Mục đích lớn nhất khi nghiên cứu đề tài “Dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là luận giải được những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản trong pháp luật về d
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN HẢI
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Thị Mơ
Phản biện 2: PGS.TS Đoàn Đức Lương
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại: Học viện khoa học xã hội
Vào hồi… giờ… , ngày………tháng……….năm………
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Thư viện Học viện khoa học xã hội
Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, sau 30 năm đổi mới, nền kinh tế đất nước đã phá vỡ được
sự trì trệ, phát huy năng lực lao động, sáng tạo mạnh mẽ và dồi dào của con người Việt Nam Nước ta đã giành được những thành tựu to lớn và rất quan trọng làm cho thế và lực của đất nước không ngừng tăng lên Trong thành công đó, không thể không kể đến yếu tố đóng góp quan trọng của khoa học
và công nghệ
Chuyển giao công nghệ và dịch vụ chuyển giao công nghệ là khái niệm đã xuất hiện trong mấy thập niên gần đây, nhưng đã nhanh chóng trở thành vấn đề thời sự, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế trên toàn cầu, đặc biệt là đối với những nước đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá như nước ta Việc nghiên cứu, hoạch định chính sách, chiến lược để nâng cao hiệu quả trong việc tiếp nhận và ứng dụng công nghệ tiên tiến nước ngoài vào sản xuất trong nước cũng như việc triển khai đưa công nghệ trong nước vào thực tiễn sản xuất ở từng ngành, từng lĩnh vực và từng khâu trong quy trình hoạt động sản xuất được coi là khâu then chốt bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước
Mục đích lớn nhất khi nghiên cứu đề tài “Dịch vụ chuyển giao công
nghệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là luận giải được những vấn đề lý
luận và thực tiễn cơ bản trong pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ tại Việt Nam nhằm nhận thức được đầy đủ hơn những ưu điểm và tồn tại của pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ từ đó đề xuất tiếp tục hoàn thiện các quy định tương ứng trong pháp luật Việt Nam hiện hành trong thực tiễn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên phân tích các cơ sở lý luận về chuyển giao công nghệ, dịch vụ chuyển giao công nghệ, thông qua nghiên cứu một số trường hợp cụ thể trong áp dụng pháp luật về chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, luận án rút
ra những điểm bất cập của quy định hiện hành về dịch vụ chuyển giao công nghệ Từ đó đưa ra những đề xuất để thực thi các quy định của pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động dịch
vụ chuyển giao công nghệ hiện nay ở nước ta
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài luận án cần thực hiện được các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Trang 4- Trên cơ sở các luận điểm khoa học phân tích sự cần thiết phải nghiên cứu về dịch vụ chuyển giao công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay
- Nghiên cứu so sánh hệ thống quan điểm, quan niệm khoa học trên bình diện quốc tế cũng như của các tác giả Việt Nam, từ đó làm rõ những vấn đề lý luận chung về dịch vụ chuyển giao công nghệ;
- Làm sáng tỏ nội dung những quy định hiện hành của pháp luật về
dịch vụ chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, đồng thời phân tích những ưu điểm và hạn chế của quy định hiện hành về dịch vụ chuyển giao công nghệ
ở Việt Nam
- Nghiên cứu đề xuất giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu
quả hoạt động chuyển giao công nghệ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu về dịch vụ chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật Việ Nam hiện hành
Phạm vi nghiên cứu của luận án
Tác giả chỉ thực hiện luận án này trong phạm vi những vấn đề được nhìn nhận từ góc độ pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ, mà không tập trung nghiên cứu khía cạnh kinh tế thuần túy của chuyển giao công nghệ
Về thời gian: Luận án sử dụng số liệu nghiên cứu trong vòng 10 năm,
từ năm 2007 đến năm 2017
Về không gian: Luận án được thực hiện trên phạm vi các tỉnh phía Bắc
Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chung được tác giả Luận án áp dụng để nghiên cứu là:
- Phương pháp nghiên cứu và lý luận về luật học thực định
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp điều tra xã hội học
5 Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: Thực trạng pháp luật về dịch
vụ chuyển giao công nghệ của Việt Nam đã và đang diễn ra như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Cần định hướng và có các giải
pháp cụ thể nào để tiếp tục hoàn thiện pháp luật Việt Nam về dịch
vụ chuyển giao công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế?
