Vào những năm 70 cũng là giai đoạn cao trào của cuộc cách mạng khoa học công nghiệp lần thứ 3 các nước trên thế giới lần lượt tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và sự giao l
Trang 11
Mở đầu 3
1 Bối cảnh của Trung Quốc trước cuộc cải cách 4
1.1 Bối cảnh quốc tế 4
1.2.Bối cảnh trong nước 5
1.2.1.Kinh tế 5
1.2.2.Xã hội 6
1.2.3.Chính trị 6
2 Các giai đoạn của quá trình cải cách và mở cửa ở Trung Quốc 7
2.1 Giai đoạn đầu chuyển đổi thể chế kinh tế (1978 - 1991) 7
2.2 Giai đoạn xây dựng khung thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (1992 - 2002) 9
2.3 Giai đoạn đẩy mạnh xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (2002 - 2012), cải cách theo chiều sâu 10
2.4 Giai đoạn cải cách toàn diện và sâu rộng (từ năm 2012 đến nay) 12 3 Thành tựu 12
4 Những vấn đề đặt ra đối với Trung Quốc hiện nay 18
5 Bài học kinh nghiệm 19
Kết Luận 25
Tài liệu tham khảo 26
Tài liệu hình ảnh 27
Trang 22
Mao Trạch Đông
Đặng Tiểu Bình
Tập Cận Bình
Trang 33
Mở đầu
Lịch sử Kinh tế Trung Quốc thời kỳ hiện đại để lại dấu ấn sâu đậm những bước thăng trầm trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, thành công nhiều nhưng thất bại cũng không ít, thậm chí có giai đoạn nền kinh tế Trung Quốc đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, cùng cực Tuy nhiên, trong vòng 3 thập kỷ trở lại đây công cuộc cải cách và mở cửa đã khiến đất nước này đã có những bước tiến kỳ diệu trên con đường phát triển kinh tế
Trung Quốc từ ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1/10/1949), cho đến trước cải cách – mở cửa kinh tế trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm với nhiều hạn chế, yếu kém của mô hình kế hoạch hóa tập trung Thông qua những chính sách kinh tế sai lầm, coi thường các quy luật khách quan của “ Đại nhảy vọt”
và “Đại cách mạng văn hóa vô sản”, nền kinh tế Trung Quốc đã rơi vào khủng hoảng và sa sút Hậu quả là, thu nhập quốc dân giảm, các ngành kinh tế bị thụt lùi, nền kinh tế bị mất cân đối nghiêm trọng Cuộc “Đại nhảy vọt” và “Công xã nhân dân” đã gây ra lãng phí to lớn về sức người, sức của, làm nền tài chính bị cạn kiệt… Trước những thực trạng trên, nền kinh tế Trung Quốc đứng trước yêu cầu phải thực hiện cải cách một cách triệt để
Trang 4Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa luôn đặt thế giới trong tình trạng khẩn cấp Ngày 12/3/1947 chiến tranh lạnh chính thức mở màng với phát biểu của tổng thống Truman trước quốc hội Mỹ, nhấn mạnh “Liên Xô và Chủ nghĩa cộng sản đe dọa đến lợi ích Mỹ đồng minh trên khắp thế giới, cả từ bên ngoài lẫn bên trong của từng quốc gia, do đó cần tăng hỗ trợ kinh tế, quân sự cho các nước chống lại đe dọa này” Với những tuyên bố như vậy đã mở ra một thời kỳ với nhiều mối quan
hệ phức tạp một cuộc đối đầu căng thẳng giữa 2 cực Mà Trung Quốc cũng là một nước Xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ các mối quan hệ này Bên cạnh đó vào những thập niên 70- 80 của thế kỷ XX chứng kiến
sự vương lên mạnh mẽ của Nhật Bản và Tây Âu Dần dần trở thành những trung tâm kinh tế tài chính lớn của thế giới với các nguồn viện trợ từ Mỹ các nước này nhanh chống phục hồi kinh tế sau chiến tranh, trong khi đó nền kinh tế Trung Quốc vẫn ì ạch phát triển hết sức chậm chạp nếu như không muốn nói là không phát triển Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ bùng nổ tại các nước thuộc tổ chức các quốc gia Ả Rập xuất khẩu dầu mỏ tuyên bố ban hành lệnh cấm vận hay nói cách khác là quyết định ngừng sản xuất dầu mỏ sang các nước ủng hổ Isreal trong cuộc chiến tranh Yom Kippur cụ thể ở đây là nước Mỹ dẫn đến giá dầu tăng lên đột ngột kéo theo sự khủng hoảng nguyên liệu của các nước khác Cú sốc giá dầu năm 1973
