Việc nghiên cứu, hoạch định chính sách, chiến lược để nâng caohiệu quả trong việc thúc đẩy tiếp nhận và ứng dụng công nghệ tiên tiến nướcngoài vào sản xuất trong nước cũng như việc triển
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN HẢI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ rang và được trích dẫn đầy đủ theo đúng quy định
TÁC GIẢ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 4
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án 5
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 6
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 7
7 Kết cấu của luận án 8
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 9
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và ở ngoài nước 9
1.2 Cơ sở lý thuyết 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT 28
VỀ DỊCH VỤ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 28
2.1 Khái niệm về dịch vụ chuyển giao công nghệ 28
2.2 Nội dung của dịch vụ chuyển giao công nghệ 50
2.3 Các yếu tô pháp lý điều chỉnh hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ 59 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
Chương 3 68
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM 68
3.1 Sự hình thành chế dịnh pháp lý về dịch vụ chuyển giao công nghệ 68 3.2 Thực trạng các quy định hiện hành về dịch vụ chuyển giao công nghệ 83
Trang 53.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ 863.4 Những vấn đề đặt ra trong thực tiễn thực hiện pháp luật dịch vụ chuyểngiao công nghệ 1043.5 Một số bài học đặt ra cho Việt Nam nhằm thúc đẩy hoạt động dịch vụchuyển giao công nghệ 110
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 113 Chương 4 GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ THÚC ĐẨY DỊCH VỤ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM 114
4.1 Phương hướng triển khai thực hiện pháp luật về dịch vụ chuyển giaocông nghệ 1144.2 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật và thể chế, tạo lập môi trườngthuận lợi cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ CGCN 1234.3 Giải pháp thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ 1284.4 Các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dịch
vụ chuyển giao công nghệ 135
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 144 KẾT LUẬN 145 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 147 TÀI LIỆU THAM KHẢO 148
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APCTT : Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á - Thái Bình Dương ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast
Asian Nations) ATTO : Tổ chức chuyển giao công nghệ Châu Á
CIEM : Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
DVKH&CN : Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ
ESCAP : Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương
(Economic and Social Commission for Asia and the Pacific) FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment) GERD : Tổng chi quốc gia cho nghiên cứu và phát triển
IRR : Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (Internal Rate Of Return)
KH&CN : Khoa học và Công nghệ
KH&KT : Khoa học và kỹ thuật
KHCNVN : Khoa học công nghệ Việt Nam
KHXH&NV : Khoa học Xã hội và Nhân văn
KTTC : Trung tâm Chuyển giao công nghệ Hàn Quốc
NATIF : Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia
NC&PT : Nghiên cứu và phát triển
Trang 7PTNTĐQG : Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia
R&BD : Nghiên cứu phát triển & kinh doanh
R&D : Nghiên cứu và phát triển
SPIN-OFF : Doanh nghiệp khởi nghiệp của trường đại học, viện nghiên cứu
TBT : Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Technical Barriers to Trade) TIC : Trung tâm đổi mới công nghệ (Technology Innovation Center) TLO : Văn phòng Chuyển giao công nghệ (Technology Licensing Office)
TTO : Trung tâm Chuyển giao công nghệ (Technology Transfer Center
hoặc Technology Transfer Office) UNCTAD : Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (United
Nation Conference on Trade and Development) UNDP : Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
(United Nations Educational Scientific and Cultural Organization) UNIDO : Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc
VTRS : Bộ tiêu chí đánh giá công nghệ Việt Nam
WIPO : Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property
Organization)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Thống kê tổ chức dịch vụ CGCN công lập theo các lĩnh vực 88Bảng 3.2: Số liệu theo dõi Hợp đồng CGCN từ 2007 đến 2015 97Bảng 3.3: Hợp đồng CGCN đăng ký tại các địa phương 98
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Tiêu chí chất lượng dịch vụ 35Hình 3.1: Phân bố các tổ chức DỊCH vụ khoa học và công nghệ theo vùng
địa lý 90Hình 3.2: Thực trạng các loại hình dịch vụ được cung cấp bởi các tổ chức
dịch vụ CGCN 91Hình 3.3: Tỷ lệ cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực
[44] 92
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc cách mạng công nghiệp, khoa học kỹ thuật từ cuối thế kỷ XIXđến thế kỷ XX đã trở thành dấu ấn quan trọng, là cột mốc quan trọng nhấttrong lịch sử phát triển của thế giới Với vai trò là động lực của sự phát triển,cuộc cách mạng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ đã tác động mạnh mẽtới định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các quốc gia trên thế giới,nền tảng của cuộc cách mạng này là những phát kiến và những đổi mới côngnghệ có tính đột phá trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học và côngnghệ, công nghiệp diễn ra trong suốt thế kỷ XX vừa qua Bước sang thế kỷXXI, khoa học và công nghệ đã trở thành động lực phát triển hàng đầu củanhiều quốc gia và dân tộc trên thế giới với cuộc cách mạng số, cách mạngcông nghiệp lần thứ tư đang diễn ra từ những năm 2000 Sau khi đưa tư duycủa con người vào trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học
và công nghệ đã trở thành lực lượng dẫn đường và là lực lượng sản xuất trựctiếp của nền kinh tế toàn cầu hóa
Ở Việt Nam, sau 30 năm đổi mới, nền kinh tế đất nước đã phá vỡ được
sự trì trệ, phát huy năng lực lao động, sáng tạo mạnh mẽ và dồi dào của conngười Việt Nam Nước ta đã giành được những thành tựu to lớn và rất quantrọng làm cho thế và lực của đất nước không ngừng tăng lên Trong thànhcông đó, không thể không kể đến yếu tố đóng góp quan trọng của khoa học vàcông nghệ Nhận thức rõ vai trò này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng đã xác định “khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình
Trang 11độ tiên tiến của thế giới” Cụ thể hóa các quan điểm của Đảng, Chiến lược
phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 cũng nhấn mạnh,
“Phát triển khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững Khoa học và công nghệ phải đóng vai trò chủ đạo để tạo bước phát triển đột phá về lực lượng sản xuất, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [ 37 ]
Trên cơ sở những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, nềnkhoa học và công nghệ nước nhà đã có những bước tiến tích cực, gắn bó hơnvới sản xuất và đời sống Tuy nhiên, đứng trước bối cảnh toàn cầu hóa và hộinhập kinh tế quốc tế, nền khoa học và công nghệ nước ta vẫn còn khoảng cáchkhá xa so với các nước phát triển, chưa tạo ra được những năng lực khoa học
và công nghệ cần thiết để thực sự trở thành nền tảng và động lực cho tiếntrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trình độ công nghệ của nước tacòn thấp, chậm được đổi mới trong nhiều ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
và quản lý Sản phẩm nghiên cứu khoa học và công nghệ trong nước chưanhiều, tỷ lệ ứng dụng vào sản xuất và đới sống còn thấp, tình trạng nhập khẩucác thiết bị, công nghệ lạc hậu, không đồng bộ, kém hiệu quả ảnh hưởng xấuđến nǎng xuất lao động Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tuy tǎng về sốlượng, nhưng tỷ lệ trên số dân còn thấp so với các nước trong khu vực, chấtlượng chưa cao, còn thiếu nhiều cán bộ đầu nghành, chuyên gia giỏi, đặc biệt
là các chuyên gia về công nghệ Quan trọng nhất, khoảng cách từ việc nghiêncứu đến ứng dụng trong thực tiễn còn lớn, việc tiếp nhận công nghệ tiên tiếncủa nước ngoài chưa có bước phát triển xứng tầm Trước bối cảnh đó, việcphát triển thị trường, dịch vụ chuyển giao công nghệ là một nhu cầu tất yếu vàkhách quan
Trang 12Dịch vụ chuyển giao công nghệ là một khái niệm đã xuất hiện gần đây,nhưng đã nhanh chóng trở thành vấn đề thời sự, được nhiều nhà nghiên cứuquan tâm, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế trên toàn cầu,đặc biệt là đối với những nước đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoánhư nước ta Việc nghiên cứu, hoạch định chính sách, chiến lược để nâng caohiệu quả trong việc thúc đẩy tiếp nhận và ứng dụng công nghệ tiên tiến nướcngoài vào sản xuất trong nước cũng như việc triển khai đưa công nghệ trongnước vào thực tiễn sản xuất ở từng ngành, từng lĩnh vực và từng khâu trongquy trình hoạt động sản xuất được coi là khâu then chốt bảo đảm sự phát triểnnhanh và bền vững của đất nước.