Trang 5- Câu hỏi nghiên cứu thứ ba: Giải pháp tiếp tục hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ trong thời gian tới?
6 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
- Nghiên cứu để làm rõ hơn nội hàm khái niệm và nội dung pháp luật
về dịch vụ chuyển giao công nghệ mới chỉ được quy định một cách khái quát trong Luật chuyển giao công nghệ, nhưng chưa được cụ thể hóa trong các văn bản dưới luật
- Tiếp tục nghiên cứu đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, chủ yếu là Luật chuyển giao công nghệ trong thực tiễn, phân tích những ưu điểm và hạn chế trong thực tiến triển khai các dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam
- Bên cạnh giải pháp về tiếp tục hoàn thiện pháp luật, luận án tập trung
đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam trong thời gian tới
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về mặt khoa học
Luận án đã góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay; thông qua việc đánh giá toàn diện về pháp luật và quá trình thực thi các quy định pháp luật liên quan đến dịch vụ chuyển giao công nghệ, Luận án chỉ ra những thành công và hạn chế của pháp luật nước ta điều chỉnh lĩnh vực này, đồng thời đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam
Về mặt thực tiễn
Nội dung của luận án là cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản luật và dưới luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án đã được công bố; phân nội dung của luận án được kết cấu gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên
cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận và pháp luật về dịch vụ chuyển giao
công nghệ
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về dịch vụ
chuyển giao công nghệ tại Việt Nam
Trang 6Chương 4: Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về dịch vụ chuyển
giao công nghệ và thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ tại Việt Nam
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về chuyển giao công nghệ và dịch vụ chuyển giao công nghệ
- Khái niệm chuyển giao công nghệ đã được tác giả Trần Ngọc Ca báo
cáo về “Chuyển giao công nghệ vào Việt Nam” đã nêu lên những kênh
chuyển giao công nghệ và tầm quan trọng của hoạt động chuyển giao công nghệ, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế
Cuốn sách “Công nghệ và chuyển giao công nghệ””, của các tác giả
Phan Xuân Dũng; TS Trần Văn Tùng, ThS Phạm Hữu Duệ trình bày một cách logic và khoa học, sách đã thể hiện được những nội dung chính về công nghệ và chuyển giao công nghệ (CGCN)
Quan niệm tương tự về chuyển giao công nghệ cũng được các tác giả
phân tích trong “Cẩm nang chuyển giao công nghệ ở các nước Châu Á –
Thái Bình Dương”[15] do Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á - Thái
Bình Dương (APCTT) thực hiện công trình nghiên cứu về những cơ sở ban đầu của việc thực hiện chuyển giao công nghệ ở các nước đang phát triển
Tác giả Nguyễn Thị Hường [22] chia sẻ trong ấn phẩm “Hoạt động
ươm tạo doanh nghiệp trong các trường đại học Việt Nam) Tác giả đề
cập một số nội dung chủ yếu nhằm phát triển thị trường khoa học và công nghệ bao gồm: Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ trong các trường đại học Việt Nam nhằm thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường khoa học và công nghệ; tập trung phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng, nguồn nhân lực và các thiết chế hệ trung gian của thị trường khoa học
và công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ; thúc đẩy quan hệ cung, cầu đối với các sản phẩm và dịch vụ khoa học và công nghệ
Năm 2010, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức hội nghị “Thực hiện
Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 2001-2010, đánh giá kết quả hoạt động khoa học và công nghệ 2006-2010 và định hướng nhiệm
vụ 2011-2015” Báo cáo đánh giá một số tồn tại trong hoạt động khoa học
và công nghệ thời gian qua như: Nhiều nội dung, giải pháp thực thi chính
Trang 7sách phát triển còn chậm và khó đi vào cuộc sống; nhận thức về đặc thù, sự khác biệt giữa quá trình nghiên cứu khoa học và thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn chưa thấu đáo;