đi cùng với sự sụp đổ của thị trường chứng khoáng năm 1973-1974 dẫn đến cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu tiếp theo là những cuộc khủng hoảng về chính trị,kinh tế,tài chính Những cuộc khủng hoảng này đặt nhân loại trước những vấn đề bức thiết phải giải quyết như tình trạng cạn kiệt tài nguyên,bùng nổ dân số
Yêu cầu cải cách về kinh tế,chính trị,xã hội để thích nghi với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học kĩ thuật Vào những năm 70 cũng là giai đoạn cao trào của cuộc cách mạng khoa học công nghiệp lần thứ 3 các nước trên thế giới lần lượt tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và sự giao lưu,hợp tác quốc tế,ngày càng phát triển mạnh theo xu thế quốc tế hóa Nhưng trong khi đó nền kinh tế của Trung Quốc vẫn vô cùng nghèo nàn và lạc hậu đòi hỏi phải có một cuộc cải cách mang tính toàn bộ của nền kinh tế để theo kịp các cường quốc khác trên thế giới
Trang 5Nông nghiệp, thủ công nghiệp gia đình tạo nên nền kinh tế tự nhiên,kĩ thuật lạc hậu năng suất thấp, phương pháp canh tác lạc hậu,dựa vào sức người và trâu bò.Chiến tranh lâu dài làm cho nhiều vùng đất bị bỏ hoang,sức lao động nông thôn thiếu hụt.Nền sản xuất nông nghiệp Trung Quốc rơi vào thảm cảnh đói nghèo Công nghiệp: Năm 1949 công nghiệp Trung Quốc chỉ chiếm 10%.Nền kinh tế Trung Quốc vốn là nền kinh tế nông-thủ công nghiệp kết hợp là chính.Cơ sở kĩ thuật công nghiệp còn yếu.Qua tích lũy hàng trăm năm mà vốn cố định của công nghiệp chỉ có 12,4 tỷ đồng,như vậy bình quân đầu người chỉ có 22 đồng.Các ngành công nghiệp ô tô,máy cày,máy đo lường công nghiệp kĩ thuật cao,chế tạo máy bay còn chưa hề nghĩ tới.Các cơ sở công nghiệp của Trung Quốc lúc này đều nhỏ về quy mô,lạc hậu về kĩ thuật và sản lượng quá thấp
Giao thông vận tải sau chiến tranh bị tàn phá.Ngành đường sắt vốn có 21,8 vạn km,nhưng do chiến tranh chỉ còn 1,1 vạn km có thể sử dụng và đường hai chiều chỉ
có 867km,chiếm 4% đường kinh doanh.Trước chiến tranh chưa có tàu điện,mà là tàu đốt than,dầu.Thông tin liên lạc kém,điện báo và điện thoại đường dài còn hạn chế
Trang 66
Văn hóa, giáo dục, khoa học kĩ thuật: Hơn 80% dân số Trung Quốc không biết chữ, trẻ em đến tuổi đi học chỉ có 20% trong tổng số có thể đến lớp Trình độ văn hóa của nhân dân thấp
1.2.2.Xã hội
Cuộc khủng hoảng lương thực vào những năm 60 của thế kỷ XX khiến hơn
30 triệu người dân Trung Quốc chết đói đã dẫn đến xã hội Trung Quốc mâu thuẫn nghiêm trọng kèm theo đó là những chính sách như “đại văn hóa” đưa ra nhưng thất bại đã ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân một cách nghiêm trọng điều đó càng thúc đẩy chính quyền Trung Quốc sớm thực hiện cuộc cải cách trước khi quá muộn
Từ năm 1959-1968: Tình hình rất phức tạp do mâu thuẫn về dường lối và tranh chấp về quyền lực giữa các phe phái trong giới lãnh đạo Trung Quốc Cách mạng văn hóa (1966-1968) đã để lại cho Trung Quốc những hậu quả nặng nề
Từ 1968-1978: Trong giới lãnh đạo Trung Quốc luôn diễn ra những cuộc thanh trừng lật đổ nhau dẫn đến nội bộ chia sẻ phức tạp, còn về đối ngoại Trung Quốc thực hiện đường lối bất lợi cho cách mạng Trung Quốc và cách mạng Thế giới: Chống Liên Xô gây ra những vụ tranh chấp biên giới với các nước láng giềng thực hiện những chính sách làm tổn thất nghiêm trọng cho sự nghiệp cách mạng của các nước Việt Nam, Lào và Campuchia
Trung Quốc ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mĩ của nhân dân Việt Nam, xảy ra những cuộc xung đột biên giới giữa Trung Quốc với các nước Ấn Độ, Liên Xô Tháng 2/1972 Tổng thổng Mĩ Nich xơn sang thăm Trung Quốc,mở đầu quan
hệ mới theo chiều hướng hòa dịu giữa hai nước
Trước tình hình như vậy, đòi hỏi Trung Quốc tiến hành cải cách để phù hợp với
xu thế chung của Trung Quốc và đưa đất nước thoát khỏi tình trạng không ổn định
Trang 77
2 Các giai đoạn của quá trình cải cách và mở cửa ở Trung Quốc
2.1 Giai đoạn đầu chuyển đổi thể chế kinh tế (1978 - 1991)
