Các giải pháp bảo vệ đất và nước. Việt nam có ba phần tư diện tích đất đai là đồi núi và cao nguyên. Đất sản xuất nông lâm nghiệp ở miền núi và trung du phần lớn la đất dốc, khô hạn, phải có biện pháp canh tác thích hợp để sử dụng đất được bền vững
Trang 1Hướng dẫn canh tác trên đất dốc
Tập 1các giải pháp
Trang 2Practical guide
to dryland farming
introduction to soil and water conservation
Trang 3mục lục
Lời giới thiệu 4
Vài lời của tổ chức hàng xóm thế giới gửi đến bạn đọc và bà con nông dân việt Nam 5
Giới thiệu 6
Vật chắn 13
Rãnh và bờ rãnh 16
Tường xếp bằng đá 18
Ruộng bậc thang 20
Vật chắn sống 24
Bảo dưỡng 28
Rãnh thoát nước 31
Đập chắn và “bẫy đất” 34
Sử dụng đất 41
Kết luận 45
Trang 4Lời giới thiệu
Việt nam có ba phần tư diện tích đất đai là đồi núi và cao nguyên Đất sản xuất nông lâmnghiệp ở miền núi và trung du phần lớn là đất dốc, khô hạn, phải có biện pháp canh tác thíchhợp để sử dụng đất được bền vững
Bộ sách hướng dẫn canh tác trên đất dốc gồm 4 tập :
- Các giải pháp bảo vệ đất và nước
- Canh tác theo đường đồng mức với băng cây xanh
- Kỹ thuật trồng cây
- Quản lý trang trại
Sách do World Neighbors (tổ chức hàng xóm thế giới) Studio Driya Media và YayasanTananua xuất bản và phát hành rộng rãi tại Indonexia Nội dung sách thể hiện chủ yếu bằngcác tranh vẽ kèm lời giải thích ngắn gọn, dễ hiểu, được đông đảo bạn đọc hoan nghênh…Nhằm phục vụ cho công tác khuyến nông khuyến lâm, được sự đồng ý của World Neighbors
và Studio Driya Media, được Quaker Service tài trợ Nhà xuất bản Nông nghiệp cho xuất bản
bộ sách trên bằng tiếng Việt
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
- Bà Karin Eberhardt - Đại diện World Neighbors, đại diện của Studio Driya Media đãcung cấp nguyên bản tiếng Anh bản dịch tiếng Việt và cho phép in bộ sách này tại Việtnam
- Bà Lady Borton - Đại diện Quaker Service đã hỗ trợ về tài chính trong việc in ấn
- PTS Hoàng Xuân Tý - Giám đốc Trung tâm sinh thái và môi trường rừng đã giúp đỡchỉnh lý tài liệu cho phù hợp với Việt Nam
Trân trọng giới thiệu với bạn đọc
Nhà xuất bản nông nghiệp
Trang 5Vài lời của tổ chức hàng xóm thế giới gửi đến bạn
đọc và bà con nông dân việt Nam
Chúng tôi rất lấy làm vui mừng là bộ sách " Hướng dẫn canh tác trên đất dốc" đã được dịch, inxong và ra mắt với bạn đọc và bà con nông dân Việt Nam
Chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn với Quaker Service ở Việt Nam đã tài trợ cho việc xuất bản,
và cảm ơn Nhà xuất bản nông nghiệp đã tổ chức thành công việc biên tập, in ấn tập sách này
và giới thiệu với bạn đọc
Bộ sách này nguyên được viết trên cơ sở kinh nghiệm và điều kiện thực tế của Indonexia và đã
được Yayasan Tananua, một tổ chức do một số nông dân ở Indonexia thành lập, phát triển và
Văn phòng World Neighbors số 1B ngõ 202B, Đội Cấn - Hà nội
Văn phòng Quaker Service khách sạn La Thành, Đội Cấn - Hà nội
Nông dân Việt Nam đã từng có câu tổng kết nổi tiếng trong việc canh tác: " Nhất nước, nhìphân, tam cần, tứ giống" Cho phép chúng tôi được thêm hai ý nữa cho phù hợp với tình hìnhnông nghiệp hiện nay:
Trang 7Để đương đầu với những thử thách này, người nông dân đã làm việc rất nhiều năm để pháttriển các biện pháp canh tác thích hợp với những điều kiện như vậy Họ khai khẩn trang trạimới từ đất rừng này, từ những đất có bụi che phủ.