Định nghĩa dịch vụ chuyển giao công nghệ đã được đã được các tác giả
phân tích trong đề tài NCKH –Bộ Khoa học và công nghệ Nghiên cứu đề
xuất giải pháp thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ, đã trình bày về
06 loại dịch vụ CGCN theo quy định của pháp luật Việt Nam năm 2016, minh họa bằng các nghiên cứu tại Hà Nội và 04 địa phương trên cả nước;
dề xuất các giải pháp để tăng cường hiệu quả các loại dịch vụ này
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về dịch vụ chuyển giao công nghệ
Tác giả Trần Văn Hải nghiên cứu lĩnh vực chuyển giao công nghệ, thị trường khoa học và công nghệ tiếp cận từ pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ:
Một số vấn đề về thực thi quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ đối với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội 2005, bài
nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữa thực thi quyền sở hữu trí tuệ với chuyển Tác giả, nghiên cứu thực trạng pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ
Tác giả Phan Xuân Dũng [10b] tại cuốn sách “Phát triển thị trường
khoa học - công nghệ Việt Nam (2010), đã đề xuất việc ban hành Pháp
lệnh công nghệ cao; Luật chất lượng sản phẩm, góp phần tạo ra khung pháp
lý quan trọng cho sự phát triển thị trường khoa học- công nghệ Việt Nam
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số đặc biệt, Xuân 2018 “Hoàn thiện các
văn bản pháp quy về hoạt động của các tổ chức trung gian nhằm phát triển thị trường khoa học công nghệ] Bài viết đã nêu rõ, Luật Chuyển
giao công nghệ (Luật CGCN) đã được thay thế bởi đạo luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 Do vậy cần thiết phải tiếp tục xây dựng và ban hành, hoàn thiện các văn bản đưới luật về địa vị pháp lý cũng như hoạt động của các tổ chức trung gian khoa học công nghệ ở Việt Nam trong thời gian tới
1.1.4 Tình hình nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ
Trong bài viết “Thực trạng và giải pháp pháp lý thúc đẩy dịch vụ
chuyển giao công nghệ tại Việt Nam”; đăng tại Tạp chí Nhân lực Khoa học
xã hội (3/2017) tập trung nhận dạng về các loại dịch vụ chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật Việt Nam, đánh giá các thành công và hạn chế của dịch vụ chuyển giao công nghệ sau khi Luật Chuyển giao công nghệ
2006 được ban hành; đưa ra một số đề xuất cụ thể liên quan đến sửa đổi một
Trang 8số nội dung của Luật Chuyển giao công nghệ hiện hành
Nhóm công trình nghiên cứu về thực tiễn thành lập các doanh nghiệp KH-CN trong các trường đại học, viện nghiên cứu
Tác giả Bạch Tân Sinh và cộng sự [36] trong nghiên cứu bàn về khái niệm và quá trình hình thành doanh nghiệp KH&CN.Trong đó phân tích rõ bản chất loại hình DN KH&CN, xác định các điều kiện hình thành DN KH&CN, nghiên cứu mô hình chuyển đổi tổ chức NC&TK sang cơ chế doanh nghiệp
Hoàng Văn Tuyên [38] Viện chiến lược và chính sách KH&CN cung cấp nghiên cứu khá toàn diện về khái niệm và kinh nghiệm quốc tế về mô hình doanh nghiệp KH&CN, các hình thức đầu tư tài chính cho loại hình doanh nghiệp này
Tác giả Nguyễn Quân (2006), Bộ KH&CN đề cập đến khái niệm về doanh nghiệp KH&CN, chính sách đối với DN KH&CN, một số vấn đề cần quan tâm khi chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập thành DN KH&CN Tác giả coi đây là “quả đấm thép„ của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập Tác giả Nguyễn Thị Minh Nga và cộng sự [23] Viện chiến lược và chính sách KH&CN đã bàn về các khía cạnh pháp lý của doanh nghiệp KH&CN như các thủ tục thành lập doanh nghiệp, hình thức hoạt động, tổ chức và quản lý, liên kết nghiên cứu, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp KH&CN
Đề cập trực tiếp đến spin-off, Trần Văn Dũng [09] về Điều kiện hình thành DN spin-off trong các trường đại học ở Việt Nam (Nghiên cứu trường
ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐHQGH), tác giả đưa ra 3 điều kiện hình thành được doanh nghiệp spin-off trong các trường đại học: công nghệ có bản quyền, đội ngũ nhà khoa học có tinh thần kinh thương và có vốn đầu tư Khi tổng quan nhóm các công trình nghiên cứu liên quan những vấn đề