Mục đích lớn nhất khi nghiên cứu đề tài “Dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là luận giải được những vấn đề lý
luận và thực tiễn cơ bản trong chính sách, pháp luật về dịch vụ chuyển giaocông nghệ tại Việt Nam nhằm nhận thức được đầy đủ hơn những ưu điểm vàtồn tại của pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ từ đó đề xuất tiếp tụchoàn thiệncác quy định tương ứng trong pháp luật Việt Nam hiện hành trongthực tiễn, thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ trong thời gian tới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài luận án cần thực hiện được các
Trang 13nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Thứ nhất, trên cơ sở các luận điểm khoa học phân tích sự cần thiết phải
nghiên cứu về dịch vụ chuyển giao công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hóa vàhội nhập quốc tế hiện nay
Thứ hai, nghiên cứu hệ thống quan điểm, quan niệm khoa học trên bình
diện quốc tế cũng như của các tác giả Việt Nam, từ đó làm rõ những vấn đề lýluận chung về dịch vụ chuyển giao công nghệ;
Thứ ba, làm sáng tỏ nội dung những quy định hiện hành của pháp luật
về dịch vụ chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, đồng thời phân tích những ưuđiểm và hạn chế của quy định hiện hành về dịch vụ chuyển giao công nghệ ởViệt Nam
Thứ tư, nghiên cứu đề xuất giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về
dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, thúc đẩy hiệu quả hoạt dộng dịch
vụ chuyển giao công nghệ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm khoa học và nhữngquy định của pháp luật hiện hành về dịch vụ chuyển giao công nghệ, một số
vụ việc điển hình về triển khai dịch vụ chuyển giao công nghệ ở nước ta trongcác lĩnh vực khác nhau
Về mặt nội dung: Luận án nghiên cứu, được tiếp cận dưới góc độ
Luật kinh tế.
Về thời gian: Luận án sử dụng số liệu nghiên cứu trong vòng 10
năm, từ năm 2007 đến năm 2017.
Về không gian: Luận án được thực hiện trên phạm vi các tỉnh phía Bắc
Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận án
Do đây là một đề tài rộng lớn và phức tạp nên tác giả chỉ thực hiện luận
án này trong phạm vi những vấn đề được nhìn nhận từ góc độ pháp luật vềdịch vụ chuyển giao công nghệ, mà không tập trung nghiên cứu khía cạnh
Trang 14kinh tế thuần túy của chuyển giao công nghệ.
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Các phương pháp chung được tác giả Luận án áp dụng để nghiên cứu là:
- Phương pháp nghiên cứu và lý luận về luật học thực định
- Phương pháp phân tích: được sử dụng để luận giải những vấn đề lýluận cơ bản của dịch vụ chuyển giao công nghệ, phân tích các nội dung cơbản của sáu loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệ và hiệu quả của chínhsách, pháp luật hiện hành trong việc thúc đẩy các dịch vụ chuyển giao côngnghệ phát triển
- Phương pháp điều tra xã hội học
Để hoàn thành Chương 3 của Luận án, này, phương pháp điều tra thựcđịa được sử dụng để tiếp cận trực tiếp đối tượng điều tra nhằm thu thập các thông tin về nhu cầu và thực trạng cung cấp dịch vụ CGCN
+ Địa bàn điều tra: Nghiên cứu được tác giả thực hiện tại 2 địa bàntương ứng với 2 tỉnh/thành phố (Thái Nguyên, Hà Nội)
+ Dung lượng mẫu: 350
+ Đối tượng điều tra thu thập thông tin: bao gồm 100 cán bộ quản lýcông nghệ từ Trung ương đến địa phương; 100 chủ sở hữu công nghệ; 100chủ thể tiếp nhận công nghệ; 50 chủ thể cung cấp dịch vụ chuyển giaocông nghệ
+ Công cụ điều tra: bao gồm 04 bảng hỏi định lượng có cấu trúc và 04bảng hỏi phỏng vấn sâu bán cấu trúc tương ứng với 4 nhóm đối tượng khảosát (xem Phụ lục 01 của Luận án)
Trang 155 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Những vấn đề mà luận án kế thừa
Những công trình khoa học nêu trên đã phản ánh được trạng thái, xuhướng cũng như quy mô của các nghiên cứu về lĩnh vực dịch vụ chuyển giaocông nghệ tại Việt Nam Từ đó, có thể đưa đến một số kết luận chung đánhgiá về những ưu điểm, kết quả đã được làm rõ mà tác giả luận án sẽ tiếp tục
Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
- Nghiên cứu để làm rõ hơn nội hàm khái niệm và nội dung pháp luật
về dịch vụ chuyển giao công nghệ mới chỉ được quy định một cách khái quáttrong Luật chuyển giao công nghệ, nhưng chưa được cụ thể hóa trong các vănbản dưới luật
- Tiếp tục nghiên cứu đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, chủ yếu làLuật chuyển giao công nghệ trong thực tiễn, phân tích những ưu điểm và hạnchế trong thực tiến triển khai các dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, bên cạnh giải pháp về tiếptục hoàn thiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ, luận án tập trung
đề xuất một số giải pháp, kiến nghị còn chưa được đề cập hoặc đã đề cập với
Trang 16dung lượng rất hạn chế trong các công trình trước, nhằm góp phần thúc đẩydịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam trong thời gian tới.
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
6.1 Về mặt khoa học
Luận án này sẽ góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận vàthực tiễn về dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay;thông qua việc đánh giá toàn diện về pháp luật và quá trình thực hiện các quyđịnh pháp luật liên quan đến dịch vụ chuyển giao công nghệ, Luận án chỉ ranhững thành công và hạn chế của pháp luật nước ta điều chỉnh lĩnh vực này vànguyên nhân của những hạn chế đó, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thểnhằm đưa Luật chuyển giao công nghệ ở Việt Nam vào thực tiễn thông quaviệc kiến nghị xấy dựng một số văn bản dưới luật cụ thể hóa về hỗ trợ các chủthể cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ
6.2 Về mặt thực tiễn
Nội dung của luận án là cơ sở cho các cơ quan lập pháp xem xét, sửađổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật về dịch vụ chuyển giaocông nghệ Hiện nay, do pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ của ViệtNam chưa điều chỉnh có hiệu quả được lĩnh vực này, dẫn đến lãng phí cơ sở
dữ liệu thông tin KH&CN, khó khăn trong việc quản lý kiểm định, giám định,định giá công nghệ, thiếu các hoạt động, hỗ trợ về đánh giá, cảnh báo côngnghệ, tính liên kết giữa các đơn vị cung cấp dịch vụ CGCN với nhau và với cơquan quản lý chưa cao, thiếu nguồn nhân lực quản lý và phát triển dịch vụchuyển giao công nghệ, chưa có hình thức chế tài phù hợp đối với những viphạm trong các dịch vụ CGCN Luận án góp phần đáp ứng yêu cầu xây dựng,phát triển thị trường khoa học và công nghệ trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế, cần có định hướng và giải pháp cụ thể như: Xây dựng khung pháp lýcho sự hình thành và phát triển thị trường khoa học và công nghệ phù hợpđiều kiện của Việt Nam và thông lệ thế giới; thúc đẩy chuyển giao công nghệ,
Trang 17phát triển dịch vụ môi giới, tư vấn chuyển giao công nghệ, dịch vụ đánh giá,định giá, giám định công nghệ, dịch vụ xúc tiến chuyển giao công nghệ.
