1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giới thiệu tóm tắt bộ Tư Bản của C.Mác - Đ.Phúc - HVCT

262 28 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 262
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sức sản xuất của lao động lại được quyết định bởi nhiều yếu tố như: trình độ khéo léo trung bình của người công nhân, sự phát triển của khoa học và trình độ áp dụng khoa học, sự kết hợp

Trang 1

MỞ ĐẦU

Bộ Tư bản là công trình đồ sộ nhất và là trung tâm của chủ nghĩa Mác nói

chung và kinh tế chính trị Mác - Lênin nói riêng

Tác phẩm “Tư bản” là một công trình khoa học vĩ đại, lớn về dung lượng - 4 tập, 6 quyển, 4579 trang nội dung, không kể lời tựa, phụ lục, bản chỉ dẫn tên sách, tên người Do vậy, để đọc tác phẩm này đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian, phải có thời gian đọc liên tục; người đọc phải có sự tập trung cao, kiên trì, phải đọc kỹ, chậm rãi, và phải có một phương pháp đọc đúng, thường xuyên liên hệ chặt chẽ giữa các phần đã đọc với phần đang đọc

I ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ Qu¸ tr×nh h×nh thµnh bé

“T- b¶n”

1.1 Đối tượng nghiên cứu của bộ “Tư bản”

C.Mác đã viết đối tượng nghiên cứu của bộ Tư bản là “phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa và những quan hệ trao đổi thích ứng với phương thức sản xuất ấy” “Mục đích cuối cùng là tìm ra qui luật vận động kinh tế của xã hội hiện đại”1

Như vậy, đối tượng nghiên cứu của bộ Tư bản là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tức là nghiên cứu cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội tư bản, nhưng nhấn mạnh quan hệ sản xuất và quan hệ trao đổi, những quan hệ này ra đời một cách khách quan phù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, độc lập với ý muốn của con người Toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cơ sở thực tại của xã hội trên đó xây dựng nên một kiến trúc thượng tầng kinh tế và chính trị

Khi phân tích sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã chỉ rõ sản xuất tư bản chủ nghĩa vừa mang tính chất của sản xuất hàng hóa nói chung, vừa mang những nét đặc thù, vừa bao hàm quá trình lao động nói chung như mọi phương thức sản xuất khác, vừa bao hàm quá trình tăng giá trị Trong tác phẩm Tư bản chúng ta không chỉ tìm thấy những quy luật kinh tế đặc thù, riêng có của chủ nghĩa tư bản mà cả những quy luật chung cho nhiều phương thức sản xuất khác nhau như quy luật của

1 Sđd, T23, Tr.19,21

Trang 2

kinh tế hàng hóa (giá trị, cung cầu, cạnh tranh, lưu thông tiền tệ, tích lũy và tái sản xuất mở rộng, qui luật tăng sức sản xuất của lao động v.v )

Vì thế, một mặt C.Mác phê phán quan điểm cho rằng, những quy luật của đời sống kinh tế chỉ là những quy luật chung, vĩnh viễn là một, áp dụng cho cả quá khứ

và tương lai Người nhấn mạnh, mỗi thời kỳ lịch sử đều có những quy luật kinh tế riêng của nó và một khi đời sống kinh tế đã qua một thời kỳ phát triển nhất định, đã

từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, thì nó cũng bị các qui luật khác chi phối Mặt khác, C.Mác không hề phủ nhận rằng giữa các thời đại sản xuất khác nhau có những cái chung nào đó, một số qui định nào đó, nhưng không vì cái chung, cái thống nhất bắt nguồn từ chỗ chủ thể tức là con người và khách thể, tức là tự nhiên, đồng nhất, mà quên đi sự khác nhau căn bản Trên quan điểm đó khi nghiên cứu bộ

Tư bản phải tìm hiểu cả những cái riêng của chủ nghĩa tư bản và cả những cái chung của kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường để vận dụng vào điều kiện cụ thể

Tuy đối tượng chung của bộ Tư bản như trên, nhưng do phương pháp trình bày đi từ trừu tượng đến cụ thể nên đối tượng nghiên cứu của từng tập, từng quyển, từng phần có sự khác nhau

1.2 Quá trình hình thành bộ “Tư bản”

Tư bản là một tác phẩm thiên tài của Mác Để viết tác phẩm chủ yếu của mình Mác đã làm việc trong suốt thời gian bốn chục năm, từ đầu những năm 40 của thể kỷ XIX đến cuối đời

- C.Mác bắt tay vào việc nghiên cứu khoa kinh tế chính trị một cách có hệ thống từ cuối năm 1843 ở Pa-ri Nghiên cứu các sách báo kinh tế, ông tự đặt cho mình mục đích viết một tác phẩm lớn phê phán chế độ hiện tồn và khoa kinh tế chính trị tư sản Những công trình nghiên cứu đầu tiên của ông trong lĩnh vực đó đã được phản ánh vào những tác phầm như “bản thảo triết học - kinh tế năm 1844”,

“Hệ tư tưởng Đức”, “Sự khốn cùng của triết học”, “Lao động làm thuê và tư bản”,

“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, v.v

Sau một thời gian gián đoạn do những sự kiện vũ bão của cuộc cách mạng

1848 – 1849 gây ra, Mác chỉ có thể tiếp tục những công trình nghiên cứu kinh tế

Trang 3

của mình ở Luân Đôn, nơi ông bị bắt buộc di cư đến vào tháng 8 năm 1849 Ở đây ông nghiên cứu một cách sâu sắc toàn diện lịch sử kinh tế quốc dân và nền kinh tế của các nước khác nhau trong thời ông, nhất là của nước Anh, nước cổ điển của chủ nghĩa tư bản hồi bấy giờ

Công việc nghiên cứu của Mác diễn ra trong những điều kiện khó khăn không thể tưởng tượng được Ông luôn phải đấu tranh với sự thiếu thốn và lắm lúc phải tạm ngừng công việc nghiên cứu để kiếm sống Sự cố gắng quá mức và kéo dài trong điều kiện thiếu thốn về vật chất đã làm Mác bị ốm nặng Tuy vậy, đến năm 1857, Mác đã làm xong được công việc chuẩn bị to lớn cho phép ông bắt tay vào giai đoạn hoàn thành công cuộc nghiên cứu: giai đoạn khái quát hóa và hệ thống hóa những tư liệu đã thu thập được