về doanh nghiệp KH-CN tại các trường học, viện nghiên cứu, tác giả Luận
án nhận thấy, những nghiên cứu trên đây phần lớn mang tính tổng luận về doanh nghiệp spin-off Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy bức tranh tổng thể của loại hình này, hình thức tổ chức và hoạt động cũng như một số bài học cho Việt Nam Theo tác giả, một mô hình cụ thể trong các cơ sở giáo dục đại học và cơ chế cần thiết đảm bảo cho mô hình này hoạt động hiệu quả vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo
1.1.5 Nhóm công trình nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật
và giải pháp thực hiện pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ
Năm 2011, Bộ khoa học và công nghệ, Ủy ban Khoa học và công nghệ
và Môi trường Quốc hội thực hiện nghiên cứu về “Các chính sách và giải
pháp xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Trang 9trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Tuy nhiên các
nghiên cứu chưa tiếp cận một cách chỉnh thể và hệ thống các vấn đề cơ bản
về Hợp đồng chuyển giao công nghệ ở Việt Nam một cách chi tiết
Năm 2010 Trần Văn Hải, trong bài Các yếu tố sở hữu công nghiệp
tác động đến hiệu quả kinh tế của hợp đồng chuyển giao công nghệ, đã
phân tích hiệu quả kinh tế của hợp đồng chuyển giao công nghệ có mối
quan hệ với các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp
Nguyễn Vân Anh [01], Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động
xúc tiến chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, đề xuất các giải pháp phát
triển hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ ở Việt Nam nhằm hỗ trợ cho quá trình đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp và thúc đẩy quá trình thương mại hoá kết quả nghiên cứu tại các Viện/trường ở Việt Nam
Chu Ngọc Anh, [03], Báo cáo giải trình tại Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội, ngày 19/03/2018, trả lời chất vấn đối với Bộ trưởng Bộ Khoa học và
Công nghệ về nhóm vấn đề: Hiệu quả ứng dụng kết quả các đề tài nghiên cứu khoa học trong thực tế đời sống xã hội
1.1.6 Các nghiên cứu nước ngoài về dịch vụ chuyển giao công nghệ
và pháp luật điều chỉnh dịch vụ chuyển giao công nghệ
Chủ đề về chuyển giao công nghệ cũng đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu nước ngoài
Năm 1992, các tác giả Barry Bozeman và Karen Coker đã thực hiện
nghiên cứu: “Assessing the effectiveness of technology transfer from US
government R&D laboratories: the impact of market orientation” Nghiên
cứu này cho thấy, việc quan tâm tới thị trường chuyển giao chứng chỉ công nghệ cũng như việc hợp tác với các dịch vụ chuyển giao công nghệ đã mang lại lợi ích rất lớn cho các phòng thí nghiệm
Năm 2000, tác giả Barry Bozeman đã xuất bản cuốn sách: Technology
transfer and public policy: a review of research and theory” Cuốn sách
đã xem xét, tổng hợp các công trình chung nghiên cứu về chuyển giao công nghệ cũng như hiệu quả chuyển giao công nghệ, trên cơ sở đó đưa ra quan điểm của tác giả về các vấn đề lý thuyết liên quan đến quy trình chuyển giao công nghệ
Năm 2004, các tác giả Eric G Campbell, Joshua B Powers, David
Blumenthal, và Brian Biles [46b] đã công bố báo cáo: “Inside the Triple
Helix: Technology Transfer And Commercialization In The Life Sciences” Trong báo cáo này, các tác giả đã tập trung xem xét hiện trạng
của việc chuyển giao và thương mại hóa các quy trình công nghệ cũng như yêu cầu tiềm năng để tối ưu hóa việc trao đổi kiến thức mới trong các ngành khoa học đời sống giữa các viện nghiên cứu và ngành công nghiệp
Trang 101.1.7 Đánh giá tình hình nghiên cứu
Những nghiên cứu trên là các tư liệu tham khảo có giá trị cho tác giả
luận án khi nghiên cứu về “Dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật
Việt Nam hiện nay”
Những thành tựu trong nghiên cứu mà luận án kế thừa và phát triển:
Một là, có nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã đề cập đến khái niệm công nghệ; chuyển giao công nghệ, dịch vụ
