1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tuyển chọn giống và thời điểm thu hoạch giống sắn mới có triển vọng tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang

123 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sắn là cây trồngđứng vị trí thứ tư trên thế giới về mặt cung cấp năng lượng cho con người.Ngày nay, chế biến sắn được sản xuất theo công nghiệp hóa, hiện đạihóa, các sản phẩm từ sắn ngày

Trang 1

HOÀNG ĐỨC NGỌC

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG

VÀ THỜI ĐIỂM THU HOẠCH GIỐNG SẮN MỚI

CÓ TRIỂN VỌNG TẠI HUYỆN SƠN DƯƠNG

-TỈNH TUYÊN QUANG

Ĩ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

HOÀNG ĐỨC NGỌC

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG

VÀ THỜI ĐIỂM THU HOẠCH GIỐNG SẮN MỚI

CÓ TRIỂN VỌNG TẠI HUYỆN SƠN DƯƠNG

-TỈNH TUYÊN QUANG

: Khoa học cây trồng : 60.62.01.10

Ĩ NÔNG NGHIỆP

: GS.TS TRẦN NGỌC NGOẠN

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Hoàng Đức Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Trần Ngọc

Ngoạn là

người hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Nônghọc, khoa đào tạo Sau đại học, các thầy cô đã tham gia giảng dạy chươngtrình cao học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Tôi xin chân thành cảm ơn sở Tài nguyên môi trường tỉnh TuyênQuang, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tuyên Quang, UBND,phòng Kinh tế Nông nghiệp huyện, khuyến nông viên của các xã và các hộgia đình mà tôi tiến hành điều tra, nghiên cứu trên địa bàn huyện Sơn Dương,

đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đãđộng viên, hỗ trợ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn này

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu trên

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014

Tác giả

Hoàng Đức Ngọc

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2

2.1 Mục đích của đề tài 2

2.2 Yêu cầu của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 3

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Nguồn gốc, giá trị dinh dưỡng cây Sắn 4

1.1.1 Nguồn gốc 4

1.1.2 Giá trị dinh dưỡng 5

1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam 9

1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới 9

1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam 10

1.3 Tình hình nghiên cứu về giống và thời điểm thu hoạch sắn trên thế giới và Việt Nam 14

1.3.1 Tình hình nghiên cứu về giống và thời điểm thu hoạch sắn trên thế giới 14

1.3.2 Tình hình nghiên cứu về giống và thời điểm thu hoạch sắn ở Việt Nam 18

Trang 6

NGHIÊN CỨU

222.1 Vật liệu nghiên cứu 222.2 Thời gian, địa điểm và điều kiện thực hiện đề tài 22

Trang 7

2.3 Nội dung nghiên cứu 22

2.4 Phương pháp nghiên cứu 23

2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 24

2.6 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 26

Chương 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 27

3.1 Tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của các dòng, giống sắn 27

3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 28

3.3 Động thái ra lá của các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 29

3.4 Tuổi thọ lá của các dòng, giống sắn thí nghiệm 30

3.5 Một số đặc điểm nông học của các dòng, giống sắn thí nghiệm 31

3.5.1 Sự phân cành của các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 32

3.5.2 Chiều cao thân chính 33

3.5.3 Chiều cao cây cuối cùng 33

3.5.4 Tổng số lá trên cây 34

3.5.5 Đường kính gốc 35

3.6 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 36

3.6.1 Chiều dài củ 37

3.6.2 Đường kính củ 38

3.6.3 Số củ trên gốc 38

3.6.4 Khối lượng trung bình củ trên gốc 39

3.6.5 Năng suất thân lá 40

3.3.6 Năng suất củ tươi 41

3.3.7 Năng suất sinh vật học 42

3.6.8 Chỉ số thu hoạch 44

3.7 Chất lượng của các dòng, giống sắn thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 45

3.7.1 Tỷ lệ chất khô và năng suất củ khô của các dòng, giống sắn thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 45

Trang 8

3.7.2 Tỷ lệ tinh bột và năng suất tinh bột của các dòng, giống sắn thí

nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 49

3.7.3 Tóm lại 52

3.8 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của hai giống sắn thí nghiệm HL2004 - 28 và KM414

53 3.8.1 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến các yếu tố cấu thành năng suất của hai giống sắn thí nghiệm HL2004 - 28 và KM414 53

3.8.2 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất của hai giống sắn thí nghiệm HL2004 - 28 và KM414 54

3.9 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến chất lượng của hai giống sắn thí nghiệm HL2004 - 28 và KM414 57

3.9.1 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tỉ lệ tinh bột và năng suất tinh bột của hai giống sắn thí nghiệm HL2004 - 28 và KM414 57

3.9.2 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tỷ lệ chất khô và năng suất củ khô của hai giống sắn thí nghiệm HL2004 - 28 và KM414 59

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62

1 Kết luận 62

2 Đề nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CIAT : Trung tâm quốc tế nông nghiệp nhiệt đới FAO : Tổ chức nông nghiệp và lương thực thế giới IITA : Viện quốc tế nông nghiệp nhiệt đới

NSSVH : Năng suất sinh vật học

NSCT : Năng suất củ tươi

NSTB : Năng suất tinh bột

NSCK : Năng suất củ khô

NSTL : Năng suất thân lá

TLCK : Tỷ lệ chất khô

TLTB : Tỷ lệ tinh bột

NST : Nhiễm sắc thể

USD : Đô la Mỹ

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Hàm lượng dinh dưỡng trong củ sắn 5

Bảng 1.2: Giá trị dinh dưỡng của sắn 6

Bảng 1.3: Hàm lượng HCN 9

Bảng 1.4: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của toàn thế giới từ năm 1995 - 2011 10

Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam từ năm 2000 đến 2011 11

Bảng 3.1: Tỷ lệ nảy mầm và thời gian từ trồng đến mọc của 5 dòng, giống sắn thí nghiệm 27

Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 28

Bảng 3.3: Tốc độ ra lá của 5 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 29

Bảng 3.4: Tuổi thọ lá của 5 dòng, giống sắn thí nghiệm 30

Bảng 3.5: Một số đặc điểm nông học của 5 dòng, giống sắn thí nghiệm 32

Bảng 3.6: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của 5 dòng, giống sắn thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 37

Bảng 3.7: So sánh các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 41

Bảng 3.8: Năng suất sinh vật học của các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang .43

Bảng 3.10: Tỷ lệ chất khô của các dòng, giống sắn thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 46

Bảng 3.11: So sánh tỷ lệ tinh bột và năng suất tinh bột các dòng, giống sắn thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 49

Bảng 3.12: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến các yếu tố cấu thành năng suất của hai giống sắn thí nghiệm HL2004 - 28 và KM414

53 Bảng 3.13: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch năng suất của hai giống sắn thí nghiệm HL2004 - 28 và KM414 54

Bảng 3.14: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tỉ lệ tinh bột và năng suất tinh bột của hai giống sắn thí nghiệm HL2004 - 28 và KM414 57