- Biến thể đầu tiên của Bộ “Tư bản” là Bản thảo kinh tế 1957-1958: Từ

tháng 8 năm 1857 đến hết tháng 6 năm 1858, Mác đã soạn được một bản thảo với một khối lượng gần 50 tờ in; đó gần như là bản sơ thảo của bộ “Tư bản” về sau này (Bản thảo này mãi đến năm 1939 – 1941 mới được Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô công

bố lần đầu tiên bằng tiếng Đức, dưới nhan đề “Grundrisse der Kritik der politischen Okonomie” “Khái luận phê phán khoa kinh tế chính trị”)

Bên cạnh đó, tháng 11 năm 1857, Mác còn soạn một đề cương cho tác phẩm của mình, đề cương này về sau đã được chi tiết hóa và chính xác hóa thêm một cách căn bản Công trình đó của ông được chia thành 6 quyển: 1) về tư bản (với một chương mào đầu); 2) về quyền sở hữu ruộng đất; 3) về lao động làm thuê; 4)

về nhà nước; 5) về ngoại thương; 6) về thị trường thế giới

Trong quyền đầu “về tư bản”, ông dự định có 4 phần: a) Tư bản nói chung, b) Sự cạnh tranh giữa các tư bản, c) Tín dụng, d) Tư bản cổ phần

Trong “Tư bản nói chung” lại còn được chia ra thành các phần nhỏ: 1) Quá trình sản xuất của tư bản, 2) Quá trình lưu thông của tư bản và 3) Sự thống nhất giữa hai cái đó, hay tư bản và lợi nhuận, lợi tức

Điều rất đáng chú ý là chính từ sự phân chia nhỏ này lại là cơ sở để Mác

Trang 4

phân chia toàn bộ tác phẩm thành ba tập tương ứng của bộ “Tư bản”

Đồng thời, Mác quyết định tác phẩm do ông viết sẽ được ra từng tập một và tập đầu, “trên một mức độ nào đấy, nhất thiết phải là một công trình hoàn chỉnh”, chỉ bao quát phần đầu của quyển một, gồm 3 chương: 1) Hàng hóa; 2) Tiền hay lưu thông giản đơn và 3) Tư bản Nhưng vì những lý do chính trị, chương thứ ba đã không được đưa vào trong bản biến thể cuối cùng của tập đầu, tức là trong cuốn

“Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” C.Mác đã viết lại chương nói về hàng hóa và soạn lại một cách căn bản chương nói về tiền, lấy trong bản thảo năm 1857 – 1858 để cho “tập đầu”

- Cuốn “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” đã ra đời năm 1859

Sau đó chẳng bao lâu, ông dự định thực hiện cả “tập hai”, tức là công bố chương nói về tư bản mà ta đã nhắc đến trên đây, chương cấu thành nội dung chủ yếu của bản thảo năm 1857- 1858 C.Mác bắt đầu trở lại công việc nghiên cứu một cách có

hệ thống khoa kinh tế chính trị ở Viện bảo tàng Anh Tuy nhiên, ngay sau đó ít lâu Mác đã phải tạm hoãn công việc nghiên của mình để viết báo vạch mặt những vụ

đả kích vu khống của C.Phốc, một tên tay sai của Bô-na-pác-tơ và do những công việc cấp bách khác

- Biến thể thứ hai của Bộ “Tư bản” là Bản thảo 1861- 1863: tháng 8 năm

1861, Mác mới bắt đầu viết một bản thảo lớn và kết thúc bản thảo đó vào giữa năm

1863 Với một khối lượng lớn gần 200 tờ in, gồm 23 quyền vở, bản thảo đó cũng được đặt tên giống như quyển sách năm 1859 “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” Phần lớn các quyển vở đó (các quyển vở VI – XV và XVIII) bàn về lịch

sử các học thuyết kinh tế Trong 5 quyển vở đầu và nhất là trong các quyển vở XIX – XXIII, Mác trình bày những đề tài của tập một bộ “Tư bản” Ở đây Mác phân tích việc chuyển hóa của tiền thành tư bản, trình bày học thuyết giá trị thặng dư, tuyệt đối và tương đối và đề cập đến nhiều vấn đề khác Đặc biệt trong các quyển

vở XIX và XX, ông đã đặt cơ sở vững chắc cho chương 13 của tập đầu bộ “Tư bản”, “chương máy móc đại công nghiệp” Trong các quyển vở XXI – XXIII, ông

đã làm sáng tỏ các vấn đề thuộc về các tập khác nhau của bộ “Tư bản” Toàn bộ

Trang 5

các quyển vở XVI – XVII được dành cho những vấn đề của tập ba bộ “Tư bản” Như vậy trên một mức độ nhất định, bản thảo 1861- 1863 cũng đã đề cập đến những vấn đề của cả bốn tập bộ “Tư bản”

Trong quá trình làm việc sau đó, Mác quyết định xây dựng toàn bộ tác phẩm của mình theo bản đề cương mà ông đã vạch ra trước đây trong phần “tư bản nói chung” với ba phần nhỏ của nó mà trên đã đề cập Trong bức thư gửi cho Cu-ghen-man ngày 13 tháng 10 năm 1866, Mác viết “Toàn bộ tác phẩm được phân thành những phần như sau: Quyển I) Quá trình sản xuất tư bản Quyển II) Quá trình lưu thông của tư bản Quyển III) Các hình thái của toàn bộ quá trình Quyển IV) Lịch

sử của các học thuyết” Mác cũng bỏ cả kế hoạch trước đây dự định in tác phẩm thành những tập riêng và ông đặt nhiệm vụ chuẩn bị cho xong toàn bộ tác phẩm trước đã, dù chỉ về cơ bản rồi mới in tác phẩm ấy

Vì thế Mác tiếp tục khẩn trương chuẩn bị cho tác phẩm của mình, đặc biệt là chuẩn bị những phần còn chưa được phát triển đầy đủ trong bản thảo 1861 – 1863 Trong thời gian hai năm rưỡi (từ tháng 8 năm 1863 đến cuối năm 1865) bên cạnh việc nghiên cứu thêm một khối lượng lớn các sách báo kinh tế và kỹ thuật, Mác đã viết một bản thảo lớn mới, bản này chính là cấu thành bản viết đầu tiên, được soạn một cách chi tiết, của ba tập bộ “Tư bản” Và chỉ sau khi toàn bộ tác phẩm được viết xong (tháng giêng 1866), Mác mới bắt tay vào việc gọt giũa để cho in, và hơn nữa theo lời khuyên của Ăng-ghen, ông quyết định chuẩn bị đưa ra in không phải toàn bộ tác phẩm ngay lập tức, mà đưa in trước hết tập đầu bộ “Tư bản”

