Do vậy trong các năm gần đây, bên cạnh phối hợp sắn và khẩu phần thức ăn hỗn hợp trong công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, việc nghieen cứu ủ chua sắn củ tươi phục vụ chăn nuôi lợn quy
Trang 1HOÀNG THỊ THU DUNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG
SẮN MỚI CÓ TRIỂN VỌNG TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG,
TỈNH THÁI NGUYÊN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Liên thông chính quy Chuyên ngành : Trồng trọt
Khóa học : 2013 - 2015
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2HOÀNG THỊ THU DUNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG
SẮN MỚI CÓ TRIỂN VỌNG TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG,
TỈNH THÁI NGUYÊN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Liên thông chính quy Chuyên ngành : Trồng trọt
Khóa học : 2013 - 2015 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Viết Hưng
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3mỗi người cán bộ khoa học kỹ thuật phải trang bị đầy đủ kỹ năng kiến thức không chỉ giỏi về lý thuyết mà còn phải vững về tay nghề Do vậy thực tập tốt nghiệp là giai đoạn quan trọng trong trương trình đào tạo cán bộ kỹ thuật của các trường đại học, cao đẳng Nó là bước đệm cần thiết cho mỗi sinh viên làm quen và gắn kết dần dần lý thuyết vào thực tiễn sản xuất Từ đó cũng tạo cho người kỹ sư tương lai có phẩm chất và năng lực làm việc tốt Góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển làm tăng năng suất thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Xuất phát từ những cơ sở trên, được sự giúp đỡ nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Nông học, trường Đại Học Nông Lâm Em được phân công thực hiện đề
tài “Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số giống sắn mới có triển vọng tại huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên”
Qua một thời gian thực tập đến đây em đã hoàn thành khóa luận nhân đây em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ban chủ nhiệm khoa, các thầy giáo, cô giáo trong khoa và đặc biệt em xin được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc, chân thành nhất tới thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Viết Hưng người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em hoàn thành tốt bài khóa luận này Mặc dù đã rất cố gắng song do điều kiện thời gian và trình độ chuyên môn còn hạn chế nên báo cáo của em không thể tránh khỏi những khuyết điểm thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, phê bình và bổ sung của các thầy cô và bạn bè để báo cáo của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Hoàng Thị Thu Dung
Trang 41.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 2
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa trong sản xuất 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 NGUỒN GỐC GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CÂY SẮN 3
2.1.1 Nguồn gốc 3
2.1.2 Giá trị kinh tế 4
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT SẮN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 6
2.2.1 Tình hình sản xuất sắn trên thế giới 6
2.2.2 Tình hình sản xuất sắn ở Việt Nam 9
2.2.3 Tình hình sản xuất sắn tại Thái Nguyên 16
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CHỌN TẠO GIỐNG SẮN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 16
2.3.1 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống sắn trên thế giới 16