Bảng 3.15: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến tỷ lệ chất khô và năng suất củ khô của hai giống sắn thí nghiệm HL2004 - 28 và KM414 59

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Biểu đồ chiều cao cuối cùng các dòng, giống sắn tham gia

thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 34Hình 3.2: Biểu đồ tổng số lá trên cây của các dòng, giống sắn tham gia

thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 35Hình 3.3: Biểu đồ đường kính gốc của các dòng, giống sắn tham gia

thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 36Hình 3.4: Biểu đồ khối lượng trung bình củ trên gốc của các dòng, giống

sắn tham gia thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 39

Hình 3.5: Biểu đồ năng suất thân lá của các dòng, giống sắn tham gia

thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 40Hình 3.6: Biểu đồ năng suất củ tươi của các dòng, giống sắn tham gia

thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 42Hình 3.7: Biểu đồ năng suất sinh vật học của các dòng, giống sắn

tham gia thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 44Hình 3.8: Biểu đồ chỉ số thu hoạch của các dòng, giống sắn tham gia

thí nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 45Hình 3.9: Biểu đồ tỷ lệ chất khô của các dòng, giống sắn thí nghiệm

tại Sơn Dương - Tuyên Quang 47Hình 3.10: Biểu đồ năng suất củ khô của các dòng, giống sắn thí

nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 48Hình 3.11: Biểu đồ tỷ lệ tinh bột của các dòng, giống sắn thí nghiệm tại

Sơn Dương - Tuyên Quang 50Hình 3.12: Biểu đồ năng suất tinh bột của các dòng, giống sắn thí

nghiệm tại Sơn Dương - Tuyên Quang 51Hình 3.13: Biểu đồ năng suất củ tươi của hai giống sắn thí nghiệm

HL2004 - 28 và KM414 55Hình 3.14: Biểu đồ năng suất sinh học của hai giống sắn thí nghiệm

HL2004 - 28 và KM414 56Hình 3.15: Biểu đồ tỷ lệ tinh bột của hai giống sắn thí nghiệm HL2004

- 28 và KM414 57Hình 3.16: Biểu đồ Năng suất tinh bột của hai giống sắn thí nghiệm

HL2004 - 28 và KM414 58Hình 3.17: Biểu đồ tỷ lệ chất khô của hai giống sắn thí nghiệm tại Sơn

Dương - Tuyên Quang 60Hình 3.18: Biểu đồ năng suất chất khô của hai giống sắn thí nghiệm tại

Sơn Dương - Tuyên Quang 61

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây sắn (Mannihot esculenta Crantz) là cây có củ, có nguồn gốc hoangdại từ vùng đất thấp nhiệt đới Nam Mỹ, được trồng cách đây khoảng 7.000năm Sắn là cây lương thực quan trọng trên thế giới và được trồng ở nhiềunước từ 30º vĩ Bắc đến 30º vĩ Nam; cây sắn hiện được trồng trên 100 nước cókhí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc ba châu lục: châu Á, châu Phi và châu

Mỹ Latinh Tổ chức lương thực thế giới (FAO) xếp sắn là cây lương thựcquan trọng ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và lúa mì Sắn có giátrị kinh tế lớn, được dùng làm lương thực cho người, thức ăn cho gia súc vàlàm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Tinh bột sắn là một thành phầnquan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỉ người trên thế giới Đồng thời, sắncũng là cây thức ăn gia súc quan trọng tại nhiều nước trên thế giới và cũng làcây hàng hóa xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho ngành công nghiệpchế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinh học vàphụ gia dược phẩm, Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu chínhcho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol)

Ở Việt Nam, trước đây sắn là cây lương thực quan trọng sau lúa, ngô,rau - đậu và khoai lang Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thônđưa cây sắn ra khỏi nhóm cây lương thực và cho rằng sắn có thể xếp vàonhóm cây công nghiệp, cây trồng này đã chuyển đổi nhanh chóng vai trò từcây lương thực thành cây công nghiệp với tốc độ cao, năng suất và sản lượngsắn đã tăng nhanh ở thập kỷ đầu của thế kỷ XXI Cây sắn là nguồn thu nhậpquan trọng của các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu

tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế nông hộ Việc nghiên cứu phát triểncác giống sắn mới có năng suất tinh bột cao và kỹ thuật canh tác sắn theohướng sử dụng đất nghèo dinh dưỡng, đất khó khăn và phù hợp với các vùngsinh thái là việc làm có hiệu quả, vì nó góp phần chuyển một phần diện tích

Trang 13

đất trồng sắn sang canh tác những cây trồng khác mà vẫn không làm giảm sảnlượng sắn.

Tuy nhiên, năng suất sắn tại nhiều địa phương ở Việt Nam cũng như ởhuyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang vẫn còn thấp Vì vậy, muốn nâng caonăng suất sắn cần phải chọn tạo được những giống sắn cho năng suất cao, phùhợp với điều kiện sinh thái Để phục vụ cho chiến lược phát triển sắn bền vữngviệc nghiên cứu về giống nhằm nâng cao năng suất, chất lượng của các dòng,giống sắn là vấn đề rất cần thiết Với những lý do trên chúng tôi tiến hành

thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tuyển chọn giống và thời điểm thu hoạch giống sắn mới có triển vọng tại huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang”.

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích của đề tài

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượngcủa các giống sắn tham gia nghiên cứu Nhằm lựa chọn được dòng, giống sắnmới có năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện sản xuất tại huyệnSơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

- Xác định thời điểm thu hoạch thích hợp nhất đối với các giống sắntham gia nghiên cứu tại tỉnh Tuyên Quang

2.2 Yêu cầu của đề tài

- Nghiên cứu các đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các dòng, giốngsắn tham gia nghiên cứu

- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng,giống tham gia nghiên cứu

- Nghiên cứu chất lượng của của các dòng, giống sắn nghiên cứu

- Nghiên cứu thời điểm thu hoạch của các dòng, giống tham gia nghiên cứu Các nghiên cứu nhằm xác định được giống sắn tốt, thời điểm thu hoạch

Trang 14

thâm canh tăng năng suất sắn ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang theohướng phát triển bền vững, góp phần xây dựng nông thôn mới ở miền núi.