- Xuất bản tập I năm 1967: Tập I bộ “Tư bản” ra đời (tháng Chín 1867) Sau khi tập I ra đời Mác vẫn tiếp tục xem lại tập đó vì phải chuẩn bị cho những lần in mới bằng tiếng Đức và cho những bản dịch ra tiếng nước ngoài Ông đã sửa chữa lại rất nhiều đoạn trong bản in lần thứ hai (1872), đã có những chỉ dẫn rất quan trọng nhân dịp in bản tiếng Nga là bản ra đời ở Pê-téc-pua năm 1872 và là bản dịch đầu tiên ra tiếng nước ngoài của bộ “Tư bản”, ông cũng đã soạn lại một phần lớn bản dịch tiếng Pháp và biên tập bản đó (bản này được in thành từng tập trong những năm 1872 - 1875)

Trang 6

Sau khi tập I bộ “Tư bản” ra đời, Mác tiếp tục soạn những tập viết với ý định

là hoàn thành toàn bộ tác phẩm trong ít lâu sau Nhưng Mác đã không thực hiện được ý định ấy Lý do khiến ông không thể hoàn thành được ý định là do hoạt động nhiều mặt của ông trong Tổng hội đồng Quốc tế I đã chiếm mất nhiều thời giờ của ông; mặt khác do sức khỏe của ông trong thời gian này không được tốt Hơn nữa

do tính hết sức chân thực về mặt khoa học và tính thận trọng của Mác, sự tự phê bình nghiêm khắc - sự tự phê bình mà theo như lời của Ăng-ghen thì đã khiến Mác

“cố nghiên cứu cho đến mức hoàn thiện nhất những phát hiện kinh tế vĩ đại của mình trước khi công bố những phát hiện ấy” - đã buộc ông phải không ngừng quay trở lại nghiên cứu thêm mỗi khi ông xem xét vấn đề này hay vấn đề khác

- Chỉ sau khi Mác mất thì hai tập tiếp theo của bộ “Tư bản” mới được ghen đưa ra in và xuất bản Tập thứ hai xuất bản năm 1885 và tập thứ ba vào năm

Ăng-1894, bằng việc đó Ăng-ghen đã cống hiến vô giá vào kho tàng của chủ nghĩa công sản khoa học

Sau khi Mác mất, Ăng-ghen đã biên tập bản dịch tiếng Anh của tập I bộ “Tư bản” (xuất bản năm 1887), đã chuẩn bị để xuất bản lần thứ ba (1883) và lần thứ tư (1890) quyển I bộ “Tư bản” bằng tiếng Đức Ngoài ra sau khi Mác mất, trong sinh thời của Ăng-ghen, tập I bộ “Tư bản” đã được xuất bản như sau: ba bản in bằng tiếng Anh ở Luân Đôn (1888, 1889 và 1891), ba bản in bằng tiếng Anh ở Niu Oóc (1887, 1889 và 1890), bản in bằng tiếng Pháp ở Pa-ri (1885), bằng tiếng Đan Mạch

ở Cô-pen-ha-gơ (1885), bằng tiếng Tây Ban Nha ở Ma-đrít (1886), bằng tiếng li-a ở Tua-rin-gơ (1886), bằng tiếng Ba Lan ở Lai-pxích (1884-1889), bằng tiếng

I-ta-Hà Lan ở Am-xtéc-đam (1894), cũng như một loạt bản in không đầy đủ khác

Trong bản in lần thứ tư bằng tiếng Đức (1890), dựa trên những lời chỉ dẫn của chính Mác, Ăng-ghen đã biên tập cuối cùng nguyên bản và những chú thích của tập I bộ “Tư bản” Hiện nay trên toàn thế giới, tác phẩm này được in lại và dịch theo bản in lần thứ tư bằng tiếng Đức Ở Việt hiện nay các tập I, II, III của bộ “Tư bản” được xuất bản cũng dựa trên bản in lần thứ tư bằng tiếng Đức và được in trong các tập 23, 24, 25 (phần I, phần II), của C.Mác và Ph Ăng-ghen toàn tập,

Trang 7

Nhà xuất Chính trị quốc gia, Hà Nội 1993, 1994

Quyển IV “Các học thuyết về giá trị thặng dư” của C.Mác đã được Cau -ski xuất bản lần đầu tiên trong những năm 1905 – 1910 Những bản do Cau-ski xuất bản còn nhiều thiếu sót về chất lượng, thậm chí còn có những chỗ sai lầm hoặc bóp méo nguyên bản Vì vậy, đến năm 1954 – 1961 trên cơ sở thẩm tra tỷ mỉ và xác minh rõ về căn bản Viện nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin trực thuộc ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô mới chuẩn bị xong và năm 1962 cho ra mắt quyển IV sát đúng hơn cả so với nguyên cảo của C.Mác Ở Việt Nam, Quyển

IV bộ “Tư bản” được in trong tập 26 (phần I, phần II) của C.Mác và Ph Ăng-ghen

toàn tập, Nhà xuất Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995

II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ Ý NGHĨA CỦA TÁC PHẨM TƯ BẢN

Tư bản là công trình khoa học nghiên cứu nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thời kỳ tự do cạnh tranh ở nước Anh cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI Những nội dung của nó cung cấp cho người đọc không chỉ những tri thức chung về kinh tế chính trị mà còn cung cấp những tri thứcvề triết học và xã hội học… Song cuốn sách chỉ khai thác những nội dung của tác phẩm dưới khía cạnh khoa học kinh tế chính trị

Quyển I: Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa

Trang 8

- Đối tượng nghiên cứu của quyển I: Nghiên cứu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành, tồn tại, vận động và phát triển; nghiên cứu các quy luạt chi phối sự hình thành, tồn tại, vận động phát triển và chuyển hóa của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhất là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản

- Phương pháp nghiên cứu: trong tập này C.Mác sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học Trừu tượng hóa lưu thông để nghiên cứu sản xuất trong trạng thái thuần túy Đi từ hiện tượng đến bản chát của vấn đề nghiên cứu