Hai là, có một số nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm dịch vụ chuyển giao công nghệ, hoặc đi sâu khảo sát tình hình cung cấp một loại dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đã tập trung vào thực trạng dịch vụ chuyển giao công nghệ sau khi Luật Chuyển giao công nghệ 2006 được ban hành, tới năm 2017, trong khi đạo Luật này đã có nhiều điểm không phù hợp với hoàn cảnh hiện tại khi Luật Chuyển giao công nghệ 2017 có hiệu lực
Các vấn đề còn bỏ ngỏ cần được tiếp tục nghiên cứu
Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách độc lập và tổng thể về khung pháp luật điều chỉnh về các dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam từ trước và sau khi Luật Chuyển giao Công nghệ 2017 được ban hành, tác động của nó trên thực tế Đây là vấn đề còn bỏ ngỏ trong khoa học pháp lý mà đề tài cần nghiên cứu giải quyết
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VỀ DỊCH VỤ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
2.1 Khái niệm về dịch vụ chuyển giao công nghệ
2.1.1 Khái niệm chuyển giao công nghệ
2.1.1.1 Thuật ngữ chuyển giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ (CGCN) là chuyển giao quyền sở hữu hoặc
quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ
Theo UNCTAD “CGCN là việc chuyển giao kiến thức có hệ thống để
sản xuất ra sản phẩm, áp dụng một quy trình hoặc thực hiện một dịch vụ”
Theo định nghĩa này bản chất CGCN là quá trình chuyển giao kiến thức để sản xuất, áp dụng và thực hiện dịch vụ
CGCN là quá trình đưa công nghệ từ môi trường này sang môi trường khác bằng các hình thức khác nhau để sản xuất ra hàng hóa, thực hiện dịch
vụ hoặc cho các mục đích khác
2.1.2 Khái niệm dịch vụ chuyển giao công nghệ
Trang 11Dịch vụ CGCN (Technology Transfer Services) là một thuật ngữ dùng
để chỉ các hoạt động liên quan đến môi giới CGCN, tư vấn CGCN, đánh giá công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ và xúc tiến CGCN Theo khoản 12 điều 3 Luật CGCN: Dịch vụ CGCN là hoạt động hỗ trợ quá trình tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng CGCN
Luật CGCN tại Điều 45 quy định về các loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệ:
1 Môi giới chuyển giao công nghệ
2 Tư vấn chuyển giao công nghệ
3 Đánh giá công nghệ
4 Thẩm định giá công nghệ
5 Giám định công nghệ
6 Xúc tiến chuyển giao công nghệ
2.1.3 Đặc điểm và phân loại dịch vụ chuyển giao công nghệ
2.1.3.1 Đặc điểm dịch vụ chuyển giao công nghệ
Theo Lưu Văn Nghiêm (2008), dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vị của sản xuất vật chất Trên giác độ hàng hoá, dịch vụ là một hàng hóa vô hình mang lại chuỗi giá trị thỏa mãn một nhu cầu nào đó của thị trường
2.1.3.2 Phân loại dịch vụ chuyển giao công nghệ
Phân loại theo quy định của pháp luật
Điều 28 Luật chuyển giao công nghệ quy định dịch vụ CGCN bao gồm:
- Môi giới CGCN là hoạt động hỗ trợ bên có công nghệ, bên cần công
nghệ trong việc tìm kiếm đối tác ký kết hợp đồng CGCN
- Tư vấn CGCN là hoạt động hỗ trợ các bên trong việc lựa chọn công
nghệ, đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng CGCN
- Đánh giá công nghệ là hoạt động xác định trình độ, giá trị, hiệu quả
kinh tế và tác động kinh tế - xã hội, môi trường của công nghệ
- Định giá công nghệ là hoạt động xác định giá của công nghệ
- Giám định công nghệ là hoạt động kiểm tra, xác định các chỉ tiêu của
công nghệ đã được chuyển giao so với các chỉ tiêu của công nghệ được quy định trong hợp đồng CGCN
- Xúc tiến CGCN là hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN;
cung ứng dịch vụ quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ; tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ
Trang 12Dịch vụ liên quan đến chuyển giao công nghệ trên thực tế đa dạng phóng phú hơn nhiều so với quy định hiện hành của pháp luật, có thể kể đến như sau:
- dịch vụ phục vụ mua bán thiết bị công nghệ
- dịch vụ thế chấp, bảo lãnh bằng công nghệ trong đó gồm các tài sản trí tuệ
- dịch vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp công nghệ; khởi sự doanh nghiệp (start up)