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, những côngtrình nghiên cứu liên quan đến luận án đã được công bố; phân nội dung củaluận án được kết cấu gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên
cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận và pháp luật về dịch vụ chuyển giao
công nghệ
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về dịch vụ
chuyển giao công nghệ tại Việt Nam
Chương 4: Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về dịch vụ chuyển
giao công nghệ và thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ tại Việt Nam
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và ở ngoài nước
1.1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về chuyển giao công nghệ và dịch vụ chuyển giao công nghệ
- Khái niệm chuyển giao công nghệ đã được khá nhiều tổ chức và cánhân nghiên cứu Trong Báo cáo đề tài khoa học của Viện quản lý khoa học,
tác giả Trần Ngọc Ca [06] báo cáo về “Chuyển giao công nghệ vào Việt Nam”
đã nêu lên những kênh chuyển giao công nghệ và tầm quan trọng của hoạt
động chuyển giao công nghệ, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nềnkinh tế Bên cạnh đó, tác giả đã đề cập đến mục tiêu thu hút công nghệ,chuyển giao công nghệ vào khu vực kinh tế trong nước đã đạt được một số kếtquả, song chưa được như mục tiêu đề ra Tác giả đề cập đến các giải pháp cóliên quan nhằm đẩy mạnh chính sách ưu đãi các dự án công nghệ cao đủ hấpdẫn, đồng thời, chuẩn bị nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận và làm chủcông nghệ mới, góp phần vào mục tiêu chung của đất nước
Cuốn sách “Công nghệ và chuyển giao công nghệ””, của các tác giả
Phan Xuân Dũng; TS Trần Văn Tùng, ThS Phạm Hữu Duệ [40] là một côngtrình khoa học được chuẩn bị công phu, có nhiều điểm mới, có ý nghĩa về cả
lý luận và thực tiễn Với bốn chương trình bày một cách logic và khoa học,sách đã thể hiện được những nội dung chính về công nghệ và chuyển giaocông nghệ (CGCN), là một đề tài rất quan trọng của KH&CN, là quốc sáchhàng đầu của mỗi một quốc gia muốn phát triển, trong đó có Việt Nam trongphần thực trạng CGCN ở Việt Nam, để tạo điều kiện cho hoạt động chuyểngiao thuận lợi, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hàng loạt cơ chế chính sáchmới, đã mang lại một số kết quả ứng dụng tích cực Một số doanh nghiệp đã
Trang 19có kết quả tốt trong ứng dụng và và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam hiệnnay cũng sẽ là những bài học kinh nghiệm hữu ích cho các doanh nghiệpKH&CN trong quá trình chuyển giao của mình.
Nhóm tác giả đã xác định cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn
ra trên thế giới đang tác động mạnh mẽ lên nước ta Đây chính là cơ hội rấtquý giá mà Việt Nam có thể thay đổi vị thế đất nước, thu hẹp khoảng cáchphát triển giữa các quốc gia
Quan niệm tương tự về chuyển giao công nghệ cũng được các tác giả
phân tích trong “Cẩm nang chuyển giao công nghệ ở các nước Châu Á – Thái Bình Dương”[15] do Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á - Thái
Bình Dương (APCTT) thực hiện công trình nghiên cứu về những cơ sở banđầu của việc thực hiện chuyển giao công nghệ ở các nước đang phát triển.Cẩm nang đã khai thác các khía cạnh chuyển giao công nghệ của một số nước
đi trước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và cung cấp các điềukhoản hợp đồng để các nước đang chuẩn bị thực hiện chuyển giao công nghệ
có thể học tập được kinh nghiệm Tác giả đã trình bày phương pháp nhằm thuhẹp khoảng cách công nghệ đó là việc thực hiện soạn thảo hợp đồng khi tiếnhành chuyển giao công nghệ, với nhiều thông tin gợi ý được dẫn từ kinhnghiệm, cả tích cực và tiêu cực của các doanh nhân và quan chức chính phủtrong khu vực
Liên quan đến phát triển thị trường khoa học và công nghệ, tác giả
Nguyễn Thị Hường [22] chia sẻ trong ấn phẩm “Hoạt động ươm tạo doanh nghiệp trong các trường đại học Việt Nam) Tác giả đề cập một số nội dung
chủ yếu nhằm phát triển thị trường khoa học và công nghệ bao gồm: Chươngtrình phát triển thị trường khoa học và công nghệ trong các trường đại họcViệt Nam nhằm thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường khoa học và công
Trang 20nghệ; tập trung phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng, nguồn nhân lực và cácthiết chế hệ trung gian của thị trường khoa học và công nghệ nhằm nâng caohiệu quả hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ; thúc đẩy quan hệ cung,cầu đối với các sản phẩm và dịch vụ khoa học và công nghệ Đồng thời đẩymạnh xã hội hóa, phát huy vai trò chủ thể trung tâm của doanh nghiệp, nhất làdoanh nghiệp khoa học và công nghệ trong các cơ sở đào tạo để phát triển thịtrường khoa học và công nghệ.
Ở một khía cạnh khác, chuyển giao công nghệ qua đầu tư trực tiếp
nước ngoài, tác giả Nguyễn Anh Tuấn với bài viết “Chuyển giao công nghệ qua FDI: thực tiễn ở một số nước đang phát triển và Việt Nam”, đã phân
tích mối quan hệ giữa chuyển giao công nghệ và FDI thông qua việc tổnghợp, phân tích tác động của FDI với chuyển giao công nghệ và khảo sát thựctiễn chuyển giao công nghệ tại các nước đang phát triển Tác giả đã đưa ranhận xét chuyển giao công nghệ qua FDI không chỉ mang lại lợi nhuận chobên chuyển giao mà còn phục vụ lợi ích kinh tế cho cả bên tiếp nhận Đồngthời, tác giả cũng lưu ý các nước đang phát triển nếu không tự tiến hành hoạtđộng nghiên cứu và phát triển (R&D) thì vẫn chịu sự chi phối, quyết định củacác nhà đầu tư nước ngoài Trên cơ sở các phân tích như vậy, bài báo có đềxuất, kiến nghị để tăng hiệu quả việc chuyển giao công nghệ qua FDI ở ViệtNam, trong đó tập trung nhấn mạnh vào giải pháp tăng cường năng lực tiếpnhận công nghệ của các doanh nghiệp ở Việt Nam
Năm 2010, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức hội nghị “Thực hiện Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 2001-2010, đánh giá kết quả hoạt động khoa học và công nghệ 2006-2010 và định hướng nhiệm vụ
2011-2015” Báo cáo đánh giá việc thực hiện Chiến lược phát triển khoa học
và công nghệ Việt Nam 2001-2010, kết quả hoạt động khoa học và công nghệgiai đoạn đến năm 2010 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và
Trang 21công nghệ chủ yếu giai đoạn tới năm 2015 Bên cạnh đó, báo cáo đã chỉ ranhững đóng góp quan trọng của khoa học và công nghệ trong các lĩnh vựcphát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, vẫn còn một số tồn tại trong hoạtđộng khoa học và công nghệ thời gian qua như: Nhiều nội dung, giải phápthực thi chính sách phát triển còn chậm và khó đi vào cuộc sống; nhận thức vềđặc thù, sự khác biệt giữa quá trình nghiên cứu khoa học và thương mại hóakết quả nghiên cứu còn chưa thấu đáo; còn có sự nhìn nhận khác nhau giữanhà quản lý và nhà khoa học về cách đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học vàcông nghệ trong thời kỳ đổi mới.