- Về kết cấu: Quyển I gồm 7 phần:

NỘI DUNG

1.1 Phần thứ nhất - hàng hóa và tiền tệ

1.1 1 Hàng hóa

1.1.1.1 Hai nhân tố của hàng hóa: giá trị sử dụng và giá trị

Trong Phần này, C.Mác tập trung nghiên cứu hàng hóa và tiền tệ, vạch rõ quan hệ của những người sản xuất hàng hóa thể hiện trong H và T Sở dĩ, C.Mác

nghiên cứu từ hàng hóa vì hai lý do Một là, cái thống trị trong xã hội tư bản chủ

nghĩa là hàng hóa, nó biểu hiện ra là một “đống hàng hóa khổng lồ chồng chất lại, còn từng hàng hóa một thì biểu hiện ra là hình thái nguyên tố của của cải ấy”2; hai

là, sự nhận thức về phạm trù hàng hóa trên các thuộc tính của nó chính là cơ sở,

nền tảng cho việc nhận thức các phạm trù khác của kinh tế chính trị Vì vậy, công việc trước tiên trong nghiên cứu kinh tế chính trị phải bắt đầu từ việc phân tích hàng hóa

Với cách tiếp cận đi từ cụ thể đến trừu tượng, C.Mác đã chỉ ra rằng, hàng hóa trước hết phải là một vật nhờ có những thuộc tính của nó mà có thể thỏa mãn một loại nhu cầu nào đó của con người (nhu cầu vật chất hay tinh thần, trực tiếp hay gián tiếp)

Chính tính chất có ích hay công dụng của một vật khiến cho nó trở thành

một giá trị sử dụng “Tính có ích do thuộc tính của vật thể hàng hóa quyết định,

2 C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, T.23, tr.61

Trang 9

nó không tồn tại bên ngoài vật thể hàng hóa này”3 Giá trị sử dụng là yếu tố cấu thành nội dung vật chất của của cải và nó không phụ thuộc vào hình thái xã hội của của cải đó Bởi vậy giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn Còn trong hình thái xã hội mà chúng ta đang nghiên cứu thì giá trị sử dụng đồng thời cũng

là những vật mang giá trị trao đổi

Giá trị trao đổi trước hết là biểu hiện ra như là một quan hệ về số lượng, là một tỷ lệ theo đó những giá trị sử dụng này được trao đổi với những giá trị sử dụng khác4 Chẳng hạn, 1 quác tơ lúa mì trao đổi với x xi đánh dầy hay y lụa hay với z vàng… Như vậy lúa mì không phải chỉ có một giá trị trao đổi, mà có nhiều giá trị trao đổi Từ đó có thể kết luận rằng: “một là, các giá trị trao đổi khác nhau của cùng một thứ hàng hóa đều biểu thị một cái gì đó giống nhau, và hai là, giá trị trao đổi nói chung chỉ có thể là một phương thức biểu thị một nội dung nào đó khác mà thôi”5 Vậy cái nội dung nào đó khác mà giá trị trao đổi biểu hiện ở đây

là cái gì ?

Sau khi khẳng định, cái chung làm cơ sở cho sự trao đổi giữa các hàng hóa không thể là giá trị sử dụng của hàng hóa C.Mác đi đến khẳng định: cái chung khiến cho hàng hóa có thể trao đổi được với nhau, bởi vì chúng đều là sản phẩm của lao động “Nếu gạt giá trị sử dụng của vật thể hàng hóa ra một bên, thì vật thể hàng hóa chỉ còn có một thuộc tính mà thôi, cụ thể là: chúng là sản phẩm của lao động”6 Lao động mà Mác đề cập đến ở đây không phải là lao động cụ thể

mà là lao động trừu tượng C.Mác khẳng định sau khi gạt bỏ tất cả những biểu hiện bên ngoài mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng các giác quan thì chỉ còn lại “một sự kết tinh đơn thuần, không phân biệt, của lao động của con người, tức là một sự chi phí về sức lao động của con người không kể đến hình thức của

sự chi phí đó Tất cả những vật ấy bây giờ chỉ còn biểu hiện một điều là trong việc sản xuất ra chúng, sức lao động của con người đã được chi phí vào đấy, lao động của con người đã được tích lũy vào đấy Là những tinh thể của cái thực thể

3 Sđd, tr.63

4 Sđd, tr.63

5 Sđd, tr.64

6 Sđd, tr.65

Trang 10

xã hội chung cho tất cả các vật ấy, cho nên các vật ấy đều là những giá trị - những giá trị hàng hóa”7 Như vậy, “cái chung biểu hiện trong quan hệ trao đổi hay trong giá trị trao đổi của các hàng hóa, chính là giá trị của chúng”8 Vì vậy, giá trị của hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản suất hàng hóa kết tinh lại

Để đo lường đại lượng giá trị hàng hóa, theo C.Mác phải sử dụng đúng cái

“thực thể tạo ra giá trị” chứa đựng trong hàng hóa, đó chính là lượng lao động

đã hao phí làm cơ sở để xác định Bản thân lượng lao động thì được đo bằng thời gian lao động; nhưng không phải là thời gian lao động cá biệt mà là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với một trình độ thành thạo trung bình

và cường độ lao động trung bình trong xã hội đó

Lượng giá trị hàng hóa phụ thuộc vào thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó Mà thời gian lao động xã hội cần thiết là một đại lượng không cố định, nó phụ thuộc vào sức sản xuất của lao động, sức sản xuất của lao động càng lớn thì thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra vật phẩm càng ít, khối lượng lao động kết tinh trong vật phẩm đó càng nhỏ và giá trị của vật phẩm càng ít và ngược lại

Sức sản xuất của lao động lại được quyết định bởi nhiều yếu tố như: trình

độ khéo léo trung bình của người công nhân, sự phát triển của khoa học và trình

độ áp dụng khoa học, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và hiệu xuất của tư liệu sản xuất, các điều kiện thiên nhiên…Như vậy, lượng giá trị hàng hóa tỷ lệ thuận với lượng lao động kết tinh trong hàng hóa và tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động đó9

Cuối cùng C.Mác đi đến kết luận, một vật phẩm chỉ trở thành hàng hóa khi thỏa mãn ba điều kiện: có ích; là sản phẩm của lao động; và phải được