- dịch vụ tư vấn đầu tư (cổ phần, chứng khoán có liên quan đến đánh giá, định giá tài sản là công nghệ của doanh nghiệp)
Các loại hình dịch vụ trên đều chưa được pháp điển hóa vào Luật CGCN 2017
2.1.4 Quan điểm về dịch vụ chuyển giao công nghệ trên thế giới và Việt Nam
Về mặt lý thuyết trong CGCN, không tồn tại quan hệ mua – bán thông thường mà thay vào đó là “đối tác” được nhấn mạnh với ý nghĩa
sự hợp tác trên cơ sở bền vững, hình thành mối quan hệ hợp tác cùng có trách nhiệm với công nghệ được chuyển giao giữa bên cung và bên cầu công nghệ, mối quan hệ này cần sự trợ giúp từ tư vấn, môi giới CGCN Môi giới CGCN là hoạt động hỗ trợ bên có công nghệ, bên cần công nghệ trong việc tìm kiếm đối tác ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ
2.1.5 Dịch vụ và dịch vụ chuyển giao công nghệ theo quy định của
Tổ chức thương mại quốc tế (WTO)
2.1.5.1 Khái niệm dịch vụ theo quy định của Hiệp định GATS
2.1.5.2 Cách phân loại dịch vụ theo Hiệp định GATS
WTO phân loại dịch vụ dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế Toàn bộ lĩnh vực dịch vụ được chia ra 12 ngành Mỗi ngành dịch vụ lại được chia ra các phân ngành, trong các phân ngành có liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể Việc phân loại dịch vụ theo WTO rất thích hợp cho việc xúc tiến đàm phán về mở cửa thị trường dịch vụ quốc tế Bởi vì, bản chất của các đàm phán thương mại quốc tế là loại bỏ các hạn chế đối với việc kinh doanh các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ chứ không phải tập trung vào các qui tắc điều chỉnh sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ đó
Hệ thống phân loại của WTO phân chia dịch vụ thành 12 ngành:
Dịch vụ CGCN có thể được xếp vào nhóm (i) Các dịch vụ kinh doanh, cụ thể là khoản a Các dịch vụ chuyên ngành
2.1.5.3 Các phương thức cung cấp dịch vụ theo GATS
Các hoạt động thương mại dịch vụ trong phạm vi quốc tế được quy định trong GATS theo những quy chuẩn pháp lý quốc tế dựa trên 4 phương
Trang 13thức cung cấp dịch vụ theo Điều I khoản 2 Hiệp định GATS)
2.2 Nội dung của dịch vụ chuyển giao công nghệ
Điều 28 Luật chuyển giao công nghệ quy định dịch vụ CGCN bao gồm: môi giới CGCN, tư vấn CGCN, đánh giá công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ, xúc tiến CGCN
- Môi giới chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ bên có công nghệ, bên cần công nghệ trong việc tìm kiếm đối tác ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ
- Tư vấn chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ các bên trong việc lựa chọn công nghệ, đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ
- Xúc tiến chuyển giao công nghệ là hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội chuyển giao công nghệ; cung ứng dịch vụ quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ; tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ
- Đánh giá công nghệ là hoạt động xác định trình độ, giá trị, hiệu quả kinh tế và tác động kinh tế - xã hội, môi trường của công nghệ
- Thẩm định giá công nghệ là việc cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá trị bằng tiền của các loại công nghệ theo quy định của pháp luật phù hợp với giá thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định, phục vụ cho mục đích chuyển giao công nghệ theo tiêu chuẩn thẩm định giá
- Giám định công nghệ là hoạt động kiểm tra, xác định các chỉ tiêu của công nghệ đã được chuyển giao so với các chỉ tiêu của công nghệ được quy định trong hợp đồng chuyển giao công nghệ
2.3 Các yếu tố pháp lý điều chỉnh hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ
2.3.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ
Bên giao công nghệ; Bên nhận công nghệ; Bên cung cấp dịch
vụ CGCN;
2.3.2 Đối tượng của các dịch vụ chuyển giao công nghệ
Đối tượng của các dịch vụ chuyển giao công nghệ bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, phần mềm máy tính
Ví dụ điển hình về đối tượng dịch vụ CGCN:
Sáng chế “Dùng khí đẩy nước chữa cháy thay máy bơm”
Nguồn: [Đề án Lên trời gọi mưa, 2018 trang 49] Tác giả luận án trao
đổi với ông Phan Đình Phương, chủ công nghệ, tháng 8/2018