Định nghĩa dịch vụ chuyển giao công nghệ đã được đã được các tác giảphân tích kỹ trong Báo cáo tổng hơp đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ củaTrần Văn Nam (2016) và cộng sự [44], trong đề tài NCKH –Bộ Khoa học và
công nghệ Nghiên cứu đề xuất giải pháp thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ, đã trình bày về 06 loại dịch vụ CGCN theo quy định của pháp luật Việt
Nam, minh họa bằng các nghiên cứu tại Hà Nội và 04 địa phương trên cảnước; dề xuất các giải pháp để tăng cường hiệu quả các loại dịch vụ này, trong
đó có giải pháp cụ thể hoàn thiện Luật Chuyển giao công nghệ 2006, công bốtại Tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội số tháng 3/2017 [ 27]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu lý luận pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ
Báo cáo “Đánh giá Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam” [77] do Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế (OECD) công bố năm 2014 đã đưa ra nhận định: Hiện trạng khoa học
và công nghệ Việt Nam còn yếu kém với bảng xếp hạng 89/125 về đóng gópkhoa học và công nghệ, phân tích của các nhà nghiên cứu đã chỉ ra nhữngđiểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức về hệ thống khoa học và công nghệ và đổimới sáng tạo Việt Nam cho thấy, nếu như các “điểm mạnh” hầu hết nằm ở
Trang 22các yếu tố khách quan thì các điểm yếu nằm ở các yếu tố nội tại từ cơ sở hạtầng, chất lượng dạy và học cho tới năng lực nghiên cứu của doanh nghiệp,các tổ chức nghiên cứu nhà nước cũng như việc quản lý nhà nước, thực hiệnchính sách về khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam đềuđược đánh giá là yếu kém Qua đó, nhóm tác giả đã đưa ra các khuyến nghịnhằm thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và sáng tạo ở Việt Nam.
Tác giả Trần Văn Hải [19b, tr 241] nghiên cứu lĩnh vực chuyển giaocông nghệ, thị trường khoa học và công nghệ tiếp cận từ pháp luật về quyền
sở hữu trí tuệ: Một số vấn đề về thực thi quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ đối với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, bài đăng trong cuốn sách Vai trò
của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế - Kinh nghiệm trong nước và quốc tế, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội 2005, bài nghiên cứu đã phân tích mối
quan hệ giữa thực thi quyền sở hữu trí tuệ với chuyển giao công nghệ trongcác doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, phân tích thực trạng yếu kém trongchuyển giao công nghệ, đặc biệt là chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vàoViệt Nam, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chuyển giao côngnghệ trong nước và từ nước ngoài vào Việt Nam
Tác giả Trần Văn Hải với bài Sửa đổi, bổ sung Luật Chuyển giao công nghệ - Từ tiếp cận so sánh, [20b, tr 86] Tạp chí Khoa học và Công
nghệ Việt Nam, đã phân tích Pháp lệnh CGCN nước ngoài vào Việt Nam năm
1988, Nghị định về chuyển giao công nghệ 1998, Nghị định về chuyển giaocông nghệ 2005, Luật chuyển giao công nghệ năm 2006, so sánh với một sốquy định pháp luật về chuyển giao công nghệ của nước ngoài như Hoa Kỳ,Trung Quốc… để đề xuất xây dựng một số khái niệm như chuyển giao côngnghệ, quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng chuyểngiao công nghệ, của các tổ chức tư vấn/dịch vụ chuyển giao công nghệ, chính
Trang 23sách thuế đối với chuyển giao công nghệ, giải mã công nghệ được cấp patenttrong giai đoạn còn hiệu lực bảo hộ và sau hiệu lực bảo hộ, đồng thời bài viếtcũng phân tích quy định được coi là “sai lầm” tại Khoản 3 Điều 8 LuậtChuyển giao công nghệ 2006 khi cho phép tổ chức/cá nhân nước ngoài cócông nghệ không được pháp luật Việt Nam bảo hộ có thể chuyển giao côngnghệ đó vào Việt Nam.
1.1.3 Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ
Tác giả Phan Xuân Dũng [10b] tại cuốn sách “Phát triển thị trường khoa học - công nghệ Việt Nam (2010), đã nhận định thị trường khoa học-
công nghệ Việt Nam còn phôi thai, chưa xuất hiện thị trường khoa học- côngnghệ hoạt động trên cơ sở pháp lý, quản lý bằng pháp luật có hệ thống quản
lý và triển khai các hoạt động nghiệp vụ, có hệ thống tổ chức môi giới côngnghệ Tác giả đề xuất việc ban hành Pháp lệnh công nghệ cao; Luật chấtlượng sản phẩm, góp phần tạo ra khung pháp lý quan trọng cho sự phát triểnthị trường khoa học- công nghệ Việt Nam
Tác giả Trần Văn Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số đặc biệt, Xuân
2018 “Hoàn thiện các văn bản pháp quy về hoạt động của các tổ chức
trung gian nhằm phát triển thị trường khoa học công nghệ [28] Bài viết đã
nêu rõ, Luật Chuyển giao công nghệ (Luật CGCN) đã được thông qua tại kỳhọp thứ 10, Quốc hội khóa XI ngày 29 tháng 11 năm 2006 là văn bản phápquy có hiệu lực pháp lý cao nhất, tạo tiền đề, cơ sở pháp lý cho việc hìnhthành thị trường công nghệ tại Việt Nam Luật này đã được thay thế bởi đạoluật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 Để cụ thể hóa các quy địnhcủa Luật CGCN, từ năm 2007 đến nay, hàng loạt văn bản dưới luật được banhành để quy định và hướng dẫn hoạt động chuyển giao công nghệ, dịch vụchuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ và phát triển thị trường công nghệ,
Trang 24gồm 05 Nghị định của Chính phủ; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 03Thông tư liên tịch; và 10 Thông tư Tuy nhiên, nếu tập trung vào các biệnpháp khuyến khích phát triển thị trường KH&CN, thương mại hóa kết quảnghiên cứu và phát triển công nghệ, hoạt động của các tổ chức trung gian,Luật Chuyển giao công nghệ 2006 chưa thực sự có những quy định đột phá cóthể khơi thông phát triển thị trường KH&CN gắn với chuyển giao, thương mạihóa công nghệ và hoạt động của các tổ chức.trung gian Do vậy cần thiết phảitiếp tục xây dựng và ban hành, hoàn thiện các văn bản đưới luật về địa vịpháp lý cũng như hoạt động của các tổ chức trung gian khoa học công nghệ ởViệt Nam trong thời gian tới.
1.1.4 Tình hình nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ
Trong bài viết “Thực trạng và giải pháp pháp lý thúc đẩy dịch vụ
chuyển giao công nghệ tại Việt Nam”; [27] đăng tại Tạp chí Nhân lực Khoa học
xã hội (3/2017) tác giả Trần Văn Nam tập trung nhận dạng về các loại dịch vụchuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật Việt Nam, đánh giá cácthành công và hạn chế của dịch vụ chuyển giao công nghệ sau khi Luật Chuyểngiao công nghệ 2006 được ban hành; đưa ra một số đề xuất cụ thể liên quan đến
sửa đổi một số nội dung của Luật Chuyển giao công nghệ hiện hành.
Nhóm công trình nghiên cứu về thực tiễn thành lập các doanh
nghiệp KH-CN trong các trường đại học, viện nghiên cứu
Tác giả Bạch Tân Sinh và cộng sự [36] trong nghiên cứu bàn về kháiniệm và quá trình hình thành doanh nghiệp KH&CN.Trong đó phân tích rõbản chất loại hình DN KH&CN, xác định các điều kiện hình thành DNKH&CN, nghiên cứu mô hình chuyển đổi tổ chức NC&TK sang cơ chế doanhnghiệp
Trang 25Hoàng Văn Tuyên [38] Viện chiến lược và chính sách KH&CN cungcấp nghiên cứu khá toàn diện về khái niệm và kinh nghiệm quốc tế về môhình doanh nghiệp KH&CN, các hình thức đầu tư tài chính cho loại hìnhdoanh nghiệp này.