2.3.2 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống sắn ở Việt Nam 18
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 21
3.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 21
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 21
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
Trang 5PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 ĐIỀU KIỆN THỜI TIẾT KHÍ HẬU 24
4.2 ĐẶC ĐIỂM SINHTRƯỞNG CỦA CÁC GIỐNG SẮN 26
4.2.1 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống sắn tham gia thí nghiệm26 4.2.2.Tốc độ ra lá của các giống sắn tham gia thí nghiệm 29
4.2.3 Tuổi thọ của các giống sắn tham gia thí nghiệm 31
4.2.4 Một số đặc điểm nông học của các giống sắn tham gia thí nghiệm 33 PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Đề nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 6ăn cho gia súc 5 Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới từ năm
1995 - 2012 6 Bảng 2.3: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của những châu lục trồng sắn
trên thế giới năm 2013 (sản lượng trên 1 triệu tấn) 8 Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam từ năm 1995
đến 2013 10 Bảng 2.5: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các vùng trong cả nước
năm 2012 12 Bảng 2.6 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Thái Nguyên giai đoạn từ
năm 2007- 2012 16 Bảng 4.1.Thời tiết khí hậu năm 2014 tại huyện Phú Lương 25 Bảng 4.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống sắn tham gia thí nghiệm 27 Bảng 4.3 Tốc độ ra lá của các giống sắn tham gia thí nghiệm 30 Bảng 4.4 Tuổi thọ lá của các giống sắn tham gia thí nghiệm 32 Bảng 4.5 Một số đặc điểm nông học của các giống sắn tham gia thí nghiệm 33
Trang 7thí nghiệm 28 Hình 4.2: Đồ thị tốc độ ra lá của các giống sắn tham gia thí nghiệm 30 Hình 4.3: Biểu đồ tuổi thọ lá của các giống sắn tham gia thí nghiệm 32 Hình 4.4: Biểu đồ đường kính gốc của các giống sắn tham gia thí nghiệm 34 Hình 4.5: Biểu đồ chiều cao cuối cùng của các giống sắn tham gia thí nghiệm 35 Hình 4.6: Biểu đồ tổng số lá trên cây của các giống sắn tham gia thí nghiệm 36
Trang 8CIAT : Trung tâm quốc tế nông nghiệp nhiệt đới FAO : Tổ chức nông nghiệp và lương thực thế giới IITA : Viện quốc tế nông nghiệp nhiệt đới
NSSVH : Năng suất sinh vật học
NSTB : Năng suất tinh bột
NLSH : Năng lượng sinh học
Trang 9500 triệu người trên thế giới, là nguồn thức ăn dồi dào cho nghành chăn nuôi và
là nguồn nguyên liệu cho một số nghành công nghiệp chế biến như: Tinh bột, bột ngọt, rượu cồn, bánh kẹo, mì ăn liền
Trên thế giới cây sắn được trồng ở 300 vĩ Nam đến 300 vĩ bắc ở các nước nhiệt đới thuộc các Châu như: Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Á Ngoài ra sắn là cây lương thực dẽ trồng có thể trồng trên những vùng đất nghèo kiệt không yêu cầu cao về điều kiện sinh thái và chăm sóc
Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng sau lúa và ngô Năm 2010 diện tích sắn toàn quốc là 496,10 nghìn ha, năng suất bình quân 17,18 tấn/ha, sản lượng là 8,522 nghìn tấn Cả nước hiện có hơn 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn, trong đó có 41 nhà máy đã đi vào hoạt động với tổng công suất 2,2 - 3,8 triệu tấn sắn củ tươi/năm Tổng sản lượng tinh bột sắn của Việt Nam hiện đạt
600 - 800 nghìn tấn, trong đó có khoảng 70% dành cho xuất khẩu và 30% tiêu thụ trong nước [11]