Với tư tưởng là phát triển một Trung Quốc rất riêng, một chủ nghĩa xã hội theo cách của Trung Quốc, thì chính quyền Trung Quốc đã có rất nhiều kế hoạch mang tính chiến lược nhằm thúc đẩy nền kinh tế lớn mạnh, để xứng tầm với các cường quốc khác và tiềm năng dồi dào của mình Không học theo những tư tưởng của Liên Xô, Trung Quốc tự vạch các con đường riêng của mình dựa trên tiềm lực và sức mạnh riêng của Trung Quốc đang có
Đảng Cộng Sản Trung Quốc với phương châm “giải phóng tư tưởng, thực sự cầu thị”, chuyển trọng tâm công tác từ “lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh” sang “lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm” nhằm mục tiêu xây dựng hiện đại hóa
xã hội chủ nghĩa Giai đoạn đầu tập trung vào chuyển đổi thể chế kinh tế với việc
“khoán ruộng đất”, “phát triển xí nghiệp hương trấn” ở nông thôn, sau đó tiến hành
mở rộng thí điểm quyền tự chủ kinh doanh của xí nghiệp quốc hữu ở thành phố, tiến hành mở cửa, xây dựng đặc khu kinh tế, xây dựng các loại thị trường Việc xây dựng các đặc khu kinh tế (SEZs) ở Trung Quốc tương đối thành công SEZs đã phát huy được vai trò “cửa sổ” và “cầu nối” có ảnh hưởng tích cực đối với trong và ngoài nước SEZs của Trung Quốc đã đạt được thành công bước đầu trong sự kết hợp giữa kế hoạch và thị trường Những năm 1984 - 1991, cải cách xí nghiệp quốc hữu là trọng tâm, cải cách giá cả là then chốt trong toàn bộ cuộc cải cách Trong giai đoạn chuyển đổi thể chế kinh tế (1979 - 1991), Trung Quốc đã tìm tòi, tổ chức thí điểm, từng bước tiếp nhận cơ chế thị trường, sửa chữa những khuyết điểm của thể chế kinh tế kế hoạch
Nhằm xây dựng một kỷ nguyên mới bắt đầu với một hội nghị của Đảng Cộng Sản Trung Quốc ngày 18/12/1978, đánh dấu bằng việc công nhận trang trại tư nhân quy mô nhỏ, bước đầu tiên từ bỏ chính sách công xã trong nông nghiệp và công nghiệp thời Mao Trạch Đông, dựng một nền kinh tế bắt đầu từ nông nghiệp
Năm 1979, Trung Quốc quyết định xây dựng các đặc khu khinh tế, gồm 3 đặc khu kinh tế là Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu tại Quảng Đông và đặc khu kinh tế
Hạ Môn tại tỉnh Phúc Kiến Việc quyết định xây dựng đặc khu nhằm mở rộng hợp tác kỹ thuật và giao lưu kinh tế với nước ngoài, tận dụng FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài), đưa khoa học - kỹ thuật tiên tiến vào Trung Quốc Năm 1982, Trung Quốc thực hiện khoán sản lực lượng hoặc khoán toàn bộ đến hộ nông dân Việc giải phóng năng lực sản xuất cho hàng trăm triệu hộ nông dân đã mang lại bước nhảy vọt trong kinh tế nông thôn Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng bình quân 11,5%/ năm trong giai đoạn 1980-1985 gấp 3,5 lần giai đoạn 1953-1980
Trang 88
Tuy nhiên, quá trình thực hiện khoán sản sản phẩm đã nảy sinh những hạn chế, tiêu cực: tư tưởng bình quân chủ nghĩ trong khoán ruộng đất, tâm lý “sợ thay đổi” trở nên khá phổ biến, công tác quản lý ruộng đất trở nên hỗn loạn, cơ sở hạ tầng trong nông thôn yếu kém lại bị phân tán Để khắc phục tình trạng này, từ năm
1984 Trung Quốc đã thực hiện những biện pháp hoàn thiện chế độ khoán sản phẩm, trong đó có hai nội dung quan trọng: quy định thời gian khoán ruộng đất từ 15 năm trở lên và áp dụng chính sách “hộ chuyên” Những biện pháp này đã đưa công cuộc cải cách kinh tế ở nông thôn Trung Quốc đạt được những kết quả ban đầu khá căn bản
Trên đà những thắng lợi đạt được ở khu vực nông thôn, Trung Quốc bước đầu cải cách ở thành thị Trong giai đoạn này, cải cách ở thành thị chỉ dừng lại ở mức thăm dò, thí diểm