Tác giả Nguyễn Quân (2006), Bộ KH&CN đề cập đến khái niệm vềdoanh nghiệp KH&CN, chính sách đối với DN KH&CN, một số vấn đề cầnquan tâm khi chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập thành DN KH&CN.Tác giả coi đây là “quả đấm thép„ của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập
Tác giả Nguyễn Thị Minh Nga và cộng sự [23] Viện chiến lược vàchính sách KH&CN đã bàn về các khía cạnh pháp lý của doanh nghiệpKH&CN như các thủ tục thành lập doanh nghiệp, hình thức hoạt động, tổchức và quản lý, liên kết nghiên cứu, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệpKH&CN
Đề cập trực tiếp đến spin-off, Trần Văn Dũng [09] về Điều kiện hìnhthành DN spin-off trong các trường đại học ở Việt Nam (Nghiên cứu trường
ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐHQGH), tác giả đưa ra 3 điều kiện hình thànhđược doanh nghiệp spin-off trong các trường đại học: công nghệ có bảnquyền, đội ngũ nhà khoa học có tinh thần kinh thương và có vốn đầu tư
Khi tổng quan nhóm các công trình nghiên cứu liên quan những vấn đề
về doanh nghiệp KH-CN tại các trường học, viện nghiên cứu, tác giả Luận ánnhận thấy, những nghiên cứu trên đây phần lớn mang tính tổng luận về doanhnghiệp spin-off Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy bức tranh tổng thểcủa loại hình này, hình thức tổ chức và hoạt động cũng như một số bài họccho Việt Nam Theo tác giả, một mô hình cụ thể trong các cơ sở giáo dục đạihọc và cơ chế cần thiết đảm bảo cho mô hình này hoạt động hiệu quả vẫn
Trang 26chưa được nghiên cứu thấu đáo.
1.1.5 Tình hình nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực hiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ
Năm 2011, Bộ khoa học và công nghệ, Ủy ban Khoa học và công nghệ
và Môi trường Quốc hội thực hiện nghiên cứu về “Các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [05] Với mục
tiêu nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của quốc gia, trong đó chú trọngnâng cao trình độ nghiên cứu khoa học và năng lực sáng tạo để tiếp thu và vậndụng các thành tựu khoa học và công nghệ, làm chủ công nghệ tiên tiến, tăngnhanh tỉ trọng đóng góp của khoa học và công nghệ vào phát triển kinh tế - xãhội, để khoa học và công nghệ thực sự là động lực trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hoá, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế vàchất lượng sống của nhân dân, bảo đảm phát triển bền vững và hội nhập thànhcông vào nền kinh tế thế giới Tuy nhiên các nghiên cứu chưa tiếp cận mộtcách chỉnh thể và hệ thống các vấn đề cơ bản về Hợp đồng chuyển giao côngnghệ ở Việt Nam một cách chi tiết
Năm 2010 Trần Văn Hải, trong bài Các yếu tố sở hữu công nghiệp tác động đến hiệu quả kinh tế của hợp đồng chuyển giao công nghệ, [21] đã
phân tích hiệu quả kinh tế của hợp đồng chuyển giao công nghệ có mối quan
hệ với các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp, đặc biệt là sáng chế, bí mậtkinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, đồng thời bài nghiên cứu cũng đề cậpđến yếu tố độc quyền/không độc quyền/độc quyền tuyệt đối và độc quyềntương đối trong việc thực thi hợp đồng chuyển giao công nghệ có tác động
đến hiệu quả kinh tế của hợp đồng chuyển giao công nghệ.
Nguyễn Vân Anh [01], Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động
Trang 27xúc tiến chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, Trường Đại học Bách khoa Hà
Nội, Luận án đã đánh giá thực trạng các hoạt động xúc tiến chuyển giao côngnghệ ở Việt Nam: hình thức hoạt động, các nhân tố ảnh hưởng đến quá trìnhhoạt động và kết quả đạt được, đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động xúctiến chuyển giao công nghệ ở Việt Nam nhằm hỗ trợ cho quá trình đổi mớicông nghệ tại các doanh nghiệp và thúc đẩy quá trình thương mại hoá kết quảnghiên cứu tại các Viện/trường ở Việt Nam
Chu Ngọc Anh, [03], Báo cáo giải trình tại Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, ngày 19/03/2018, trả lời chất vấn đối với Bộ trưởng Bộ Khoa học và
Công nghệ về nhóm vấn đề: Hiệu quả ứng dụng kết quả các đề tài nghiên cứukhoa học trong thực tế đời sống xã hội Công tác kiểm soát nhập khẩu côngnghệ trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ; ứng dụng khoa học - công nghệ thúcđẩy tăng năng suất lao động; ứng dụng công nghệ cao phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội Báo cáo nêu rõ sự quyết liệt của Bộ Khoa học công nghệ trongviệc tham mưu với Chính phủ để tăng cường các giải pháp từ thể chế, chínhsách như vốn, nguồn lực cho các quỹ tiền khởi nghiệp, nhân lực từ khu vựcđại học tham gia vào phát triển dịch vụ chuyển giao công nghệ và đổi mớisáng tạo
1.1.6 Các nghiên cứu nước ngoài về dịch vụ chuyển giao công nghệ và pháp luật điều chỉnh dịch vụ chuyển giao công nghệ
Chủ đề về chuyển giao công nghệ cũng đã thu hút sự quan tâm của giớinghiên cứu nước ngoài
Năm 1992, các tác giả Barry Bozeman và Karen Coker [45b] đã thực
hiện nghiên cứu: “Assessing the effectiveness of technology transfer from
US government R&D laboratories: the impact of market orientation”.
Nghiên cứu này dựa trên một cuộc khảo sát các phòng thí nghiệm quốc gia
Trang 28của chính phủ Hoa Kỳ nhằm mục đích đánh giá thành công của các phòng thínghiệm trong việc chuyển giao công nghệ cho các ngành công nghiệp Ba tiêuchí đánh giá thành công được xem xét bao gồm hai tiêu chí dựa trên sự tự đánhgiá và tiêu chí còn lại dựa trên số lượng giấy phép công nghệ ban hành từ cácphòng thí nghiệm Các kết quả chính cho thấy, các phòng thí nghiệm với mộtđịnh hướng thị trường rõ ràng hơn sẽ có một mức độ thành công hơn về tiêu chíchứng chỉ công nghệ và hiệu quả thương mại Rõ ràng, việc quan tâm tới thịtrường chuyển giao chứng chỉ công nghệ cũng như việc hợp tác với các dịch vụchuyển giao công nghệ đã mang lại lợi ích rất lớn cho các phòng thí nghiệm.
Năm 2000, tác giả Barry Bozeman đã xuất bản cuốn sách: Technology transfer and public policy: a review of research and theory” Cuốn sách đã
xem xét, tổng hợp các công trình chung nghiên cứu về chuyển giao công nghệcũng như hiệu quả chuyển giao công nghệ, trên cơ sở đó đưa ra quan điểmcủa tác giả về các vấn đề lý thuyết liên quan đến quy trình chuyển giao côngnghệ Theo tác giả, việc đặt một ranh giới vào ''công nghệ'' không phải là mộtđiều dễ dàng Thứ hai, phác thảo các quá trình chuyển giao công nghệ là hầunhư không thể bởi vì có rất nhiều tiến trình diễn ra đồng thời Thứ ba, đolường tác động của chuyển giao công nghệ thách thức các học giả và ngườiđánh giá, yêu cầu họ tiếp cận sâu trong nghiên cứu của họ Tác giả đã đưa racác tiêu chí ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình chuyển giao công nghệ nhưtiêu chí tác động của thị trường và phát triển kinh tế, tiêu chí khen thưởng,tiêu chí về chi phí cơ hội đối, tiêu chí vốn nhân lực khoa học và kỹ thuật…
Năm 2004, các tác giả Eric G Campbell, Joshua B Powers, David
Blumenthal, và Brian Biles [46b] đã công bố báo cáo: “Inside the Triple Helix: Technology Transfer And Commercialization In The Life Sciences”.