7 Sđd, tr.66

8 Sđd, tr.66

9 Sđd, tr 69

Trang 11

chuyển vào tay người khác bằng con đường trao đổi

1.1.1.2 Tính chất hai mặt của lao động biểu hiện trong hàng hóa

C.Mác là người đầu tiên đã chứng minh một cách có phê phán tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Lao động cụ thể, là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của một ngành nghề chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể

có mục đích riêng, đối tượng riêng, phương pháp riêng và tạo ra một giá trị sử dụng nhất định “Cái áo là một giá trị sử dụng thỏa mãn một nhu cầu nhất định Muốn tạo ra nó cần phải có một loại hoạt động sản xuất nhất định Hoạt động này được quyết định bởi mục đích, cách làm, đối tượng, tư liệu và kết quả của nó Lao động

mà tính chất có ích biểu hiện ra như vậy là lao động có ích”10

Trong khi phân tích về lao động cụ thể, C.Mác đã có sự phân tích về điều kiện tồn tại của nền sản xuất hàng hóa C.Mác chỉ rõ để nền sản xuất hàng hóa tồn tại phải có hai điều kiện:

Trước hết là sự phân công lao động xã hội: “Lao động cụ thể, thể hiện sự phân công lao động xã hội và sẽ phát triển thành sự phân công lao động xã hội

Sự phân công lao động xã hội này là điều kiện tồn tại của nền sản xuất hàng hóa, mặc dầu ngược lại, sản xuất hàng hóa không phải là điều kiện tồn tại của sự

phân công lao động xã hội”; thứ hai là, những người sản xuất phải độc lập,

không phụ thuộc vào nhau “chỉ có những sản phẩm của lao động tư nhân độc lập

và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hóa”11 Như vậy cứ ở đâu, khi nào có sự tồn tại đồng thời của hai điều kiện là sự phân công lao động xã hội và người sản xuất phải độc lập và không phụ thuộc vào nhau thì ở đó có sự tồn tại của nền sản xuất hàng hóa

Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, nó không phụ thuộc vào bất kỳ hình thái xã hội nào mà nó tồn tại “với tư cách là kẻ sáng tạo ra giá trị sử dụng,

là lao động có ích, thì lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào bất kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự

10 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.71

11 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.72

Trang 12

sống của con người”12 Tuy nhiên, lao động không phải là nguồn gốc duy nhất của những giá trị sử dụng hay của cải, mà như Uy-li-am Pét-ti nói, lao động là cha của của cải, còn đất đai là mẹ của nó13

Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt

bỏ những hình thức cụ thể chỉ còn lại sự hao phí về sức lực, thần kinh cơ bắp của con người C.Mác viết “nếu như không kể tính chất cụ thể nhất định của hoạt động sản xuất, và do đó đến tính có ích của lao động, thì trong lao động ấy chỉ còn lại có một cái là sự tiêu phí sức lao động của con người…một sự chi phí sản xuất về óc, bắp thịt, thần kinh và bàn tay… của con người”14

Xét về mặt chất, giá trị của hàng hóa chỉ đại biểu cho lao động của con người, cho sự chi phí lao động của con người nói chung Xét về mặt lượng, nó phải chứa đựng trong đó số lượng lao động đã hao phí để sản xuất ra nó Nhưng

sự hao phí sức lao động của những người sản xuất khác nhau là không giống nhau Có sản phẩm do lao động giản đơn làm ra, có sản phẩm do lao động phức tạp, thậm chí cực kỳ phức tạp làm ra Vậy làm thế nào để những sản phẩm đó có thể trao đổi ngang giá được với nhau ?

C.Mác đã phát hiện ra rằng, “Lao động phức tạp chỉ là lao động giản đơn nâng lên thành lũy thừa, hay nói cho đúng hơn, là lao động giản đơn được nhân lên, thành thử một lao động phức tạp nhỏ hơn thì tương đương với một lao động giản đơn lớn hơn”15 Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một con người bình thường nào cùng đều có thể làm được Việc qui lao động phức tạp thành lao động giản đơn diễn ra một cách thường xuyên, đằng sau lưng những người sản xuất Vì vậy, một hàng hóa có thể là sản phẩm của một lao động phức tạp nhất, nhưng giá trị của hàng hóa đó vẫn làm cho nó ngang giá với sản phẩm của lao động giản đơn

Điều cần phải lưu ý là, kể từ đây về sau trong các trình bày của mình, C.Mác đều coi mọi lao động như là một sức lao động giản đơn để tránh khỏi

12 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.73

13 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.74

14 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.74

15 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.75

Trang 13

phải qui lao động phức tạp thành lao động giản đơn trong từng trường hợp một

1.1.1.3 Hình thái của giá trị hay giá trị trao đổi

* Hình thái giản đơn, đơn nhất hay ngẫu nhiên

- Hai cực biểu hiện của giá trị: hình thái tương đối của giá trị và hình thái ngang giá Mác đưa ra ví dụ: 20 vuông vải = 1 cái áo Ở ví dụ này hai hàng hóa đóng vai trò khác nhau, vải biểu hiện giá trị của nó bằng cái áo, còn cái áo được dùng làm vật liệu cho biểu hiện giá trị của nó Như vậy, giá trị của hàng hóa thứ nhất được biểu hiện như một giá trị tương đối hay hàng hóa đó đang ở trong hình thái tương đối của giá trị, còn hàng hóa thứ hai đóng vai trò là vật ngang giá hay đang trong hình thái ngang giá

- Hình thái tương đối của giá trị: Thông thường, người ta chỉ xem xét về mặt số lượng (tỷ lệ) để đem so sánh các hàng hóa khác nhau, nhưng người ta quên rằng muốn so sánh về số lượng thì phải quy về “một thể thống nhất” Vì vậy, theo C.Mác cần phải tạm thời gạt bỏ mặt số lượng đi