Để đáp ứng nguồn nguyên liệu hiện nay thì giống tốt cho năng suất cao, chất lượng tốt và thích ứng rộng đóng vai trò rất quan trọng Chính vì vậy các nhà khoa học trên thế giới và trong nước đang rất quan tâm đến công tác chọn lọc và cải tạo giống sắn mới có triển vọng và đáp ứng nhu cầu hiện nay Xuất phát từ thực tế đó
em tiến hành đề tài “ Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số giống sắn mới
có triển vọng tại Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên”
Trang 101.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của các giống sắn mới tham gia thí nghiệm 1.4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế tạo điều kiện cho sinh viên học hỏi thêm kiến thức cũng như kinh nghiệm trong sản xuất
- Trên cở sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đã giúp cho sinh viên nâng cao được chuyên môn, nắm được phương pháp và tổ chức tiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
1.4.2 Ý nghĩa trong sản xuất
Góp phần tìm ra giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt đưa vào sản xuất đại trà ở Thái Nguyên cũng như các tỉnh trung du miền núi phía Bắc
Trang 11
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 NGUỒN GỐC GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CÂY SẮN
2.1.1 Nguồn gốc
Cây sắn có tên khoa học là ( Manihot esculenta Crantzc)có hoa hạt kín, có
2 lá mầm và thuộc họ thầu dầu có tới hơn 300 chi và 8000 loài phân thành 17 nhóm, có bộ nhiễm sắc thể 2n = 36 (Roger và Appan, 1973) [5] Nhiều tài liệu cho biết cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của Châu Mỹ La Tinh (Crantz,1976) và được trồng cách đây khoảng 5000 năm (CIAT, 2004) [12] Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thuyết tại Đông Bắc Braxil thuộc lưu vực sông Amazon nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại (De Candolle 1886; Roger 1965) Trung tâm phân hoá phụ có thể tại Mexico, Trung Mỹ và ven biển phía bắc Nam Mỹ Bằng chứng là những di tích khảo cổ ở Venezuella niên đại 2700 năm trước công nguyên những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía Bắc Colombia niên đại 1200 năm trước công nguyên (Roger
1963, 1965) [10]
Hiện nay sắn được trồng trên 100 nước của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tập trung nhiều ở Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ là nguồn lương thực của hơn
500 triệu người (CIAT,2004) [12]
Cây sắn được du nhập vào Châu Á khoảng thế kỉ 17 (P.G Rajendra và M.Sikurajapathy, 1992) theo hai con đường: Thứ nhất vào Ấn Độ sau đó sang Trung Quốc, Myanmar, Philippin, Indonesia rồi lan dần sang các nước khác [6] Cuối thế kỉ 19 nghề trồng sắn mới trở nên quan trọng ở Châu Á
Cây sắn được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỉ 18 Sắn được canh tác phổ biến tại hầu hết các tỉnh của Việt Nam từ Bắc đến Nam Diện tích sắn trồng nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng núi và trung du phía Bắc và ven biển Nam Trung Bộ, ven biển Bắc Trung Bộ
Trang 122.1.2 Giá trị kinh tế
Cây sắn có giá trị kinh tế lớn về nhiều mặt Sắn là nguồn lương thực đáng
kể cho con người, là nguồn thức ăn dồi dao cho chăn nuôi, nguồn nguyên liệu cho công nghiệp Tất cả các bộ phận của cây sắn đều có thể sử dụng được vào các mục đích kinh tế
- Sử dụng sắn là thức ăn gia súc
Bên cạnh sử dụng làm lương thực và chế biến tinh bột phục vụ cho các nghành săn xuất công nghiệp, sắn còn là nguồn thứ ăn gia súc cho cả vùng nhiệt đới và ôn đới Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng sắn thay thế một phần ngũ cốc cho chăn nuôi [5]