Đất dưới tán rừng hoặc cây bụi thường rất màu mỡ, đặc biệt là sau khi bị cháy Lá cây rụngxuống trong nhiều năm bị phân huỷ và hình thành 1 lớp mùn dày Lớp mùn này, cùng với rễcây gỗ và những cây thân thảo khác giữ cho nước mưa thấm sâu vào đất
Trang 8Những trang trại này có thể trồng trọt được vài năm đầu với sản lượng khá Nhưng sau đó, sảnlượng bắt đầu bị giảm vì độ màu mỡ của đất, một phần bị cây sử dụng cạn kiệt, đồng thời bịnước mưa rửa trôi.
Trang 9Khi điều này xảy ra, người dân lại phải khai phá rừng mới để trồng trọt, trong khi nương rãy
cũ phải bỏ hoá để chờ cho độ phì của đất phục hồi Xưa kia, phương thức phát nương làm rẫyhàng năm đã cho năng suất ở mức độ có thể chấp nhận được bởi vì rừng và đất có cây bụi cònnhiều
Nhưng trong những năm gần đây, phương thức canh tác này khó có thể mang lại hiệu quả, bởivì đất làm nương rãy mới mỗi ngày càng khan hiếm hơn Sự phát triển của dân số nông thônlàm cho ngày càng có nhiều người cần đến đất đai hơn trong khi hệ thống nương rãy cổ truyền
Trang 10Người nông dân ngày càng phải đi xa làng hơn tìm đến những vùng đất rừng còn màu mỡ.Ngoài ra, chính phủ lại phải rành riêng một phần diện tích rừng để thành lập các vùng" phònghộ" bảo vệ các nguồn nước hay bảo vệ các " vùng đầu nguồn" Người nông dân không đượcphép canh tác hay chặt cây trong những khu rừng có chức năng phòng hộ này.
Hơn thế nữa, những người nông dân vốn trước đây chỉ sản xuất đủ lương thực để nuôi sống gia
đình, ngày nay phải vận dụng những hình thức canh tác mới để tăng thêm thu nhập, đáp ứngnhững thứ trước đây được coi như không cần thiết hoặc không phải chi phí như: tiền học phí,tiền thuốc, đồ đạc trong nhà v.v…
Trang 11Tất cả những thay đổi này buộc
người dân vùng cao phải canh
tác liên tục trên cùng một miếng
đất và sử dụng những biện pháp
canh tác tiên tiến để có sản
Trang 12Tuy những phương pháp được sử dụng hiện nay khác với những phương pháp đã sử dụng trước
đây, nhưng những nguyên tắc chính thì vẫn giữ nguyên Đó là:
1 Bảo vệ đất khỏi bị xói mòn
2 Duy trì và cải thiện độ màu mỡ của đất
3 Khống chế nước mưa để nước thấm vào đất
Quyển sách hướng dẫn này cùng với những cuốn sách khác trong tập tài liệu về "canh tác trên
đất dốc" bao gồm những giải pháp được người nông dân vận dụng ở nhiều nơi trên thế giớinhằm cải tiến các phương thức canh tác Chúng ta có thể học tập họ và xem xét những biệnpháp của họ bằng chính kinh nghiệm của chúng ta và đối chiếu với điều kiện cụ thể trongnhững trang trại của mình
Trang 13Vật chắn
Một phương pháp phổ biến để ngăn chặn đất bị rửa trôi (hay xói mòn) là sử dụng những vậtchắn được làm từ các vật liệu thông thường Những vật chắn này thường gồm có gỗ (thân câyhay cành cây) hoặc tre xếp thành hàng, dọc theo sườn đồi và được đóng cọc để cố định
Người nông dân còn sử dụng tường xếp đá, hay những cây nhỏ làm giảm tốc độ xói mòn Mục
đích của việc làm này là để chia sườn đồi dốc thành những phần nhỏ hơn để làm giảm lựcdòng chảy xuống chân đồi Cho dù những giải pháp này thực sự phát huy tác dụng tốt thì vẫncòn nhiều điều cần phải được cải tiến