Trong báo cáo này, các tác giả đã tập trung xem xét hiện trạng của việcchuyển giao và thương mại hóa các quy trình công nghệ cũng như yêu cầu
Trang 29tiềm năng để tối ưu hóa việc trao đổi kiến thức mới trong các ngành khoa họcđời sống giữa các viện nghiên cứu và ngành công nghiệp.
Năm 2011, các tác giả John Sibley Butler và David V Gibson [46c] đã
xuất bản cuốn sách: “Global Perspectives on Technology, Transfer and
Commercialization: Building Innovative Ecosystems” Các tác giả khẳng
định rằng, cùng với quá trình phát triển của con người theo thời gian, tầmquan trọng của chuyển giao công nghệ ngày càng được nhấn mạnh Thôngqua nghiên cứu và thực hành, các học giả, các học viên và các nhà hoạch địnhchính sách đã có những bước tiến lớn trong việc mở rộng sự hiểu biết và khảnăng để thực hiện chuyển giao công nghệ và quy trình thương mại hóa.Chuyển giao công nghệ là một lĩnh vực năng động của công tác nghiên cứunhằm kiểm tra các chủ đề truyền thống như quản lý sở hữu trí tuệ, quản lý rủi
ro, xác định thị trường, vai trò của các phòng thí nghiệm công cộng và tưnhân, và vai trò của các trường đại học
Năm 2014, các tác giả Thomas J Allen và Rory P O’ Shea [45a] đã
công bố cuốn sách: “Building Technology Transfer within Research
Universities An Entrepreneurial Approach” Các tác giả đã phân tích, đánh
giá những yếu tố thành công của các công ty, doanh nghiệp hay các bộ phậnmới tách ra Nội dung cuốn sách là sự mô tả hoạt động thực tiễn, yếu tố kinhdoanh trong chính bản thân các trường đại học; phân tích các chiến lược đàotạo đại học trong đó có cấu trúc và hệ thống khen thưởng để có thể thúc đẩytinh thần kinh doanh trong khuôn khổ trường, đồng thời các tác giả tiến hành
mô tả và đánh giá một loạt các chương trình kinh doanh và các sáng kiến lãnhđạo sử dụng để thúc đẩy việc tạo ra các cơ sở mới được thành lập
Năm 2015, các tác giả Albert N Link, Donald S Siegel, Mike Wright
[61] đã công bố cuốn sách mang tên: “The Chicago Handbook of University Technology Transfer and Academic Entrepreneurship” Cuốn sách này
Trang 30được viết bởi ba chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực chuyển giao công nghệdưới dạng sổ tay hướng dẫn trình bày bằng các dẫn chứng từ các doanh nhân,nhà quản lý và các giáo sư trong nhiều lĩnh vực Tác phẩm nêu rõ tác độngquản lý và chính sách thông qua các nội dung: làm thế nào để duy trì nghiêncứu thành công, cách để kích thích tinh thần kinh doanh, duy trì chiến lượcđổi mới mở có hiệu quả và nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòngchuyển giao công nghệ các trường đại học Các trường đại học đang ngàycàng xem danh mục đầu tư tài sản trí tuệ, lấy tri thức để phát triển kinh tế của
họ như là nguồn sinh lợi của nguồn doanh thu tiềm năng Gần như tất cả cáctrường đại học tiến hành nghiên cứu và các doanh nghiệp có một văn phòngchuyển giao công nghệ để quản lý sở hữu trí tuệ của họ Cuốn sách là mộtcuốn cẩm nang cung cấp kiến thức căn bản cho các trường đại học cho phép
họ có thể tự tin xử lý công nghệ thương mại và tiếp tục nuôi dưỡng sự sángtạo
Có số lượng đáng kể các công trình nước ngoài đã đề cập đến các khíacạnh khác nhau về doanh nghiệp Spin-off Theo Trần Văn Dũng [9, tr.22]Khái niệm DN Spin-off đã xuất hiện đầu tiên tại Hoa Kỳ vào những năm cuốicủa thập kỷ 1980 xuất phát từ việc nhằm khuyến khích người nghiên cứu biến
ý tưởng khoa học thành sản phẩm, sản xuất và thương mại hóa được nhữngkết quả này Cuối thập kỷ 1980, chính phủ Hoa Kỳ đã có chương trình nghiêncứu đổi mới (SBIR) và hỗ trợ chuyển giao (SBTT) hướng vào các DN nhỏ.Thông qua các chương trình này, nhiều mô hình DN KH&CN dưới dạng spin-off đã được hình thành Theo đó DN spin-off là một dạng công ty mẹ, công tycon Công ty con được tách ra từ mẹ để triển khai một kết quả nghiên cứu,nhưng vẫn chịu sự điều hành, chi phối của công ty mẹ Mô hình này cũngđược áp dụng để kết nối mối liên hệ giữa các công ty và tổ chức thuộc khốinghiên cứu hàn lâm
Trang 31Steffensen, Rogers, Speakman [71, tr 93] trong bài viết Spin-Offs from Research Centers at a Research University tập trung làm rõ hơn vai trò của
bốn nhóm tác nhân chính tham gia vào quá trình hình thành spin-off bao gồm:(1) Người tạo ra công nghệ - technology originator; (2) Tổ chức mẹ - ParentOrganization; (3) Nhà nghiên cứu hoặc một nhóm nhà nghiên cứu có tinh thầnkinh thương – the entrepreneur or the entrepreneurial team; (4) Nhà đầu tưmạo hiểm – the venture investor
Nghiên cứu của Consiglo và Antonelli [47] Academic spin-off: development process and the role of the “metaorganizzatore” về sự hình
thành và phát triển của DN spin-off trong tổ chức hàn lâm (academic spin-off)thực hiện đã đưa ra khái niệm cơ bản, nhận dạng sự hình thành của các DNspin-off do các nhà khoa học thành lập trong đó đánh giá vai trò của các nhómtác nhân xã hội đóng góp vào sự hình thành loại DN này
Davenport, Carr và Bibby [48] trong bài viết Leveraging Talent: Off Strategy at Industrial Research, Article in R& D Management 32(3) đề
Spin-cập đến vai trò của các nhà quản lý, mối quan tâm của nhà quản lý ở viện mẹ,
từ đó làm rõ vai trò của tổ chức nghiên cứu mẹ, xây dựng chiến lược hìnhthành DN spin-off Việc hình thành DN spin-off từ các tổ chức nghiên cứuđược xem là một trong những phương thức thương mại hóa tri thức và CN cóhiệu quả nhất, nhấn mạnh rằng các DN khoa học spin-off được thành lập trên