Ở nước ta, sắn là nguồn thức ăn quan trọng trong chăn nuôi của các hộ gia đình Do vậy trong các năm gần đây, bên cạnh phối hợp sắn và khẩu phần thức
ăn hỗn hợp trong công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, việc nghieen cứu ủ chua sắn củ tươi phục vụ chăn nuôi lợn quy mô gia đình đã được chú ý và đã xây dựng thành quy trình kỹ thuật đang được nhiều hộ gia đình áp dụng vào chăn nuôi lợn khu vực miền trung.[5]
- Chế biến tinh bột son
Củ sắn là nguyên liệu để chế biến tinh bột và tinh bột biến tính Châu Á là lục địa chế biến và xuất khẩu sắn đứng đầu thế giới.[5]
- Sử dụng lá sắn
Lá sắn có nhiều chất dinh dưỡng có giá trị, khá đầy đủ các axitamin cần thiết Song trong lá có chứa một lượng đáng kể độc tố Sau khi phân giải giải phóng ra HCN gây độc cho người và gia súc dẫn đến hạn chế giá trị sử dụng của
lá sắn Lá sắn ngọt là một loại rau dối với Châu Phi, lá sắn được bó thành từng
bó nhỏ bán ở chợ như là một loại rau Ở Việt Nam, nhân dân ta dùng lá sắn non
để luộc ăn hoặc muối chua.[5]
Giá trị chủ yếu của lá sắn là nguồn thức ăn quý đối với chăn nuôi gia súc
và nuôi tằm Các công trình nghiên cứu gần đây về sử dụng lá sắn ủ chua cho
Trang 13chăn nuôi lợn là hướng đi có nhiều triển vọng đang được nông dân ở tỉnh Thừa Thiên – Huế và một số địa phương áp dụng.[5]
* Giá trị dinh dưỡng
Theo số liệu công bố của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới (FAO), hàm lượng dinh dưỡng trong củ sắn (tính trên 100 gam phần ăn được) như sau:
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng trong một số loại
cây trồng dùng làm thức ăn cho gia súc
Trang 14Qua số liệu ở bảng 2.1 ta thấy lượng vật chất khô của củ sắn cả vỏ, lá sắn,
bột lá sắn, bã sắn ướt đều cao hơn so với một số cây dùng làm thức ăn cho gia
súc khác Đặc biệt trong củ sắn cả vỏ có hàm lượng chất khô, Protein thô, xơ
thô, Canxi, Photpho và năng lượng trao đổi đều cao hơn hẳn so với các loại thức
ăn khác Điều này chứng tỏ thành phần dinh dưỡng trong củ sắn là rất cao, đáp
ứng được nhu cầu trong khẩu phần ăn của vật nuôi
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT SẮN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình sản xuất sắn trên thế giới
Cây sắn theo tổ chức Nông lương thế giới (FAO) xếp là cây lương thực
quan trong thứ 4 ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô, lúa mì Ngày nay
cây sắn được trồng rộng rãi ở 300 Bắc đến 300 Nam và được trồng ở trên 100
nước nhiệt đới thuộc ba châu lục lớn là châu Phi, châu Mĩ và châu Á Diện tích,
năng suất, sản lượng sắn trên thế giới được thể hiện ở bảng 2.2
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới
Trang 15Qua số liệu ở bảng 2.2 ta thấy năng suất và sản lượng sắn trên thế giới có chiều hướng gia tăng từ năm 1995 đến nay Về diện tích và sản lượng đạt cao nhất vào năm 2013 với diện tích 20,73 triệu ha và sản lượng cao nhất đạt 276,72 triệu tấn Năm 1995 diện tích trồng sắn trên toàn thế giới là 16,45 triệu tấn, sản lượng chỉ đạt 162,16 triệu tấn Đến năm 2011 diện tích đã tăng đạt 20,61 triệu
ha, sản lượng đạt là 262,75 triệu tấn Về năng suất sắn trên toàn thế giới cũng có
sự biến động gia tăng từ 9,85 tấn/ha vào năm 1995 lên 12,64 tấn/ha vào năm 2009,2010 và đến năm 2013 năng suất sắn trên toàn thế giới là 13,34 tấn/ha
Có được kết quả đó là do chiến lược phát triển lương thực toàn cầu đã thực