Ở phương trình: 20 vuông vải = 01 cái áo, hình thái giá trị của vải và áo được thể hiện ra, giá trị của vải được biểu hiện bằng cách so sánh với áo coi đó

là vật ngang giá có thể đổi trực tiếp với vải, còn áo là hình thái tồn tại của giá trị Mặt khác, bản thân vải cũng có giá trị, nếu vải không có giá trị thì áo không thể làm vật ngang giá cho nó Hình thái giá trị của chúng được thể hiện qua lao động

xã hội kết tinh trong đó Như vậy, lao động tạo ra giá trị song bản thân nó không phải là giá trị, nó chỉ là giá trị được kết tinh trong một vật phẩm, nhưng khi nó nằm trong một mình vật phẩm thì nó không biểu hiện ra được mà phải có một vật khác về hình thái tự nhiên nhưng giống về mặt kết tinh lao của động để làm vật ngang giá giúp cho giá trị của chúng được biểu hiện ra Do đó trong quan hệ giá trị, hình thái tự nhiên của vật phẩm thứ hai trở thành hình thái giá trị, còn giá trị của vật phẩm thứ nhất thì được thể hiện trong vật thứ hai

- Hình thái ngang giá: Khi một hàng hóa A biểu hiện giá trị của nó bằng giá trị sử dụng của một hàng hóa B khác với nó thì nó đồng thời cũng đem lại cho hàng hóa B đó một hình thái giá trị đặc biệt- hình thái vật ngang giá Hàng

Trang 14

hóa vải bộc lộ sự tồn tại về mặt giá trị của bản thân nó bằng cách là cái áo Như vậy, vải biểu hiện sự tồn tại về mặt giá trị của nó là do áo có thể trao đổi trực tiếp được với nó Do đó, hình thái ngang giá của một hàng hóa chính là hình thái trong đó nó có thể trao đổi trực tiếp lấy một hàng hóa khác Nghiên cứu về hình thái ngang giá, C.Mác đã chỉ ra có ba đặc điểm cơ bản

Thứ nhất, giá trị sử dụng trở thành hình thái biểu hiện của cái đối lập với

nó, tức là giá trị

Thứ hai, lao động cụ thể trở thành hình thái biểu hiện của cái đối lập với

nó, tức của lao động trừu tượng của con người

Thứ ba, lao động tư nhân trở thành hình thái đối lập với nó, tức là trở

thành lao động dưới hình thái xã hội trực tiếp

- Toàn bộ hình thái giản đơn của giá trị: Theo C.Mác, hình thái giản đơn của giá trị nằm trong quan hệ trao đổi giữa hàng hóa thứ nhất với hàng hóa thứ hai Về mặt chất, giá trị của hàng hóa thứ nhất được biểu hiện bằng thuộc tính của hàng hóa thứ hai có thể trao đổi trực tiếp với nó Về mặt lượng, giá trị đó được biểu hiện bằng việc trao đổi một lượng hàng hóa thứ hai với một lượng hàng hóa thứ nhất Như vậy, giá trị được biểu hiện trong giá trị trao đổi

Từ những lập luận trên, C.Mác đã phê phán quan niệm sai lầm của phái trọng thương và phái trao đổi tự do khi cho rằng trao đổi sinh ra giá trị và lượng giá trị, ông viết “ sự phân tích của chúng ta cho thấy rằng, hình thái giá trị hay biểu hiện giá trị của hàng hóa, chính là do bản chất của giá trị hàng hóa đẻ ra chứ không phải là ngược lại, không phải là phương thức biểu hiện giá trị đó với

tư cách là giá trị trao đổi đã đẻ ra giá trị và đại lượng của giá trị”16

* Hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị

Hình thái giá trị giản đơn rõ ràng là chưa đầy đủ, nó chỉ nói lên hai vật có thể trực tiếp trao đổi được với nhau còn các vật khác thì chưa biết Do đó, theo C.Mác phải chuyển sang một hình thái khác đầy đủ hơn, tức là hình thái đầy đủ hay mở rộng: 20 vuông vải = 1 cái áo, hay = 10 pao chè, hay 40 pao cà phê, hay

16 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.99

Trang 15

= 2 ôn-xơ vàng

Ở đây, giá trị của một hàng hóa, của vải chẳng hạn được biểu hiện bằng vô

số những nguyên tố khác của thế giới hàng hóa Đến đây thì giá trị của hàng hóa mới thực sự thể hiện ra là kết tinh của lao động con người Sở dĩ như vậy là vì lao động tạo ra giá trị ấy bây giờ được biểu hiện ra một cách rất rõ ràng thành một lao động ngang với bất kỳ một thứ lao động nào khác của con người, không

kể là lao động này mang một hình thái tư nhiên như thế nào và được vật hóa trong cái gì Và như vậy, không phải sự trao đổi điều tiết đại lượng giá trị của hàng hóa, mà ngược lại, chính đại lượng giá trị của một hàng hóa điều tiết quan

hệ trao đổi của hàng hóa đó

Tuy nhiên, C.Mác cũng đã chỉ ra những thiếu sót của hình thái đầy đủ hay

mở rộng của giá trị đó là: biểu hiện tương đối của giá trị hàng hóa chưa được hoàn tất vì chuỗi giá trị của hàng hóa không bao giờ chấm dứt được cả

* Hình thái chung của giá trị

Trong hình thái này, quan hệ giữa sự phát triển của hình thái tương đối

Trang 16

của giá trị và hình thái vật ngang giá luôn tương ứng với nhau Song sự phát triển của hình thái vật ngang giá chỉ là biểu hiện và là kết quả của sự phát triển của hình thái tương đối của giá trị Khi các loại hàng hóa đóng vai trò là vật ngang giá được thống nhất cố định ở một một loại hàng hóa đặc biệt thì sẽ trở thành hàng hóa – tiền hay làm chức năng tiền, đó chính là bước chuyển từ hình thái phổ biến của giá trị sang hình thái tiền

1.1.1.4 Tính chất bái vật giáo của hàng hóa và bí mật của nó

Bái vật giáo hàng hóa hay sùng bái hàng hoá là khái niệm được C.Mác sử dụng để chỉ tính chất thần bí của hàng hoá “Trong cái cõi ấy (cõi mù mịt của thế giới tôn giáo), các sản phẩm của bộ óc con người thể hiện ra thành những sinh vật độc lập, có cuộc sống riêng của chúng, có những mối quan hệ nhất định với con người và giữa chúng với nhau Trong thế giới hàng hóa, các sản phẩm

do bàn tay con người làm ra cũng thế Tôi gọi cái đó là tính chất bái vật giáo gắn liền với các sản phẩm lao động khi những sản phẩm này được sản xuất ra với tư cách là hàng hóa, và do đó tính chất bái vật giáo ấy không thể tách rời khỏi phương thức sản xuất hàng hóa được”17