Trang 14Giải pháp bảo tồn đất này có thể được cải tiến nếu như chúng ta xây dựng các vật chắn theo
đường đồng mức "Đường đồng mức" là đường có cùng độ cao tại các điểm khác nhau trênsườn đất
Những đường đồng mức này có thể được xác định bằng cách sử dụng một khung chữ A.Khung chữ A là dụng cụ đơn giản được làm bằng 3 thanh gỗ hoặc tre với một đoạn dây thừng
và một hòn đá
Trang 15Mét nh©n viªn phæ cËp n«ng nghiÖp, mét c«ng nh©n thùc hiÖn mét ch−¬ng tr×nh t¹i hiÖntr−êng hay mét n«ng d©n cã kinh nghiÖm cã thÓ tr×nh diÔn c¸ch lµm vµ sö dông khung ch÷ A
Trang 16Rãnh và bờ rãnh
Hình dáng của vật cản cũng có thể được hoàn thiện hơn ở những nơi đất có độ sâu trung bình,
có thể đào rãnh dọc theo đường đồng mức Ngoài việc giữ cho đất khỏi bị rửa trôi, những rãnh
đồng mức này còn giảm dòng chảy của nước làm cho lượng nước mưa thấm vào đất nhiềuhơn Thay vào sự rửa trôi (mang cả đất đi theo), nước ngấm vào đất giữ cho đất ẩm lâu hơn saukhi hết mưa
Khi làm bờ hay rãnh theo đường đồng mức, hoặc dựng vật chắn bằng đá nên bắt đầu từ đỉnh
đồi Nếu công việc bắt đầu từ chân đồi thì lực của nước chảy từ trên xuống có thể phá huỷnhững công trình đã hoàn thành phía dưới
Trang 17Việc đào rãnh và làm bờ rãnh theo đường đồng mức cần phải được tiến hành đồng thời Rãnh
được đào dọc theo đường đồng mức sâu khoảng 30cm, rộng khoảng 50cm Bờ rãnh cũng sẽ cóchiều rộng khoảng 50cm, cao 30cm
Trang 19Đá được xếp ở mép ngoài chân tường Đá nhỏ hơn có thể được đặt giữa hai hàng đá lớn.Tường được xây dựng theo cách này cho đến khi đạt được chiều cao từ 1/2m → 1m Chiều caocủa tường sẽ phụ thuộc vào độ dốc của sườn đồi, nguồn đá sẵn có và nguồn nhân lực.
Khoảng cách giữa các rãnh và bờ rãnh hay giữa các tường đá không phải là bất tiện Nó phụthuộc vào độ dốc của đất và mục tiêu canh tác của người nông dân Thông thường trên đồi có
độ dốc lớn, khoảng này là 3-4m ở những nơi dốc trung bình thì khoảng cách có thể là 5-6m
Trang 20Ruộng bậc thang
Ngoài việc xây dựng rãnh, bờ rãnh hay xếp tường đá trên nương có tầng đất sâu có thể làm bậcthang rộng để chống xói mòn Bậc thang rộng mang lại kết quả nhanh, nhưng đòi hỏi nhiềuthời gian và sức lực để xây dựng
Trang 21Khi xây dựng "ruộng bậc thang không gờ" Việc cần làm đầu tiên xác định kích thước củabậc thang và khoảng cách giữa các bậc thang Điều này sẽ phụ thuộc vào độ dốc của đất Trên
đất ít dốc bậc thang phải lớn hơn Đối với đất có độ dốc lớn hơn bậc thang cần hẹp hơn Kíchthước của ruộng "ruộng bậc thang không gờ" và khoảng cách giữa các bậc thang phụ thuộcvào nhu cầu của người nông dân và những điều kiện cụ thể của hiện trường
Sau khi cố định kích thước bậc thang và khoảng cách giữa chúng, công việc tiếp theo là đàobậc thang Để đảm bảo lớp đất bề mặt sau đó không bị vùi lấp bởi lớp đất ít màu mỡ hơn, thìlớp đất màu mỡ trên cùng phải được chuyển sang 1 bên hoặc đưa xuống phía dưới diện tích
đang được san bằng
Trang 22Sau đó một phần đất được đào lên và san ra, phía ngoài tạo nên một bậc thang hơi thấp dần vềphía sườn đồi như hình vẽ trên.