sự tôn vinh giá trị cây sắn, là một cây lương thực dễ trồng, thích hợp với đất nghèo dinh dưỡng và là cây công nghiệp có khả năng cạnh tranh cao với nhiều cây công nghiệp khác Ngoài ra mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với các nước đã phát triển là 20,5 triệu tấn Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu
là 176,3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53,4 triệu tấn Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98% và 0,95% Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nước châu Á, đặc biệt là các nước vùng Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện tích đứng thứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lượng đứng thứ ba sau lúa và mía Chiều hướng sản xuất sắn phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh cây trồng Giải pháp chính là tăng năng suất sắn bằng cách áp dụng giống mới và các biện pháp kỹ thuật tiên tiến
Hiện nay, trên thế giới có trên 100 nước trồng sắn thì Châu Phi là châu lục đứng đầu thế giới về sản lượng và diện tích chiếm 51,8%, sau đó là Châu Á 33,8%, Châu Mỹ chiếm 14,4% ( bảng 2.3)
Trang 16Bảng 2.3: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của những châu lục trồng
sắn trên thế giới năm 2013 (sản lượng trên 1 triệu tấn)
Âu (EU) trung bình 3 triệu tấn/năm, các nước này phần lớn là nhập khẩu sắn viên, sắn lát khô để làm thức ăn cho gia súc Đồng thời tinh bột sắn là một phần quan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ người trên thế giới (www.TTTA.Food market.2009)
Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol) Năm 2008, Trung Quốc đã sản xuất một triệu tấn ethanol, họ đã thoả thuận với một số quốc gia lân cận để cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất ethanol Tại Thái Lan, nhiều nhà máy sản xuất ethanol sử dụng sắn đã được xây dựng năm 2008 Indonesia đã lên kế hoạch sử dụng sắn sản xuất ethanol để pha vào xăng theo tỷ lệ bắt buộc 5% bắt
Trang 17đầu từ năm 2010 Các nước như Lào, Papua New Guinea, đảo quốc Fiji, Nigeria, Colombia và Uganda cũng đang nghiên cứu thử nghiệm cho sản xuất ethanol (TTTA.Outlook for 2009) Nhu cầu nhập khẩu sắn của nhiều nước trên thế giới tăng lên là những thị trường thuận lợi để giải quyết đầu ra cho các nước sản xuất sắn nói chung và Việt Nam nói riêng
Viện nghiên cứu Chính sách lương thực thế giới (IFPRI), đã tính toán và đưa ra dự báo về tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu đến năm 2020 sản lượng sắn toàn cầu ước đạt 275.10 triệu tấn, trong đó sản xuất sắn chủ yếu ở các nước đang phát triển là 274.7 triệu tấn, các nước phát triển là 0.40 triệu tấn Mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254.60 triệu tấn so với các nước phát triển là 20.5 triệu tấn Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176.3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53.4 triệu tấn Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98% và 0,95%
2.2.2 Tình hình sản xuất sắn ở Việt Nam
Cây sắn được du nhập vào Việt Nam vào khoảng giữa thế kỷ 18(Phạm Văn Biên - Hoàng Kim, 1991) Hiện chưa có tài liệu chắc chắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên Song đã từ lâu cây sắn trở thành cây có củ đứng hàng đầu về diện tích và sản lượng trong số các cây có củ ở nước ta
