1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Kỷ yếu Hội thảo Huế

187 446 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỷ yếu Hội thảo Huế
Tác giả TS. Nguyễn Thị Kim Nhã, TS. Nguyễn Minh Phong, TS. Nguyễn Thắng, TS. Lê Kim Sa Trung, Vũ Đình Ánh, TS. Tô Ánh Dương, TS. Lê Đăng Doanh, TS. Bùi Trường Giang, ThS. Phạm Sỹ An, Nguyễn Quang A, TS. Vũ Nhữ Thăn, Nguyễn Xuân Tự, ThS Nguyễn Anh Tuấn, TS. Võ Duy Khương, PGS, TS. Lê Xuân Bá, Trưởng phòng nghiên cứu kinh tế, Viện nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội, GS, TSKH Nguyễn Quang Thái, TS. Đặng Kim Sơn, TS. Nguyễn Đình Cung, Trần Văn, TS. Võ Đại Lược
Trường học Trường Đại học Kinh tế Huế
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Kỷ yếu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 3,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. Ba bài học cảnh báo về đầu tư công từ “Sự kiện Vinashin” – TS. Nguyễn Thị Kim Nhã, TS. Nguyễn Minh Phong………………………………………………………..2II. Các giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa nguồn vốn đầu tư ở thành phố Hồ Chí Minh - Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh……………………………………………….11III. Quan điểm chiến lược về đầu tư cơ sở hạ tầng với ngân hang nhà nước và nợ công –Vũ Đình Ánh…………………………………………………………………………15IV. Đầu tư công và công bằng xã hội – TS. Nguyễn Thắng, TS. Lê Kim Sa Trung…….29V. Đầu tư công và hệ thống năng lượng Việt Nam – Hiệp hội Năng lượng Việt Nam…39VI. Đầu tư công và vấn đề phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô – TS. Tô Ánh Dương…...45VII. Đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước – TS. Lê Đăng Doanh…………..…….51VIII. Đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước và vấn đề nhập siêu – TS. Bùi Trường Giang, ThS. Phạm Sỹ An…………………………………………………………….64IX. Đầu tư từ ngân sách nhà nước – Nguyễn Quang A………………………………….76X. Đổi mới đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 – TS. Vũ Nhữ Thăn……….90XI. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về đầu tư công – Nguyễn Xuân Tự………………..101XII. Kiểm toán đầu tư công – ThS Nguyễn Anh Tuấn………………………………….107XIII. Một số vấn đề về đầu tư công tại Đà Nẵng – TS. Võ Duy Khương…………….….114XIV. Một số vấn đề về phân cấp đầu tư công giữa Trung Ương và địa phương – PGS, TS. Lê Xuân Bá…………………………………………………………………………125XV. Phối hợp chính sách để nâng cao hiệu quả đầu tư công – Trưởng phòng nghiên cứu kinh tế,Vi ện nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội………………………….……..145XVI. Quy hoạch phát triển và cơ cấu đầu tư công – GS,TSKH Nguyễn Quang Thái……155XVII. Tái cơ cấu đầu tư công trong nông nghiệp trong bối cảnh đổi mới mô hình t ăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế ở Việt Nam – TS. Đặng Kim Sơn………………170XVIII. Cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả đầu tư nhà nước – Một yêu cầu cấp bách của tái cơ cấu kinh tế - TS. Nguyễn Đình Cung……………………………………………….181XIX. Vai trò và trách nhiệm của Quốc Hội đối với đầu tư công – Trần Văn…………….193XX. Vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam – TS. Võ Đại Lược…………………..198

Trang 1

1

MỤC LỤC

I Ba bài học cảnh báo về đầu tư công từ “Sự kiện Vinashin” – TS Nguyễn Thị Kim

Nhã, TS Nguyễn Minh Phong……… 2

II Các giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa nguồn vốn đầu tư ở thành phố Hồ Chí Minh - Ủy

ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh……….11 III Quan điểm chiến lược về đầu tư cơ sở hạ tầng với ngân hang nhà nước và nợ công –

Vũ Đình Ánh………15

IV Đầu tư công và công bằng xã hội – TS Nguyễn Thắng, TS Lê Kim Sa Trung…….29

V Đầu tư công và hệ thống năng lượng Việt Nam – Hiệp hội Năng lượng Việt Nam…39

VI Đầu tư công và vấn đề phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô – TS Tô Ánh Dương… 45 VII Đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước – TS Lê Đăng Doanh………… …….51 VIII Đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước và vấn đề nhập siêu – TS Bùi Trường

Giang, ThS Phạm Sỹ An……….64

IX Đầu tư từ ngân sách nhà nước – Nguyễn Quang A……….76

X Đổi mới đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 – TS Vũ Nhữ Thăn……….90

XI Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về đầu tư công – Nguyễn Xuân Tự……… 101 XII Kiểm toán đầu tư công – ThS Nguyễn Anh Tuấn……….107 XIII Một số vấn đề về đầu tư công tại Đà Nẵng – TS Võ Duy Khương……….….114 XIV Một số vấn đề về phân cấp đầu tư công giữa Trung Ương và địa phương – PGS, TS

Lê Xuân Bá………125

XV Phối hợp chính sách để nâng cao hiệu quả đầu tư công – Trưởng phòng nghiên cứu

kinh tế,Viện nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội……….…… 145 XVI Quy hoạch phát triển và cơ cấu đầu tư công – GS,TSKH Nguyễn Quang Thái……155 XVII Tái cơ cấu đầu tư công trong nông nghiệp trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng

trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế ở Việt Nam – TS Đặng Kim Sơn………170 XVIII Cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả đầu tư nhà nước – Một yêu cầu cấp bách của tái cơ

cấu kinh tế - TS Nguyễn Đình Cung……….181 XIX Vai trò và trách nhiệm của Quốc Hội đối với đầu tư công – Trần Văn……….193

XX Vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam – TS Võ Đại Lược……… 198

Trang 2

2

3 BÀI HỌC CẢNH BÁO VỀ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ “SỰ KIỆN VINASIN”

TS.Nguyễn Thị Kim Nhã-TCT bảo hiểm Bưu điện TS.Nguyễn Minh Phong-Viện NCPTKTXHHN

Đã, đang và sẽ còn nhiều phân tích về sự thua lỗ nặng nề như một điển hình của khối

doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thông qua vụ “chìm tàu Vinasin”, nhưng quan trọng hơn hết là

sự kiện này cho thấy những bài học cảnh báo nguy hiểm sau đây:

1 Tính 2 mặt của đầu tư đa ngành và thiếu chuyên môn hoá

Theo báo cáo giám sát hàng năm của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, thì tổng số nợ

quá hạn của Vinashin đến hết năm 2008 lên tới 3.812 tỉ đồng, chiếm 91,4% tổng số nợ

quá hạn của cả 7 tập đoàn, tổng công ty nhà nước năm 2008; đến cuối năm 2009, số nợ

của Vinashin lên tới gần 19.900 tỷ đồng Tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu vượt 10,9

lần Còn tính đến trước tháng 6/2010, Vinasin có tới 200 công ty con cháu với công nợ

đầm đìa tổng cộng hơn 80.000 tỷ đồng

Ngày 13/6/2010, kết luận cuộc họp cấp Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn

Dũng chủ trì để giải quyết các vấn đề của Vinashin đã khẳng định: "Hoạt động sản xuất

kinh doanh, tình hình tài chính của tập đoàn rơi vào tình trạng rất khó khăn" Chính phủ

cho rằng ngoài các yếu tố khách quan như tác động của suy thoái kinh tế, nguyên nhân

chủ quan là do Vinashin đầu tư dàn trải, việc quản lý dự án, công nợ, sử dụng đồng vốn

còn nhiều hạn chế, yếu kém…” Theo quyết định tái cơ cấu đối với Vinashin, Chính phủ

yêu cầu tập đoàn này nội trong quý II/2010 phải chuyển 12 công ty con về Tập đoàn Dầu

khí Việt Nam (PVN), gồm: Khu Công nghiệp tàu thủy Lai Vu (Hải Dương) bao gồm cả

Công ty Công nghiệp tàu thủy Lai Vu; Khu Công nghiệp tàu thủy Nghi Sơn (Thanh Hóa)

bao gồm cả Ban Quản lý dự án Khu Công nghiệp Nghi Sơn; Nhà máy đóng tàu đặc

chủng và sản xuất trang thiết bị tàu thủy Nhơn Trạch (Đồng Nai); Nhà máy đóng tàu

Dung Quất; Khu công nghiệp tàu thủy Soài Rạp (Tiền Giang); Phần vốn góp của Tập

đoàn Vinashin trong Công ty CP Công nghiệp tàu thủy Hoàng Anh ( Nam Định) và trong

các dự án do Công ty làm chủ đầu tư; và 7 đơn vị khác của Vinashin được điều chuyển về

Tổng công ty Hàng hải Việt Nam gồm: Khu công nghiệp cảng biển Hải Hà (Quảng

Ninh); Cảng Vinashin Đình Vũ (Hải Phòng); Khu công nghiệp và nhà máy đóng tàu Hậu

Giang; Cảng và nhà máy đóng tàu Năm Căn (Cà Mau); Công ty Vận tải Biển Đông;

Công ty TNHH 1 thành viên Vận tải Viễn Dương Vinashin; Phần vốn góp của Tập đoàn

Vinashin trong các doanh nghiệp vận tải biển khác Thời gian bàn giao từ ngày 1-7 và kết

thúc quý 3 năm 2010 Sau đó, Vinasin trở thành công ty TNHH một thành viên từ ngày

1/7/2010 Ngoài ra, khi trở thành công ty TNHH một thành viên, Vinashin sẽ được Bộ

Tài chính cấp bổ sung vốn điều lệ từ Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp cũng như được

Chính phủ hứa tiếp tục phát hành trái phiếu cho Vinashin vay để cơ cấu lại nợ đáo hạn và

thực hiện một số dự án đang dở dang

Trang 3

3

Về nguyên tắc, việc tái cấu trúc Vinasin cần tạo ra sự tập trung và chuyên môn hoá sâu và hình thành quả đấm thép, thúc đẩy ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam vươn lên tầm cỡ quốc tế, đặc biệt cần tránh TẠO RA NHỮNG NGOAI LỆ đầu tư đa ngành thiên về bề rộng, thiếu chuyên môn hoá với những hậu quả đã được tiên liệu trước Trên thực tế,Vinashin đứng hàng đầu trong khối tập đoàn và tổng công ty nhà nước về tham vọng đầu tư đa ngành bất chấp nguyên tắc, từ đóng tàu đến vận tải biển, cảng biến tới sản xuất thép, xi măng, bia, dịch vụ hàng không, bảo hiểm, ngân hàng, nhập khẩu ôtô - xe máy Thậm chí, bất chấp thực tế bài học đắt đỏ thua lỗ trong quá khứ, ngay trong quyết định tái cơ cấu Vinasin mới được công bố nêu trên, người ta vẫn thấy Vinasin tiếp tục được đăng ký đầu tư những ngành nghề kinh doanh “trái khoáy”, như hoạt động tài chính, ngân hàng, dịch vụ khách sạn, đầu tư kinh doanh nhà, xây dựng dân dụng, khu đô thị, nhà ở, lữ hành nội địa, kinh doanh lữ hành quốc tế, sản xuất bia rượu, nước giải khát, dịch vụ vui chơi giải trí Liệu có cảnh “ngựa quen đường cũ” và miệng hố phá sản lớn hơn đang lấp ló đâu đó trong tương lai…!