Tính chất thần bí đó thể hiện ở chỗ là quan hệ giữa người với người trong sản xuất hàng hoá mang hình thức ảo tưởng là quan hệ xã hội giữa vật với vật

17 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.116

Trang 17

Sản phẩm của lao động chuyển thành hàng hoá, thì hàng hoá vừa là vật có thể cảm giác được, xét về mặt vật chất, nhưng lại vừa không thể cảm giác được, xét

về mặt xã hội Hàng hoá là những sản phẩm của những lao động tư nhân tiến hành độc lập với nhau; nhưng những quan hệ giữa họ với nhau không xuất hiện là những quan hệ trực tiếp với nhau ngay trong lao động của họ nên khi hàng hoá trao đổi với nhau thì chúng lại xuất hiện thành những quan hệ xã hội giữa vật và vật Tính chất xã hội của các lao động khác nhau mang một hình thái xã hội đặc biệt, một hình thái khách quan, tức là hình thái giá trị của các sản phẩm lao động

Do đó, những quan hệ vốn dễ sáng tỏ, hợp lí giữa những người sản xuất bị che lấp

1.1 2 Quá trình trao đổi

Trong mục này một lần nữa C.Mác đi sâu phân tích thêm về điều kiện để sản phẩm trở thành hàng hóa; mối quan hệ giữa các thuộc tính của hàng hóa; sự phát triển của trao đổi hàng hóa và sự ra đời của tiền, bản chất của tiền

Muốn cho những đồ vật trao đổi được với nhau như những hàng hóa thì cần có các điều kiện

Trước hết, các vật phẩm đó phải có công dụng hay giá trị sử dụng cho

người khác, phải có giá trị, và chúng phải được đem ra trao đổi C.Mác viết:

“Tất cả các hàng hóa đều không phải là giá trị sử dụng đối với người chủ của chúng, và đều là giá trị sử dụng đối với những người không phải là chủ của chúng Do đó hàng hóa phải luân chuyển từ tay người này sang tay người khác các hàng hóa phải được thực hiện với tư cách là những giá trị ”

Thứ hai, người sở hữu các đồ vật đó hay chủ hàng hóa phải mang chúng

18 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.121

Trang 18

đến thị trường và phải nhượng lại hàng hóa của mình cho người khác trên cơ sở tôn trọng ý chí nguyện vọng hay lợi ích của nhau, do đó phải công nhận lẫn nhau là những người tư hữu, “ Phải mặc nhiên coi nhau là những kẻ sở hữu tư nhân đối với các vật có thể chuyển nhượng, và do đó là những con người độc lập đối với nhau”19

1.1 3 Tiền hay lưu thông hàng hóa

1.1.3.1 Thước đo giá trị

Trong phần này để cho đơn giản, C.Mác giả định vàng là hàng hóa làm chức năng tiền tệ để biểu hiện giá trị của các hàng hóa

Vàng được dùng làm thước đo giá trị chỉ vì bản thân nó là sản phẩm của lao động, và do đó là một giá trị khả biến

Trong chức năng làm thước đo giá trị thì tiền chỉ được dùng với tư cách là tiền trong trí tưởng tượng, hay tiền trên ý niệm mà thôi Nhưng để chuyển từ việc

đo lường thành việc trao đổi trên thực tế thì phải là tiền thật, tức phải có tiền trong túi để hiện thực hóa việc trao đổi Mặc dù chức năng thước đo giá trị chỉ do tiền trên ý niệm thực hiện, nhưng giá cả thì lại hoàn toàn phụ thuộc vào chất liệu tiền hiện thực Do đó, tùy theo thước đo giá trị là vàng, bạc, hay đồng mà giá trị của một hàng hóa được biểu thị bằng những giá cả hoàn toàn khác nhau, hay bằng những lượng vàng, bạc, đồng khác nhau Trong lịch sử, mặc dù cả vàng, bạc đều được dùng làm thước đo giá trị, nhưng trên thực tế thì bao giờ cũng chỉ có một trong hai kim loại đó là giữ được chức năng thước đo giá trị mà thôi

Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị Giả cả hàng hóa vận động phụ thuộc vào sự vận động của giá trị hàng hóa và giá trị của tiền, theo đó, giá cả hàng hóa tỷ lệ thuận với giá trị hàng hóa; và tỷ lệ nghịch với giá trị của tiền

1.1.3.2 Phương tiện lưu thông

a) Sự biến đổi các hình thái hàng hóa:

Quá trình trao đổi hàng hóa được thực hiện bằng hai sự biến đổi hình thái đối lập với nhau và bổ sung lẫn cho nhau – là việc chuyển hàng hóa thành tiền

19 Sđd, Tr137

Trang 19

và sự chuyển hóa ngược lại từ tiền thành hàng hóa Đồng thời các khâu của biến đổi hình thái của hàng hóa lại là những hành vi của người chủ hàng hóa: bán, tức

là trao đổi hàng hóa lấy tiền; mua, tức là trao đổi tiền lấy hàng hóa và sự thống nhất của hai hành vi đó là bán để mà mua Hình thức vận động đó được thể hiện

dưới dạng biến đổi hình thái: H - T - H

Ở bước biến đổi hình thái thứ nhất của hàng hóa: H – T là một bước nhảy

“nguy hiểm” của hàng hóa Chỉ khi nào sản phẩm được chuyển thành tiền thì chủ hàng hóa mới có được một hình thái ngang giá phổ biến được xã hội thừa nhận Khi hàng hóa được trao đổi tức là có sự chuyển hóa hình thái Hàng hóa được đổi lấy hình thái phổ biến của bản thân nó, còn vàng được đổi lấy một dạng đặc biệt về giá trị sử dụng của bản thân nó với tư cách là tiền Như vậy, sự chuyển hóa của hàng hóa thành tiền đồng thời cũng là sự chuyển hóa tiền thành hàng hóa Quá trình đó là một quá trình có tính chất hai mặt: bán cũng là mua,

H – T đồng thời cũng là T - H

Xét sự biến đổi hình thái thứ hai: T - H thì tiền là một hàng hóa có thể được chuyển nhượng một cách tuyệt đối, nó đại biểu cho hàng hóa đã bán đồng thời cũng đại biểu cho hàng hóa sẽ mua Trong hình thái thứ hai này, T - H tức

là mua đồng thời cũng là H - T tức là bán Người bán thì bán sản phẩm với khối lượng lớn và sử dụng số tiền thu được để mua nhiều loại hàng hóa khác Như vậy, một lần bán là điểm khởi đầu của nhiều lần mua, sự biến đổi hình thái cuối cùng của một hàng hóa lại cấu thành tổng số những biến đổi hình thái đầu tiên của nhiều hàng hóa khác