Việt Nam là một nước nông nghiệp với dân số trên 87 triệu người Hiện cả nước còn khoảng 5% hộ đói và 20% hộ nghèo Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo ở các tỉnh Trung Du và miền núi Ở miền Bắc, sắn được trồng trên vùng trung du và miền núi với diện tích khá lớn nhưng không tập trung, sản phẩm của sắn chủ yếu là sắn lát phơi khô hoặc tiêu thụ tươi cũng như chăn nuôi và một phần làm lương thực Cây sắn là một trong 4 cây lương thực chính, có vai trò quan trọng trong chiến lược an toàn lương thực quốc gia sau lúa và ngô Ở miền Bắc, sắn là nguồn lương thực và thức ăn gia súc quan trọng của các nông hộ sản xuất nhỏ Cây sắn được trồng ở trung du với
Trang 18diện tích khá lớn, nhưng chưa tập trung, sản phẩm chủ yếu là sắn lát phơi khô hoặc tiêu thụ tươi Từ năm 2002 đến nay, một số tỉnh miền Bắc như Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Phú Thọ, Bắc Kạn, Tuyên Quang cây sắn đã chuyển từ cây lương thực thực phẩm sang cây công nghiệp
Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn của Việt Nam trong những năm gần đây
có những bước tiến đáng kể Tại Việt Nam sắn được canh tác phổ biến ở hầu hết các tỉnh của các vùng sinh thái nông nghiệp Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Việt Nam trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.5
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam
Trang 19Qua số liệu ở bảng 2.5 cho thấy tình hình sản suất sắn qua các năm tăng cả
về diện tích, năng suất và sản lượng Năm 1995 có diện tích trồng sắn từ 227,40 nghìn ha, năm 2013 là 544,30 nghìn ha, tăng so với năm 1995 là 771,7 nghìn ha
và đánh dấu sự gia tăng năng suất từ 7,97 tấn/ha trong năm 1995 lên 17,89 tấn /ha vào năm 2013 Sản lượng sắn của nước ta năm 1995 chỉ đạt 1,81 triệu tấn, năm 2000 đạt 2,03 triệu tấn nhưng đến năm 2013 sản lượng sắn đã tăng lên đạt 89,74 triệu tấn, trong đó cao nhất là năm 2011 với 9,89 triệu tấn Trung bình mỗi năm tăng 38,15% (tương đương 0,59 triệu tấn)
Việt Nam đã đạt tiến bộ kỹ thuật nhanh nhất châu Á về chọn tạo và nhân giống sắn Tiến bộ này là do nhiều yếu tố mà yếu tố chính là thành tựu trong chọn tạo và nhân giống sắn lai Năng suất và sản lượng sắn của nhiều tỉnh đã tăng lên gấp đôi do trồng các giống sắn mới năng suất cao và áp dụng kỹ thuật canh tác sắn thích hợp, bền vững
Diện tích canh tác giống sắn mới toàn quốc hiện đạt trên 500.000 ha, chủ yếu là các giống KM94, KM140, KM98-5, KM98-1, SM937-26, KM98-7 Sắn lát và tinh bột sắn có lợi thế cạnh tranh cao và thị trường sắn là triển vọng Sự kết hợp giữa phát triển sản xuất và chế biến sắn làm tinh bột, thức ăn gia súc và làm cồn sinh học đã tạo ra nhiều việc làm, tăng xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và góp phần vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa một số khu vực nông thôn Tại Việt Nam cây sắn được coi là cây công nghiệp chính cung cấp nguồn nhiên liệu cho sản suất năng lượng sinh học Bộ Công thương đã hoàn thiện việc quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu cho năng lượng sinh học (NLSH) [1] Khi chương trình NLSH của Nhà nước vận hành, các nhà máy sản xuất ethanol
sẽ tiêu thụ một khối lượng sắn rất lớn Dự kiến năm 2012, sản xuất ethanol sẽ tiêu thụ 16% sản lượng sắn, năm 2015 chiếm 35%, năm 2020 chiếm 41%, đến năm 2025 chiếm 48% Các tính toán này dựa vào dự báo nhu cầu xăng tăng 8,5%/năm; năm 2012 áp dụng E5, năm 2015 áp dụng E10; sản lượng sắn tăng
Trang 205%/năm Sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp NLSH làm thay đổi kết cấu thị trường sắn Việt Nam theo hướng có lợi cho nông nghiệp và nông thôn [8].
Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu lớn thứ hai về các sản phẩm sắn sau Thái Lan với 2,00 - 4,00 triệu tấn sắn lát khô tương ứng khoảng 0,4 - 0,8 tấn tinh bột sắn xuất khẩu Đại lục Trung Quốc vẫn là nhà nhập khẩu sắn lớn nhất của Việt Nam và chiếm 90% thu nhập xuất khẩu của ngành công nghiệp Hàn Quốc
và Đài Loan là nước đứng thứ hai và thứ ba trong tốp các nhà nhập khẩu lớn nhất Nhu cầu đã tăng vọt, chủ yếu do nhu cầu từ Trung Quốc, trong đó sử dụng để sản xuất ethanol Tổng xuất khẩu của nước ta trong năm 2009 khoảng 4.000.000 tấn sắn lát khô xuất khẩu và hơn 350.000 tấn tinh bột sắn và bột mì Giá xuất khẩu sắn lát khô giảm xuống mức thấp 135 $/tấn vào đầu năm 2008, nhưng kể từ đó đã tăng lên từ 180 $ và 195 $/tấn trong cuối tháng 12 năm 2009 [1]
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của
các vùng trong cả nước năm 2012
(nghìn ha)
Năng suất(tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 21Việt Nam hiện sản xuất mỗi năm khoảng 800,000- 1,200,000 tấn tinh bột sắn, trong đó trên 70% xuất khẩu và gần 30% tiêu thụ trong nước Sản phẩm sắn xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là tinh bột, sắn lát và bột sắn Thị trường chính
là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapo, Hàn Quốc Đầu tư nhà máy chế biến bio-etanol là một hướng lớn triển vọng
Sản xuất lương thực là ngành trọng tâm và có thế mạnh của Việt Nam tầm nhìn đến năm 2020 Chính phủ Việt Nam chủ trương đẩy mạnh sản xuất lúa, ngô, và coi trọng việc sản xuất sắn, khoai lang ở những vùng, những vụ có điều kiện phát triển Thị trường xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn Việt Nam dự báo thuận lợi và có lợi thế cạnh tranh do có nhu cầu cao về chế biến bioethanol, bột ngọt, thức ăn gia súc và những sản phẩm tinh bột biến tính Diện tích sắn của Việt Nam dự kiến ổn định khoảng 450 nghìn ha nhưng sẽ tăng năng suất và sản lượng sắn bằng cách chọn tạo và phát triển các giống sắn tốt có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao, xây dựng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác sắn bền vững và thích hợp vùng sinh thái [8]
Ngoài ra trên cả nước cũng có trên 2000 cơ sở chế biến tinh bột sắn thủ công, bán cơ giới, quy mô vừa và nhỏ, nằm rải rác ở hầu hết các tỉnh trồng sắn nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam
Qua bảng số liệu 2.4 ta thấy cả nước sắn được trồng tập trung chủ yếu ở 4 vùng trồng sắn chính sau:
- Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ: Có diện tích sắn lớn nhất cả nước, trong những năm qua nhờ có các chính sách mở cửa cho phép các
tổ chức liên doanh đầu tư xây dựng mới nhiều nhà máy chế biến tinh bột sắn và quy hoạch vùng sản xuất sắn nguyên liệu nên diện tích sắn tăng mạnh trong những năm gần đây Năm 2012 diện tích sắn toàn vùng đạt 174,9 nghìn ha (chiếm 31,76% tổng diện tích sắn toàn quốc), năng suất 346,0 tạ/ha, sản lượng 3,027 triệu tấn củ tươi (chiếm 31,06% tổng sản lượng sắn toàn quốc) Diện tích
Trang 22tập trung tại một số tỉnh như: Thanh Hóa (vùng sắn huyện Như Xuân, Bá Phước, Quang Hóa, Lang Chánh và huyện Thường Xuân), Nghệ An (vùng sắn huyện Thanh Chương, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong), Hà Tĩnh (vùng sắn huyện
Kỳ Anh), Quảng Bình (vùng sắn huyện Tuyên Hóa, Lệ Thủy), Quảng Trị (vùng sắn huyện Hương Hóa, Vĩnh Linh, Cam Lộ), Thừa Thiên Huế (vùng sắn huyện Phú vang, Phong Điền, A Lưới), Quảng Nam (vùng sắn huyện Quế Sơn, Thăng Bình, núi Thành), Quảng Ngãi (vùng sắn huyện Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Sơn Hà), Bình Định (vùng sắn huyện Phù Cát, Tây Sơn, Vân Canh) và Phú Yên (vùng sắn huyện Đồng Xuân, Sông Hinh và Tuy Hòa), (http://www.moit.gov.vn) [9]