cơ sở dịch chuyển nhân lực và SHTT từ cơ quan, tổ chức mẹ Đây là quá trìnhchuyển giao những tri thức dưới dạng ẩn nằm trong những nhà khoa học, khácvới cơ chế thương mại hóa CN thông qua bán CN, chuyển nhượng hay bánquyền sử dụng bản quyền hoặc liên doanh
Ndonzuau, Pirnay và Surlemont [53] trong bài viết A stage model of academic spin-off creation, phân tích quá trình hình thành DN spin-off dưới
góc độ chuyển giao kết quả nghiên cứu từ tổ chức R&D vào thị trường, hình
Trang 32thành DN khoa học là hình thức chuyển giao CN có hiệu quả Hàng loạt cácvấn đề đặt ra khi hình thành DN spin-off được đề cập đến như sự cần thiếthình thành vốn đầu tư mạo hiểm cho các nhà khoa học có tinh thần kinhthương, vai trò của khu CN cao trong việc tạo điều kiện cho các spin-off hoạtđộng trong giai đoạn đầu Theo nghiên cứu của các tác giả, quá trình hìnhthành DN khoa học spin-off gồm 4 giai đoạn: (1) Tạo nên ý tưởng kinh doanh
từ kết quả nghiên cứu; (2) Hình thành những dự án đầu tư dựa trên những ýtưởng kinh doanh; (3) Thành lập DN spin-off từ những dự án đầu tư trên; (4)Tiếp tục hoàn thiện và khẳng định sự phát triển của DN
Nghiên cứu của Achim Walter, Michael Auer, Thomas Ritter [ tr 401]
về Tác động của năng lực mạng lưới và định hướng kinh doanh đến hiệu quả của spin-off trong trường ĐH dựa trên cơ sở dữ liệu của 149 spin-off
trong trường đại học, nghiên cứu điều tra tác động của năng lực mạng lưới,được định nghĩa là khả năng của một tổ chức phát triển và sử dụng các mốiquan hệ liên tổ chức và định hướng kinh doanh về hoạt động của tổ chức Kếtquả cho thấy hiệu suất của một spin-off chịu ảnh hưởng tích cực của năng lựcmạng lưới và định hướng thương mại của spin-off thúc đẩy lợi thế cạnh tranh
Elco Van Burg [50] trong bài Creating Spin-off designing entrepreneurship conducive universities đề cập đến các phương thức để thúc
đầy việc hình thành các spin-off trong các trường đại học Trong đó tác giả đitrả lời câu hỏi quan trọng như: làm thế nào mà cách thức tổ chức của mộttrường đại học có thể thúc đẩy sự hình thành của các spin off trong trường?Cách nhìn nhận đúng đắn về tinh thần kinh thương trong trường đại học? Cácmối liên hệ nào ảnh hưởng đến sự phát triển của các spin-off trong trường đạihọc? Đây là công trình công phu của tác giả với hai phần trong chương 5 và 6rất được tác giả nhấn mạnh đó là chiến lược tạo ra các spin-off và đánh giá ởkhía cạnh đạo đức của việc hình thành các spin-off trong trường đại học
Trang 33Bên cạnh đó, nghiên cứu của Harald Bathelt, Dieter F Kogler, Andrew
K.Munro [58] A knowledge-based typology of university spin-offs in the context of regional economic development bàn về spin-off trong cơ sở giáo
dục đại học – mô hình DN dựa trên tri thức khoa học trong phát triển kinh tếđịa phương
Như vậy, có thể nhận thấy DN spin-off trong cơ sở giáo dục ĐH đãđược đề cập đến ở một mức độ sâu rộng, trên nhiều bình diện, ở nhiều đốitượng và khu vực được khảo sát Các nghiên cứu đã thể hiện các nhìn đachiều và phân tích sâu sắc về đặc điểm, vai trò, tác động, sự hình thành vàphát triển của spin-off trong cơ sở giáo dục đại học hàng thập kỷ qua từ khi
mô hình này xuất hiện và được công nhận rộng rãi với vai trò quan trọng của
nó Đặc biệt sự quan tâm về mô hình này những nghiên cứu thời gian gần đâycàng khẳng định hơn nữa mô hình này vẫn đang giữ một vị trí quan trọng, có
ý nghĩa lớn trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta
1.1.7 Đánh giá tình hình nghiên cứu
Những nghiên cứu trên là các tư liệu tham khảo có giá trị cho tác giả
luận án khi nghiên cứu về “Dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay” Qua tổng quan nghiên cứu, tác giả có thể đưa ra một sô
nhận xét sơ bộ về tình hình nghiên cứu như sau:
Những thành tựu trong nghiên cứu mà luận án kế thừa và phát triển:
Một là, có nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã đề cập đếnkhái niệm “công nghệ”; “chuyển giao công nghệ”, “dịch vụ”
Hai là, có một số nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm dịch vụ chuyểngiao công nghệ, hoặc đi sâu khảo sát tình hình cung cấp một loại dịch vụchuyển giao công nghệ ở Việt Nam Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đãtập trung vào thực trạng dịch vụ chuyển giao công nghệ sau khi Luật Chuyểngiao công nghệ 2006 được ban hành, tới năm 2017, trong khi đạo Luật này đã
Trang 34có nhiều điểm không phù hợp với hoàn cảnh hiện tại khi Luật Chuyển giaocông nghệ 2017 có hiệu lực.
Các vấn đề còn bỏ ngỏ hoặc chưa được giải quyết thấu đáo cần được tiếp tục nghiên cứu
Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có một công trình nào nghiên cứu mộtcách độc lập và tổng thể về khung pháp luật điều chỉnh về các dịch vụ chuyểngiao công nghệ ở Việt Nam từ trước và sau khi Luật Chuyển giao Công nghệ
2017 được ban hành, tác động của nó trên thực tế Đây là vấn đề còn bỏ ngỏtrong khoa học pháp lý mà đề tài cần nghiên cứu giải quyết
1.2 Cơ sở lý thuyết
Câu hỏi nghiên cứu:
Luận án được triển khai với các câu hỏi trọng tâm sau đây:
- Thực trạng pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ của Việt Nam
đã và đang diễn ra như thế nào?
- Cần định hướng và có các giải pháp cụ thể nào để tiếp tục hoàn thiệnpháp luật Việt Nam về dịch vụ chuyển giao công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầuxây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ trong quá trình hộinhập kinh tế quốc tế?
- Giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện pháp luật về dịch vụchuyển giao công nghệ trong thời gian tới?