Trong nền kinh tế hiện đại, đa dạng hoá đầu tư đã, đang và sẽ tiếp tục trở thành xu hướng phát triển ngày càng đậm nét của các tập đoàn kinh tế ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam: Trên thực tế Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT), ngoài các sản phẩm, dịch vụ liên quan tới viễn thông và công nghệ thông tin, còn mở rộng sang lĩnh vực gồm dịch vụ quảng cáo, kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng; Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ngoài lĩnh vực hoạt động truyền thống là sản xuất kinh doanh điện năng, viễn thông công cộng và cơ khí điện lực, còn đầu tư mở rộng sang lĩnh vực bất động sản, lĩnh vực tài chính - ngân hàng; Tập đoàn Cao su Việt Nam (VRG) cũng không chịu bó khuôn trong lĩnh vực cao su, mà còn nhảy sang ngành cơ khí, quản lý khai thác cảng biển, vận tải, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ khách sạn, du lịch nội địa, quốc tế v.v…

Xu hướng đa dạng hoá đầu tư được giải thích bởi một số lý do: cùng với quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, nhiều ngành nghề mới được hình thành, nhiều lĩnh vực có tiềm năng chưa được khai thác triệt để, rào cản gia nhập ngành chưa sâu…, từ đó mang đến nhiều cơ hội, thách thức lớn và mới cho các doanh nghiệp cả ở thị trường trong nước, lẫn thị trường quốc tế tham gia và khẳng định mình trong các lĩnh vực đầu tư mới Có thể nói, việc đa dạng hoá đầu tư của các tập đoàn và doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu thực tiễn phát triển kinh doanh, từ sự xuất hiện cung - cầu mới, từ xu hướng phát triển ngành

và sự phát triển của khoa học công nghệ, cũng như từ sự gia tăng áp lực cạnh tranh giữa các đối thủ tiềm năng đòi hỏi các doanh nghiệp phải bám sát thị trường, nhạy bén và năng động nắm bắt những thời cơ mới, không ngừng mở rộng quy mô, phát huy được các nguồn lực bên trong, huy động được nguồn lực bên ngoài, giảm thiểu rủi ro theo kiểu” không bỏ hết trứng vào một giỏ “ và góp phần phát triển thị trường, tạo thế đà phát triển tiếp theo cho doanh nghiệp Theo thống kê của Bộ Tài chính, tính đến hết năm 2007, tổng giá trị tài sản của 70 Tập đoàn, tổng công ty nhà nước đạt hơn 803 nghìn tỷ đồng, vốn chủ sở hữu là 323 nghìn tỷ đồng, số vốn đầu tư ra bên ngoài của các tập đoàn, tổng công

Trang 4

về đầu tư bề rộng thuần tuý với kỳ vọng thu lợi nhuận thị trường, mà chỉ nên tham gia hoặc đảm trách các hoạt động kinh doanh công ich và những hoạt động nào mà các doanh nghiệp tư nhân không muốn làm hoặc không được phép làm, để bảo đảm giữ cân đối và duy trì cạnh tranh lành mạnh, hoặc hỗ trợ và tạo động lực thúc đẩy đời sống kinh tế-xã hội diễn ra trơn chu, bình thường Đặc biệt, trong khuôn khổ cơ chế truyền thống hiện hành, các tập đoàn và công ty nhà nước thường nhận được nhiều và dễ khai thác, lạm dụng các ưu đãi (nhất là về vốn, nghĩa vụ tài chính và điều kiện đất đai) cùng các cơ hội kinh doanh độc quyền hơn những loại hình doanh nghiệp khác từ các “lỗ hổng cơ chế”, nên việc đầu tư đa ngành vì mục tiêu lợi nhuận thị trường thuần tuý, nhất là có tính chất

cơ hội cục bộ, cá nhân tất yếu sẽ gây ra những cạnh tranh không lành mạnh hoặc những cái giá đắt đỏ phải trả cho rủi ro thị trường, sự thiếu trách nhiệm và nạn tham nhũng…

Thực tiễn cho thấy, việc hoạt động đa ngành nghề, lĩnh vực cũng có tính hai mặt

của nó: Một mặt, nếu doanh nghiệp đi đúng hướng và đầu tư thành công sẽ giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu như đã nêu trên; mặt khác, nếu “ chệch hướng” hoặc đầu

tư không hiệu quả có thể làm suy sụp hình ảnh của doanh nghiệp, thậm chí đánh mất thương hiệu và gây ra những thiệt hại to lớn khó lường cho doanh nghiệp Những tác động mặt trái của đa dạng hoá đầu tư là do: Khi doanh nghiệp đầu tư đa ngành, đa nghề ít nhiều bản thân doanh nghiệp đánh mất đi lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh của mình, rất

dễ mắc sai lầm do sự phân tán các nguồn lực và thiếu kinh nghiệm của bộ máy quản lý Bên cạnh đó, việc kiểm soát vốn vào hoạt động đa lĩnh vực là rất phức tạp, nếu làm không tốt thì sự thất thoát, lãng phí và khả năng đổ vỡ tài chính là những nguy có thực Đặc biệt, cần thấy rằng, với khả năng tài chính có hạn của mình, việc đầu tư vốn dàn trải

sẽ buộc doanh nghiệp phải tìm đến nguồn vốn mới với những điều khoản thương mại ngặt nghèo, dễ đưa họ sa vào chiếc bẫy nợ nần hoặc sự lãng phí khủng khiếp nguồn vốn NSNN và tín dụng đầu tư các cấp, loại

Để giảm thiểu rủi ro, tránh những tác động mặt trái trong đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực như trên, thực tiễn kinh doanh ngày càng cho thấy các doanh nghiệp cần bám sát các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, cần đảm bảo nguyên tắc bám sát thị trường, biết mình biết ta Doanh

nghiệp khi tiến sang lĩnh vực mới nên có sự chuẩn bị kỹ càng, phân tích chiến lược toàn

Trang 5

5

diện, dự báo sát các triển vọng thị trường dài hạn, trung hạn và ngắn hạn để hình thành và triển khai dự án đầu tư mới đúng nơi đúng lúc…

Thứ hai, cần tránh việc đầu tư theo kiểu đám đông, phong trào và đặc biệt tránh

chạy theo tư tưởng đầu cơ, chỉ nhìn thấy lợi nhuận “nóng” trước mắt, mà quên đi mất chuyên môn và mục tiêu chính của mình

Thứ ba, cần bám sát sở trường và đầu tư đa ngành có trọng tâm Doanh nghiệp

nên đa dạng hoá một cách chuyên sâu, tạo sự tương hỗ, liên kết giữa các sản phẩm và dự

án đầu tư mới và cũ trong quá trình đa dạng hoá và phát triển của mình Những ngành, sản phẩm đa dạng mới mà doanh nghiệp lựa chọn phải phù hợp hoặc có tính bổ sung cao, thiết thực với năng lực và thị trường hiện tại, sẵn có của bản thân doanh nghiệp, không nên quá xa rời sở trường vốn có của mình, đồng thời phù hợp với triển vọng trung và dài hạn của thị trường trong nước và thế giới

Thứ tư, phải chuẩn bị kỹ nguồn vốn huy động mang tính an toàn cao, rẻ để tránh

sức ép trả nợ trong thời kỳ đầu dự án đầu tư mới chưa sinh lợi Đặc biệt, doanh nghiệp cần tỉnh táo trước những chiếc bẫy nợ hoặc sự lừa đảo và các dạng tội phạm tài chính ngày càng đa dạng và tinh vi trên thương trường

Thứ năm, phải biết trọng dụng chuyên gia, người tài cả về quản lý, lẫn về công

nghệ trong lĩnh vực đầu tư mới mà chúng có nhiều bõ ngỡ với ê kíp cán bộ cũ Nói cách khác, người nào việc ấy, không thể dùng cán bộ và chuyên gia cũ cho một lĩnh vực đầu tư kinh doanh mới, tựa như không thể dùng thợ cơ khí để chế tạo đồ mộc, thợ hàn để chế tạo phần mềm trong công nghệ thông tin Nếu phương án nhân sự mà không khớp với phương án tài chính và tiến độ triển khai dự án, thì độ thành công của dự án đa dạng hoá đầu tư thật là mỏng manh, thậm chí ngoài tầm kiểm soát của bất kỳ doanh nghiệp nào… Thực tiễn trên đây đòi hỏi cần đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc và thực hiện những cải tổ mạnh mẽ hơn nữa trong cơ chế quản lý nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu qủa hoạt động của các tập đoàn và công ty nhà nước Đây cũng hành động thiết thực tạo

ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, kiềm chế lạm phát và bảo đảm sự phát triển bền vững của cả khu vực doanh nghiệp, lẫn của nền kinh tế-xã hội…Điều này tuỳ thuộc không chỉ vào bản thân doanh nghiệp, mà còn vào môi trường pháp lý và sự chỉ đạo quyết liệt, tập trung và cả sự dũng cảm, thông minh của Chính phủ

2 Minh bạch đại diện sở hữu và tăng cường hiệu lực giám sát, thanh tra tài chính tại các tập đoàn và công ty nhà nước

Hiệu quả kinh doanh và đầu tư của các tập đoàn kinh tế và công ty Nhà nước nói chung, cả ở trên thế giới, cũng như ở Việt Nam, đều không cao, và thường là thấp nhất so với các đầu tư và kinh doanh tương tự, nhưng do các nhà đầu tư nước ngoài hoặc tư nhân

Trang 6

6

trong nước thực hiện (nếu cú hoặc được phộp) Điều này liờn quan đến nhiều yếu tố,

trong đú phải kể đến: đặc điểm của sở hữu(sở hữu nhà nước thường dẫn đến cảnh “cha chung khụng ai khúc” và “lắm sói khụng ai đúng cửa chựa”; cơ chế cỏn bộ và tuyển

dụng lao động (thường khụng thực sự coi trọng chuyờn mụn và người tài), trỏch nhiệm cỏ nhõn của nhà quản lý đầu tư (thường thấp vỡ đề cao và lạm dụng cơ chế lónh đạo và trỏch nhiệm tập thể) và cơ chế quản lý vốn đầu tư- bao gồm cả việc lựa chọn lĩnh vực kinh doanh( thường bị ỏp đặt hoặc dễ dói, gắn với lợi ớch cục bụ, thõm chớ do lợi ớch cỏ nhõn và phe nhúm, lợi dụng vốn nhà nước để “đỏnh quả” và trục lợi), cũng như cơ chế ra quyết định đầu tư (vừa phức tạp, chậm trễ, vừa lỏng lẻo, hỡnh thức và nhiều cơ hội cho tham nhũng phỏt sinh, phỏt triển)…Thụng tin chớnh thức cho thấy, tỷ lệ ICOR của khu vực đầu tư nhà nước ở nước ta hiện ở mức hơn 8, so với mức trung bỡnh xó hội 4,2-4,4; Cũn theo Phú tổng kiểm toỏn nhà nước Lờ Minh Khải trong cuộc họp bỏo 1/7/2008 thỡ kết quả kiểm toỏn 225/385 doanh nghiệp thành viờn thuộc 19 Tổng cty Nhà nước năm tài chớnh 2006 thỡ đến 31/12/2006 tổng số nợ phải thu là 25.102 tỷ đồng(bằng 64% vốn chủ

sở hữu), nhưng tổng số nợ phải trả cao hơn 2,7 lần tổng nợ phỏi thu và lờn tới 65.799 tỷ đồng (bằng 171,2% tổng vốn chủ sở hữu), so với tổng lợi nhuận trước thuế của cỏc Tổng

cty được kiểm toỏn chỉ vỏn vẹn cú 7650 tỷ đồng… Đặc biệt, cỏc tập đoàn và cụng ty nhà

nước đó và đang chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng dư nợ tớn dụng và đầu tư xó hội,năm

2008 tới hơn 50% tổng vốn đầu tư nhà nước, 70% tổng dư nợ quốc gia và hơn 80% tổng

dư nợ tớn dụng thương mại Sẽ là thảm hoạ quốc gia nếu hỡnh thành và phỏt triển khụng

kiểm soỏt được “sự liên minh ma quỷ” giữa các tập đoàn, tổng công ty nhà nước với các

ngân hàng thương mại nhà nước và các quan chức có liên quan trong việc vay và cho vay vốn NSNN và tớn dụng nhà nước, đầu tư chéo, đầu tư đa ngành hàng ngàn tỷ đồng mang nặng tính đầu cơ, trục lợi cá nhân hoặc phe nhóm, lũng đoạn thị trường và lãng phí các nguồn lực quốc gia

Luật doanh nghiệp nhà nước, Nghị định về cỏc tập đoàn kinh tế nhà nước đó quy định việc để cho doanh nghiệp lỗ liền hai năm thỡ trỏch nhiệm trước hết thuộc về chủ tịch HĐQT và tổng giỏm đốc Để cho Vinashin lõm vào tỡnh trạng khốn khú như ngày hụm nay chứng tỏ cụng tỏc giỏm sỏt chưa cú hiệu quả Núi cỏch khỏc, cú lẽ, Vinasin và xó hội

sẽ bớt đau và khụng bị trả giỏ đắt như hiện nay khi mọi cơ chế trở nờn minh bạch sớm hơn và nếu cơ chế thanh tra, giỏm sỏt cỏc cấp của ta cú hiệu lực cao hơn và được tiến hành thường xuyờn hơn, cụng tỏc phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Trung ương với cỏc cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm toỏn được làm tốt hơn vớ như : “Cơ quan phỏp luật mà phỏt hiện sai phạm của cỏn bộ thuộc diện trung ương quản lý thỡ chuyển hồ sơ cho Ủy ban Kiểm tra Ngược lại, qua cụng tỏc kiểm tra mà phỏt hiện những việc liờn quan đến chức trỏch nhà nước thỡ Ủy ban Kiểm tra cũng phải phối hợp với cỏc cơ quan chức năng” như khẳng định của Phú Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Phạm Thị Hải Chuyền trong cuộc họp sơ kết cụng tỏc phũng, chống tham nhũng hụm 8/7/2010 Nghị định 09/2009/NĐ-CP về quy chế quản lý tài chớnh của cụng ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khỏc cú quy định rất rừ: “Cụng ty nhà nước được quyền chủ động huy động vốn phục vụ sản xuất kinh doanh trong phạm vi hệ số nợ phải trả trờn vốn điều lệ của cụng ty khụng vượt quỏ ba lần…Cơ quan đại diện chủ sở hữu cú trỏch

Trang 7

7

nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính giám sát chặt chẽ việc huy động và sử dụng vốn tại công ty nhà nước…Trường hợp sử dụng nguồn vốn ngân sách để cấp vốn điều lệ, Bộ Tài chính tổng hợp trình Chính phủ, Quốc hội quyết định” Nghị định 25/2010 về việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty TNHH một thành viên cũng quy định mỗi công ty chuyển đổi chỉ do một tổ chức làm chủ sở hữu (hoặc là Thủ tướng Chính phủ, bộ, UBND tỉnh thành ) Nhưng với Vinashin, dường như cả Chính phủ, một số bộ, ngành và ngay chính hội đồng quản trị Vinashin cũng được giao thực hiện một số quyền của chủ sở hữu Sự thiếu tách bạch và minh bạch này tạo cơ chế lỏng lẻo, thiếu hiệu lực trong giám sát và xử lý hoạt động của Vinashin, bất chấp những cảnh báo xấu đã có từ nhiều năm về thực tế hoạt động của tổ chức này Thậm chí, mới để xẩy ra tình trạng “sự

đã rồi” như thừa nhận của ông Phạm Viết Muôn, Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ:“Vinashin phát triển thế nào, mua sắm những gì cả Bộ GTVT và Chính phủ đều không biết Chỉ khi xong rồi mới báo cáo” Còn nói như ông Trần Quang Vũ, tổng giám đốc điều hành của Vinashin, thì: “Tôi không hiểu sau tái cơ cấu, nếu không công khai, minh bạch mọi hoạt động thì tập đoàn sẽ đi đến đâu” …

Thực tế cho thấy cũng cần xem lại cơ chế hỗ trợ và sự bảo hộ của nhà nước đối với ngành trọng điểm, dù đó là ngành quan trọng như đóng tàu Sự hỗ trợ này là cần thiết trong giai đoạn đầu, nhưng nếu kéo dài quá và không có cơ chế quy trách nhiệm quản lý

cụ thể thì rất dễ bị làm dụng và hiệu quả ngược với mong đợi Vinasin từng nhận được nhiều sự ưu ái quá mức đến bất công và khó hiểu không chỉ thể hiện ở việc tạo mọi thuận lợi cho việc cấp đất dự án (được Vinasin mặc hiên coi đó là một phần vốn riêng tự có của mình) và cho vay vốn đầu tư dự án, mà còn thể hiện ở việc định nợ, khoanh nợ, gia hạn

và chuyển nợ của doanh nghiệp, mà hầu hết đều có nguồn gốc vốn NSNN, tín dụng nhà

nước hoặc vốn vay nhà nước (chẳng hạn, Chính phủ đã dành 750 triệu USD vốn phát hành trái phiếu quốc tế cho Vinashin, 650 triệu USD cũng được Vinashin vay của ngân hàng Thụy Sĩ chi nhánh Hong Kong Credit Suisse Chính phủ yêu cầu Tổng công ty Đầu

tư và Kinh doanh vốn nhà nước “ôm” khoản đầu tư vào Bảo Việt của Vinashin chịu 700

tỉ đồng lỗ Chính phủ yêu cầu các ngân hàng khoanh nợ và tiếp tục cho Vinashin vay nợ bất chấp những quy định về tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Từ tháng 10-2009, Thủ tướng đã có Quyết định 1596/QĐ-TTg về các giải pháp thực hiện tái cơ cấu tài chính đối với Vinashin, Ngân hàng Nhà nước đã có Văn bản số 357/NHNN-TD ngày 17-7-2009 về khoanh và cơ cấu lại các khoản nợ cũ của Vinashin) Ngoài ra, về nguyên tắc, việc nâng

vốn điều lệ của Vinashin từ 9.000 tỉ đồng thành 14.655 tỉ đồng theo quyết định chuyển tập đoàn này thành công ty TNHH một thành viên mới công bố trong tháng 6/2010 cũng

có thể coi là một ưu ái ngoại lệ vì không cần ý kiến của Quốc hội theo tinh thần Nghị định 09/2009/NĐ-CP nêu trên

NSNN và các DNNN là thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước cần tạo điều kiện và buộc công khai, minh bạch hóa, tăng cường giám sát và phản biện xã hội trong hoạt động của chúng

Trang 8

Xi măng Việt Nam…

Theo Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Vinashin Phạm Thanh Bình có nhiều sai phạm trong huy động, quản lý, sử dụng tiền vốn của Nhà nước, do thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái và có biểu hiện vụ lợi cá nhân, gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội Các khoản nợ của Vinashin rất lớn, mất khả năng thanh toán Ông chủ tịch còn “bổ nhiệm con trai và em ruột làm đại diện phần vốn của nhà nước, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng, trái quy định của Đảng và nhà nước” Các lãnh đạo khác của Vinashin cũng đang tiến hành kiểm điểm trách nhiệm và một số có thể bị truy cứu trách nhiệm

UBKTTƯ đã rất nghiêm khắc khi quyết định thực hiện quy trình kiểm điểm, xử lý

kỷ luật đối với ông Phạm Thanh Bình, đề nghị Chính phủ xem xét trách nhiệm của các

Bộ, ngành có liên quan đối với những vi phạm của VINASHIN và chỉ đạo các ngành chức năng đánh giá toàn diện, đúng thực chất đối với VINASHIN, từ đó rút kinh nghiệm đối với các tập đoàn khác Ủy ban cũng yêu cầu các tập đoàn kinh tế khác cần chủ động

tự kiểm tra, tự xem xét, đánh giá đầy đủ, chính xác kết quả sản xuất, kinh doanh báo cáo trước ngày 31/8/2010 để UBKTTƯ tiếp tục giám sát

Các hậu quả của Vinasin có cả trách nhiệm cá nhân, lẫn lỗi cơ chế, khi cho phép một tập đoàn kinh tế quốc gia quan trọng như vậy mà tập quyền tuyệt đối: một người vừa là Bí thư Đảng ủy, vừa là Chủ tịch Hội đồng quản trị, lại vừa là Tổng giám đốc; Đồng thời, công tác thanh, kiểm tra thiếu kịp thời ngăn chặn sớm và triệt để, từ đó tạo thuận lợi cho việc cố ý làm trái và có biểu hiện vụ lợi cá nhân, gây hậu quả nghiêm trọng

về kinh tế, chính trị, xã hội: các khoản nợ rất lớn, mất khả năng thanh toán, nợ quá hạn và đến hạn không có khả năng thanh toán lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng, hơn 5000 lao

Trang 9

9

động không có việc làm; các khoản nợ luơng và bảo hiểm xã hội lên đến 234 tỷ đồng, gây

hệ luỵ kinh tế-xã hội nặng nề tới nhiều cá nhân và tổ chức có liên quan…

Tập quyền cần đi đôi với phân quyền và tăng cường giám sát, kiểm tra và phản biện xã hội; Quyền hạn phải song hành với trách nhiệm cá nhân rõ ràng và nghiêm khắc; Minh bạch hoá và công khai hoá chi tiêu NSNN và đầu tư công; Các tổ chức và dự án kinh tế nhà nước phải được vận hành vì lợi ích xã hội cụ thể, chứ không phải là cơ chế tiêu tiền công một cách lãng phí cho lợi ích của các cá nhân, phe nhóm có đặc quyền…

Đó là những bài học không mới, nhưng đã, đang và sẽ còn luôn nóng hổi trong thực tế quản lý nhà nước và kinh doanh nói chung, trong quản lý các tập đoàn và công ty nhà nước nói riêng ở Việt Nam và các nước chuyển đổi khác trên thế giới…./

Trang 10

10

CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HÓA NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ Ở

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Qua 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới và đặc biệt là trong 5 năm gần đây, thành phố Hồ Chí Minh đã phát huy vai trò trung tâm trên nhiều mặt đối với khu vực và cả nước, đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong công cuộc xây dựng, phát triển và hội nhập quốc tế Kinh tế thành phố luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của cả nước; bộ mặt đô thị thay đổi nhanh chóng theo hướng văn minh, hiện đại; chất lượng cuộc sống người dân được cải thiện rõ rệt, uy tín quốc tế của Thành phố không ngừng được nâng cao Góp phần quan trọng vào thành tựu trên, trong 5 năm qua, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn đạt 603.865 tỷ đồng, bằng 3 lần so với giai đoạn 2001 - 2005, vượt kế hoạch 39%, tăng bình quân 24,7%/năm, chiếm tỷ trọng 41,4% GDP trên địa bàn thành phố

Cơ cấu vốn đầu tư đã được đa dạng hóa, Thành phố đã chủ động đề xuất, xây dựng, thực hiện nhiều cơ chế đa dạng hóa các hình thức huy động vốn để phát triển Tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội ngày càng giảm và đúng hướng, bình quân 5 năm là 14% so với chỉ tiêu là dưới 15% Đặc biệt vốn đầu tư của các thành phần kinh tế chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội với nhiều hình thức đầu tư BOT, BT, BTO, BOO, công tư hợp tác (PPP) đã góp phần mở rộng hơn việc huy động đầu tư toàn xã hội, thể hiện sự năng động, đổi mới của thành phố trong đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; nhiều công trình trọng điểm, quan trọng, quy mô lớn

và tính chất kỹ thuật phức tạp đã hoàn thành và đưa vào sử dụng tạo sự phấn khởi cho nhân dân Trong đó, nguồn vốn ODA đã có tác động tích cực giúp phát triển mạnh cơ sở

hạ tầng kinh tế và xã hội khi nguồn vốn của ngân sách còn hạn hẹp và thực lực của khu vực kinh tế tư nhân chưa đủ mạnh, góp phần quan trọng xây dựng hạ tầng kỹ thuật quy

mô lớn của thành phố như Dự án đại lộ Đông Tây và hầm Thủ Thiêm, dự án cải thiện môi trường nước, dự án cải thiện vệ sinh môi trường lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè, dự

án nâng cấp đô thị,…

Dù đã đạt được nhiều kết quả đáng kể nêu trên, nguồn vốn đầu tư phát triển toàn

xã hội nói chung và nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nói riêng vẫn còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh của kinh tế thành phố, cũng như việc đầu tư cho hệ thống hạ tầng đang ngày càng quá tải, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân và sự phát triển kinh tế của thành phố Bên cạnh đó, tiến độ các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách còn chậm cũng là một trong những vấn đề thành phố liên tục tìm

Trang 11

11

cách tháo gỡ trong thời gian qua, trước mắt các vấn đề còn tồn tại chủ yếu là: công tác bồi thường giải phóng mặt bằng vẫn còn chậm, năng lực của các đơn vị tư vấn vẫn chưa được cải thiện, các chủ đầu tư còn chưa quan tâm thực hiện công tác giám sát thi công, đôn đốc các nhà thầu đảm bảo đúng tiến độ Một biện pháp mang tính giải quyết triệt để vấn đề này là tăng cường xã hội hóa trong đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng, cụ thể là thành phố sẽ tập trung toàn bộ nguồn lực cho những dự án cần thiết nhất, từ đó có điều kiện tập trung đủ nguồn vốn cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, kiên quyết loại bỏ được các đơn vị tư vấn, chủ đầu tư thiếu năng lực, tập trung nhân lực, tài lực, vật lực đẩy nhanh tiến độ dự án Các dự án còn lại sẽ huy động nguồn lực từ các nhà đầu tư

có đủ vốn, có chuyên môn, kinh nghiệm cao

Trong 5 năm tới (2011-2015), để phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 12%/năm, nâng cao chất lượng tăng trưởng, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, phát triển bền vững theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX; một trong những nhiệm vụ quan trọng của thành phố là phải khẩn trương công bố quy hoạch Xây dựng vùng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050; tổ chức triển khai tốt các quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt như Quy hoạch phát triển Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 tại Quyết định 101/QĐ-TTg ngày 22/1/2007, làm căn cứ để thu hút, huy động các nguồn lực trong và ngoài nước nhằm đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ và đồng

bộ dây chuyền sản xuất; kết hợp đầu tư mới, thay đổi cơ cấu sản phẩm có giá trị gia tăng cao phục vụ cho xuất khẩu và thị trường nội địa, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế; cơ cấu lại các ngành dịch vụ, các ngành sản xuất theo hướng đầu tư vào chiều sâu để tạo ra sản phẩm có hàm lượng khoa học công nghệ cao; kết hợp các loại quy mô đầu tư, các thành phần kinh tế trong đầu tư để vừa phát huy năng lực đang có, vừa khai thác những tiềm năng lợi thế của thành phố

Để đạt được các mục tiêu trên thành phố cần phải huy động các nguồn vốn trong

và ngoài nước của mọi thành phần kinh tế khoảng 1,4 triệu tỷ đồng (tương đương 65 tỷ USD), tái cơ cấu lại nguồn vốn đầu tư theo hướng giảm đầu tư từ nguồn vốn ngân sách

nhà nước đẩy mạnh huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách bằng các nhóm giải pháp

cụ thể như sau:

Thứ nhất là tổ chức thực hiện tốt các chính sách và quy định của pháp luật về quản

lý đầu tư: Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai, Luật Xây dựng,

Luật Nhà ở Đơn giản hóa và công khai quy trình, thủ tục hành chính đối với đầu tư;

tiếp tục thực hiện cơ chế “một cửa” trong việc giải quyết thủ tục đầu tư Thực hiện nhiệm

vụ quản lý Nhà nước đối với các dự án đầu tư, gắn với việc phối hợp hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư giữa các cấp chính quyền thành phố; tăng cường cơ chế phối hợp quản lý đầu tư giữa Trung ương và địa phương; giữa các Bộ,

Trang 12

Thứ hai là tăng cường xây dựng và phê duyệt các quy hoạch còn thiếu; bổ sung,

điều chỉnh kịp thời các quy hoạch đã lạc hậu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc xác định và xây dựng dự án Đẩy nhanh việc bồi thường, giải phóng mặt bằng

và thi công xây dựng đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, an toàn các công trình, dự án đã được phê duyệt Kiên quyết thu hồi các diện tích mặt đất, mặt nước không sử dụng hoặc

sử dụng không hiệu quả đưa ra tổ chức đấu giá, đấu thầu để các nhà đầu tư có tiềm lực tiến hành đầu tư khai thác, sử dụng có hiệu quả hơn

Thứ ba là tiếp tục tạo "sân chơi" thống nhất đối với đầu tư trong nước và đầu tư của

nước ngoài cũng như giữa khu vực đầu tư tư nhân và đầu tư khu vực doanh nghiệp nhà nước; kiến nghị với Trung ương hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng xoá bỏ hoàn toàn sự khác biệt về chính sách đất đai, tín dụng, xuất nhập khẩu v.v nhằm khuyến khích mạnh mẽ mọi người dân, doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia đầu tư

Thứ tư là xây dựng danh mục các lĩnh vực trọng điểm cần khuyến khích phát

triển của thành phố dựa trên định hướng mà Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm 2011 -

2015 đã xác định cụ thể gồm: 9 nhóm ngành dịch vụ (tài chính – tín dụng - ngân hàng –

bảo hiểm; thương mại; vận tải, kho bãi và dịch vụ cảng; bưu chính - viễn thông và công nghệ thông tin truyền thông; kinh doanh tài sản - bất động sản; dịch vụ thông tin tư vấn,

khoa học - công nghệ; du lịch; y tế; giáo dục - đào tạo), 4 nhóm ngành công nghiệp (cơ

khí; điện tử - công nghệ thông tin; hóa dược - cao su; chế biến tinh lương thực - thực phẩm) và sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao (cây giống, con giống chất

lượng cao; rau củ quả sạch, cây kiểng, hoa kiểng, cá kiểng) Ngoài ra cần phải tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chương trình kích cầu đầu tư trong nước, thường xuyên rà soát bổ

sung các ngành, sản phẩm ưu tiên thuộc danh mục trên để hỗ trợ về lãi suất từ ngân sách

Thứ năm là đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) căn cứ trên danh mục các lĩnh vực trọng điểm cần khuyến khích đã xác định trên Tăng cường xúc

tiến đầu tư trực tiếp, xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung qua mạng điện tử để cung cấp cho các nhà đầu tư những thông tin rõ ràng về môi trường đầu tư của thành phố, về các cơ chế chính sách ưu đãi, về thủ tục đầu tư nhằm thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư và tập đoàn nước ngoài

Thứ sáu là tập trung kêu gọi nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào các dự

án xây dựng cơ sở hạ tầng cần vốn lớn như: các tuyến Metro, các dự án thoát nước quan

trọng, phát triển mạng lưới cấp nước sạch Việc kêu gọi đầu tư từ nguồn vốn ODA phải

Trang 13

13

phù hợp với chiến lược phát triển của thành phố và tận dụng được mọi đối tác, sử dụng thích hợp cho các lĩnh vực Đồng thời chú ý nâng cao chất lượng xây dựng các dự án và công tác chuẩn bị các dự án như triển khai công tác điều tra khảo sát, bồi thường giải phóng mặt bằng, chuẩn bị nguồn lực Tập trung chỉ đạo thực hiện các dự án ODA đang triển khai nhằm bảo đảm tiến độ giải ngân đã cam kết với nhà tài trợ Hoàn thiện cơ cấu

tổ chức và hoạt động của các Ban quản lý dự án; tăng cường năng lực các Ban quản lý dự

án theo hướng chuyên nghiệp Nghiên cứu, kiến nghị Chính phủ điều chỉnh các quy định hiện có nhằm hài hoà thủ tục giữa quy định về đầu tư trong nước với thủ tục quốc tế thông qua điều kiện của các tổ chức cung cấp vốn ODA

Thứ bảy là tiếp tục đẩy mạnh việc áp dụng một cách linh hoạt các hình thức kêu gọi

vốn đầu tư như: Xây dựng - Chuyển giao (BT); Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT); Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO); Hợp tác công tư (PPP); tạo vốn đầu tư thông qua việc đấu giá quyền sử dụng đất Muốn vậy, cần rà soát, rút kinh nghiệm về việc triển khai các dự án đã thực hiện để xử lý các vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện về chính sách đầu tư, làm cơ sở tiếp tục kêu gọi đầu tư trong giai đoạn tới

Trang 14

Hạ tầng cơ sở hiện vẫn được coi là một điểm nghẽn trong phát triển kinh tế của Việt Nam Theo Giám đốc Dự án Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam (VNCI) của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI) giai đoạn 2009-2010 của Việt Nam đứng thứ 75, tụt 5 bậc so với GCI 2008-2009, trong đó, trụ cột thứ 2 trong

12 trụ cột làm nên chỉ số GCI* là chỉ số về hạ tầng cơ sở lại đứng vị trí thứ 94 chỉ với mức 3 điểm trong tổng số 7 điểm So sánh chỉ số hạ tầng cơ sở của Việt Nam với một số quốc gia trong khu vực như Malaysia, Thái Lan hay Trung Quốc thì chỉ số này của họ đều cao hơn Việt Nam (từ 4,3-5 điểm) Kết quả khảo sát cho thấy, quãng đường từ nhà máy vào trung tâm của một tỉnh, thành phố trung bình bị phong tỏa bởi lũ lụt, lở đất khoảng 8,7 ngày/năm, 71% doanh nghiệp cho biết sản phẩm của mình bị hư hại bởi chất lượng đường xấu, gây tổn thất khoảng 2.300 USD/doanh nghiệp và trung bình trong 1 tháng doanh nghiệp bị cắt điện khoảng 29,27 tiếng và dịch vụ điện thoại và mạng ngoài vùng phủ sóng khoảng 8,23 tiếng

Tuy nhiên, do chúng ta còn thiếu quá nhiều CSHT, hơn nữa chất lượng CSHT hiện

có cũng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nên nguồn vốn cần để đầu tư phát triển CSHT là rất lớn, vượt ra khỏi khả năng của NSNN, thậm chí của quốc gia1 Hơn nữa, CSHT lại rất đa dạng, thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn trong thời gian dài trong khi không phải CSHT nào cũng có khả năng hoàn vốn hay có thể đánh giá được hiệu quả kinh tế (hiệu quả xã hội thường được dùng để biện minh cho những CSHT không thể làm

rõ có hiệu quả kinh tế hay không song lại càng làm cho các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư CSHT thêm mù mờ, theo đó, vừa gây khó khăn cho việc huy động vốn cho CSHT, vừa khó kiểm tra giám sát hiệu quả của việc sử dụng những đồng vốn đã huy động được đó) Thêm vào đó, đầu tư xây dựng CSHT còn liên quan đến phân cấp NSNN, cả phân cấp giữa NSTW và NSĐP cũng như phân chia trách nhiệm giữa quản

lý vốn đầu tư và quản lý vốn duy tu bảo dưỡng CSHT Chính vì vậy, quan hệ giữa đầu tư

1Eurocham ước tính Việt Nam cần khoảng 70-80 tỷ đô la đầu tư cho đường bộ, đường sắt và cơ

sở hạ tầng cảng biển trong 5-10 năm tới Con số này lên mức 120 tỷ đôla nếu bao gồm cả hạ tầng

về năng lượng tại quốc gia đang thiếu điện

Trang 15

15

CSHT nói chung, đầu tư công nói riêng với NSNN và nợ công cần được tiếp cận dựa trên những quan điểm chiến lược sau:

Quan điểm 1:

Chỉ lập dự án xây dựng CSHT sau khi đã thiết lập được bộ tiêu chí đánh giá hiệu

quả kinh tế - xã hội - môi trường của mỗi loại CSHT Căn cứ vào bộ tiêu chí có thể định lượng được này mới xem xét phê duyệt từng dự án CSHT đồng thời sắp xếp trật tự ưu tiên đầu tư CSHT Bên cạnh đó, có thể chế đảm bảo việc đánh giá dự án theo bộ tiêu chí

và sắp xếp thứ tự ưu tiên một cách khách quan, trung thực, giảm thiểu những áp lực bên ngoài Chẳng hạn, thành lập Hội đồng thuộc Quốc hội thẩm định những dự án CSHT tầm quốc gia do Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý thực hiện và Hội đồng thuộc HĐND cấp tỉnh thẩm định dự án CSHT trên địa bàn tỉnh do các cấp chính quyền địa phương trong tỉnh quản lý thực hiện Chính phủ và UBND cấp tỉnh căn cứ vào kết quả thẩm định sẽ phê duyệt dự án, xếp hạng ưu tiên, chịu toàn bộ trách nhiệm về triển khai dự án, từ kế hoạch huy động nguồn lực tài chính, chọn nhà thầu thực hiện, tiến độ triển khai dự án, chất lượng CSHT, nghiệm thu và đưa CSHT vào khai thác sử dụng

Quan điểm 2:

Các dự án được phê duyệt phải nằm trong qui hoạch không gian và thời gian

phát triển CSHT quốc gia và tỉnh (ngay cả các dự án CSHT cấp xã cũng phải nằm trong qui hoạch chứ không phải do huy động từ nguồn ngoài NSNN mà cấp xã hay huyện tùy ý quản lý thực hiện vì CSHT phải đồng bộ trên cả cấp độ quốc gia và địa phương Chúng ta không có đủ tiền để xây dựng tất cả CSHT cùng một lúc nên càng cần phải đồng bộ để đảm bảo hiệu quả khai thác tối đa Đây cũng là cơ sở để chống lại căn bệnh đầu tư dàn trải, đầu tư kéo dài chậm đưa CSHT vào khai thác sử dụng, thậm chí xây dựng xong lại

bỏ hoang lãng phí Hiệu quả đầu tư tổng thể của Việt Nam đang giảm một cách đáng lo ngại

Trường hợp Đại lộ Thăng Long

Đầu tư và ICOR 1995-2010

3.34 3.45

4.22 5.59 6.83

4.84 4.96 4.80 4.84 4.65

4.33 4.90 4.80

6.97 8.05

6.38

31.7 32.1

34.6 32.4 32.8 32.9 33.7

36.2 36.5

35.5 34

Trang 16

16

Dự án mở rộng và hoàn thiện đường Láng - Hòa Lạc được Bộ Giao thông vận tải phê duyệt từ tháng 7-2003 với tổng mức đầu tư hơn 3.733 tỉ đồng và đến tháng 10-2007 lại điều chỉnh dự án lên đến hơn 7.527 tỉ đồng

Theo quyết định 2013 của Bộ GTVT, đường Láng - Hòa Lạc có chiều rộng nền đường tối thiểu bằng 140m nhưng tại các bản thiết kế cơ bản, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công được duyệt, bản vẽ mặt cắt ngang điển hình đều thể hiện chiều rộng nền đường tối đa chỉ đạt 134m, hụt 6m so với quyết định (trừ đoạn qua sông Đáy)

Theo quy định sẽ dành các khu đất phát triển đô thị giao cho chủ đầu tư để tạo vốn song UBND tỉnh Hà Tây (cũ) chỉ giao khu đô thị mới Bắc An Khánh cho Vinaconex làm chủ đầu tư, còn lại 746,8ha thuộc các khu Nam An Khánh, Quốc Oai, Liên Quan, Sơn Đồng, Dương Cốc được giao cho các đơn vị không phải nhà đầu tư Việc dành quỹ đất cho nhà đầu tư chỉ tạo được 1.472 tỉ đồng vốn làm đường, khiến Nhà nước phải chi thêm khoảng 6.000 tỉ đồng dẫn đến quá trình thực hiện phải thay đổi hình thức đầu tư, làm chậm tiến độ dự án Theo quyết định đầu tư và hợp đồng ký kết lần đầu, dự án chậm bốn năm; lần hai chậm một năm (dự kiến hoàn thành tháng 12-2010 nhưng đến 6/12/2010 vẫn chưa hoàn thiện)

Công trình đã phải thay đổi nhà đầu tư, hình thức đầu tư, tổng thầu xây lắp cùng với những biến động giá cả và khủng hoảng kinh tế đã làm tăng tổng mức đầu tư dự phòng về giá hơn 1.387 tỉ đồng

Đầu tư toàn xã hội 1995-2009

Kinh tÕ NN Kinh tÕ ngoµi NN Khu vùc FDI

Trang 17

17

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng nhanh ở cả 3 khu vực kinh tế nhà nước, ngoài

nhà nước và FDI Đa dạng hóa các nguồn lực tài chính phát triển CSHT dựa trên: (i)

100% vốn đầu tư NSNN; (ii) 100% vốn có nguồn gốc NSNN (vay ODA, tín dụng nhà nước, TPCP, DNNN); (iii) 100% vốn ngoài NSNN (doanh nghiệp trong nước, FDI từ vốn

tự có và vay tín dụng, phát hành TPDN); (iv) hỗn hợp các nguồn vốn trên

Trang 18

18

Vốn đầu tư từ NSNN: Nguồn vốn này cần thu hẹp về tỷ trọng vốn cho CSHT do

hạn chế về qui mô NSNN, điều chỉnh cơ cấu chi NSNN theo hướng giảm tỷ lệ chi NSNN/GDP và tỷ lệ chi đầu tư/tổng chi NSNN khi phải đảm bảo tăng tỷ lệ chi thường xuyên và chi trả nợ/tổng chi NSNN mặc dù số tuyệt đối chi từ NSNN cho CSHT vẫn có thể tăng Qui mô thu chi NSNN cũng như thâm hụt NSNN so với GDP đã tăng quá cao

NSNN 1995-2011 (%GDP)

-0.5 -0.2

-1.7

-0.1 -0.8

-2.8 -2.8

-1.4 -1.2

0.9

-1.2 -0.4 -1.9 -0.9

-8.9

-5.9 -4.3

29.1 27.1 26.1

25.8 20.6

20.4 22.6 23.6 24.1

Cân đối NSNN chính thức Cân đối NSNN tổng thể (gồm chi quĩ ngoài NS) Tổng thu NSNN

Trang 19

19

Hơn nữa, quản lý chi đầu tư từ NSNN rất khó, dễ dẫn đến thất thoát lãng phí nên nguồn vốn này chỉ dành cho các CSHT có ý nghĩa chiến lược quốc gia/tỉnh song không thể thu hồi vốn Tiến tới có cơ chế sử dụng nguồn vốn này để mua lại/trả nợ vốn xây dựng các CSHT phục vụ lợi ích chung chứ Chính phủ/UBND các cấp không trực tiếp đầu

tư nữa

Quan điểm 5:

Vốn có nguồn gốc NSNN: đây là nguồn vốn chủ yếu cho CSHT trong tương lai ít

nhất 5-10 năm nữa cho những CSHT chậm thu hồi vốn, không thu được lợi nhuận hoặc lợi nhuận không đáng kể Vốn ODA quản lý theo dự án nên phải giải quyết 2 vấn đề cơ bản là lựa chọn dự án và nguồn trả nợ gắn với an ninh tài chính quốc gia nói chung và khả năng trả nợ nói riêng

Cơ cấu chi NSNN 2006-2010

Trang 20

20

Nguồn trả nợ có thể từ nguồn thu khai thác sử dụng CSHT và nguồn chi trả nợ từ NSNN (trả nợ gốc và lãi), trong đó nguồn thu thứ nhất cần nâng lên Đối với nguồn TPCP và tín dụng Nhà nước cũng tương tự Nợ công của Việt Nam đã lên tới 52,6%GDP năm 2009 và khoảng 56,7%GDP năm 2010 trong khi nợ nước ngoài cũng lên tới gần 40%GDP Chi trả nợ gốc từ NSNN bình quân 40-45 ngàn tỷ đồng/năm giai đoạn 2006-

2010 và tiếp tục gia tăng trong những năm tới do đến hạn trả nợ cũng như biến động tỷ giá hối đoái Theo Bộ KH&ĐT, đến hết năm 2010, Chính phủ đã trình Ủy ban Thường

vụ Quốc hội cho đầu tư 1.757 dự án (tương đương 1.939 tiểu dự án) giao thông, thủy lợi

và di dân tái định cư sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003-2010, trong đó: 1.001 dự án giao thông (trung ương: 132 dự án2, địa phương: 869 dự án); 753 dự án thủy lợi (trung ương: 108 dự án3, địa phương: 645 dự án); 3 dự án di dân tái định cư Các dự

án trên có tổng mức đầu tư là 443.126 tỷ đồng, trong đó vốn trái phiếu Chính phủ là 424.781 tỷ đồng

Bộ KH&ĐT cho rằng, để hoàn thành các dự án đã có trong danh mục đầu tư bằng TPCP, trong 5 năm 2011-2015 cần huy động khoảng 315 nghìn tỷ đồng TPCP, bình quân

63 nghìn tỷ đồng/năm, cao hơn tổng số vốn TPCP kế hoạch năm 2010 khoảng 7 nghìn tỷ

42.9

44.5 42.4

41.0 38.2 36.0

74.5

32.3 32.5

33.5

33.7 35.0

38.6

40.7 40.8 38.5

Trang 21

21

đồng Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu phát triển bền vững, tăng cường quản lý nợ và dư

nợ của Chính phủ và nợ công không vượt ngưỡng cho phép bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, dự kiến huy động TPCP trong 5 năm 2011-2015 khoảng 225 nghìn tỷ đồng; trong đó, năm 2011 là 45 nghìn tỷ đồng (giảm 11 nghìn tỷ đồng so với năm 2010) Dự kiến tổng số vốn TPCP này mới đáp ứng được khoảng 70% số vốn còn thiếu để hoàn thành các dự án đã có trong danh mục hiện nay

Riêng nguồn vốn đầu tư CSHT từ các DNNN, đặc biệt là từ các tập đoàn cần đối xử như loại (iii) để đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế

Quan điểm 6:

Vốn ngoài Nhà nước: đây là nguồn vốn chủ yếu đầu tư những CSHT không

những có khả năng thu hồi vốn mà còn có lợi nhuận (từ khai thác sử dụng CSHT hay/và gắn với CSHT)

Qui mô nợ và dự trữ ngoại hối 2006-2015

30.8

15.4 14.1

Trang 22

22

Chẳng hạn như, cùng là một công trình giao thông như con đường song có thu phí khác với không thu phí, có lợi ích từ 2 bên đường khác với không có lợi ích từ hai bên đường (đổi đất lấy hạ tầng), có lợi ích trực tiếp từ con đường khác với không có lợi ích trực tiếp (đường vào khu đô thị, vào nhà máy, vào công trình của nhà đầu tư con đường đó) hay cùng là một ngôi trường song trường công lập (công ích phi lợi nhuận) khác hẳn với trường tư thục (công ích thu lợi nhuận chẳng kém gì một ngành kinh doanh khác) Đối với nguồn vốn này, quan trọng không phải là ưu tiên ưu đãi (kinh tế và tài chính) mà

là tạo ra cơ chế kiểm soát và cân đối lợi ích giữa các bên tham gia đồng thời tạo môi trường tài chính tín dụng thuận lợi để nguồn vốn này vận động và hướng vào phát triển CSHT theo qui hoạch chung Lợi nhuận và điều kiện để đạt được lợi nhuận (tổng thể) mới là yếu tố quyết định dòng vốn này

FDI giai đoạn 1988-2009

341.7

5590.7 2565.4 3142.8 3191.2

12004.0 21347.8 64011.0

327 285

107 67 37

Vốn đăng ký (Triệu USD) Vốn thực hiện (Triệu USD) Số dự án

Trang 23

23

Trường hợp ngành điện

Sản lượng điện phát ra tăng liên tục nhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu nên phải mua điện ở nước ngoài (đồng thời vẫn bán điện ra nước ngoài) với giá cao hơn giá bán bình quân nên EVN thông báo lỗ chủ yếu là từ khoản chênh lệch giá này Ngay cả khi mua điện từ nước ngoài thì chênh lệch cung cầu vẫn giao động ở mức 10-25% tuỳ theo thời điểm Giai đoạn 2005-2009, sản lượng điện phát ra hàng năm tăng 11-13%/năm song vẫn thấp hơn so với tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 bình quân 14-17%/năm (ngoại trừ năm 2009 chỉ tăng 7,6% do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu) Như vậy, mặc dù sản lượng công nghiệp năm 2009 tăng tới 67,2% so với năm 2005 song sản lượng điện chỉ tăng có gần 54,9% trong giai đoạn này Nói cách khác, sản lượng điện cung ứng đã không theo kịp tốc độ tăng sản lượng công nghiệp chứ chưa nói đến đáp ứng yêu cầu gia tăng về điện sinh hoạt cùng với xu thế cải thiện điều kiện sống của người dân nên tình trạng thiếu điện là tất yếu

Trong khi các tập đoàn nhà nước như EVN, PVN, TKV được giao trọng trách đảm bảo nguồn cung điện cho nền kinh tế song sản lượng điện phát ra lại chỉ tăng 6-10%/năm (thậm chí năm 2006 còn giảm gần 6% so với năm trước) nên tỷ trọng của kinh tế nhà nước trong tổng sản lượng điện phát ra đã giảm từ gần 97% năm 2004 xuống còn gần 71% năm 2009 Trong khi khu vực kinh tế ngoài nhà nước chỉ đảm bảo một phần không đáng kể nguồn điện với 13 triệu kwh năm 2009 (con số này năm 2000 là 11 triệu kwh) chủ yếu do đầu tư nguồn điện đòi hỏi vốn lớn và chậm thu hồi vốn đầu tư nên không hấp

112.7 119.6 134.6

Trang 24

24

dẫn khu vực kinh tế ngoài nhà nước thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã tích cực lấp vào khoảng trống này mặc dù có nhận định là do giá điện thấp nên không hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Khu vực FDI có lợi thế về vốn và sẵn sàng chấp nhận thời gian thu hồi vốn dài do họ là những nhà đầu tư chuyên nghiệp với cam kết đầu tư lâu dài Kết quả là sản lượng điện của khu vực FDI tăng tới 20-30%/năm, thậm chí năm 2006 tăng gấp 4 lần so với năm 2005, năm 2009 gấp 8,4 lần so với 2005 và gấp gần 14 lần so với năm 2000 Tỷ trọng của khu vực FDI trong tổng sản lượng điện phát ra đã tăng vọt từ 5,4% năm 2005 lên gần 30% năm 2009

Nguyên nhân cơ bản của tình hình này được giải thích là do khu vực kinh tế Nhà nước thiếu vốn, song kết quả báo cáo Quốc hội cho thấy điển hình như EVN vẫn dành hàng ngàn tỷ VND đầu tư ra ngoài ngành, từ viễn thông đến BĐS,… Bên cạnh đó, một phần vốn của khu vực nhà nước và vốn tín dụng được dành cho các dự án EPC, trong đó tới 80-90% là do các nhà thầu Trung Quốc đảm nhận với đặc điểm nổi bật là chậm tiến

độ, công nghệ và trang thiết bị tiêu chuẩn thấp, không tạo điều kiện cho sự tham gia của các nhà thầu phụ Việt Nam cũng như người lao động Việt Nam, giá bỏ thầu tuy rẻ (thực

ra là thấp nhất, thậm chí chỉ bằng ½ so với nhà thầu khác) song lại thường xuyên yêu cầu tăng dự toán và khó có thể nói là rẻ nếu so với chi phí vô hình do không đảm bảo tiến độ dẫn đến phá vỡ qui hoạch điện chung và so với trang thiết bị công nghệ được sử dụng Một lý do được đưa ra giải thích việc thắng thầu của các nhà thầu Trung Quốc là do nguồn vốn phụ thuộc vào vốn tín dụng của Trung Quốc nên hạn chế trong chọn thầu,

Sản lượng điện 2000-2009 (triệu kwh)

Tổng s ố Nhà nước Ngoài NN FDI

Trang 25

25

thậm chí chỉ định thầu Rõ ràng an ninh năng lượng điện có thể sẽ không đảm bảo trong

tương lai nếu việc phát triển nguồn điện dựa vào trang thiết bị tiêu chuẩn thấp

Quan điểm 7:

Vốn hỗn hợp nhà nước và ngoài nhà nước: Kết hợp các nguồn vốn trên cần dựa

trên nguyên tắc vừa tránh xung đột lợi ích vừa tránh CNTB thân hữu (crony capitalissm), nói cách khác là phải cân đối được lợi ích giữa các bên tham gia Nguồn vốn cho CSHT

từ NSNN có thể kết hợp với vốn có nguồn gốc NSNN khi nhu cầu tài chính vượt khả năng đầu tư của NSNN song phải đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, đảm bảo khả năng trả nợ Kết hợp giữa vốn nhà nước với vốn ngoài nhà nước trong phát triển CSHT cần xem xét hình thức PPP bên cạnh các hình thức truyền thống BT, BOT, BOO,… hiện nay Tuy nhiên, hình thức PPP cần rất thận trọng để tránh CNTB thân hữu nêu trên và làm thiệt hại lợi ích của nhà nước do hợp đồng bất lợi Theo các chuyên gia nước ngoài, chìa khóa cho PPP ở Việt Nam là phải xây dựng được một thể chế có tính thị trường vững chắc trong đó duy trì được tính cạnh tranh qua mỗi giai đoạn của dự án, đảm bảo được nguồn tiền cho dự án để đáp ứng được yêu cầu đầu tư và tăng hiệu quả trong chuyển giao dịch vụ tới doanh nghiệp và người dân Điều này đòi hỏi phải có một hệ thống luật pháp, quy tắc, chính sách, cấu trúc và cách thức tiến hành hoàn chỉnh để tạo lòng tin cho nhà đầu tư Theo đó, Việt Nam cần chú trọng tập trung rà soát các dự án phát triển hạ tầng,

phê chuẩn những dự án được đề xuất dựa vào tính khả thi của dự án Đồng thời, quản lý

quỹ tài chính dành cho CSHT, phê duyệt những dự án nào được gọi vốn từ thị trường tài chính trong nước, nước ngoài hay những dự án nào thì được sử dụng nguồn NSNN, TPCP, ODA,

PPP là một dạng hợp đồng giữa đại diện nhà nước và bên tư nhân, trong đó bên tư nhân cung cấp dịch vụ công hoặc dự án đồng thời chấp nhận rủi ro tài chính, kỹ thuật và vận hành của dự án đó Trong một số mô hình PPP, người sử dụng dịch vụ phải thanh toán chi phí chứ không phải là người nộp thuế Trong một số mô hình PPP khác thì tư nhân thực hiện dự án theo hợp đồng song nhà nước phải trả toàn bộ hay một phần chi phí dự

án Đối với những dự án CSHT, Chính phủ có thể tài trợ vốn dưới dạng trợ cấp một lần

đủ để hấp dẫn các nhà đầu tư tư nhân Chính phủ cũng có thể tài trợ dưới dạng miễn giảm thuế hoặc bảo đảm nguồn thu ổn định cho nhà đầu tư tư nhân trong khoảng thời gian nhất định Vấn đề quan trọng nhất đối với các dự án PPP là nhà đầu tư tư nhân cần có tỷ suất lợi nhuận cao hơn lãi suất TPCP

Trang 26

26

Tóm lại, chính sách tài chính phát triển CSHT cần tiếp cận theo hướng gắn chiến

lược phát triển CSHT với chiến lược tài chính, gắn từng dự án xây dựng CSHT với nguồn tài chính và phương thức thực hiện khả thi nằm trong khuôn khổ chiến lược tài chính tổng thể đó./

Trang 27

27

ĐẦU TƯ CÔNG VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

TS Nguyễn Thắng

TS Lê Kim Sa Trung tâm Phân tích và Dự báo Việt Khoa học Xã hội Việt Nam

Việt Nam đã ra khỏi danh sách các nước nghèo để gia nhập nhóm nước có mức thu nhập trung bình Việc vượt qua ngưỡng thu nhập 1000 USD đánh dấu một bước phát triển mới của Việt Nam cũng như cho thấy những thách thức trong tương lai như một sự biến đổi về chất của đất nước Tăng trưởng kinh tế trong những năm qua, rõ ràng đã tạo

ra thành quả cho việc xóa đói giảm nghèo Theo chuẩn quốc tế thì chỉ tiêu tổng hợp là tỷ

lệ nghèo theo thu nhập/chi tiêu của Việt Nam giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 14,5% vào năm 2008 Các chi tiêu khác như tiếp cận dịch vụ cơ bản và hạ tầng cơ sở (giáo dục,

y tế, điện, đường, nước sạch…) cũng có xu hướng được cải thiện

Như vậy, thành quả của tăng trưởng kinh tế đã cải thiện đáng kể mức sống của tuyệt đại đa số người dân và giúp giảm nghèo nhanh chóng Mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm qua là tăng trưởng theo chiều rộng với các nỗ lực chia sẻ lợi ích rộng rãi Tuy nhiên, xã hội Việt Nam hiện nay ngày càng trở nên đa dạng, do đó

để duy trì được những thành quả của mình thì các chính sách xã hội và giảm nghèo sẽ trở nên phức tạp và đa dạng hơn Điều đó cũng có nghĩa là cần phải duy trì một lượng đáng

kể mức đầu tư cho các chương trình mục tiêu quốc gia

Cơ hội cho mọi người được kiếm sống và tiếp cận được dịch vụ xã hội và được hỗ trợ khi xảy ra các cú sốc tiêu cực rất cần sự can thiệp của chính phủ Tuy nhiên, nếu chỉ

có các nguồn lực từ ngân sách thì cũng không đủ để cung cấp các cơ sở hạ tầng, dịch vụ y

tế hay các chương trình mục tiêu, đặc biệt là ở các vùng nghèo và khó khăn không tự huy động được nguồn lực

Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, khi mà khu vực tư nhân còn phân tán và nhỏ

bé, vốn và tiềm lực công nghệ chưa có khả năng đầu tư lớn vào các công trình cơ sở hạ tầng cũng như các chương trình xã hội thì đầu tư của chính phủ sẽ vẫn giữ vai trò động lực Có các bằng chứng cho thấy các chương trình hiện tại của chính phủ đóng vai trò phân phối lại quan trọng và giúp đỡ người nghèo Trong khi các chương trình anh sinh xã hội còn chưa phát huy hiệu quả cao trong việc này, thì chi cho y tế, cho giáo dục và trợ cấp ngân sách cho các tỉnh nghèo có đóng góp đáng kể cho việc này (WB, 2007b)

Trang 28

Hiện nay, cơ chế phân bổ ngân sách cho các chính quyền địa phương đã thay đổi đáng kể với việc tăng cường phân cấp ở Việt Nam Cho đến nay, khoảng một nửa các khoản chi tiêu công đều được quyết định ở cấp tỉnh trở xuống Chỉ tiêu minh bạch cũng được đưa ra để phân bổ ngân sách cho các tỉnh cho cả các khoản chi tiêu thường xuyên lẫn các khoản chi đầu tư Các chỉ tiêu minh bạch này dựa vào các chỉ số như dân số của tỉnh và trình độ phát triển của tỉnh, điều kiện địa l y của tỉnh và tổ chức quản lý nhà nước Trên thực tế, các quy định về phân bổ ngân sách cũng đã dẫn tới việc chuyển giao mạnh

mẽ các nguồn lực từ các tỉnh giàu sang tỉnh nghèo Sự phân bổ này đã góp phần giúp nhiều người thoát khỏi đói nghèo và giảm bớt tính dễ tổn thương của họ (WB, 2007b)

Bảng 1: Chi tiêu ngân sách cho phát triển sự nghiệp kinh tế xã hội (% tổng ngân sách)

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Tổng chi cho sự

nghiệp kinh tế xã hội

Văn hóa, thông tin 0,84 0,71 0,72 0,69 0,74 0,80 0,61 0,59 0,55

Phát thanh, truyền

hình

0,66 0,65 0,46 0,58 0,62 0,56 0,38 0,35 0,31 Thể dục, thể thao 0,36 0,37 0,40 0,36 0,41 0,33 0,31 0,25 0,23

Lương hưu, bảo đảm

Trang 29

29

Tăng trưởng kinh tế nhanh và diễn ra trên diện rộng được thừa nhận rộng rãi là động lực chính của giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua (VASS, 2007b) Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo cũng không đồng nhất giữa các nhóm dân cư trong xã hội, với

sự khác biệt thể hiện khá rõ nét giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn, giữa các vùng miền, giữa nhóm đồng bào người Kinh và đồng bào dân tộc thiểu số

Mặc dù tất cả các nhóm dân cư đều tham gia và được hưởng lợi từ quá trình tăng trưởng song lại có sự khác biệt về mức độ tham gia và hưởng lợi, dẫn đến những chênh lệch đáng kể về mức sống nói chung cũng như tốc độ giảm nghèo và tỷ lệ nghèo nói riêng giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền và giữa nhóm dân tộc đa số và dân tộc thiểu số Điều này được thể hiện phần nào thông qua sự ổn định của hệ số Gini đo lường mức bất bình đẳng tương đối ở xung quanh khoảng từ 0,34 đến 0,37 Tuy nhiên, nếu sử dụng các thước đo tuyệt đối về bất bình đẳng thì lại có sự doãng ra rõ nét trong chênh lệch giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất

Bức tranh về vấn đề bất bình đẳng có thể được khái quát qua các chỉ số được trình bày trong bảng 2 Đa số những chỉ số này đều cho thấy có sự gia tăng trong chênh lệch mức sống giữa các nhóm dân cư nếu so sánh thời điểm đầu và thời điểm cuối của giai đoạn 15 năm từ 1993 đến 2008, trừ chỉ số thể hiện mối tương quan về chi tiêu giữa nhóm

cư dân thành thị với nhóm cư dân nông thôn Một điểm chung thứ hai của sự thay đổi của các chỉ số này là sự chênh lệch gia tăng vào thập niên 1990, song sau đó có xu hướng dần

ổn định và thậm chí giảm đi trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21 Điều này có thể không nhất quán với nhìn nhận được thừa nhận rộng rãi là sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miên và các nhóm xã hội có xu hướng gia tăng ở Việt Nam Sự khác biệt này là

do số liệu mô tả với những quan sát thực tế có thể là do những chi tiêu của nhóm người giàu nhất như chi cho nhà ở hay đồ xa xỉ không được phản ánh đầy đủ về cả số lượng lẫn như chất lượng trong số liệu điều tra

Bảng 2: Sự thay đổi về bất bình đẳng ở Việt Nam giai đoạn 1993-2008

Trang 30

30

Nhóm Kinh-Hoa/nhóm dân

tộc thiểu số

Nguồn: Tính toán theo số liệu điều tra hộ gia đình

Bên cạnh đó, một số dấu hiệu của ảnh hưởng tiêu cực bắt đầu lộ diện Điều đáng

lo ngại nhất là một số yếu tố tác động đến nhóm nghèo làm cho nghèo hơn chưa được nhận diện và ngăn ngừa thỏa đáng Trong những yếu tố ấy, nổi bật lên là ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường và gánh nặng cá nhân trong chi trả dịch vụ y tế, giáo dục Tác động của ô nhiễm môi trường từ các ngành công nghiệp và hóa chất bảo vệ nông nghiệp là nguy cơ lớn nhất đối với sức khỏe người dân nói chung, và đặc biệt nguy hiểm đối với nông dân sống gần các khu công nghiệp Người nghèo ngày càng trở nên khốn khó khi nền kinh tế phát triển không bền vững, môi trường không được chú trọng

Ô nhiễm là tác động ngoại ứng tiêu cực làm cho người nghèo càng nghèo hơn, trong khi đối tượng gây ô nhiễm không bị bắt buộc chi trả cho việc bảo vệ môi trường Ô nhiễm là một thủ phạm góp phần tăng tỷ lệ đói nghèo khi tiêu hao khả năng lao động của nhiều lao động chính trong gia đình hoặc trực tiếp là nguyên nhân làm chết cây trồng, vật nuôi của bà con nông dân Những vụ việc ô nhiễm gây tổn thất lớn cho hoạt động kinh doanh, sản xuất của nhân dân và những địa danh có số người chết, đau ốm vì ô nhiễm môi trường xuất hiện ngày càng nhiều trong cả nước

Người dân ở một số nơi tiếp tục chịu tác động tiêu cực của những vùng ô nhiễm nặng,hứng chịu rác thải, nước thải, khí thải công nghiệp độc hại từ những nhà máy, khu công nghiệp và từ những làng nghề cơ khí tự phát ngay trong các khu dân cư Những tổn hại về sức khỏe, bệnh tật và chi phí khám chữa bệnh tăng làm cho người nghèo trở nên nghèo hơn và những hộ cận nghèo tái nghèo trở lại Vì vậy, bảo vệ môi trường và quản lý nguồn gây ô nhiễm là một biện pháp tích cực bảo đảm công bằng xã hội, giúp cho nhóm chịu tác động chủ yếu (người nghèo) bớt chịu thiệt và nhóm gây tác động giảm thu lợi một cách bất công Khi đó nhóm gây tác động ở mức độ nhất định sẽ phải có phần bồi hoàn để bù đắp lại những thiệthại mà nhóm chịu tác động phải gánh chịu do tác nhân ô nhiễm gây ra

Theo nhận định trong một nghiên cứu giữa VASS và UNDP (2008), người nghèo

ở Việt Nam hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế chỉ bằng 76,6% so với mức bình quân của

xã hội, trong khi người giàu hưởng lợi tới 115% Sự đầu tư và sự hưởng thụ về giáo dục, sức khỏe và các dịch vụ khác ngày càng nghiêng về phía người có nhiều tiền sống ở thành thị… Dường như các chính sách xã hội chưa đem lại kết quả như mong đợi khiến các hộ nghèo chịu thiệt nhiều hơn Hệ quả này phản ánh khá rõ qua số lượng học sinh phổ thông ở các vùng sâu, vùng xa bỏ học trong thời gian qua mà Bộ Giáo dục và Đào

Trang 31

Trái lại, việc chú trọng công bằng theo hướng cào bằng thu nhập cũng gây những hậu quả tai hại không kém Cào bằng thu nhập sẽ triệt tiêu động lực phát triển và sáng tạo, tăng nguy cơ chảy máu chất xám, thu hẹp năng lực sản xuất của nền kinh tế Trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ hiện nay, quốc gia nào không chấp nhận luật chơi quốc

tế, tự áp đặt những quy định bất bình đẳng thì cũng đồng nghĩa với việc tự cô lập mình, đánh mất cơ hội và tăng nguy cơ tụt hậu

Như vậy, công bằng xã hội đích thực khuyến khích được khả năng đóng góp đến mức tối đa và hạn chế đến mức tối thiểu khả năng gây hại của mọi cá nhân đối với xã hội Các đối tượng trong xã hội, kể cả nhóm giàu và nhóm nghèo khi được hưởng quá nhiều

so với khả năng đóng góp hoặc chịu thiệt quá nhiều so với công lao của họ đều dẫn đến tác động tiêu cực đối với sự phát triển của toàn xã hội xét về dài hạn

Để thực hiện được quan điểm tăng trưởng phải đi đôi với công bằng xã hội trong từng bước, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước rất nặng nề Nhà nước phải thực hiện có hiệu quả các chức năng cơ bản của mình Thứ nhất, bộ phận người nghèo, thất học phải được chăm sóc, bảo vệ với ý nghĩa nuôi dưỡng và duy trì thỏa đáng phần nhân lực hữu dụng của xã hội, đồng thời ngăn ngừa sớm các tệ nạn và gánh nặng của xã hội trong tương lai Với nội dung này, các chính sách xã hội cho người nghèo không mang ý nghĩa nhân đạo thuần túy mà thực sự mang ý nghĩa kinh tế quốc gia Tuy nhiên, mức sàn của lưới an sinh

Trang 32

32

xã hội và phương tiện thực hiện là vấn đề luôn biến động và cần được nghiên cứu cụ thể Thứ hai, nhóm người giàu cần được khuyến khích làm giàu chính đáng Sự khuyến khích này cần được cụ thể hoá một cáchthống nhất, đồng bộ trong thể chế, ổn định áp dụng đến khi hình thành tập quán, truyền thống xã hội Việc khuyến khích làm giàu chính đáng

cũng đi đôi với sự trừng phạt nghiêm minh đối với các hành vi trục lợi bất chính,

ví dụ như tham nhũng, buôn lậu, cấu kết, móc ngoặc hoặc trục lợi từ các ngoại ứng tiêu cực như gây ô nhiễm và phá hủy môi trường