- Vùng Tây Nguyên: Có diện tích sắn lớn thứ 2 cả nước, với ưu thế về điều kiện tự nhiên và con người, diện tích sắn liên tục tăng mạnh trong thời gian qua Năm 2012, diện tích sắn toàn vùng đạt 149,5 nghìn ha (chiếm 27,16% diện tích toàn quốc), năng suất 170,0 tạ/ha, sản lượng ước đạt trên 2,5 triệu tấn củ tươi (chiếm 26,08% tổng sản lượng sắn toàn quốc) Diện tích tập trung tại một số tỉnh: Kon Tum (vùng sắn huyện Đắk Tô, Đắk Hà, Ngọc Hồi và Sa Thầy), Gia Lai (vùng sắn huyện An Khê, Măng Yang, Chư Prông, Krông Pa và Đức Cơ), Đắc Lắc (vùng sắn huyện Ea Kar, MDrăk, Đăk Song, Đăk Lấp, Đăk Nông và Krông Bông), (http://www.moit.gov.vn) [9]
- Vùng Đông Nam Bộ: là vùng có NSTB cao thứ 2 toàn quốc, diện tích tăng liên tục trong thời gian qua, đặc biệt từ năm 2000 đến nay do nhu cầu sắn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến tinh bột tăng cao, việc đầu tư thâm canh cây sắn đã mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn một số cây trồng khác trong cùng điều kiện như mía, lúa 1 vụ…, người trồng sắn đã bắt đầu có tích lũy và làm giàu nhờ nghề trồng sắn Năm 2012 diện tích toàn vùng đạt 96,0 nghìn ha (chiếm 17,4% diện tích toàn quốc), năng suất 258,9 tạ/ha, sản lượng đạt 2,485 triệu tấn củ tươi (chiếm 25,5% tổng sản lượng toàn quốc) Diện tích tại một số tỉnh như: Tây Ninh (vùng sắn ở
Trang 23huyện Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu và Châu Thành), Đồng Nai (vùng sắn ở huyện Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Đông Phú, Phước Long, Lộc Ninh, Bù Đăng và Bình Long), Bà Rịa - Vũng Tàu (vùng sắn huyện Xuyên Mộc), Bình Thuận (vùng sắn huyện Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Tánh Linh, Hàm Tân và Đức Linh), Ninh Thuận (vùng sắn ở huyện Bắc Ái), (http://www.moit.gov.vn) [9]
- Vùng Trung du miền núi phía Bắc: có lịch sử phát triển cây sắn từ lâu đời, đây là vùng có đầy đủ lợi thế về phát triển sắn, đã có thời điểm diện tích gieo trồng toàn vùng chiếm tới gần 50% diện tích sản lượng cả nước, tuy nhiên vùng Trung du miền núi phía Bắc phát triển chậm hơn so với vùng Đông Nam Bộ là do năng lực chế biến phát triển chậm, đồng thời sản xuất sắn gặp nhiều điều kiện hạn chế do điều kiện khí hậu, đất dốc, giao thông khó khăn Năm 2012, diện tích toàn vùng đạt 117,0 nghìn ha (chiếm 21,25% tổng diện tích sắn toàn quốc), năng suất đạt trên 127,1 tạ/ha, sản lượng 1,4865 triệu tấn củ tươi (chiếm 15,25% tổng sản lượng sắn toàn quốc) Sắn được trồng trên các chân đất đồi có độ dốc trên 100 là chủ yếu và trồng theo vùng nguyên liệu, diện tích trồng tập trung chủ yếu tại các tỉnh Yên Bái (vùng sắn Văn Yên, Yên Bình), Phú Thọ (vùng sắn Phù Ninh, Thanh Ba, Thanh Sơn, Yên Lập), Hòa Bình (vùng sắn Lạc Sơn, Kim Bôi, Đà Bắc, Tân Lạc), (http://www.moit.gov.vn) [9]
Mặc dù ngành chế biến sắn của Việt Nam còn non trẻ nhưng các nhà máy chế biến tinh bột sắn của Việt Nam đều khá hiện đại nên sắn Việt Nam có lợi thế cạnh tranh cao và có nhu cầu thị trường Ngoài sản phẩm tinh bột sắn thì sắn lát khô cũng là một mặt hàng quan trọng và có nhu cầu cao Thị trường xuất khẩu sắn lát khô của Việt Nam chủ yếu là Trung Quốc Theo thống kê chưa đầy đủ, năm 2003- 2004 Việt Nam đã xuất khẩu sang Trung Quốc khoảng trên 328,000 tấn sắn lát Giá sắn của Việt Nam khá cạnh tranh so với giá sắn của các nước sản xuất trong khu vực và thế giới [5]