Năm 1984, Trung Quốc mở cửa ở 14 thành phố ven biển nhằm thu hút đầu tư nước ngoài và mở rộng điều kiện ngoại thương, buôn bán Giai đoạn này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc đẩy mạnh cải cách kinh tế ở Trung Quốc, cải cách toàn diện thể chế kinh tế của Trung Quốc Trọng tâm của giai đoạn này là cải cách kinh tế thành thị, đặt hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá các thành phần kinh tế, tách chức năng quản lí nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh, tách quyền sở hữu khỏi quyền kinh doanh
Làm sống môi trường kinh doanh bằng việc đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp, mở cửa thị trường cải cách hệ thống giá cả, tiếp tục cải cách kinh tế nông thôn theo hướng phẩm hóa, hiện đại hóa
Trên cơ sở của việc phát triển kinh tế ở các giai đoạn trước, từ năm 1988 Trung Quốc bắt đầu thực hiện chiến lược phát triển kinh tế Duyên Hải làm cho các tỉnh này có thể tham gia trực tiếp vào việc buôn bán quốc tế Trong giai đoạn này cũng tiếp tục cải cách thể chế kinh tế, cho phép ký hợp đồng mua bán thuê mướn và chuyển nhượng ruộng đất, lập lại xí nghiệp, ban bố luật thuế và nhiều đạo luật khác Đồng thời, tiếp tục cải cách về tài chính tài vụ, chỉnh đốn trật tự kinh tế, ổn định giá cả, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Đặc biệt trong thời gian này, Trung Quốc
đã tiến hành nhiêu biện pháp nhằm khắc phục tình trạng quá nóng của nền kinh tế như:
Thực thi các biện pháp xiết chặt tiền tệ, thực hiện nghiêm ngặt chính sách bốn giảm: giảm quy mô đầu tư, giảm tăng cầu xã hội, giảm lạm phát và giảm tốc độ tăng trưởng công nghiệp Trong đó, kìm hãn và loại bỏ lạm phát là mục tiêu hàng đầu
Trang 99
Tiếp tục mở rộng quyền tự chủ cho các xí nghiệp, điều chỉnh hệ thống giá cả theo hướng cơ chế thị trường, chuẩn bị những điều kiện để hình thành thị trường chứng khoán
2.2 Giai đoạn xây dựng khung thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (1992 - 2002)
Bước sang thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới diễn ra những biến đổi to lớn và sâu sắc Hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, Liên Xô giải thể, đảng cộng sản ở các nước Đông Âu mất địa vị cầm quyền Chiến tranh lạnh kết thúc, nhiều nước tiến hành điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại
Trước những thách thức to lớn như vậy thì điều đặt ra cho chính quyền Trung Quốc,là làm thế nào để Trung Quốc không trở thành một Liên Xô thứ hai Vào lúc này sự nghiệp cải cách, mở cửa đối mặt với nhiều thách thức to lớn Vấn đề cải cách, mở cửa thành công hay thất bại, đi theo con đường xã hội chủ nghĩa (họ Xã) hay tư bản chủ nghĩa (họ Tư) thổi bùng các cuộc tranh luận (đại luận chiến) Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương gác lại các cuộc tranh luận, tiến hành “Ba điều có lợi” (có lợi cho phát triển sức sản xuất xã hội chủ nghĩa, có lợi cho đất nước, có lợi cho đời sống nhân dân), mạnh dạn xông pha vào thực tiễn
và lấy thực tiễn để kiểm nghiệm Tại Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 1992) chính quyền Trung Quốc đã đặt ra mục tiêu xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh mở cửa Đây được coi là cuộc giải phóng tư tưởng lần thứ hai, là mốc qụan trọng trong tiến trình cải cách, mở cửa ở Trung Quốc
Để thực hiện chiến lược mới, Trung Quốc ưu tiên hàng đầu nhiệm vụ chuyển từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường với năm trụ cột chính là “ hai hệ thống” gồm hệ thống điều tiết vĩ mô của nhà nước và hệ thống thị trường tốt nhất “ba chế độ” là: chế độ xí nghiệp hiện đại, chế độ phân phối thu nhập mới và chế độ bảo hiểm xã hội; đề ra mục tiêu ba bước để xây dựng thế chế kinh thế thị trường xã hội chủ nghĩa Đồng thời Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa toàn phương vị:
“duyên hải-ven biển-ven sông-các khu sâu nội địa” thực hiện ở cả ba miền: Miền Đông, miền Trung và miền Tây, theo cả hai hướng: ven biển à nội địa; cả hai thị trường: trong nước và quốc tế, xây dụng các khu phát triển từ đơn lẻ thành quần thể mà trọng điểm là Thượng Hại, Quảng Đông, Giang Tô, Sơn Đông, Đại Liên