Trang 15

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Giúp học viên củng cố và hệ thống toàn bộ kiến thức đã học áp dụngvào thực tiễn, tạo điều kiện cho học viên học hỏi thêm những kinh nghiệmtrong sản xuất, trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễngiúp học viên nâng cao được chuyên môn

Giúp học viên nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành các triểnkhai các hoạt động nghiên cứu, đánh giá và tổng kết viết báo cáo kết quảnghiên cứu khoa học cũng như ứng dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Góp phần tìm ra các dòng, giống mới có triển vọng để đưa vào sản xuấtđại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất hiện nay của người trồng sắn ở cáctỉnh Trung du và miền núi phía Bắc

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Nguồn gốc, giá trị dinh dưỡng cây Sắn

1.1.1 Nguồn gốc

Sắn là cây có hoa hạt kín, có 2 lá mầm và có số NST (2n = 36), thuộc

bộ ba mảnh cỏ (Euphorbiale ), họ thầu dầu (Euphotbiaceae), chi Manihot, có

tới hơn 300 chi và 8000 loài phân thành 17 nhóm Nhiều tài liệu cho biết câysắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của Châu Mỹ La Tinh và được trồng cáchđây khoảng 5000 năm (Baker Peter, 2009)[15]

Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thiết tại vùng đông bắc của nướcBrasil thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng vàhoang dại

Trung tâm phân hóa phụ của cây sắn có thể tại Mêhicô, Trung Mỹ vàven biển phía bắc của Nam Mỹ Bằng chứng là những di tích khảo cổ ởVenezuela niên đại 2.700 năm trước công nguyên, di vật thể hiện củ sắn ởvùng ven biển Peru khoảng 2.000 năm trước công nguyên, những lò nướngbánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía bắc Colombia niên đại khoảng 1200năm trước công nguyên, những hạt tinh bột sắn ở trong phần hóa thạch đượcphát hiện tại Mexico có tuổi khoảng 900 năm đến 200 năm trước công nguyên(Duangpatra, D.1987)[16]

Về vấn đề trung tâm phát sinh cây sắn còn nhiều điều không chắc chắn.Các công trình nghiên cứu gần đây của nhiều tác giả kết luận rằng: Cây sắn cónguồn gốc phức tạp và có bốn trung tâm phát sinh đó là: Brasil có hai trungtâm, còn lại là ở Mehico và Bolivia (Aiyer, R.S and P.6 Nair,1995) [11]

Cây sắn được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo của châu Phi vào thế

kỷ XVI Tài liệu nói tới sắn ở vùng này của Barre và Thevet viết năm 1558 Ởchâu Á, sắn được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ XVII (Duangpatra, D

Trang 17

Sikurajapathy ,1990)[14] Sau đó, sắn được trồng ở Trung Quốc, M y a n m a v àcác nước châu Á khác ở cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỉ XIX.

Ở Châu Á, sắn được du nhập vào từ thế kỷ XVII và theo hai con đường: Thứ nhất là vào Ấn Độ sau đó sang Trung Quốc, Mianma và một sốnước khác trong khu vực

Thứ hai từ Châu Phi đến Nam Mỹ, Philippin, Indonexia rồi lan dầnsang các nước khác

Cây sắn du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ XVIII và đượctrồng trên khắp lãnh thổ nước ta từ Bắc đến Nam do khả năng thích ứng tốtvới điều kiện khí hậu thổ nhưỡng Trước đây sắn được coi là một loại câylương thực quan trọng cho một bộ phận nông dân Việt Nam Tuy nhiên hiệnnay nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, cây sắn đã và đangđóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống xã hội của con người hiện nay

1.1.2 Giá trị dinh dưỡng

Theo số liệu công bố của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới(FAO), hàm lượng dinh dưỡng trong củ sắn (tính trên 100 gam phần ăn được)như sau:

Bảng 1.1: Hàm lượng dinh dưỡng trong củ sắn

và người lớn

Trang 18

Trước đây sắn được coi là một trong những cây lương thực quan trọng.Tại nhiều vùng nhiệt đới trên thế giới đã coi sắn và các sản phẩm chế biến từsắn là nguồn lương thực chính, đặc biệt là các nước Châu Phi Sắn là cây trồngđứng vị trí thứ tư trên thế giới về mặt cung cấp năng lượng cho con người.

Ngày nay, chế biến sắn được sản xuất theo công nghiệp hóa, hiện đạihóa, các sản phẩm từ sắn ngày càng đa dạng và phong phú đáp ứng nhu cầutiêu dùng của người dân

Bảng 1.2: Giá trị dinh dưỡng của sắn

Củ sắn tươi: Phần ăn được có tỷ lệ chất khô 30-40% trọng lượng mẫu

tươi, tinh bột 27- 36%, đường tổng số 0,5-2,5% (trong đó saccarose 71%,glucose13%, fructose 9%, mantose 3%), đạm tổng số 0,5-2,0%, chất xơ 1,0%,chất béo 0,5%, chất khoáng 0,5-1,5%, vitamin A khoảng 17 mg/100g, vitamin

Trang 19

C khoảng 50 mg/100g, năng lượng 607 KJ/100g, yếu tố hạn chế dinh dưỡng

là Cyanogenes, tỷ lệ trích tinh bột 22-25%, kích thước hạt bột 5- 50 micron,amylose 15-29%, độ dính tối đa 700- 1100 BU, nhiệt độ hồ hóa 49-73 OC(Christopher Wheatley, Gregory J.Scott, Rupert Best and Siert Wiersema,1995) Theo trích dẫn của (Hoàng Kim, Phạm Văn Biên, 1996), đã dẫn liệucác số liệu phân tích của Việt Nam (Lê Thước,1966; Đại học Nông Lâm,1987; Nguyễn Đức Trân, 1963; Viện Chăn nuôi, 1983), Trung Quốc (ZhengBangguo et al, 1988), Philippines (Jose A Eusebio 1978, Truong Van Den,1989), Ấn Độ (Hirshi and Nair 1978) và CIAT (G.G Gomez et al, 1985) đãcho kết quả tương tự

Củ sắn giàu chất bột, năng lượng, khoáng, vitamin C, hạt bột sắn nhỏmịn, độ dính cao nhưng nghèo chất béo và nhất là nghèo đạm, hàm lượng cácacid amin không cân đối, thừa arginin nhưng thiếu các acid amin chứa lưuhuỳnh Tùy theo giống sắn, vụ trồng, số tháng thu hoạch sau trồng và kỹ thuậtphân tích mà tổng số vật chất khô và hàm lượng đạm, béo, khoáng, xơ,đường, bột có sự thay đổi

Sắn lát khô: thường có hai loại: sắn lát khô có vỏ và sắn lát khô không

vỏ Sắn lát khô có vỏ bao gồm: vỏ thịt, thịt sắn, lõi sắn và có thể là một phần

vỏ gỗ Sắn lát khô không vỏ chỉ bao gồm thịt sắn và lõi sắn Số liệu phân chất

về sắn lát khô không vỏ của Việt Nam bình quân: đạt vật chất khô 90,01%,đạm thô 2,48%, béo thô 1,40%, xơ thô 3,72%, khoáng tổng số 2,04%, dẫnxuất không đạm 78,59%, Ca 0,15%, P 0,25% Sắn lát khô có vỏ vật chất khô90,57%, đạm thô 4,56%, béo thô 1,43%, xơ thô 3,52%, khoáng tổng số2,22%, dẫn xuất không đạm 78,66%, Ca 0,27%, P 0,50%