Lý thuyết nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài, luận án dự kiến sẽ sử dụng các lý thuyếtnghiên cứu sau đây:
- Lý thuyết về dịch vụ theo quy định của Tổ chức thương mại quốc tế(WTO) về các nhóm ngành và tiểu ngành dịch vụ
- Lý thuyết về dịch vụ thương mại theo quy định hiện hành tại Việt Nam
Trang 35- Cơ sở lý thuyết pháp luật chuyên ngành: Các lý thuyết pháp lý liên
ngành liên quan đến pháp luật dân sự, thương mại, kinh doanh của Việt Nam
đề cập đến dịch vụ, dịch vụ thương mại, dịch vụ chuyển giao công nghệ
Dự kiến kết quả nghiên cứu:
Một là, hệ thống cơ sở lý luận về dịch vụ chuyển giao công nghệ góp
phần định hướng, thúc đẩy sự phát triển của các loại dịch vụ này tại Việt Namtrong quá trình hội nhập;
Hai là, khái quát hóa các quan điểm, các quy định của pháp luật điều
chình dịch vụ chuyển giao công nghệ tại Việt Nam
Ba là, nêu được thực trạng thực hiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao
công nghệ tại Việt Nam thông qua một số vụ việc điển hình
Bốn là, đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và
thúc đẩy phát triển dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Các nghiên cứu trên thế giới đã tạo ra tầm nhìn tổng quan về khoa học
và công nghệ nói chung và hoạt động của các dịch vụ chuyển giao công nghệnói riêng Ở trong nước, nhìn chung các nghiên cứu chỉ đề cập đến vấn đềkhoa học và công nghệ với các góc tiếp cận: lý luận chung về khoa học vàcông nghệ, các dịch vụ chuyển giao công nghệ, vai trò chuyển giao công nghệđối với kinh tế - xã hội qua đó đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm thúcđẩy khoa học và công nghệ trong nước phát triển, phát triển thị trường khoahọc và công nghệ … Các nghiên cứu sâu hơn chủ yếu chủ yếu tập trung vềvấn đề thực trạng phát triển khoa học và công nghệ, cơ chế chính sách củaNhà nước đối với khoa học và công nghệ Hầu hết các nghiên cứu đều đưa ranhững chính sách nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan Nhà nước, nângcao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực,… với những nghiên cứu khác nhau ởnhững khía cạnh tiếp cận khác nhau các nhà nghiên cứu đã khuyến nghịnhững chính sách phù hợp Tuy nhiên trong số các nghiên cứu trong nước córất ít các công bố đưa ra giải pháp nhằm áp dụng pháp luật về dịch vụ chuyểngiao công nghệ; thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ vơi hiệu quả cao.Tác giả Luận án kỳ vọng nghiên cứu có hệ thống, toàn diện và đầy đủ về cácgiải pháp thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ cũng như tiếp tục hoànthiện khung pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam trong cácchương tiếp theo
Trang 37Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VỀ DỊCH VỤ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
2.1 Khái niệm về dịch vụ chuyển giao công nghệ
2.1.1 Khái niệm chuyển giao công nghệ
2.1.1.1 Thuật ngữ chuyển giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ (CGCN) là chuyển giao quyền sở hữu hoặc
quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sangbên nhận công nghệ Trong đó:
- Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ (bên chuyển giao là chủ sởhữu công nghệ), khi hợp đồng chuyển giao có hiệu lực pháp luật bên chuyểngiao không còn là chủ sở hữu công nghệ;
- Chuyển quyền sử dụng công nghệ (bên chuyển giao là chủ sở hữucông nghệ/hoặc là bên có quyền sử dụng công nghệ và được quyền tiếp tụcchuyển giao), khi hợp đồng chuyển giao có hiệu lực pháp luật bên chuyểngiao vẫn còn là chủ sở hữu công nghệ, hoặc vẫn có quyền sử dụng công nghệ
và được/không được quyền tiếp tục chuyển giao [44]
Trong thực tế, việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ ít diễn rahoặc nếu có diễn ra thì về mặt pháp lý cũng ít phức tạp, từ đây thuật ngữCGCN được hiểu là chuyển quyền sử dụng công nghệ
Trên thị trường CGCN đang tồn tại các cụm từ “mua máy móc”, “muadây chuyền công nghệ”, “mua công nghệ”… Vậy bản chất của việc “mua máymóc” khác biệt gì với việc “mua dây chuyền công nghệ”, “mua công nghệ”?
Theo quy định tại Điều 428 Bộ Luật Dân sự 2015: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán Bản chất của việc mua, bán trong trường hợp này là thay đổi
Trang 38quyền sở hữu từ bên bán sang bên mua Khi bên bán giao tài sản cho bên mua,thì bên bán không còn quyền sở hữu đối với tài sản nữa, nói cách khác khi đótài sản không còn nằm trong tay bên bán.
Khi “mua máy móc”, ví dụ khi hợp đồng mua bán máy sản xuất bánhmềm cao cấp, có hiệu lực pháp luật thì bên bán không còn quyền sở hữu đốivới máy dệt len nữa, lúc này quyền sở hữu máy dệt len thuộc về bên mua
Khi hợp đồng mua - bán dây chuyền công nghệ, mua bán công nghệ cóhiệu lực pháp luật, thì mặc dù bên bán không còn quyền sở hữu công nghệ,dây chuyền công nghệ nữa, nhưng công nghệ và bí quyết công nghệ trong
“dây chuyền công nghệ” vẫn còn nằm trong tay bên bán
Điều 480 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê Bản chất của việc thuê
tài sản trong trường hợp này là chuyển quyền sử dụng tài sản
Khi hợp đồng thuê tài sản có hiệu lực pháp luật, thì quyền sử dụng tàisản thuộc về bên thuê, chủ sở hữu không còn nắm tài sản trong tay và tấtnhiên không còn quyền sử dụng tài sản hoặc cho người khác sử dụng tài sảnnày nữa
Việc “cho thuê” công nghệ lại có những điểm khác, khi hợp đồngchuyển quyền sử dụng công nghệ có hiệu lực pháp luật thì bên chuyển quyền
sử dụng vẫn có quyền sử dụng công nghệ và thậm chí vẫn có quyền cho phépchủ thể khác sử dụng công nghệ Như vậy, bên sử dụng công nghệ có thể phảicạnh tranh với chính chủ sở hữu công nghệ và các bên khác khi được chủ sởhữu công nghệ cho phép sử dụng công nghệ
Vì lẽ đó, trong hoạt động CGCN, người ta thường dùng thuật ngữ
“CGCN” mà tránh dùng thuật ngữ “mua – bán công nghệ” Theo ESCAP(1990), trong bản gốc tiếng Anh hướng dẫn dùng thuật ngữ “transfer”, màkhông dùng thuật ngữ “purchase” hay “buy” trong hoạt động CGCN Tham
Trang 39khảo thêm: ESCAP (1990) Booklet 1 pp 5
Theo UNCTAD “CGCN là việc chuyển giao kiến thức có hệ thống để sản xuất ra sản phẩm, áp dụng một quy trình hoặc thực hiện một dịch vụ”.
Theo định nghĩa này bản chất CGCN là quá trình chuyển giao kiến thức đểsản xuất, áp dụng và thực hiện dịch vụ…[73]
Qua ba loại vấn đề được xem xét trên, trong một định nghĩa hợp lý vềCGCN có thể sẽ chỉ cần nhấn mạnh đến hai ý: bản chất của chuyển giao vàmục đích của chuyển giao
Trên khía cạnh pháp luật, Luật chuyển giao công nghệ (2006) quy định:
“CGCN là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ”.
Như vậy, có thể thấy CGCN là quá trình đưa công nghệ từ môi trường này sang môi trường khác bằng các hình thức khác nhau để sản xuất ra hàng hóa, thực hiện dịch vụ hoặc cho các mục đích khác.
Theo định nghĩa trên đây, một số nội dung được phân tích sâu hơn nhưsau:
- Môi trường: có thể từ khu vực nghiên cứu và triển khai (R&D) sangkhu vực sản xuất, từ các nước phát triển sang các nước đang/chậm phát triển,
từ chủ sở hữu sang bên có nhu cầu, từ bên có quyền sử dụng công nghệ sangbên có nhu cầu
- Các hình thức chuyển giao có thể là Hợp đồng CGCN độc lập; PhầnCGCN trong dự án hoặc hợp đồng: Dự án đầu tư; Hợp đồng nhượng quyềnthương mại; Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp; Hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo CGCN;
- Sản xuất ra hàng hóa, như đã phân tích ở trên về thuật ngữ hàng hóa, trong mục này, hàng hóa phải được áp dụng công nghệ được chuyển giao
2.1.1.2 Đối tượng và mục đích của chuyển giao công nghệ [73]
Trang 40Trong CGCN, có những đặc điểm: đối tượng của chuyển giao và mục đích của chuyển giao.
- Đối tượng của chuyển giao (chuyển giao cái gì?), có thể thấy:
+ Kiến thức (hoặc các hoạt động liên quan đến kiến thức như đào tạo nhân lực cho bên tiếp nhận chuyển giao, kỹ năng )
- Mục đích của chuyển giao:
+ Để sản xuất, áp dụng quy trình và thực hiện dịch vụ;
+ Giải quyết vấn đề xã hội và thương mại;
2.1.2 Khái niệm dịch vụ chuyển giao công nghệ
Dịch vụ CGCN (Technology Transfer Services) là một thuật ngữ dùng
để chỉ các hoạt động liên quan đến môi giới CGCN, tư vấn CGCN, đánh giácông nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ và xúc tiến CGCN
Theo khoản 12 điều 3 Luật CGCN: Dịch vụ CGCN là hoạt động hỗ trợquá trình tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng CGCN
Nội hàm khái niệm dịch vụ chuyển giao công nghệ được phápluật điều chỉnh và quy định như thế nào? Luật CGCN quy định tại Điều
45 như sau:
Điều 45 Các loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệ