ năng cụ thể có sẵn.
• Sự xứng đáng, được gắn với giá trị hoặc chất lượng hành động của chúng ta Hành vi có năng lực thường có xu hướng dẫn đến những cảm xúc tích cực, và người yếu về năng lực hoạt động thường tạo ra những cảm xúc tiêu cực Nhưng xứng đáng không chỉ là kết quả mà nó còn liên quan đến ý nghĩa hành động của chúng ta Sự xứng đáng đặc biệt có thể tăng mạnh lòng tự trọng trong những khoảnh khắc mà trước đó các việc thực hiện một số hành vi nhất định được cho rằng mang đến giá trị và phản ánh chất lượng hay ý nghĩa.
• Mối quan hệ giữa năng lực và sự xứng đáng Trong lòng tự trọng, xứng đáng cần phải cân bằng với năng lực bởi vì không phải mọi thứ đều nhất thiết phải mang đến thành tích Nói về năng lực hoặc xứng đáng mà không nhấn mạnh đến mối quan hệ của nó thì có nghĩa rằng ta đang không nói về lòng tự trọng đúng đắn Có năng lực mà không xứng đáng có thể dẫn đến sự tiêu cực trong hành vi của con người
• Thời gian, chúng ta cần thời gian để phát triển một hình thức ổn định của lòng tự trọng, bởi vì, lòng tự trọng là kết quả của một quá trình phát triển […] Tin xấu là khi chúng ta không hành động theo cách có năng lực và xứng đáng thì chúng
ta sẽ phải chịu một sự mất mát lòng tự trọng và trải nghiệm các kinh nghiệm đau thương tương ứng Tin tốt là vào các thời điểm khác, chúng ta có cơ hội để chứng minh mức độ cao hơn của năng lực và nhờ thế có thể khẳng định, lấy lại hoặc thậm chí tăng ý thức của chúng ta về giá trị của mình.Trong cả hai trường hợp, thời gian là quan trọng đối với cấu trúc
cơ bản của lòng tự trọng bởi vì nó cho chúng ta thấy rằng nó là một cái gì đó xứng đáng với sự chú ý của chúng ta trong suốt toàn bộ quá trình của cuộc sống (trang 28 – 30)
Trang 6Mỗi nhà tâm lý, tùy thuộc vào kinh nghiệm, hướng tiếp cận cũng như mục đích của mình đều có một định nghĩa riêng về lòng tự trọng Lòng tự trọng cũng là một khía cạnh trong nhân cách, cũng như nhân cách, các nhà tâm lý học đều nhấn mạnh đến tính cấu trúc của nó Xác định được cấu trúc của lòng tự trọng có nghĩa là chúng ta có thể tác động được vào lòng tự trọng của bản thân để có một cuộc sống tốt đẹp hơn Và các nhà tâm lý cũng có cơ sở để hỗ trợ thân chủ một cách thiết thực hơn.
2 HAI KIỂU MẪU VỀ LÒNG TỰ TRỌNG
Theo Nathaniel Branden năm 1994, đã nói đến một vòng lẩn quẩn, cách mà lòng tự trọng ảnh hưởng đến hành động của chúng ta và lý do mà những hành động tác động đến lòng tự trọng của chúng ta:
Nếu tôi tin tưởng vào tâm trí và sự phán đoán của tôi, tôi có khả năng hoạt động như những gì tôi đã suy nghĩ Việc thực hiện khả năng trong suy nghĩ của mình đưa đến nhận thức thích hợp đối với các hoạt động của tôi, cuộc sống của tôi làm được nhiều việc tốt hơn Điều này củng cố niềm tin trong tâm trí của tôi Nếu tôi mất đi lòng tin vào tâm trí tôi, có nhiều khả năng tinh thần của tôi sẽ trở nên thụ động, mang lại nhận thức ít hơn những gì tôi cần cho các hoạt động của tôi, và kiên trì ít hơn khi đối mặt với các khó khăn Khi hành động của tôi dẫn đến kết quả đáng thất vọng hay đau đớn, tôi cảm thấy nó là bằng chứng đúng khi tôi không tin tưởng vào tâm trí của mình (1994, trang 4)
Thông thường đối với lòng tự trọng, các tác giả thường phân chia thành lòng tự trọng thấp hoặc lòng tự trọng cao Có một sự khác biệt rõ ràng về cách thức mà những người mang lòng tự trọng cao hay thấp này quyết định hoặc hành động Với lòng tự trọng cao, một người có nhiều khả năng tồn tại trong khi đối mặt với khó khăn Với người có lòng tự trọng thấp, họ có khả năng bỏ cuộc hoặc thông qua việc cố gắng hành động mà những hành động đó không thực sự là lựa chọn tốt nhất cho họ Những người có lòng tự trọng cao sẽ kéo dài một nhiệm vụ lâu hơn một cách đáng kể so với người có lòng tự trọng thấp (Branden, 1994, trang 5) Người có lòng tự trọng cao dường như tự định hướng và độc lập nhiều hơn
so với người có lòng tự trọng thấp Người có lòng tự trọng cao thường đón nhận thông tin phản hồi và có thể nhận thức được nhiều tình huống thực tế, người lòng tự trọng thấp có xu hướng thận trọng hơn, tự bảo vệ mình và bảo thủ hơn người có lòng tự trọng cao (Guindon, 2010, trang 18) Người có lòng tự trọng không ổn định rất nhạy cảm với những thông tin phản hồi, khi một người có lòng tự trọng không ổn định nhận được phản hồi tiêu cực, lòng tự trọng của họ giảm phản ứng với những thông tin phản hồi này hơn đối với những người có lòng tự trọng ổn định (như trích dẫn của Guindon, 2010, trang 18)
Theo Rosenberg và Owens năm 2001:
Những người có lòng tự trọng thấp nhạy cảm hơn người khác đối với những kinh nghiệm có nguy cơ gây thiệt hại đến lòng
tự trọng của họ Họ có nhiều khó khăn đối với những lời chỉ trích và phản ứng cảm xúc nghiêm trọng hơn đối với sự thất bại Ngoài ra, họ có nhiều khả năng để phóng đại các sự kiện tiêu cực hoặc nhận thấy những nhận xét vốn dĩ không quan trọng là quan trọng Những người có lòng tự trọng thấp thường cảm thấy ám sợ xã hội nhiều hơn những người khác […] Những người có lòng tự trọng thấp thiếu sự tự tin khi ở trong mối quan hệ tương tác với người khác Họ thường cảm thấy ngượng ngùng, nhút nhát, lộ liễu, và không thể thể hiện được bản thân một cách đầy đủ khi tương tác với người khác.
Branden (1994) mô tả sự khác biệt về cách nghĩ của người có lòng tự trọng cao và thấp:
Những người có lòng tự trọng cao tìm kiếm những thách thức và kích thích có giá trị và đòi hỏi một mục tiêu Việc đạt được mục tiêu như vậy chính là nguồn nuôi dưỡng tốt cho lòng tự trọng Đối với những người có lòng tự trọng thấp thì
họ tìm kiếm sự an toàn trong sự quen thuộc và không đặt ra các yêu cầu Nhốt bản thân trong sự quen thuộc và không đặt ra các yêu cầu góp phần làm suy yếu lòng tự trọng Với lòng tự trọng cao hơn, chúng ta cởi mở hơn, trung thực hơn và giao tiếp phù hợp với con người của chúng ta, bởi vì chúng ta tin rằng suy nghĩ của chúng ta có giá trị và do đó chúng ta hoan nghênh nó nhiều hơn là sợ hãi nó Với lòng tự trọng thấp hơn thì chúng ta khập khiễng, lảng tránh, sự giao tiếp của chúng ta không được phù hợp với con người của chúng ta, bởi vì chúng ta không chắc chắn về những suy nghĩ, cảm xúc và/ hoặc lo lắng về phản ứng của người nghe (trang 6)
Trong quyển You can read anyone của tiến sĩ David J Lieberman (2007) tổng hợp và phân biệt khá rõ ràng và ngắn gọn
các đặc điểm của người có lòng tự trọng thấp và người có lòng tự trọng cao Ở đây có thể tóm tắt thành bảng như sau:
Trang 7Khoa học tâm lý
Người có lòng tự trọng cao Người có lòng tự trọng thấp
• Muốn làm những việc đúng đắn bất chấp cảm giác
của mình • Muốn làm những việc mình thích, để cho tâm trạng kiểm soát
• Có khả năng kiềm chế bản thân • Thiếu khả năng kiềm chế bản thân
• Hành động nhằm đáp ứng nhu cầu về lâu dài Họ
tìm thấy niềm vui trong những điều có ý nghĩa lớn
lao hơn và chấp nhận đánh đổi bằng những nhu cầu
trước mắt mang tính ngắn hạn
• Là những người bồng bột, chưa chín chắn và dể dàng bị hấp dẫn bởi những nhu cầu nhất thời mà bỏ quên nhu cầu lâu dài có lợi cho bản thân Nếu họ thấy nhu cầu nào nếu được đáp ứng sẽ mang lại sự thỏa mãn ngay lập tức thì họ sẽ chọn nhu cầu đó
• Họ tự tin hơn về khả năng và suy nghĩ cũng như
hành động của mình Đặc biệt là trong việc thích nghi
với hoàn cảnh mới Họ có thể nhận thức rõ ràng hơn
và nhất là không bị chi phối bởi suy nghĩ mình có thể
thất bại
• Họ bồng bột, theo nhu cầu và chú ý đến suy nghĩ của mọi người về họ, cũng như tới biểu hiện của họ
• Họ ít để tâm đến công sức cần bỏ ra để làm điều
đúng • Cho dù là để làm điều đúng họ cũng ngần ngại nếu phải tốn công sức
• Có giá trị và lòng tin cao và vững chắc • Có giá trị, lòng tin thấp và không vững, dễ mất lòng
tin
• Dù đã bỏ nhiều công sức vào một việc nhưng họ
vẫn có thể dứt khoát từ bỏ được khi cảm thấy đó là
việc làm đúng
• Khi đã bỏ nhiều công sức vào một việc nào đó thì
sẽ khó dứt bỏ được nó và thường viện đủ lí do để bào chữa cho việc họ không bỏ được
• Ít bị ảnh hưởng bởi tâm trạng • Bị ảnh hưởng nhiều tới tâm trạng
• Nếu sai hay thất bại họ có thể chấp nhận nó • Nếu sai hay thất bại họ không thể chấp nhận và
dùng mọi cách để bào chữa, biện hộ hay hợp lý hóa những sai lầm của mình
Bảng 3
Tuy nhiên theo thuyết hai yếu tố mà Christopher J.Mruk đã trình bày trong tác phẩm của mình năm 2006 thì các kiểu mẫu của lòng tự trọng có thể phân thành 4 kiểu được phân theo cấu trúc của một biểu đồ ma trận như sau (bảng 4):
Lòng tự trọng dựa vào sự xứng đáng Lòng tự trọng cao
-10
Bảng 4
Trang 8Lòng tự trọng thấp: xuất hiện ở góc trái phía dưới của biểu đồ thể hiện cho việc một người thiếu cả năng lực lẫn sự xứng đáng trong cuộc sống
Lòng tự trọng cao: xuất hiện ở góc phải phía trên của biểu đồ thể hiện cho một người có đầy đủ cả năng lực lẫn sự xứng đáng trong cuộc sống của một người
Đặc trưng của lòng tự trọng thấp và lòng tự trọng cao trong thuyết hai yếu tố đều không có sự khác biệt đáng kể với những nội dung đã trình bày trên
Lòng tự trọng dựa trên sự xứng đáng: xuất hiện ở góc bên trái phía trên của biểu đồ Loại này đặc trưng bởi việc có
ý thức cao về sự xứng đáng mà không kèm theo các hành vi có năng lực tương ứng thích hợp Các cá nhân ở trong phân loại này thường có xu hướng cố gắng sử dụng một số cơ chế như : giảm thiểu sự thất bại, phủ nhận thiếu sót, hoặc tin rằng bản thân chỉ cần cảm thấy tốt về mình là đủ, cố lờ đi vai trò của năng lực
Lòng tự trọng dựa trên năng lực: xuất hiện ở góc phải phía dưới của biểu đồ với đặc trưng là có đánh giá cao về năng lực trong khi thiếu mất cảm giác về sự xứng đáng Trong trường hợp này, các cá nhân cố gắng bù đắp cảm giác giá trị bản thân thắp bằng cách tập trung vào năng lực của họ, đặc biệt là các lĩnh vực có xu hướng tập trung vào bề ngoài thay
vì trong thâm tâm của họ Việc tập trung vào các hoạt động có thể giúp một người tránh nhìn thấy hoặc ý thức về giá trị của bản thân, tuy nhiên điều này chỉ có ích với họ khi họ trong tình trạng thành công hoặc đang đi đến thành công.Theo Mruk (2006) :
Lòng tự trọng dựa trên sự xứng đáng và lòng tự trọng dựa trên năng lực được xem như lòng tự trọng không thực hoặc không ổn định Dưới nhiều điều kiện, lòng tự trọng dựa trên sự xứng đáng hoặc dựa trên năng lực có thể trông giống như lòng tự trọng cao Tuy nhiên không nên nhầm lẫn giữa họ với những người có lòng tự trọng cao ổn định hoặc thực sự Bởi
vì trong mỗi trường hợp, một yếu tố thiếu sót nào đó cũng đủ để tạo ra một trạng thái mất cân bằng đối với lòng tự trọng dựa trên sự xứng đáng hay dựa trên năng lực (trang 155)
Theo thời gian, lòng tự trọng cũng có thể tăng hay giảm xuống Tùy thuộc vào mức độ của sự nghi ngờ về sự xứng đáng của bản thân mình một người có thể xuất hiện sự phòng ngự, không ổn định đối với sự mất mát, thụt lùi, thất bại… Còn đối với những người đặt nặng về năng lực họ có thể phòng ngự khi gặp phải những chuyện như bị từ chối, chỉ trích, cô lập hoặc bị bỏ rơi…họ có thể trải nghiệm sự đau khổ trong trạng thái mất cân bằng giữa năng lực và sự xứng đáng (Mruk,
2006, trang 155)
Tập trung vào
sự chấp nhận (Approval Centered)
Trung bình(Medium)
Hoài nghi(Negativistic)
Tập trung vào thành tích(AchievementCentered)
-10
+5,+5 -5,+5
Ái kỷ (Narcissistic)
Lòng tự trọng thấp (Classical Low) Chống đối xã hội (Antisocial)
Chân thực (Authentic)
Lòng tự trọng
Lòng tự trọng dựa vào năng lực Lòng tự trọng thấp
Bảng 5
Trang 9Khoa học tâm lý
Như ma trận trên đã thể hiện rõ, lòng tự trọng có 4 phân loại cơ bản, nhưng về mặt đặc điểm, mỗi phân loại có sự khác nhau về mức độ của năng lực và sự xứng đáng Để hiểu rõ hơn về sự khác biệt về những đặc điểm của các phân loại, tác giả Mruk (2006) đã phân loại như sau (bảng 5)
Cùng với bảng 6, một mô tả ngắn gọn được đề nghị nhằm phân biệt rõ ràng đặc trưng của các phân loại mức độ lòng tự trọng (bảng 6)
Lòng tự trọng dựa vào sự xứng đáng Lòng tự trọng cao
Mô tả chung: lòng tự trọng mong manh và không ổn định,
được đặc trưng bởi mức ý thức về năng lực thấp và bù đắp
bằng cách tập trung vào sự xứng đáng
Mức độ:
a Tìm kiếm sự chấp nhận: Phụ thuộc vào sự chấp nhận
của những người khác, nhạy cảm với sự phê bình và từ
chối
b Ái kỷ: ý thức phóng đại sự xứng đáng bất kể mức độ
thẩm quyền và phản ứng với sự chỉ trích Dễ bị tổn thương
dẫn đến phòng vệ bằng cơ chế phóng ngoại (acting out)
Mô tả chung: lòng tự trọng tương đối ổn định, được đặc
trưng bởi sự thay đổi mức độ cởi mở đối với kinh hiệm, trải nghiệm lạc quan, và ít có sự phòng vệ
ng-Mức độ:
a Trung bình: ý thức ổn định về mức đầy đủ của năng
lực và sự xứng đáng, quan tâm mọi thứ nhiều hơn
b Chân thực: ý thức tổng quát về năng lực thực tế và
sự xứng đáng vững chắc Chủ động quan tâm tới giá trị sống tích cực, thực tế
Lòng tự trọng thấp Lòng tự trọng dựa vào năng lực
Mô tả chung: lòng tự trọng giảm đặc trưng bởi sự quan tâm
đến việc tránh mất thêm năng lực hoặc sự xứng đáng
Mức độ:
a.Hoài nghi: nói chung đây là phong cách thận trọng, tự
điều chỉnh, tập trung vào việc bảo vệ mức độ lòng tự trọng
hiện nay và tránh làm mất nó
b.Lòng tự trọng thấp: chức năng bị suy giảm do ý thức kém
về khả năng và giá trị Dễ bị trầm cảm, buông bỏ
Mô tả chung : lòng tự trọng mong manh hoặc không ổn
định, được đặc trưng bởi mức ý thức về sự xứng đáng thấp và bù đấp bằng cách tập trung vào năng lực
Mức độ:
a.Tìm kiếm sự thành công: phụ thuộc vào những
thành công hoặc thành tựu đạt được, lo lắng và nhạy cảm với sự thất bại
b.Chống đối xã hội: nhu cầu quá mức về thành công
và quyền lực Dể bị tổn thương, phóng ngoại (acting out) một cách mạnh mẽ
Và khi chúng ta tưởng chừng như đã là người trưởng thành thì chúng ta vẫn như những đứa trẻ, chúng ta chủ yếu dựa vào các thông tin bên ngoài để xác nhận giá trị và năng lực của bản thân Chúng ta nhìn vào những người quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta (cha mẹ, ông bà, thầy cô…) để chỉ cho chúng ta thấy rằng chúng ta được yêu thương hay chấp nhận đến mức nào (Plummer, 2005, trang 14)
Tuy nhiên, trên thực tế lòng tự trọng và hoàn cảnh chỉ liên quan gián tiếp với nhau Một yếu tố can thiệp để xác định lòng
tự trọng trong suốt toàn thời gian là: suy nghĩ của bạn (McKay, 2000, trang 3) Điều này có nghĩa là bạn có thể thay đổi mức độ lòng tự trọng của bạn bằng cách thay đổi cách bạn giải thích về cuộc sống của bạn
Đối với một số người, những thay đổi trong công việc, bệnh tật… ảnh hưởng đến cách mà họ đã xác định mình trong cuộc sống, vai trò mà họ phụ trách (đối tác, phụ huynh, nhà cung cấp, người đưa quyết định, chuyên gia, ), và với những
Trang 10sự mất mát này có thể dẫn đến việc làm giảm lòng tự trọng Hầu hết mọi người sẽ bị ảnh hưởng bởi những thay đổi này, nhưng đối với những người có ít hoặc lòng tự trọng thấp thì những sự kiện như vậy có thể dẫn đến một sự suy nhược, suy thoái mà từ đó rất khó để có thể thoát ra (Plummer, 2005, trang 15)