Từ năm 1992, Trung Quốc đã tiến hành một loạt các biện pháp cải cách mới mẻ như: cải cách tài chỉnh tiền tệ cải cách hệ thống ngân hàng, cải cách thuế, cải cách
hệ thống ngoại thương, từng bước cải cách hệ thống giá cả, thống nhất tỷ giái hối đoái, cải cách mạnh mẽ hơn các doanh nghiệp nhà nước theo hướng xóa bỏ thua lỗ,
Trang 1010
xây dựng chế độ xí nghiệp hiện đại thích ứng với yêu cầu của kinh tế thị trường, từng bước đưa các doanh nghiệp làm quen và thích ứng với các yêu cầu mới sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
Tại Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đặc biệt là Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV (năm 1993) thông qua “Quyết định về một số vấn đề xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”, trong đó chỉ rõ: “lấy chế độ công hữu làm chủ thể, nhiều thành phần kinh tế khác cùng phát triển, xây dựng chế độ phân phối thu nhập, lấy phân phối theo lao động làm chính, ưu tiên hiệu quả, quan tâm tới công bằng, khuyến khích một số vùng, một số người giàu có tiến lên trước,
đi con đường cùng giàu có” Đại hội XV Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 1997)
đã xác định mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa chính những quyết định mang tính chiến lược như vậy đã giúp cho nền kinh tế Trung Quốc vượt qua được giai đoạn khủng hoảng của các quốc gia xã hội chủ nghĩa trên khắp thế giới, từ đó tạo tiền đề rất lớn cho việc phát triển kinh tế sau này Cùng với đó là những tuyên bố mang tính thời đại như “thế kỷ 21 là kỷ nguyên của Trung Quốc”
và rất nhiều chính sách hoạch định được vạch ra để đạt được mục tiêu đó Và thực
tế thì kế hoạch đó cũng đang được thực hiện và cũng có những thành công bướt đầu
2.3 Giai đoạn đẩy mạnh xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (2002 - 2012), cải cách theo chiều sâu
Năm 2001 Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Sự kiện này đánh dấu tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng của Trung Quốc Từ Đại hội XVI (năm 2002) Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đứng đầu là Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào đã nêu ra quan điểm phát triển khoa học, xây dựng xã hội hài hòa
xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy phát triển toàn diện hài hòa và bền vững kinh tế - xã hội Đại hội XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 2007) nêu chủ trương từ “tam vị nhất thể” - bao gồm kinh tế, chính trị và văn hoá sang “tứ vị nhất thể”- bao gồm kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội Một cuộc cải cách sâu rộng diễn ra trên mọi mặt của đất nước Trung Quốc, quá trình thay da đổi thịt bắt đầu
Bước sang thế kỷ XXI, Trung Quốc đã xây dựng được cục diện cải cách, mở cửa toàn phương vị, đa tầng nấc; hình thành các cực tăng trưởng, Trước đó, Tiểu Chu Giang với nòng cốt là Quảng Châu, Thâm Quyến được coi là cực tăng trưởng thứ nhất của Trung Quốc, hình thành trong giai đoạn đầu của cải cách, mở cửa với việc xây dựng 4 đặc khu (Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu, Hạ Môn) Tiếp đó, từ năm 1984, Trung Quốc tiến hành mở cửa 14 thành phố ven biển, ven sông, ven biên giới Từ năm 1990, Trung Quốc đẩy mạnh xây dựng Phố Đông, coi đây là
Trang 1111
“đầu tàu” lôi kéo và kết nối các điểm tăng trưởng hạ lưu sông Trường Giang và ven biển Đông Hải Sự ra đời của Phố Đông (Thượng Hải) đánh dấu sự xuất hiện cực tăng trưởng thứ hai của Trung Quốc Ngày 6-6-2006, Chính phủ Trung Quốc
đã công bố “Ý kiến về mấy vấn đề thúc đẩy mở cửa phát triển Khu mới Tân Hải Thiên Tân”, đánh dấu việc chủ trương đưa Thiên Tân vươn lên trở thành cực tăng trưởng thứ ba của Trung Quốc, gắn liền các điểm tăng trưởng xoay quanh vịnh Bột Hải Tiếp đó, vùng Thành Đô - Trùng Khánh (Xuyên Du), Khu kinh tế Vịnh Bắc
Bộ (Quảng Tây), Khu kinh tế bờ Tây (Phúc Kiến) cũng phấn đấu trở thành cực tăng trưởng tiếp theo ở Trung Quốc Năm 2008, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn “Cương yếu quy hoạch Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ”, thể hiện quyết tâm của Trung Quốc trong xây dựng cực tăng trưởng mới - cực tăng trưởng kết nối giữa Trung Quốc và ASEAN
Các mục tiêu được Trung Quốc đề ra:
Đảm bảo tăng trưởng bền vững
Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo phát triển một “xã hội hài hòa” có tầm quan trọng như phát triển kinh tế chính trị xã hội
Thay đổi phương thức tăng trưởng kinh tế: Chuyển từ đầu tư và xuất khẩu vào công nghiệp, tài nguyên và nhân lực sang tiêu dùng và đầu tư, công nghiệp và dịch vụ, nhân lực và khoa học - kỹ thuật, tăng trưởng có chất lượng cao
Thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, tăng nghành có hàm lượng khoa học cao
Phát triển cân đối giữa các vùng, các khu vực giữa thành thị và nông thôn
Giải quyết tốt vấn đề tam nông (nông nghiệp, nông thôn và nông dân)
Giải quyết tốt vấn đề ô nhiễm môi trường, tạo công ăn việc làm giảm thất nghiệp và các vấn đề xã hội
Xây dựng một xã hội công bằng văn minh
Về đối ngoại thực hiện nguyên tắc hòa bình và phát triển, hợp tác Thực hiện khẩu hiệu: “an ninh với láng giềng, giàu có với láng giềng, hợp tác với láng giềng”
Trang 1212
2.4 Giai đoạn cải cách toàn diện và sâu rộng (từ năm 2012 đến nay)
Từ Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đặc biệt là Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII thông qua Nghị quyết về cải cách toàn diện và sâu rộng, thực hiện “giấc mộng Trung Quốc”, “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” Tổng Bí thư Chủ tịch nước Tập Cận Bình với tư cách là “hạt nhân lãnh đạo” đã kế thừa, phát huy và hoàn thiện cương lĩnh, đường lối phát triển của Trung Quốc, hình thành nên “Bố cục tổng thể”: phát triển “5 trong 1” (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường) và bố cục chiến lược “Bốn toàn diện” Kinh tế bước vào giai đoạn “trạng thái bình thường mới”, đặt ra kế hoạch mới mang tên “Made in China 2025” với mục tiêu đưa nền kinh tế của Trung Quốc trở thành nền kinh tế số một thế giới tìm kiếm chuyển đổi phương thức tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế và động lực phát triển mới Sáng kiến “Vành đai, Con đường” được xem là giải pháp chiến lược, vừa thúc đẩy cải cách trong nước, vừa phát huy vai trò đối ngoại
Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc thời đại mới
đã được Đại hội XIX khẳng định, đưa vào Điều lệ Đảng, trở thành tư tưởng chỉ đạo đối với Đảng và Nhà nước Trung Quốc sau khi Hiến pháp được bổ sung, sửa đổi năm 2018 Trung Quốc đẩy mạnh cải cách, mở cửa toàn diện và sâu rộng hướng tới mục tiêu trở thành cường quốc xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI
3 Thành tựu
Trong hai thập niên cuối thế kỷ XX, ở Trung Quốc đã diễn ra những thay đổi to lớn Trung Quốc đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội với bước chuyển biến lịch sử là “lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm” Thể chế kinh tế, xã hội có bước chuyển biến mạnh mẽ theo hướng xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Trung Quốc cũng đạt được nhiều thành công trong ổn định tình hình trước những biến động lớn của thế giới Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng đứng trước những thách thức to lớn, như phân hóa giàu nghèo, phân cực đô thị - nông thôn, ô nhiễm môi trường, nợ công của các địa phương, tham nhũng Xây dựng Nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa trở thành phương hướng cải cách và phát triển chính trị ở Trung Quốc trước thềm thế kỷ XXI Nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc, kiện toàn hệ thống chính trị, đẩy mạnh dân chủ xã hội chủ nghĩa trở thành yêu cầu và đòi hỏi quan trọng để Trung Quốc ứng phó thành công với khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á (năm 1997) và đặc biệt là chủ động mở cửa, đưa Trung Quốc phát triển vượt bậc khi gia nhập WTO Năm
2010, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản trở thành nền kinh tế có tổng lượng GDP lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ Mức tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1997 - 2008 bình quân đạt trên 8%/năm
Trang 1313
Từ khi bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI đến nay, kinh tế Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu Năm 2017, GDP của Trung Quốc đạt 82.712,2 tỷ nhân dân tệ (NDT), tăng 6,9% so với năm 2016(3) Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của Trung Quốc trong giai đoạn 2013 - 2017 là 7,1%, trong khi mức tăng trưởng trung bình của toàn cầu là 2,6% và của các nền kinh tế đang phát triển là 4% Mức đóng góp trung bình của Trung Quốc vào tăng trưởng kinh tế thế giới trong giai đoạn 2013 - 2017 là khoảng 30%, lớn nhất trong tất cả các quốc gia và cao hơn cả tổng mức đóng góp của Mỹ, các nước trong khu vực đồng ơ-rô và Nhật Bản(4) Một điểm đáng chú ý nữa là GDP của Trung Quốc năm 2016 đã đạt 10.730 tỷ USD, hoàn thành sớm hơn 4 năm mục tiêu GDP năm 2020, tăng gấp 4 lần năm 2000 Tỷ trọng GDP của Trung Quốc trong GDP toàn cầu từ 1,8% năm
1978 tăng lên 15% năm 2018
Sáng tạo trở thành định hướng và giải pháp quan trọng trong chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế của Trung Quốc Mức chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đã tăng 52,2% kể từ năm 2012, đạt 1.570 tỷ NDT vào năm 2016 Tỷ
lệ chi tiêu cho R&D trong GDP đã tăng từ 1,91% lên 2,11% (từ năm 2012 đến 2016) Số lượng các đơn xin cấp bằng sáng chế mà Trung Quốc nhận được trong năm 2016 tăng 69% kể từ năm 2012, trong khi số bằng sáng chế được cấp năm
2016 tăng 39,7% kể từ năm 2012 Năm 2017, chi cho R&D là 1.750 tỷ NDT, tăng 11,6% so với năm 2016
Từ năm 2013, Trung Quốc đã trở thành quốc gia hàng đầu trên toàn cầu về doanh số bán rô-bốt công nghiệp Cường quốc rô-bốt sẽ là một nhiệm vụ chiến lược để Trung Quốc thúc đẩy mạnh mẽ Chiến lược “Made in China 2025” Năm
2016, Trung Quốc đầu tư cho R&D là 1.567,67 tỷ NDT; nguồn tài chính dành cho khoa học công nghệ là 776,07 tỷ NDT Năm 2016, trong số 53 doanh nghiệp khoa học công nghệ tiến hành IPO trên thế giới (phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu), Trung Quốc có 18 doanh nghiệp Năm 2016, Trung Quốc trở thành nước xuất khẩu các sản phẩm khoa học công nghệ cao đứng đầu châu Á Các hạng mục khoa học lớn được hoàn thành, như máy tính Thiên Hà, tàu vũ trụ Thần Châu, trạm vũ trụ Thiên Cung, máy lặn Giao Long, máy bay vận tải cỡ lớn
Về kinh tế đối ngoại, giá trị của thương mại hàng hóa đạt 27,7 nghìn tỷ NDT vào năm 2017, chiếm hơn 11% tổng khối lượng thương mại toàn cầu Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của hơn 120 nước
Mức độ đô thị hóa từ 17,9% năm 1978 tăng lên 58,5% năm 2017 Số thành phố
từ 193 tăng lên 657 thành phố Hiện nay, Trung Quốc có 136.000km đường cao tốc
Trang 142017, còn khoảng 30,46 triệu người nghèo(6) Mạng lưới an sinh xã hội đã được hình thành rộng khắp Bảo hiểm dưỡng lão xã hội đã bao phủ tới 900 triệu dân, bảo hiểm y tế cơ bản đã tới hơn 1,3 tỷ người dân
Năm 2017, dân số Trung Quốc là 1,39 tỷ người, trong đó dân số đô thị khoảng 813,47 triệu người Số nghiên cứu sinh là 2,63 triệu người, sinh viên đại học, cao đẳng: 27,53 triệu, số học sinh trung học phổ thông: 23,74 triệu; trung học cơ sở: 44,42 triệu; tiểu học: 1.009 triệu Từ năm 2011, số lượng nhân lực khoa học - công nghệ đã vượt 63 triệu người, năm 2017 đạt 81 triệu người Số sinh viên du học nước ngoài trở về nước là hơn 1,1 triệu người Năm 2016, số lượng đăng ký bản quyền tác giả là 1.257.439 (WIPO) Năm 2017, Trung Quốc đứng thứ 25 trong bảng xếp hạng “sức mạnh mềm” thế giới