Bột sắn nghiền và tinh bột sắn: Bột sắn nghiền thủ công có vật chất

khô khoảng 87,56%, đạm thô 3,52%, béo thô 1,03%, xơ thô 1,37%, khoángtổng số 1,38%, dẫn xuất không đạm 83,89%, Ca 0,11%, P 0,11% (Hoàng Kim

và cs, 2008) Tinh bột sắn có màu rất trắng Hạt tinh bột sắn quan sát trên kính

Trang 20

hiển vi điện tử quét SEM có kích thước 5-40 nm, nhiều hình dạng, chủ yếu làhình tròn, bề mặt nhẵn, một bên mặt có chỗ lõm hình nón và một núm nhỏ ởgiữa Tinh bột sắn có hàm lượng amylopectin và phân tử lượng trung bình caohơn amylose của tinh bột bắp, lúa mì, khoai tây, độ nhớt cao, xu hướng thoáihóa thấp, độ bền gen cao Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của tinhbột sắn thể hiện rõ ở bảng 1.2 Các công ty chế biến tinh bột sắn thường cungcấp theo phiếu chất lượng sản phẩm của công ty cho khách hàng.

Lá sắn: có hàm lượng đạm khá cao (20-25% trọng lượng chất khô) với

nhiều chất bột, chất khoáng và vitamin Chất đạm của lá sắn có khá đầy đủcác acid amin cần thiết, giàu lysin nhưng thiếu methionin Trong lá sắn ngoàicác chất dinh dưỡng, cũng chứa một lượng độc tố [HCN] đáng kể Các giốngsắn ngọt có 80-110 mg HCN/ 1kg lá tươi Các giống sắn đắng chứa 160-240

mg HCN/ 1kg lá tươi Lá sắn ngọt là một loại rau bổ dưỡng có chứa nhiềuchất đạm, canxi, caroten, vitamin B1, C nhưng cần chú ý luộc kỹ để làmgiảm hàm lượng HCN Lá sắn đắng không nên luộc ăn mà nên muối dưa hoặcphơi khô để làm bột lá sắn phối hợp với các bột khác làm bánh thì hàm lượngHCN còn lại không đáng kể

Độc tố HCN: Sắn có chứa một lượng độc tố ở dạng glucozit với công

thức hóa học C10H17O6N Độc tố này được phát hiện lần đầu vào năm 1885bởi Peckolt và được gọi là manihotoxin Sau đó, Dunstan và Henry đã phân lyđựơc chất này có tính độc tương tự như chất say của một số loại họ Đậu(Nguyễn Thế Hùng, 2001)[2] Chất độc này vị đắng có mặt trên hầu hết các

bộ phận của cây và tất cả các giống Dưới tác dụng của dịch vị có chứa acidclohydric hoặc men tiêu hóa, chất này bị phân hủy và giải phóng ra acidcyanhydric (Cyanogenes) là chất độc với người:

C6H17O6N + H2O ===> C6H12O6 + (CH3)3 + HCN

Linamarin Glucoze Axeton acid cyahydric

Trang 21

HCN là chất gây độc đối với người và gia súc Liều gây độc cho ngườilớn là 20 mg HCN Liều gây ngộ độc có thể chết người là 1,4mg HCN /1 kgtrọng lượng cơ thể Đối với trẻ em, người già và người ốm yếu thì liều gây độc

và gây chết còn thấp hơn (Nguyễn Viết Hưng, 2005)[3] Cơ chế gây độc là doHCN thấm vào máu, kết hợp với phân tử của máu, gây cản trở việc vậnchuyển O2 và thải CO2, nên bệnh nhân khó thở Chất độc HCN trong sắn có

vị đắng với hàm lượng thay đổi từ 15 - 400ppm… Tùy theo giống sắn, điềukiện đất đai, chế độ canh tác và thời gian thu hoạch mà hàm lượng HCN cókhác nhau Những giống sắn đắng hàm lượng độc tố HCN nhiều hơn cácgiống sắn ngọt vỏ củ lượng độc nhiều hơn thịt củ Trong củ sắn ngọt, hàmlượng glycozit này khoảng 3- 42 mg HCN/ 1kg, trong củ sắn đắng có tới 13-

150 mg HCN/ 1 kg

Bảng 1.3: Hàm lượng HCN Hàm lượng

Cây sắn non: 3-6 tháng tuổi, hàm lượng HCN có ít ở củ nhưng có

nhiều ở lá Ở các cây sắn 11-18 tháng tuổi hàm lượng HCN tăng lên ở củ vàhơi giảm xuống ở lá Sự phân bố chất độc trong củ sắn không đều: Cuống củchứa nhiều chất độc hơn giữa củ Lớp vỏ thịt có nhiều HCN hơn cả (80-500mg/1.000 g vỏ tươi), kế đến là lõi sắn, phần thịt sắn có chứa chất độc HCN íthơn Hàm lượng cyanogenes trong cuống lá non cao hơn phiến lá, còn ở lá giàthì ngược lại Đất rừng mới khám phá hoặc trồng sắn gần các cây có khảnăng gây tích tụ glucozit cyanhydric (như cây xoan) thường làm tăng hàmlượng HCN) Bón nhiều phân đạm làm tăng HCN Bón kali và phân chuồng

sẽ làm giảm HCN

1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới

Trang 22

xếp đứng thứ năm sau cây ngô, lúa gạo, lúa mì và khoai tây Năm 2009

Trang 23

Faostat đã thống kê diện tích sắn trên toàn thế giới đạt 19,06 triệu ha, năngsuất bình quân 12,64 tấn/ha, sản lượng 240,98 triệu tấn Diện tích, năng suất

và sản lượng sắn thế giới có chiều hướng tăng trong giai đoạn 1995 - 2009được thể hiện ở bảng 1.1 như sau:

Bảng 1.4: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của toàn thế giới

1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam

Ở Việt Nam sắn là một trong bốn cây trồng có vai trò quan trọng trongchiến lược an toàn lương thực quốc gia sau lúa và ngô Diện tích, năng suất,sản lượng sắn được thể hiện ở bảng 1.5

Trang 24

Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam

2000 là 322,5 nghìn ha đánh dấu sự gia tăng năng suất từ 8,35 tấn/ha trongnăm 2000 lên 17,63 tấn/ha vào năm 2011

Tại Việt Nam cây sắn được coi là cây trồng chính cung cấp nguồnnhiên liệu cho sản suất năng lượng sinh học Bộ Công thương đã hoàn thiệnviệc quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu cho năng lượng sinh học

Khi chương trình năng lượng sinh học của Nhà nước vận hành, các nhàmáy sản xuất ethanol sẽ tiêu thụ một khối lượng sắn rất lớn Dự kiến năm

2012, sản xuất ethanol sẽ tiêu thụ 16% sản lượng sắn, năm 2015 chiếm 35%, năm 2020

Theo bảng số liệu (bảng 1.5) ta thấy ngoài giống sắn KM94 đã đượcnông dân chấp nhận thì còn rất nhiều các giống khác có tiềm năng cho năngsuất củ tươi và năng suất tinh bột cao, việc tiến hành lựa chọn các giống mới

Trang 25

thiết.