Theo thuyết hai nguyên tố, lòng tự trọng của một người bị ảnh hưởng bởi việc “thành công – thất bại” và “chấp nhận – từ chối” Và lòng tự trọng sẽ có những thay đổi theo thời gian liên quan đến các trải nghiệm Những kinh nghiệm về thành công sẽ mang đến những trải nghiệm tích cực cho một cá nhân và qua đó cũng nâng mức của yếu tố năng lực trong lòng
tự trọng Trái lại kinh nghiệm thất bại sẽ làm giảm mức của yếu tố này, điều này có nghĩa là sẽ có nguy cơ hạ thấp mức
độ của lòng tự trọng trên trục năng lực Tương tự, những trải nghiệm tích cực trong việc được chấp nhận sẽ nâng cao mức độ của trục xứng đáng, và lòng tự trọng sẽ được nâng cao và ngược lại
Tóm lại, lòng tự trọng phụ thuộc vào cách mà chúng ta đối mặt với những thách thức trong cuộc sống theo thời gian Lòng tự trọng được xây dựng dựa trên sự nhận thức của một cá nhân đối với giá trị và sự thành công của mình Hoàn cảnh chỉ là yếu tố kích hoạt cho quá trình nhận thức của một người về chính họ, và cách mà họ nghĩ về hoàn cảnh mới chính là yếu tố tác động trực tiếp vào lòng tự trọng của họ Một cách cơ bản, một người có lòng tự trọng cao là người có khả năng nhìn nhận thực tế tốt hơn và một người thường có tư duy tiêu cực hoặc méo mó thì dể dẫn đến việc hạ thấp lòng tự trọng của bản thân
4 KẾT LUẬN
Đối với mọi người, không phải bất kỳ vấn đề nào ta gặp phải đều có nguyên nhân từ lòng tự trọng Nhưng dù là nguyên nhân hay hệ quả của vấn đề thì lòng tự trọng cũng luôn cần được chú ý đến, nhất là trong hoạt động hỗ trợ tâm lý Sự thay đổi thực sự nên đến từ việc chấp nhận bản chất cũng như tình trạng hiện tại của bản thân mình một cách trọn vẹn Việc thay đổi một cách gượng ép mà không có sự chấp nhận bản thân chỉ là một hình thức chuyển từ vấn đề này sang vấn đề khác mà không thể mang đến niềm hạnh phúc thực sự
Tài liệu tham khảo:
1 Nathaniel Branden (1969) The Psychology of Self–Esteem: a new concept of Man’s Psychological Nature California: Nash.
2 Nathaniel Branden (1994) The Six Pillars of Self-Esteem New York: Bantam Books.
3 Nathaniel Branden (1992) The Power of Self-Esteem Florida: Health Communications.
4 Matthew McKay & Patrick Fanning (2000) Self – Esteem: A proven program of cognitive techniques for assessing, improving & taining your self-esteem (3rd ed.) Canada: New Harbinger Publication.
main-5 Christopher J.Mruk (2006) Self-Esteem reasearch, theory, and practice: toward a positive psychology of self-esteem (3rd ed.) New York: Springer Publishing company.
6 Sharon L.Johnson (2004) Therapist’s Guide to Clinical Intervention – the 1 – 2 – 3’s of Treatment Planning (2nd ed.) California: Academic Press.
7 Timothy J.Owens & Sheldon Stryker & Norman Goodman (Eds.) (2006) Extending Self-Esteem Theory and Research, Sociological and Psychological Currents New York: Cambridge University Press.
8 Marilyn J Sorensen (2006) Breaking the Chain of Low Self-Esteem (2nd ed.) Sherwood: Wolf Publishing Co.
9 Deborah Plummer (2005) Helping Adolescents and Adults to Build Self-Esteem Philadelphia: Jessica Kingsley Publishers.
10 Mary H Guindon (Ed.) (2010) Self-esteem across the lifespan: issues and interventions New York : Taylor and Francis Group.
TIN THẾ GIỚi
Trang 11AI?
CHUYỆN GÌ?
Ở ĐÂU?
TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT BIM BIM
Trường Chuyên biệt Bim Bim ra đời với mong muốn chung tay góp sức một phần
vào xã hội trong việc giúp đỡ các em có những khó khăn trong phát triển tâm vận động như: trẻ chậm nói, chậm phát triển trí tuệ, tự kỷ, Asperger, trẻ có vấn đề về hành vi, nhận thức, giao tiếp, cảm xúc,…
1 Hoạt động
1.1 Tham vấn và trị liệu trẻ em
Trẻ chậm nói, chậm phát triển tâm vận động, tự kỷ, khó khăn trong học tập, khó khăn về giao tiếp, trẻ có ý nghĩ và hành vi khác thường…
1.2 Giải đáp thắc mắc về tâm lý, tham vấn và trị liệu tâm lý cho người lớn1.3 Huấn luyện chuyên môn cho giáo viên và phụ huynh
2 Thang đánh giá
Test Denver II (đánh giá sự phát triển tâm vận động), thang CARS (đánh giá mức độ tự kỷ), ABLLS (đánh giá khả năng học tập), thang đo nhận thức,…
3 Phương pháp
Trị liệu tâm lý, trò chơi trị liệu, chỉnh âm và trị liệu ngôn ngữ, học trên máy
vi tính, điều hòa cảm giác, phương pháp phát triển nhận thức, phương pháp ABA, phương pháp TEACCH, phương pháp PECS, Floor Time, Cutting Time…
Sau khi trẻ được chẩn đoán bởi các bác sỹ hay nhà tâm lý trị liệu là có những khó khăn về phát triển, đồng thời được sự yêu cầu trị liệu của quý phụ huynh, trường sẽ tiến hành xây dựng mô hình can thiệp
4 Tiến hành trị liệu
Lượng giá mức độ rối loạn, mức độ nhận thức và sự phát triển tâm vận động cho trẻ (kết hợp nhiều phương pháp trị liệu, trong đó đặc biệt có sự kết hợp giữa hành vi trị liệu và hoạt động trị liệu) Chương trình học sẽ được thay đổi sau mỗi tuần, mỗi tháng trị liệu bởi những nhà chuyên môn
Chương trình trị liệu được xây dựng bởi Tiến sĩ Tâm lý (chuyên nghiên cứu
và thực hành trị liệu cho trẻ tự kỷ, chậm phát triển trí tuệ) và thực hiện bởi các giáo dục viên đặc biệt Chương trình can thiệp khác nhau đối với từng trẻ khác nhau
Thông tin về trường
Cơ sở 1: 381/4/10, Phan Văn Trị, P.11, Q Bình Thạnh, Tp.HCM
Buổi tư vấn của các
chuyên gia tại trường
Trang 12Psych Café 34 Mối quan hệ trị liệu: Từ sự quyến rũ đến lạm dụng quyền lực
Thời gian: 9h – 12h, Chủ Nhật 18/08/2013 Báo cáo viên: Th.s Lê Hoàng Thế Huy (giảng viên bộ
môn Tâm lý học – ĐH KHXH&NV)
**Nội dung Psych Café 34 chỉ phù hợp với những người đã và đang học tập, giảng dạy, giám sát, hành nghề tâm lý học nói chung và tham vấn -
trị liệu nói riêng
Th.s Lê Hoàng Thế Huy
Psych Café 35 Những điều cần lưu ý khi làm việc với thân chủ có vấn đề về nhân cách
Thời gian: : 9h – 12h, Chủ Nhật 25/08/2013 Báo cáo viên: Bs Phan Thiệu Xuân Giang (giảng viên
Tâm lý thần kinh, Tâm bệnh học phát triển)
Địa điểm: Phòng tập huấn - Trụ sở công ty We Link
64 Hồ Hảo Hớn, P Cô Giang, Q.1 (lầu 2) Vui lòng đăng ký tham dự (tên, số điện thoại, email, công tác) qua
Email: psychcafe@welink.vn
Điện thoại: 0916 909 023
Bs Phan Thiệu Xuân Giang
www.facebook.com/Psychcafe