Đánh dấu 40 năm tiến hành cải cách và mở cửa, Trung Quốc đã trở thành gã khổng lồ kinh tế với dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới (3.120 tỷ USD), GDP lớn thứ hai thế giới (11.000 tỷ USD) và có mức đầu tư trực tiếp nước ngoài cao thứ ba thế giới (170 tỷ USD) Tỷ lệ nền kinh tế nước này trong nền kinh tế thế giới đã tăng từ chỉ 1,8% vào năm 1978 lên mức 18,2% đáng kinh ngạc trong năm 2017 Các cải cách đã khởi động một cuộc quá độ xã hội - kinh tế không thể sánh được trong lịch sử nhân loại GDP của Trung Quốc đã tăng 3.230% từ năm 1978 đến năm 2016, giúp 700 triệu người thoát khỏi cảnh nghèo đói và tạo ra 385 triệu người thuộc tầng lớp trung lưu mới
Năm 2017, giá trị Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc đạt 82.700
tỷ nhân dân tệ (hơn 12.100 tỷ USD), chiếm khoảng 15% tổng lượng kinh tế thế giới; tỷ lệ đóng góp của Bắc Kinh vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu lên tới hơn 30% Dự báo, năm 2018, GDP của Trung Quốc đạt mức 13.200 tỷ USD, vượt qua quy mô của nền kinh tế Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone)
Trang 1515
Với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 3.690 tỷ USD, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của gần 130 quốc gia và khu vực, đồng thời là thị trường nhập khẩu tăng trưởng nhanh nhất thế giới Trung Quốc còn là nước có dự trữ ngoại hối, đầu tư ra nước ngoài và hệ thống công nghiệp hoàn thiện nhất thế giới
Hàng hóa ngoại thương của Trung Quốc tăng 17.500%, biến Trung Quốc trở thành nước dẫn đầu thế giới về ngoại thương kể từ năm 2015 Năm 2013, tổng kim ngạch thương mại Trung Quốc vượt Mỹ, trở thành nước thương mại lớn nhất thế giới Năm 2014, theo tính toán sức mua tương đương (PPP), quy mô kinh tế Trung Quốc vượt Mỹ, trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới GDP bình quân đầu người năm 2017 đạt 8.640 USD, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao
Trong quá trình này, hơn 700 triệu người Trung Quốc đã thoát nghèo theo chuẩn nghèo quốc tế, tỷ lệ đóng góp đối với sự nghiệp xóa đói giảm nghèo trên thế giới trong 40 năm qua là hơn 70% Trong khoảng thời gian này, tuy thuyết về sự sụp đổ của nền kinh tế Trung Quốc liên tục nổi lên nhưng từ cải cách mở cửa đến nay, Trung Quốc là quốc gia duy nhất trên thế giới không xuất hiện khủng hoảng kinh tế
Sau cải cách mở cửa, Trung Quốc là 1 trong 13 nền kinh tế có biểu hiện tốt nhất, cũng là nền kinh tế có tốc độ đuổi kịp và vượt qua nhanh nhất Lâm Nghị Phu, chuyên gia kinh tế, từng là Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Thế giới cho rằng nguyên nhân chủ yếu khiến kinh tế Trung Quốc có thể thực hiện tăng trưởng với tốc độ cao sau cải cách mở cửa là do Trung Quốc đã tận dụng ưu thế của cải cách thị trường; việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoặc nhà nước chủ đạo sang nền kinh tế thị trường đã giúp Trung Quốc phát triển ổn định và nhanh chóng
Vào năm 1978, ông Đặng Tiểu Bình lãnh đạo đất nước bước vào một thời đại tăng trưởng chưa từng có “Nền kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng trung bình khoảng 10%/năm trong thực tế” Sự biến đổi trong nước cũng mang lại một sự biến đổi mang tính quốc tế Trung Quốc đã vượt Mỹ trở thành điểm đến hàng đầu cho đầu tư trực tiếp nước ngoài của thế giới vào năm 2012
Sau năm 1990, không một quốc gia nào khác phát triển nhiều hoặc nhanh như Trung Quốc Khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001, đó là sự khởi đầu của một kỷ nguyên toàn cầu hóa mới Trong năm
2005, khối kinh tế gồm các nền kinh tế mới nổi đã được tạo ra - BRICS (Brazil,