Trang 26

Đã từ lâu cây sắn đã trở thành cây có củ đứng hàng đầu về diện tích vàsản lượng so với các cây có củ ở nước ta và hiện nay sắn ngoài sử dụng làmlương thực ra thì sắn cũng đã trở thành cây công nghiệp hành hóa xuất khẩu

và chế biến làm thức ăn cho gia súc có giá trị kinh tế cao trong xu thế hộinhập khu vực và thế giới

Về chế biến sắn: ngoài sắn tươi và sắn lát khô ra thì hiện nay cả nước

có 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn, với tổng công suất khoảng 3,8 triệu tấn

củ tươi/năm và nhiều cơ sở chế biến sắn thủ công rải rác ở hầu hết các tỉnhtrồng sắn Việt Nam hiện mỗi năm sản suất khoảng từ 800-1.200 nghìn tấntinh bột sắn, trong đó 70% xuất khẩu, 30% tiêu thụ trong nước, (Nguyễn ViếtHưng, 2005) [3]

Ngoài ra trong tương lai sắn sẽ là nguồn nguyên liệu cung cấp cho côngnghiệp chế bến nhiên liệu sinh học (ethanol) Đó là cơ hội tốt mở ra cho việctiêu thụ sản phẩm sắn lát khô của Việt Nam Như vậy, sẽ góp phần làm câysắn phát triển một cách bền vững và ổn định Vì khi tiến hành sản xuấtethanol Việt Nam sẽ tiến tới không còn phải xuất khẩu nguyên liệu sắn látkhô Như vậy, chúng ta sẽ không rơi vào tình trạng bị ép giá, vừa giúp ngườinông dân an tâm sản xuất

Thị trường xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Việt Nam dự báo là cóthuận lợi và có thể cạnh tranh cao do thế giới có nhu cầu sắn để chế biếnethanol, bột ngọt, thức ăn gia súc và những sản phẩm tinh bột biến tính

Xuất khẩu sắn của Việt Nam những năm trước giữ một vị trí khá khiêmtốn trong số những mặt hàng nông sản xuất khẩu nhưng năm 2009 đã tăngnhanh và đem lại một khoản ngoại tệ không nhỏ cho đất nước Kim ngạchxuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 8 tháng đầu năm 2009 ước đạt 429 triệuUSD, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm trước và cao hơn nhiều so với kimngạch xuất khẩu các mặt hàng rau quả, hạt tiêu, chè…

Trang 27

những mối lo không nhỏ, nhất là nguy cơ tái diễn tình trạng phát triển ồ ạtdiện

Trang 28

tích trồng sắn trong cả nước, vừa gây xói mòn đất vừa ảnh hưởng bất lợi đếngiá cả thị trưởng Hơn nữa, với số lượng nhà máy và cơ sở chế biến sắn ở nước

ta cũng tác động không nhỏ đến môi trường ở nhiều vùng nông thôn, nhất làcác tỉnh có diện tích trồng sắn lớn như Tây Ninh, Bình Phước… Mặt khác, dùnhu cầu tiêu thụ trên thế giới khá lớn nhưng đầu ra cho mặt hàng sắn của ViệtNam thực sự chưa ổn định, lại tập trung quá nhiều vào thị trường Trung Quốc.Thị trường này chiếm tới 90% tổng kim ngạch xuất khẩu sắ của Việt Nam.Nếu thị trường này giảm nhu cầu thì giá sắn có thể sẽ giảm mạnh và có nguy

cơ xảy ra tình trạng ế đọng sắn với khối lượng lớn như cuối năm trước

Từ thực trạng trên để cây sắn có thể phát triển một cách ổn định, bềnvững thì cần một số giải pháp như sau:

1 Cần phát triển thêm những nhà máy chế biến tinh bột ở các tỉnhtrong cả nước để thu mua sắn của bà con nông dân mỗi khi đến vụ thuhoạch,nhưng phải có hợp đồng rõ ràng giữa nhà máy và người dân, chứ khôngphải thu mua bừa bãi, chèn ép giá, mua với giá cả ổn định

2 Cần nghiên cứu chọn tạo ra nhiều giống sắn mới có năng suất cao,chất lượng tốt, để khuyến cáo cho bà con trồng, tăng sản lượng bằng cáchtăng năng suất, không nên tăng diện tích và kỹ thuật canh tác sắn bền vững đểđạt năng suất lợi nhuận cao và duy trì độ phì nhiêu của đất

3 Cần khuyến cáo người nông dân không mở rộng diện tích trồng sắn,không phá rừng làm nương rẫy, nếu tiếp tục phá rừng để trồng sắn thì sẽ đểlại hậu quả nghiêm trọng với đất, gây mất cân bằng sinh thái, làm ô nhiêmmôi trường sống và có thể xảy ra thiên tai, sẽ để lại hậu quả rất nặng nề Nếudiện tích vẫn tăng thì sẽ dẫn đến hiện tượng cung vượt quá cầu, như vậy giásắn sẽ thấp, người nông dân trồng sắn sẽ không có lãi Vì vậy, nên bố trí cáccây trồng khác phù hợp với điều kiện địa phương và thế mạnh của từng vùngsản xuất

Trang 29

4 Cần tìm hiểu và mở rộng thị trường nước ngoài để xuất khẩu, tránhhiện tượng phụ thuộc vào Trung Quốc, bị chèn ép giá và gây ra nhiều điềukiện bất lợi.

5 Cần xây dựng các nhà máy công nghiệp trong tương lai để sản xuất racác sản phẩm như rượu cồn, bánh, kẹo…Do vậy sẽ không phải bán nguyên liệusắn với giá rẻ cho thị trường nước ngoài nữa, mà có thể tạo ra sản phẩm cuốicùng vì giá trị thặng dư nằm ở sản phẩm cuối cùng Điều đó sẽ măng lại rấtnhiều lợi nhuận cho cả người trồng sắn và các nhà máy công nghiệp

6 Áp dụng kỹ thuật chế biến và phối hợp thực phẩm để nâng cao giá trịdinh dưỡng của các sản phẩm sắn

7 Ứng dụng dây chuyền công nghệ chế biến sắn hiện đại, tận dụng phếphụ phẩm để làm thức ăn gia súc, phân bón, thường xuyên đánh giá tác độngmôi trường

8 Quy hoạch sản xuất, chế biến và tiêu thụ sắn Hình thành và pháttriển chương trình sắn Việt Nam để liên kết mạng lưới hợp tác nghiên cứu,giảng dạy, khuyến nông, quản lý, đầu tư, sản xuất, kinh doanh, chế biến vàtiêu thụ sản phẩm sắn