Công bằng xã hội

Thực tế nhiều nước trên thế giới cho thấy, thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo là một quá trình lâu dài và đối với một nền kinh tế chuyển đổi, chênh lệch giàu nghèo giãn ra trong những năm đầu là không tránh khỏi Vấn đề là không để cho khoảng cách ngày càng quá xa vì nó có thể dẫn đến những bất ổn về chính trị, xã hội Công bằng xã hội, trong điều kiện ngày nay, được hiểu là mọi người đều được tiếp cận công bằng các cơ hội phát triển, các nguồn lực phát triển; mọi người đều có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về thông tin, giáo dục, y tế, việc làm Do vậy, cần có những chính sách đồng bộ trong việc hình thành cơ cấu kinh tế cũng như trong cơ chế quản lý; bảo đảm sự công bằng trong lĩnh vực kinh tế đến công bằng trong các lĩnh vực chính trị, pháp lý, văn hóa, xã hội; từ khâu sản xuất, kinh doanh cho đến khâu phân phối, không chỉ coi đây là vấn đề thuộc khâu phân phối

Công bằng xã hội trước hết và quan trọng nhất là công bằng trong việc tiếp cận các cơ hội kinh doanh, mọi công dân được tự do kinh doanh không hạn chế về quy mô trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm (với tinh thần những danh mục cấm ngày càng ít đi) Trong luật pháp và trong thực tế, cần khuyến khích và trợ giúp cho việc phát triển thật nhiều cơ sở kinh doanh, xóa bỏ sự phân biệt đối xử theo thành phần kinh tế Phát triển nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là ở nông thôn, là biện pháp chủ yếu để thanh niên nông thôn tiếp cận việc làm và có thu nhập một cách công bằng, góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn

Sẽ là không công bằng nếu chỉ ưu ái doanh nghiệp nhà nước trong việc giao đất, ưu tiên vay vốn, tạo thuận lợi cho các tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tư vào những lĩnh vực kém hiệu quả, khó tránh khỏi tình trạng làm giàu cho một số cá nhân

Trong điều kiện đất nước còn kém phát triển, sản lượng quốc gia cũng như thu nhập bình quân đầu người còn quá nhỏ bé như hiện nay, việc khuyến khích làm giàu hợp pháp là con đường đúng đắn nhất để tăng nhanh tiềm lực kinh tế của đất nước, từ đó tạo ra nguồn của cải vật chất để giảm sự chênh lệch giàu nghèo

Ngoài ra, công bằng xã hội còn cần được thể hiện trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo và

y tế, để mọi người có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận hệ thống giáo dục cơ bản cũng như trong việc bảo vệ sức khỏe Cần phát triển giáo dục, y tế rộng khắp trong cả nước, nhất là ở nông thôn, vùng sâu vùng xa là những nơi đang còn nhiều yếu kém hiện nay để

Trang 33

Hệ thống bảo trợ xã hội của Việt Nam dựa trên ba trụ chột chính mà xếp theo thứ

tự quan trọng về chi phí tài chính và mức độ tác động đến việc làm lần lượt là (1) an sinh

xã hội, bao gồm cả bảo hiemr xã hội bắt buộc và tự nguyện, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp; (2) trợ giúp xã hội và (3) các chương trình vi mô và theo vùng, chủ yếu là giảm nghèo

Tổng số chi tiêu cho bảo trợ xã hội của Việt Nam hiện nay là tương đối nhỏ, trung bình khoảng 29 nghìn tỷ đồng, chiếm 10% ngân sách nhà nước, hoặc 3,2% GDP mỗi năm trong giai đoạn 2004-2008 Trong năm 2009, tỷ lệ GDP dành cho bảo trợ xã hội tăng lên đến hơn 4% với mức tăng 12% hay 0,4 điểm phần trăm so với mức của năm 2008 Sự gia tăng này một phần là do ngân sách dành cho bảo hiểm y tế cho người nghèo/cận nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi tăng lên do việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế theo Luật Bảo hiệm Y tế 2008 Một phần khác của sự gia tăng ngân sách là do Chính phủ thực hiện gói kích thích kinh tế để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, bao gồm các chương trình hỗ trợ nhà ở và dự án giảm nghèo ở 61 huyện nghèo nhất và hỗ trợ Tết cho người nghèo Trong các cấu phần của bảo trợ xã hội, bảo hiểm xã hội xếp đầu tiên với chi tiêu ngân sách chiếm 1,7% GDP trong năm 2008 và 1,8% GDP trong năm 2009 Tiếp theo là trợ giúp xã hội (1,47% GDP năm 2008 và 1,42% GDP năm 2009), và chương trình theo vùng (0,41% GDP năm 2008 và 0,69% GDP năm 2009) Các chính sách thị trường lao động đứng cuối với mức ngân sách rất thấp (0,09% GDP năm 2008 và 0,08% GDP năm 2009) (Trần Ngô Minh Tâm và các tác giả, 2010)

Chi tiêu ngân sách tương đối thấp cho bảo trợ xã hội là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến phạm vi bao phủ thấp và sự hỗ trợ hạn chế của bảo trợ xã hội thấp đối với người tham gia Phạ vi bao phủ thấp của bảo trợ xã hội cũng là tất yếu với quy mô của khu vực công và kinh doanh chính thức nhỏ so với khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp không chính thức Thực tế, diện bao phủ của bảo hiểm xã hội bắt buộc, vốn nhằm vào dân số trong độ tuổi lao động và là cấu phần chính của hệ thống bảo trợ xã hội, còn khá thấp với 8,5 triệu người tham gia, tức là chỉ chiếm 18% tổng số lao động

Trang 34

34

Trong lĩnh vực bảo hiểm y tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, trong đó có việc mở rộng diện tham gia Sau 16 năm thực hiện, bảo hiểm y tế đã đạt được gần 43% dân số tham gia vào năm 2008 Trong đó, tổng số người tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc

đã gia tăng nhanh chóng và hiện tại chiếm khoảng 2/3 tổng số người tham gia bảo hiểm y

tế, tạo ra bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực y tế của đất nước Mặc dù vậy, tỷ lệ tham gia của dân số nông thôn, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương vẫn còn thấp

Chính sách tài khóa đóng vai trò ngày càng lớn trong việc các duy trì các thành tựu giảm nghèo và do đó, có vai trò quan trọng trong việc tạo ra công bằng xã hội Các chính sách phân phối lại, trong đó chính sách tài khóa đóng vai trò then chốt, và ngày càng quan trọng hơn trong việc duy trì tiến độ giảm nghèo do tác động của việc tăng trưởng thuần túy lên giảm nghèo sẽ giảm đi, khi mà tỷ lệ nghèo đã ở mức khá thấp như hiện nay

Về chi ngân sách, cần thiết phải có sự chuyển nhượng ngân sách giữa các tỉnh mang tính lũy tiến và chương trình mục tiêu mở rộng diện bao phủ của các hệ thống bảo trợ xã hội đến người nghèo và những người ở gần ngưỡng nghèo Về thu ngân sách, Chính phủ có thể xem xét tận dụng những công cụ thuế đánh vào lĩnh vực đô thị song lại gây ra ít méo mó Ví dụ, việc áp dụng thuế tài sản là một hình thức thuế lũy tiến nhằm tăng thu từ những người giàu nên có thể tăng thêm tính công bằng trong khi lại khuyến khích việc sử dụng đất đai và bất động sản – một trong những nguồn lực quan trọng và khan hiếm của quốc gia – một cách hữu hiệu nhất Bên cạnh đó, thuế tài sản không những làm tăng đáng kể nguồn thu cho ngân sách mà còn góp phần quan trọng vào việc chống đầu cơ Điều này càng quan trọng hơn khi có một nguồn vốn nước ngoài lớn hiện đang

đổ vào Việt Nam

Trang 35

35

Tài liệu tham khảo

1 Baulch và Vũ Hoàng Đạt, 2008 Động thái nghèo Việt Nam 2002-2006 Hà Nội

2 Bùi Đại Dũng và Phạm Thu Phương, 2009 “Tăng trưởng kinh tế và Công bằng xã

hội” Tạp chí Kinh tế và Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 25, 28-91

3 Gallup, 2006 “Nguyên nhân thay đổi bất bình đẳng ở Việt Nam” Trong Tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo và phúc lợi hộ gia đình ở Việt Nam” Ngân hàng Thế giới, 2006

4 Ngân hàng Thế giới, 2007a Báo cáo phát triển thế giới: Công bằng và Phát triển

8 Trần Ngô Minh Tâm, Nguyễn Thắng, Lê Đặng Trung, 2010 “Việt làm và bảo trợ

xã hội ở Việt Nam” Báo cáo dự thảo theo yêu cầu của Cục Việc làm (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)

9 Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2009) Đánh giá nghèo có sự tham gia (PPA)

Trang 36

36

ĐẦU TƯ CÔNG VÀ HỆ THỐNG NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Hiệp Hội Năng lượng Việt Nam

I Nhìn lại đặc điểm lịch sử phát triển công nghiệp Việt Nam: Hệ thống năng lượng sinh ra và lớn lên bằng Đầu tư công

Trước Cách mạng Tháng 8 năm năm 1945, công nghiệp Việt Nam, đặc biệt là công nghiệp năng lượng là bé nhỏ, chủ yếu chỉ phục vụ lợi ích khai thác thuộc địa của tư bản, do người Pháp đầu tư

Lúc đó trên lãnh tổ Việt Nam có Công ty Than Bắc Kỳ của Pháp tại nhượng đại Hồng Gai mà triều đình Huế giành cho người Pháp (Société Francaise des Charbonages

du Tonkin – SFCT với công suất khai thác chưa vượt 3,2 triệu tấn/năm nguyên khai; Một

số nàh máy điện quy mô công suất nhỏ do tư bản Pháp xây dựng như Bến Thủy (Vinh), Yên phụ (Hà Nội), CỌc 5 Hòn Gai, Thượng Lý (xi măng Hải Phòng), Nam Định (Dệt Nam Định), Chợ Quán (Sài Gòn), Thủ Đức (ddieeden), Biên Hòa (tuabin khí)…Những

cơ sở này, dù SFCT do tập đoàn tư bản mỏ Pháp trực tiếp đầu tư, hay các nhà máy điện hình thành theo yêu cầu và lệnh của toàn quyền Đông Dương thì vẫn mang dấu ấn rõ nét của hình thức đầu tư tập trung, do Nhà nước bảo hộ quyết định Đối với cộng đồng bản

xứ thì phải nhìn nhận đây cũng là một dạng đầu tư công của Chủ nghĩa tư bản nhà nước Pháp, lấy vốn đầu tư từ giá trị thặng dư của việc khai thác mà thực hiện

Trong giao đoạn từ 1945 đến 1954 ta thực hiện tiêu thổ kháng chiến 9 năm liền, kinh tế công nghiệp không phát triển

Năm 1954 sau thắng lợi chiến tranh chống Pháp, ta hoàn toàn giải phóng miền Bắc, nền kinh tế Việt Nam cùng với Hệ thống năng lượng đã trải qua nhiều giai đoạn và

có các bước phát triển khá rõ nét:

 1955- 1957: Hàn gắn vết thương chiến tranh

 1958- 1960: Kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế

 Từ 1961 trở đi: Phát triển kinh tế theo các mục tiêu tập trung của các kế hoạch dài hạn 5 năm ở Miền Bắc

Từ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961- 1965 cho đến các kế hoạch tiếp theo, vận dụng kinh nghiệm phát triển kinh tế đã nhanh chóng thành công ở Liên Xô với khẩu hiệu của Lê Nin “Chủ nghĩa cộng sản là chính quyền Xô Viết cộng với Điện khí hóa toán quốc” Và “Than là bánh mì của công nghiệp” Việt Nam đã tiến hành phát triển Hệ Thống

Trang 37

Xô lập (cuối KH-1) Về điện đã xây dựng các nhà máy nhiệt điện chyaj than Lào Cai, Vinh, Việt Trì, Thái Nguyên, Hà Bắc, lớn nhất là nhà máy nhiệt điện Uông Bí có công suất 152MW (công suất ban đầu 48MW) và nhà máy thủy điện Thác Bà 108MW

Những kế hoạch 5 năm tiếp theo ta xây dựng được các nguồn điện lớn hơn ở Miền Bắc có thủy điện Hòa Bình (1920 MW), Nhiệt điện Phả Lại I (440 MW); ở Miền Nam có thủy điện Trị An (400 MW), Thác Mơ 150MW, Sông Hinh 70 MW, Vĩnh Sơn 66 MW, Hàm Thuận ĐaMi 475 MW…Đồng thời lưới điện Việt Nam đã được hình thành từng bước với các cấp điện áp 35 -110 -220 kV, rồi đến năm 1994 hoàn thành xây dựng Hệ thống truyền tải 500kV Bắc- Nam

Hiệu quả cần nói đến vì rất quan trọng cho Hệ thống Năng lượng Việt Nam của Đầu tư công trong những kế hoạch 5 năm này tại Miền Bắc là đã sản sinh ra 1 ngành kinh

tế mới là Cơ khí chuyên ngành năng lượng có năng lực vận hành- bảo dưỡng- hiệu chỉnh-

sửa chữa và chế tạo từng phần các trang thiết bị cho 2 ngành điện và tham trong nước, không quá phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ ngoài Từ năm 1985 với Chương trình hợp tác 35kV Liên Chính phủ Việt –Xô, Việt Nam đã hoàn toàn tự túc được trang thiết bị từ 35kV trở xuống trên toàn lãnh thổ do các nhà máy cơ khí năng lượng của Việt Nam sản xuất đạt tiêu chuẩn quốc tế, như Thiết bị điện Đông Anh, Chế tạo Biến thế Hà Nội, Cơ khí trung tâm Cẩm Phả, Điện mỏ Cẩm Phả, Cơ khí Yên Viên, Cơ điện Trần Phú Hà Nội, Khí cụ điện Sơn Tây, CaDiVi…