ở mép ngoài của bậc thang, nên đắp bờ hay tạo một gờ nhỏ Còn dọc theo mép trong của bậcthang nên đào mương để hạn chế dòng chảy mạnh của nước mưa
Trang 23Bước cuối cùng để hoàn chỉnh ruộng bậc thang là trả lại lớp đất màu mỡ mà trước đây đã gạtsang một bên để san bậc cho mặt vuông bậc thang để có thể gieo trồng các loại hoa màu.
Trang 24Vật chắn sống
Ngoài việc giữ nước và đất, 1 khía cạnh không kém quan trọng nữa là duy trì được màu mỡcủa đất Vì không còn tán che của rừng nữa để bảo đảm độ màu mỡ cho đất, nên bản thânngười nông dân có thể trồng cây rừng hay các loại thực vật khác để thay thế vai trò của rừngtrong việc cung cấp những chất dinh dưỡng quan trọng cho đất
Các loài cây mọc nhanh có thể được trồng để tăng độ phì của đất, giảm xói mòn và làm chậmdòng chảy của nước, đồng thời mang lại những lợi ích khác như củi và thức ăn gia súc Trong
số những loài đã sử dụng phổ biến hơn cả: Cây keo Caliandra, Cacao, keo dậu và một số loài
Trang 25Trồng nhiều loại cây cỏ khác nhau để tăng cường cho những vật chắn đã được xây dựng Khi
đã có mương đồng mức, có thể trồng cây dọc theo chiều dài của bờ mương Phương pháptrồng phổ biến nhất là bố trí 2 hàng cây theo hình chữ chi sát vào nhau để tạo nên 1 hàng chắnsống vững chắc và có hiệu quả
Nhiều loại cỏ và dứa có thể được trồng ngay dưới những hàng cây để củng cố cho vật chắn.Những loài cây này được trồng dày theo hàng đơn hay kép
Trang 26Nếu đã xây dựng tường đá, thì phương pháp trồng cây có hơi khác Cây được trồng ở giáptường thành 1 hàng đơn, cây cách cây không quá 10cm Cây phải được trồng 10-15 cm cáchrìa tường.
Có thể trồng cỏ và dứa dọc theo mép trên của tường xếp đá
Trang 27§èi víi ruéng bËc thang, hai ph−¬ng ph¸p trång t¹o nªn vËt ch¾n sèng th−êng ®−îc sö dông:
1 Trång c©y ë bê ruéng bËc thang cá ë thµnh bê
2 Ng−îc l¹i, còng cã thÓ trång c©y ë phÇn d−íi cña bê ruéng vµ trång cá trªn mÆt bê
Trang 29Khi những cây lớn đã phát triển cần phải chặt bỏ phần trên, để lại thân có độ cao từ 1/2 -1m(bằng độ cao từ gối đến bụng) Lá đ−ợc sử dụng làm phân xanh để cải tạo đất Chặt nh− vậycũng là cần thiết để cây không che bóng các loài cây nông nghiệp đ−ợc gieo trồng giữa cáchàng cây làm vật chắn.
Trang 30Để sử dụng lá làm phân xanh cải thiện màu mỡ của đất cần phải vùi lá khi làm đất Làm nhưvậy sẽ giúp cho lá phân huỷ nhanh hơn.
Cỏ đã trồng dọc theo những bờ đồng mức hay tường xếp đá phải cắt sát đất, chỉ chừa chiều caokhoảng 2-3cm (bằng chiều dài 1 đốt ngón tay) Cỏ NB-21 và Napier làm thức ăn rất tốt chosúc vật, nhưng phải được cắt lại trước khi cỏ đạt chiều cao 1m Gia súc không thích ăn cỏ đãmọc quá cao, vì như vậy cỏ quá dai
Trang 31Rãnh thoát nước
Ngay cả khi những con mương đồng mức, những tường xếp đá và những hàng rào sống đã
được xây dựng, vẫn còn nguy cơ xói mòn, vì nước vẫn có thể chảy từ trên xuống Cần khốngchế để nước không phá huỷ trang trại Phải đào rãnh thoát nước để khống chế dòng chảy củanước từ trên xuống và từ giữa ra bên mép bậc thang
Trong một số trường hợp như ở những nơi ruộng có nhiều đất cát, ở chân đồi hoặc ở thunglũng, thì việc xây dựng rãnh thoát nước phải là bước đầu tiên để bảo vệ trang trại
Trang 32Nói chung rãnh thoát nước nên có độ sâu và chiều rộng khoảng 1/2m Cần phải nối mương
đồng mức với các rãnh thoát nước nhằm làm cho nước thừa được thoát đi để ngăn xói mòn
Phần cuối của rãnh thoát nước ở những vị trí thấp cần phải được đào sâu hơn, rộng hơn phầntrên để nước không tụ lại quá nhiều và tràn sang hai bên
Trang 33Những khe hay suối nhỏ được hình thành tự nhiên ở rìa của trang trại cũng có thể được sửdụng như là những rãnh thoát nước Những khe suối này có thể nối với rãnh đào ở phần trêncủa ruộng bậc thang và cũng có thể được nối với tất cả các con mương đồng mức.