Trên đây là một số giải pháp có thể thực hiện được trong tương lai đốivới cây sắn nói riêng và nhưng cây trồng nói chung, để một nước đang pháttriển như Việt Nam có một vị thế về nông nghiệp, được khẳng định trêntrường quốc tế, nhà nước cần đầu tư và quan tâm nhiều hơn nữa về nôngnghiệp để cuộc sống của người dân nâng cao hơn

1.3 Tình hình nghiên cứu về giống và thời điểm thu hoạch sắn trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Tình hình nghiên cứu về giống và thời điểm thu hoạch sắn trên thế giới

Cùng với việc sản xuất và tiêu thụ sắn thì việc nghiên cứu sắn trên thếgiới cũng ngày càng được quan tâm và phát triển mạnh Chính vì vậy mànhiều trung tâm nghiên cứu, chọn tạo giống sắn được ra đời

Trang 30

Trên thế giới, việc nghiên cứu giống sắn được thực hiện chủ yếu ởTrung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới CIAT tại Colombia, Viện quốc tếNông nghiệp nhiệt đới IITA tại Nigeria, cùng với các trường, Viện nghiêncứu quốc gia ở những nước trồng và tiêu thụ nhiều sắn, CIAT, IITA đã cónhững chương trình nghiên cứu rộng lớn đồng thời kết hợp chặt chẽ cácchương trình sắn của mỗi quốc gia để tiến hành thu thập, nhập nội, chọn tạo

và cải tiến giống sắn Mục tiêu của chiến lược cải tiến giống sắn được thayđổi tùy theo sự cần thiết và khả năng của từng chương trình quốc gia đối vớicông tác tập huấn, phân phối nguồn vật liệu giống ban đầu đã được điều tiếtbởi các chuyên gia chọn tạo giống sắn của CIAT

CIAT hiện có những nghiên cứu rất sâu về di truyền số lượng, ứng dụngcông nghệ sinh học trong chọn tạo, nhân giống và bảo tồn nguồn gen sắn, xâydựng bản đồ gen, ứng dụng di truyền phân tử và công nghệ chuyển gen để tạogiống sắn ngắn ngày, chất lượng cao, giàu protein, carotene và vitamin, đồngthời chọn ra những giống sắn kháng bệnh virus, bệnh héo vi khuẩn

(Xanthomonas manihotis), bệnh đốm nâu lá (Cercospora spp.), bệnh thán thư (Coletotrichum spp.), nhện (Tetranychus sp.), bọ phấn, rệp, sâu đục thân.

Tại Châu Mỹ Latinh, chương trình chọn tạo giống sắn của CIAT đã phốihợp với CLAYUCA và những chương trình sắn quốc gia của các nước Braxin,Colombia, Mehico… giới thiệu cho sản xuất ở các nước này những giống sắntốt như SM 133-4, CM 3435-3, SG 337-2, CG 489-31, Mcol 72, AM 273-23,MBRA 383… Do vậy đã góp phần đưa năng suất và sản lượng sắn trong vùngtăng lên một cách đáng kể (Aiyer, R.S and P.6 Nair, 1995) [11]

Ở Châu Á, các nhà chọn tạo giống sắn tham dự hội thảo sắn được tổchức tại Thái Lan tháng 11/1987 đã nhất trí xác định mục tiêu của các chươngtrình cải tiến giống sắn quốc gia là chọn tạo ra những giống sắn có năng suất

củ tươi và tỷ lệ tinh bột cao nhằm đáp ứng yêu cầu chế biến công nghiệp Mụctiêu cải tiến giống sắn của những quốc gia (Ấn Độ, Indonexia, Srilanca,…) có

Trang 31

nhu cầu cao về sử dụng sắn là lương thực là chọn tạo các giống sắn ngắn này

có năng suất cao, chất lượng tốt, hàm lượng axit cyanhydric (HCN) trong củthấp, thích hợp tiêu thụ tươi, dạng cây đẹp, có năng chống chịu với điều kiệnngoại cảnh bất thuận và sâu bệnh

Ấn Độ là nước ở Châu Á có năng suất sắn cao hàng đầu thế giới.Cơquan điều phối cải tiến giống sắn toàn Ấn Độ là Viện Nghiên cứu Cây có củ(CTCRI) ở Trivandrum của tiểu bang Kerala CTCRI đã thu thập, bảo quản,đánh giá 1.354 mẫu giống sắn và lai tạo được hàng chục nghìn hạt sắn laiphục vụ ch chương trình chọn tạo giống sắn mới Gần đây, Ấn Độ có 5 giốngsắn mới được nhà nước công nhận là giống quốc gia, trong đó giống SreePrakash có nhiều triển vọng đạt năng suất củ tươi cao (35-40 tấn/ha) và chốngchịu được bệnh khảm do nấm

Thái Lan là nước có nhiều chương trình chọn tạo giống sắn lớn nhấtChâu Á Những cơ quan nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống sắn hiện nay

là Trường Đại học Kasetsart (KU), Viện tinh bột Sắn Thái Lan (TTDI) vàViện Nghiên cứu cây trồng Thái Lan (FCRI) Tại trung tâm Nghiên cứu câytrồng Rayong (thuộc FCRI) mỗi năm có 15.000-20.000 hạt sắn lai F1 đượckhảo sát, đánh giá và tuyển chọn Những giống sắn mới năng suất cao Phẩmchất tốt được giới thiệu trong thời gian gần đây có Kasetsart 50, Rayong 72,Rayong 5, Rayong 90, Huay Bong 60, CMR 41-111-129

Chương trình cải tiến giống sắn của Trung Quốc được thực hiện tại họcViện Cây trồng Nhiệt đới Nam Trung Quốc (CATS), Viện Nghiên cứu Câytrồng Cận nhiệt đới Quảng Tây (GSCRI) Những giống sắn mới năng suất caotrong thời gian gần đây tại Trung Quốc có SC201, SC124, Nanzhi 188,GR911, GR891

Chương trình chọn tạo giống sắn của Indonexia được tập trung thựchiện tại trường Đại học Branijaya và Viện Nghiên cứu Cây lương thựcMarlang (MARIF) Năm 1978, hai giống sắn mới được đưa ra sản xuất là

Trang 32

Adira 1 và Adira 2, kế đó năm 1986 có giống Adira 4 Mới đây, MARIF công

bố một số giống sắn mới Marlang 1, Marlang 2, đồng thời đánh giá và tuyểnchọn từ 21.200 hạt lai F1 của CIAT được một số dòng có triển vọng đangđược khảo nghiệm rộng rãi (Theo A nn e k e M Fer m on t v à cs, 2005)[12]

CIAT cũng ước lượng diện tích sử dụng các giống sắn mới trên toànthế giới năm 2003 đạt khoảng 1,58 triệu ha ( Baker Peter 2009)[15], thì vùngChâu Mỹ 250 nghìn ha Châu Á 1,35 triệu ha trong đó: Thái Lan 1,1 triệu ha,Việt Nam 190 nghìn ha và Trung Quốc 40 nghìn ha Giống sắn mới đạt năngsuất cao và mang lại nhiều lợi nhuận cho các nông hộ