Nguồn vốn đầu tư công lúc này lấy từ viện trợ của các nước anh em và vốn bồi thường chiến tranh của Chính phủ Nhật bản từ Quỹ OECF, tức là các khoản viện trợ chính thức ODA trực tiếp cho Ngân sách Nhà nước

Ở phía Nam, Nhà máy thủy điện Đa Nhim (160MW) và đường dây 230 KV Đa Nhim-Sài Gòn cũng đã được đầu tư công bằng vốn Bồi thường chiến tranh của Chính phủ Nhật Bản từ quỹ OECF khi chưa thống nhất đất nước Các nhà máy phát điện khác cũng có nguồn gốc Đầu tư công, tuy nhiên không phát triển mạnh mẽ như phía Bắc Vì

Trang 38

38

vậy, sau khi thống nhất, trong những năm đầu với tốc độ phát triển nhanh phía Nam đã dùng điện sản xuất từ phía Bắc, chuyển qua tuyến 500KV Bắc – Nam đã được Chính phủ chỉ đạo hoàn thành sớm hơn dự kiến của quy hoạch phát triển điện lực

Đối với ngành dầu khí, trong bối cảnh bị bao vây kinh tế, Embargo chưa rỡ bỏ, Việt Nam đã sử dụng tài nguyên thiên nhiên quốc gia, tổ chức hợp tác chia sản phẩm với Liên Xô thành lập Công ty liên doanh Việt – Xô Petro của hai nước, với đánh giá của Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc đó “Một thùng dầu khia thác ra lúc này đối với kinh tế Việt Nam giá trị như một thùng vàng…”

Đặc điểm tổ chức thực hiện các giai đoạn đầu tư công này ở Việt Nam là Các bộ, ngày Trung ương quản lý tập trung, làm cả chức năng điều hành nhà nước cũng như chức năng sản xuất kinh doanh, chưa hề áp dụng các mô hình kinh tế hàng hóa – thị

trường phổ biến ở các nước tư bản phát triển, là tách biệt rõ ràng ranh giới giữa quản lý Nhà nước và điều hành sản xuất kinh doanh như hiện nay

II Thách thức của hệ thống năng lượng Việt Nam khi bước vào nền kinh tế hàng hóa – thị trường: Mất cần bằng Cung-Cầu khi bỏ đầu tư công

Với đăc điểm của chuyên ngành sản xuất – truyền tải – cung ứng năng lượng cho toàn xã hội, hệ thống năng lượng mang hai đặc thù và cũng là hai thuộc tính chức năng khác biệt

* Vừa mang thính chất của một chuỗi những công đoạn sản xuất và lưu thông hàng hóa công nghiệp phức tạp với hai chủng loại: hàng hóa động – vô hình là năng lượng thứ cấp: điện năng là KW/hàng hóa hữu hình là năng lượng sơ cấp: tấn than, thùng dầu, m3 khí Đây là thuộc tính hàng hóa ở đầu ra của hệ thống

* Vừa là cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, đây là thuộc tính công ích xã hội

Khi Việt Nam bước vào nền kinh tế thị trường, hai thuộc tính của hệ thống này đã bộc lộ triệt để các mâu thuẫn và đã cản trở sự phát triển của toàn hệ thống khi chưa được

xử lý thích đáng:

1 Với tư cách là một cơ sở hạ tầng kỹ thuật, ở đây bắt buộc phải là một hệ thống công dụng, phục vụ công ích xã hội, hàng hóa sản xuất ra phải được cung ứng liên tục không có thời điểm dừng, mà Nhà nước phải đảm bảo đủ và có dự phòng cho dân dùng,

xã hội mới tồn tại và phát triển được

Thời gian qua, khối lượng hàng có yêu cầu phải đảm bảo trong hệ sản xuất lưu thông này đã tăng quá nhanh vượt khỏi khả năng tự tích lũy để đầu tư cân đối, chưa nói

Trang 39

39

tới dự phòng công suất Như vậy, dù có măng muốn chủ quan cũng không thể đi trước một bước, khi đã cắt bỏ đầu tư công

2 Cũng bị khống chế bởi thuộc tính công ích xã hội, quan hệ giữa giá trị + giá trị

sử dụng với giá cả sản phẩm hàng hóa năng lượng là kw điện/tấn than/thùng dầu/m3 khí

(nội hàm của Các Mác trong tư bản luận) đã rơi vào mâu thuẫn lớn tại thị trường mới lập

ở Việt Nam: giá cả không phản ánh giá trị +giá trị sử dụng của sản phẩm năng lượng, mà thực tế đã bị giữ lại lâu dài ở mức bao cấp nhà nước quá thấp nhằm mục tiêu thực hiện

thuộc tính công ích xã hội là chính (Bỏ qua quy luật T-H-T+∆T của nền kinh tế hàng hóa – thị trường)

Các Tập đoàn kinh tế năng lượng, nếu sản phẩm chỉ tiêu thụ tại thị trường trong nước như Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN kw/h), với giá cả đầu ra được giữ như thời bao cấp có ưu tiên đầu tư công, thị không thể có đủ tích lũy để đầu tư tăng công suất Tập đoàn Than Vinacomin khá hơn vì có một phần than xuất khẩu theo giá cả thị trường Tập đoàn Dầu khí PVN khá nhất, vì phần lớn sản phẩm có giá cả phù hợp quy luật thị trường

đã được bán ra nước ngoài

3 Trên thực tế trong bối cảnh không có đầu tư công, hiện tượng giá cả không phản ánh đầy đủ giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm năng lượng thì hệ thống năng lượng Việt Nam cũng không thể kêu gọi được vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác, trong

và ngoài nước (vì lưu thông hàng hóa không có ∆T) Vấn đề này đã có hiều hội thảo kết

luận và Hiệp hội năng lượng Việt Nam cũng đã có kiến nghị cụ thể với nhà nước

III Hệ thống năng lượng Việt Nam có cần đầu tư công trong bối cảnh nền kinh

tế hiện nay không và nên bố trí thế nào?

Các điều kiện phát triển hiện nay của Việt Nam đã rất khác những giai đoạn trước đây, và điều quan trọng nhất là chúng ta đã hội nhập toàn cầu với đầy đủ những thuận lợi

và thách thức hoàn toàn mới Để giải đáp nội dung này các nhà hoạch định chính sách cần tham cứu kinh nghiệm trong, ngoài nước và nên có chỉ đạo thí điểm rút kinh nghiệm tại Việt Nam để tìm ra cách đi riêng của mình, không áp dụng máy móc bất kỳ mô hình nào Trước mắt theo suy nghĩ của chúng tôi, cần lưu ý những điểm sau đây:

Đầu tư công cần cho Hệ thống năng lượng Việt Nam trước hết để đổi phó với tình trạng cạn kiệt các nguồn tài nguyên truyền thống là điều chưa từng xảy ra trong những giai đoạn phát triển trước đây Vốn cấp cho việc tìm tòi các nguồn tài nguyên mới, tiết kiệm năng lượng, chế tạo – cải tiến – sáng tạo mới các loại trang bị công nghệ biến đổi, sản xuất và truyền tải năng lượng cần được đầu tư công, vì năng lực tài chính của các tập

Trang 40

Còn các yêu cầu về an sinh xã hội, chỉ đạo và hướng dẫn thị trường, kích thích phát triển thì phải sử dụng đầu tư công để giải quyết, mà không thể để cho hệ thống năng lượng phải bao sân chỉ bằng năng lực tài chính của các Tập đoàn

Đầu tư công rất cần cho việc hỗ trợ Hệ thống Năng lượng Việt Nam vận hành ổn định và phát triển bền vững theo các quy hoạch được duyệt, không để cho các dự án trong các quy hoạch phát triển năng lượng bị chậm tiến độ, thậm chí phá sản phải làm lại

Đa số các trường hợp quy hoạch phát triển năng lượng không thực hiện được gần đây đều

do nguồn vốn thuộc về cung ứng thiết bị chủ lực đã không chủ động được tại thị trường nội địa của ta

Việt Nam cần đầu tư công nghệ sản xuất và chế tạo thiết bị, còn đến mức độ nào

và lộ trình từng bước thì cần được làm rõ, và phải sử dụng đầu tư công để xử lý Điều mà hiện nay gọi là “công nghiệp phụ trợ” của ngành năng lượng, thì trước đây ta đã gọi là

“chế tạo thiết bị năng lượng” có chức năng rất cơ bản trong phát triển

Thực ra đó là năng lực trong nước, tại chỗ, trước hết đảm bảo cho hệ thống vận hành an toàn và phát triển bền vững Lâu dài sẽ là công nghiệp sản xuất hàng hóa có khả năng xuất khẩu Theo bản tin xuất nhập khẩu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam mới công bố trên kênh VITV ngày 12-12-2010 thì Dây và Cáp điện của Việt Nam đã là một trong các sản phẩm xuất khẩu có giá trị kim ngạch lớn trong tháng 11-

2010 chỉ xếp sau nông sản Cà phê Tây nguyên Khoảng trống lớn này mà lâu nay ta không làm gì đáng kể, trên thực tế đã gián tiếp làm suy yếu sự bền vững của Hệ thống Năng lượng, cần phải được lấp lại bằng đầu tư công hợp lý Đầu tư công phải quan tâm rất nhiều, khi thực hiện Tái cầu trúc nền kinh tế Việt Nam, vào mục tiêu này mà trước đây từ Đại hội IV đã xác định là then chốt để phát triển nền kinh tế bằng thực lực của đất nước Đó là ngành sản xuất ra thiết bị công nghệ sản xuất và truyền tải năng lượng đã hình thành từ trước đây, và sẽ là động lực thứ nhất của sức sản xuất, đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển với một hạ tầng Năng lượng bền vững

Ngày đăng: 21/08/2013, 10:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Chi tiêu ngân sách cho phát triển sự nghiệp kinh tế xã hội (% tổng ngân  sách) - Kỷ yếu Hội thảo Huế
Bảng 1 Chi tiêu ngân sách cho phát triển sự nghiệp kinh tế xã hội (% tổng ngân sách) (Trang 28)
Bảng 2: Sự thay đổi về bất bình đẳng ở Việt Nam giai đoạn 1993-2008 - Kỷ yếu Hội thảo Huế
Bảng 2 Sự thay đổi về bất bình đẳng ở Việt Nam giai đoạn 1993-2008 (Trang 29)
BẢng 7. Hệ số ICOR tính theo vốn đầu tư thực hiện - Kỷ yếu Hội thảo Huế
ng 7. Hệ số ICOR tính theo vốn đầu tư thực hiện (Trang 54)
Bảng 8. Doanh nghiệp nhà nước độc quyền trong 12 ngành sản phâm và dịch vụ - Kỷ yếu Hội thảo Huế
Bảng 8. Doanh nghiệp nhà nước độc quyền trong 12 ngành sản phâm và dịch vụ (Trang 57)
Đồ thị 1. Cơ cấu đầu tư 3 thành phần kinh tế        Đồ thị 2. Cơ cấu nguồn vốn của  đầu tư nhà nước, % - Kỷ yếu Hội thảo Huế
th ị 1. Cơ cấu đầu tư 3 thành phần kinh tế Đồ thị 2. Cơ cấu nguồn vốn của đầu tư nhà nước, % (Trang 62)
Đồ thị 3. Hệ số ICOR của 3 thành phần kinh tế - Kỷ yếu Hội thảo Huế
th ị 3. Hệ số ICOR của 3 thành phần kinh tế (Trang 63)
Đồ thị 4. Đóng góp vào thâm hụt cán cân thương mại của nền kinh tế, % - Kỷ yếu Hội thảo Huế
th ị 4. Đóng góp vào thâm hụt cán cân thương mại của nền kinh tế, % (Trang 66)
Bảng 1: Cơ cấu vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế (%) - Kỷ yếu Hội thảo Huế
Bảng 1 Cơ cấu vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế (%) (Trang 72)
Bảng 5: Cơ cấu chi ngân sách Nhà nước - Kỷ yếu Hội thảo Huế
Bảng 5 Cơ cấu chi ngân sách Nhà nước (Trang 78)
Hình 1: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2001-2010 - Kỷ yếu Hội thảo Huế
Hình 1 Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2001-2010 (Trang 84)
Bảng 2:  ICOR của một số nước trong khu vực  Quốc gia  Giai đoạn  Tăng trưởng - Kỷ yếu Hội thảo Huế
Bảng 2 ICOR của một số nước trong khu vực Quốc gia Giai đoạn Tăng trưởng (Trang 87)
Hình 1: Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP của thành phố Đà Nẵng - Kỷ yếu Hội thảo Huế
Hình 1 Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP của thành phố Đà Nẵng (Trang 107)
Bảng 1: Vốn Đầu tư phát triển trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn  2006-2009 phân theo khu vực kinh tế - Kỷ yếu Hội thảo Huế
Bảng 1 Vốn Đầu tư phát triển trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2006-2009 phân theo khu vực kinh tế (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w