Có thể trồng cây ở hai bên bờ của rãnh thoát nước để làm chậm dòng chảy và duy trì hìnhdạng của rãnh
Trang 34Đập chắn và “bẫy đất”
Dòng chảy trong rãnh thoát nước hay của các khe suối tự nhiên có thể tạo nên tốc độ và sứctàn phá lớn Để làm chậm dòng chảy ở các rãnh thoát nước và bảo vệ rãnh khỏi bị nước bàomòn xuống sâu thì cần xây dựng đập chắn và bẫy đất Những công trình này sẽ làm tănglượng nước ngấm vào đất, cũng như làm giảm xói mòn
Đập chắn thường nhỏ, với cấu trúc đơn giản Người nông dân có thể tự xây dựng và bảo dưỡng
được Chúng được sử dụng để ngăn xói mòn và để làm chậm dòng chảy ở hệ thống rãnh thoát
Trang 35Tiếp đó phải đóng cọc xuống đất theo đường đã vạch dấu qua rãnh hoặc khe và cách méprãnh, mép khe rộng ra 1m Nếu được, cần sử dụng những cây có khả năng mọc chồi từ hom đểlàm cọc, như vậy những cọc này sẽ phát triển thành vật chắn sống.
Cần lấy tre, nứa hoặc cành cây để đan vào cọc, làm cho cọc đứng cố định Việc này làm chovật chắn vững chắc hơn và dày hơn Đá có thể xếp trên phía cao hơn của cấu trúc này Có thểdùng đá để gia cố phía trên của đập chắn
Trang 36Sau khi tre hay cành được đan vào cọc, cành cây bụi hoặc loại vật liệu khác có thể cài vào phíatrên của đập Nước chảy qua đập chắn sẽ bị chậm lại, làm cho đất lắng đọng lại sau đập.
Một điều cần lưu ý là phải bắt đầu xây dựng đập chắn từ đỉnh của rãnh( vùng cao nhất của đồi) Nếu những đập chắn được xây dựng ở phía trước thì nước tích tụ phíatrên có thể đủ mạnh để phá vỡ những đập ở phía dưới
Trang 37Khoảng cách giữa các đập chắn này không đồng nhất Những chỗ có độ dốc lớn hơn thì phải
đặt sát nhau hơn Với kinh nghiệm của mình người nông dân có thể quyết định khoảng cáchgiữa các đập chắn phù hợp nhất với trang trại của mình
Đất bồi tụ ở phía trước đập phải được nạo vét luôn đề đập không bị tràn ngập
Trang 38" Bẫy đất" là những hố đào sâu xuống đất cắt ngang dòng chảy từ đỉnh đồi xuống chân đồi đểlàm chậm dòng chảy và giữ lại cặn đất khỏi bị nước cuốn trôi Kích thước của " bẫy đất"thường dài 1m, rộng 1m và sâu 0,5m.
Khi nước chảy chậm, cặn đất nặng hơn sẽ lắng xuống đáy bẫy Sau những trận mưa to cầnphải kiểm tra lại và nạo vét bẫy đất Đất tích tụ ở bẫy đất có thể được vét lên cạnh đó
Trang 39Bẫy giữ đất có thể được làm cùng với đập chắn Bẫy giữ đất được đặt trên hoặc dưới đập chắn
có thể giữ lại được nhiều đất hơn
Người nông dân còn sử dụng những bẫy đất lớn hơn (1m3 hay lớn hơn) để giữ nước tưới cây
và để pha thuốc trừ sâu