Tại Hội thảo sắn Quốc tế lần thứ Tám tổ chức tại Viên Chăn, Lào ngày

24 tháng 10 năm 2008 Các nhà khoa học đã xác định tương lai mới cho sắn ởChâu Á là làm thực, thức ăn gia súc và nhiên liệu sinh học có lợi cho ngườinghèo, mục tiêu là chọn tạo được những giống mới đáp ứng được yếu cầu sửdụng củ và lá sắn làm thức ăn gia súc, phát triển mới trong chế biến sắn, đặcbiệt là làm nhiên liệu sinh học, tinh bột biến tính, màng phủ sinh học, côngnghiệp thực phẩm (Cassava FAO Food Outlook December, 2009)[18]

Những nghiên cứu ở phía Đông đảo Java của Indonexia cho thấy thời vụtrồng sắn thích hợp là vào tháng 10-11 và khi bắt đầu mùa mưa từ tháng 7 đếntháng 10 Thời gian trồng dài hay ngắn phụ thuộc vào sự phân bố lượng mưa.Tại Thái Lan, theo tác giả Tonglum và công sự có hai khoảng thời giantrồng sắn thích hợp là vào tháng 5 và tháng 11, thời gian trồng và thu hoạch

có ảnh hưởng đến năng suất củ của các giống sắn Năng suất củ tăng tỷ lệthuận với thời gian thu hoạch từ 8 - 18 tháng sau trồng, nhưng nếu kéo dàithời gian thu hoạch của năm trước thì sẽ ảnh hưởng đến thời vụ trồng sắn nămsau Với các giống sắn khác nhau như: Rayong 2, Rayong 3 trồng và tháng 5

và thu hoạch 12 tháng sau trồng cho năng suất củ cao nhất Giống sắn Rayong

60 nếu trồng muộn vào tháng 6 năng suất củ sẽ giảm

Những nghiên cứu của viện nông nghiệp Nhiệt đới Nam Trung Quốccho thấy Thời gian trồng sắn thích hợp ở vùng Hoà Nam là vào đầu mùa

Trang 33

xuân từ tháng 2 đến tháng 4 vào thời gian thu hoạch sau khi trồng từ 10-12tháng Năng suất và hàm lượng chất khô trong củ thường tăng theo thời gianthu hoạch sau khi trồng ở vùng sắn Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam,thời gian thu hoạch vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau

Tại Ấn Độ, kết quả nghiên cứu của Mohankumar và cộng sự (1987)thực hiện tại Trivandrum, Kerala và Tamil Nađu cho thấy: Cây sắn có thểtrồng bất cứ thời điểm nào trong năm nếu chủ động được nước tưới Tuynhiên có hai thời vụ trồng sắn chính: Vụ 1 trồng từ tháng 4 - tháng 5, vụ 2trồng từ tháng 8 đến tháng 9 Hai thời vụ này có năng suất và chất lượng sắncao hơn so với trồng ở những thời vụ khác trong năm Bandara và cộng sự(1990) cho biết năng suất và hàm lượng chất khô chứa trong củ sắn biến độngtheo mùa và thời gian thu hoạch Thu hoạch sắn sau khi trồng 9 - 11 thángcho năng suất củ tươi, tỷ lệ tinh bột cao hơn so với thu hoạch sớm 6,5 thángsau trồng

Một số nghiên cứu khác tại ấn Độ và Philippine cho rằng tại nhữngvùng có mưa quanh năm có thể trồng sắn vào bất cứ thời điểm nào trong nămcòn ở những vùng có hai mùa mưa nắng rõ rệt thì nên trồng vào đầu hoặc cuối

vụ mưa Nếu trồng muộn hơn vào lúc mưa nhiều thì cây sắn sinh trưởng kéodài và nhiều sâu bệnh, dẫn đến giảm năng suất và chất lượng sắn Thời điểmthu hoạch sắn từ 9 - 12 tháng sau trồng đều không có sự khác biệt có ý nghĩa

Trang 34

(Trần Ngọc Ngoạn, 2007)[5].

Trang 35

Cây sắn được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỉ XVIII và cómặt ở miền Nam trước, sau đó mới đưa ra trồng ở miền Bắc và hiện nay sắnđược trồng rộng khắp trong cả nước (Trần Ngọc Ngoạn, 2007) [5].

Trước năm 1975 tại Viện khảo sát nông nghiệp Sài Gòn đã nhập nội,thu thập và khảo sát nguồn gen giống Ở miền Bắc, tác giả Đinh Văn Lữ cũngthực hiện một số thí nghiệm so sánh giống sắn và rút ra một số kết luận về tậpđoàn giống sắn

Trong giai đoạn 1976-1990, tại Viện Khoa học nông nghiệp miềnNam và trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Hưng Lộc đã thu th ập và đánhgiá các giống sắn địa phương kết quả đã chọn lọc và giới thiệu một số giốngmới để đưa ra sản xuất đại trà đó là HL23, HL24, HL20, những giống này cónăng suất cao hơn giống H34 Mì Gòn địa phương Tại miền Bắc từ 1980 -

1985, trường Đại học Nông Lâm Bắc Thái đã đánh giá 20 giống sắn địaphương và kết luận giống xanh Vĩnh Phú là giống địa phương tốt nhất miềnBắc (Trần Ngọc Ngoạn, 2007) [5]

Từ năm 1988, công tác nghiên cứu chọn giống sắn ở Việt Nam có quan

hệ chặt chẽ với CIAT Trong suốt 18 năm (1988-2005), chương trình sắn ViệtNam đã phối hợp với CIAT chọn lọc và phát triển hai giống sắn mới KM60

và KM94 ra sản xuất Đây là hai giống sắn có năng suất củ tươi cao (25-40tấn/ha) có tỷ lệ tinh bột cao (27-30%), thích hợp với chế biến tinh bột Cũng

từ 1993 trở lại đây nhiều nhà máy chế biến tinh bột sắn được xây dựng, câysắn đã chuyển sang hướng sản xuất hàng hóa Do đó các giống săn mới đã vàđang được phát triển mạnh ở cả hai miền Nam - Bắc.Việc giới thiệu và pháttriển hai giống sắn mới này vào sản xuất đã là một bước đột phá mới trongnghề trồng sắn ở Việt Nam

Với sự hợp tác của CIAT, chương trình sắn Việt Nam cũng đã tiếnhành đánh giá vào khoảng 30.000 hạt lai do CIAT/Colombia, CIAT/Thái Langiới thiệu và khoảng 7.000 hạt lai từ nguồn lai tạo trong nước hàng chụcdòng triển vọng tiếp tục được chọn ra từ nguồn vật liệu này như: KM98-1,KM98-5, KM98-3, KM98-7, KM140… Trong số những dòng này có nhữngdòng rất triển vọng vừa thích hợp chế biến, vừa có thể sử dụng sắn tươi

Trang 36

Trong giai đoạn 1991-2005, Việt Nam, CIAT, VEDAN và mạng lướiNghiên cứu sắn Châu Á đã hợp tác để đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu vfaphát triển sắn với mục tiêu là chọn tạo ra những giống sắn có năng suất củtươi và tỷ lệ tinh bột cao, phục vụ cho chế biến công nghiệp, đồng thời cũngtuyển chọn được những giống sắn ngắn ngày, đa dạng, thích hợp cho cả chếbiến công nghiệp cũng như nhu cầu về lương thực ở vùng sâu, vùng xa Do đó

đã tạo được bước đột phá quan trọng trong nghề trồng sắn của Việt Nam

Hiện nay mục tiêu của chương trình nghiên cải thiện di truyền sắn tạiViệt Nam là:

- Tăng tiềm năng năng suất, hàm lượng chất khô và hàm lượng tinh bột

- Rút ngắn thời gian thu hoạch

- Xác định các giống có năng suất cao phù hợp với từng khu vực vàvùng sinh thái khác nhau nhằm thúc đẩy sự hội nhập của các hệ thống canhtác nông hộ nhỏ

- Lựa chọn giống sắn tốt nhất cho sản xuất ethanol sinh học

Mà mục tiêu cụ thể của chương trình nhân giống sắn là để chọn và pháthành giống mới có năng suất cao từ 35-40 tấn/ha, hàm lượng tinh bột từ 27-30%, thời gian sinh trưởng và phát triển từ 8-10 tháng, cây mọc thẳng đứng,đốt ngắn, ít phân cành, tán nhỏ gọn, kích thước gốc, củ thống nhất và phù hợpcho chế biến nông nghiệp

Thực hiện mục tiêu trên hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu

về chọn tạo giống đạt kết quả tốt nhờ đó mà nhiều giống sắn mới được đưavào sản xuất như KM60, KM94, KM95, KM95 -3, SM937-26, KM98-1,KM98-5, KM98-7, KM140 đã thực sự mang lại lợi nhuận cao cho nôngdân trên diện rộng, chon nên tạo được công ăn việc làm và góp phần xóađói giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa miền núi, đồng thời tăng sức cạnhtranh của tinh bột sắn xuất khẩu và các sản phẩm khác chế biến từ sắntrên thị trường trong và ngoài nước (Hoàng Kim và cs, 2008) [7]

Trang 37

Những tiến bộ vượt bậc về công tác chọn tạo giống sắn trên thế giới và

ở Việt Nam đã khẳng định ý nghĩa quan trọng của phương pháp tuyển chọngiống sắn thích hợp theo vùng khí hậu, đất đai và tạo nguồn vật liệu khởi đầuphong phú để tạo nên sự đột phá về năng suất Công tác thực nghiệm tuyểnchọn giống sắn trên đồng ruộng chỉ có kết quả khi bảo đảm vững chắc được

cơ sở di truyền những tính trạng nông học Trong đó, năng suất củ tươi, chỉ sốthu hoạch có hệ số di truyền cao, tỷ lệ chất khô, tỷ lệ tinh bột có hệ số ditruyền thấp và ít biến động bởi điều kiện môi trường

Trang 38

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành với 5 giống sắn khác nhau, cụ thể gồm:

* So sánh 5 giống sắn mới tại Tuyên Quang:

TT Tên giống hiện tại Nguồn gốc/Cơ quan tuyển

chọn ban đầu

Mã số khảo nghiệm

2.2 Thời gian, địa điểm và điều kiện thực hiện đề tài

Thời gian: Ngày trồng 25/2/2013

Ngày thu hoạch: 25/12/2014 Đối với các giống tuyển chọnĐịa điểm: Tại thửa đất của hộ gia đình bà Nông Thị Xuân, thôn HồngTiến, xã Thượng Ấm, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu lựa chọn giống sắn mới có khả năng cho năng suất và chấtlượng cao phù hợp với điều kiện sinh thái vùng nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất và chất lượng của 2 giống sắn HL2004-28 và KM414

Trang 39

2.4 Phương pháp nghiên cứu

- Do số công thức không quá lớn nên thí nghiệm được bố trí theophương pháp thí nghiệm khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 3 lần nhắc lại.Sắp xếp các khối có kích thước bằng nhau và mỗi khối chứa tất cả các côngthức của một lần nhắc lại, nhằm giảm sai số trong thí nghiệm

Sơ đồ bố trí thí nghiệm tuyển chọn giống

Bón lót toàn bộ lượng phân chuồng + phân lân khi trồng

Bón thúc lần 1 sau trồng 45 ngày: ½ N + ½ K2O kết hợp làm cỏ lần1cho sắn, vun hàng

Bón thúc lần 2 sau trồng 90 ngày: ½ N + ½ K2O kết hợp làm cỏ, vun cao

Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định thời điểm thu hoạch với 2 giống sắn

HL2004-28 và giống KM 414

- Mỗi giống trồng 6 hàng, mỗi hàng 7 cây

Trong cùng một công thức: 6m x 7m = 42m2/ giống

- Diện tích ô: 42m2 x 2 giống = 84m2

- Tổng diện tích thí nghiệm = 1260m2

Trang 40

- Nghiên cứu thời điểm thu hoạch đối với hai giống sắn HL2004 - 28 và

KM414 tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

- Thời điểm thu hoạch lần thứ nhất ngày 5/10, 8 tháng sau trồng

- Thời điểm thu hoạch lần thứ hai ngày 5/11, 9 tháng sau trồng

- Thời điểm thu hoạch lần ba ngày 5/12, 10 tháng sau trồng

- Thời điểm thu hoạch lần thứ tư ngày 5/01, 11 tháng sau trồng

- Thời điểm thu hoạch lần thứ năm ngày 5/02, 12 tháng sau trồng

2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

+ Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây được xác định bằng cách 10 ngày

đo một lần, 5 cây/ô thí nghiệm theo đường chéo và được cố định bằng cọc tresau lấy số liệu trung bình ở mỗi giai đoạn sinh trưởng trong tháng

+ Tốc độ ra lá được xác định bằng phương pháp đánh dấu lá non 10ngày đo một lần, 5 cây/ô thí nghiệm theo đường chéo và được cố định bằngcọc tre sau lấy số liệu trung bình ở mỗi giai đoạn sinh trưởng trong tháng

+ Tuổi thọ lá được xác định bằng cách đánh dấu lá non mới được hìnhthành và phát triển đầy đủ đến khi lá chuyển sang màu vàng, 10 ngày theo dõimột lần, 5 cây/ ô thí nghiệm theo đường chéo và được cố định bằng cọc tre saulấy số liệu trung bình ở mỗi giai đoạn sinh trưởng trong tháng

* Theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất (đường kính củ, chiều dài củ,

số củ/gốc, khối lượng củ/gốc) và năng suất chất lượng 5 dòng, giống sắn

Ngày đăng: 30/01/2019, 21:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w