Xét toàn bộ sự biến đổi hình thái của một hàng hóa: H - T - H Sự biến

đổi đó gồm hai sự vận động đối lập nhau là hoạt động mua - bán và sự chuyển hóa trái ngược nhau từ hàng chuyển thành tiền và ngược lại, đồng thời sự vận động đó còn bổ sung cho nhau Hai giai đoạn vận động ngược chiều của sự biến đổi hình thái hàng hóa tạo thành một vòng tuần hoàn của hàng hóa, vòng tuần hoàn của hàng hóa này lại quyện chặt với những vòng tuần hoàn của các hàng hóa khác tạo ra sự lưu thông hàng hóa

Trang 20

b) Lưu thông của tiền:

Hình thái vận động mà lưu thông hàng hóa trực tiếp buộc tiền phải khuôn theo, là việc làm cho tiền chuyển từ tay một chủ hàng hóa này sang tay một chủ hàng hóa khác, hay sự lưu thông của tiền Lưu thông của tiền là sự lặp đi lặp lại thường xuyên và đơn điệu của cùng một quá trình Hàng hóa bao giờ cũng ở phía người bán, tiền bao giờ cũng ở phía người mua với tư cách là phương tiện

để mua Khi thực hiện giá cả của hàng hóa thì tiền chuyển hàng hóa từ tay người bán sang người mua còn bản thân tiền thì lại được chuyển từ tay người mua sang tay người bán (tức vận động theo chiều ngược lại) Hình thái vận động một chiều của tiền là do hình thái vận động hai chiều của hàng hóa Nhìn bề ngoài dường như lưu thông hàng hóa do lưu thông tiền tệ đẻ ra, nhưng thực chất sự vận động của T chỉ là biểu hiện của lưu thông hàng hóa

Trên thực tế, khối lượng T cần thiết cho quá trình lưu thông do tổng giá cả của hàng hóa quyết định và chịu ảnh hưởng của sự thay đổi giá trị của vàng Theo đó, khối lượng tiền cần thiết trong lưu thông được xác định bằng qui luật:

Khối lượng tiền

Số lượng tiền cần thiết cho lưu thông phụ thuộc vào: sự vận động của giá cả; khối lượng hàng hóa đang lưu thông và tốc độ lưu thông tiền tệ Trong kinh

tế của lưu thông tiền kim loại (vàng hay bạc) thì số lượng tiền cần thiết trong lưu thông được điều tiết một cách tự phát, hài hòa giữa tiền tích trữ và tiền làm phương tiện lưu thông, nên không có lạm phát C.Mác viết: “Những bể chứa tiền tích trữ vừa dùng làm kênh tiêu nước, vừa dùng làm kênh tưới nước cho số tiền đang nằm trong lưu thông, vì thế mà chúng không bao giờ làm ngập những kênh lưu thông cả”20

c) Tiền đúc, ký hiệu của giá trị:

Hình thái tiền đúc phát sinh từ chức năng của tiền làm phương tiện lưu

20 Sđd, t23, Tr 203-204

Trang 21

thông Việc đúc tiền là do Nhà nước quy định, qua lưu thông tiền đúc bằng vàng hay bạc bị hao mòn, do đó dần dần chúng tách rời hàm lượng danh nghĩa với hàm lượng thực tế, từ đó sinh ra khả năng thay thế những đồng tiền đó bằng tiền kim loại Chúng xuất hiện bên cạnh vàng để thực hiện trong trường hợp mua bán nhỏ, những đồng tiền đó quá trình lưu thông bị hao mòn nhanh và trở thành ký hiệu của giá trị Cuối cùng tiền giấy ra đời, nó hoàn toàn chỉ là ký hiệu của giá trị Việc phát hành, lưu thông tiền giấy phải được cân đối với vàng hay bạc mà chúng đại biểu với số lượng nhất định mà lẽ ra phải đưa vào lưu thông Như vậy, tiền giấy là những ký hiệu của vàng hay ký hiệu của giá trị mà nó đại biểu cho những lượng vàng nhất định

1.1.3.3 Tiền

a Việc tích trữ tiền: Trong thời kỳ đầu của lưu thông hàng hóa, con người

đã biết tích lũy của cải và lúc đó vàng và bạc trở thành biểu hiện xã hội của sự giàu có Khi nền sản xuất phát triển, nhu cầu dự trữ ngày càng tăng lên xuất hiện những kho vàng, bạc với quy mô khác nhau và lòng thèm khát vàng cũng tăng lên Lưu thông hàng hóa càng được mở rộng thì quyển lực của tiền (vàng) càng lớn “thậm trí còn có thể mở được cả cửa thiên đường cho các linh hồn”21 theo C.Mác, muốn tích lũy tiền thì phải ngừng lưu thông tức là không tiêu dùng nó Bên cạnh hình thức tích trữ trực tiếp thì tiền còn được tích trữ dưới dạng hình thái thẩm mỹ, đó là việc mua sắm các hàng hóa bằng vàng và bạc

b Phương tiện thanh toán: Lưu thông hàng hóa càng phát triển thì hoạt động

chuyển nhượng và hoạt động thực hiện giá trị cũng phát triển Việc bán- mua hàng hóa và thực hiện giá cả cách nhau một khoảng thời gian dài khiến cho người bán và người mua trở thành chủ nợ và con nợ Sự phát triển của hình thái giá trị đó đã làm cho tiền có thêm một chức năng mới: phương tiện thanh toán

Sản xuất hàng hóa phát triển tới một mức nào đó và một quy mô cần thiết thì chức năng phương tiện thanh toán của tiền sẽ vượt khỏi lĩnh vực lưu thông hàng hóa; tiền trở thành hàng hóa chung của các khế ước, mọi thứ đều được

21 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.200

Trang 22

thanh toán bằng tiền Và khi tiền làm chức năng phương tiện thanh toán thì khối lượng phương tiện thanh toán cần thiết cho mọi khoản thanh toán tỷ lệ nghịch với độ dài của kỳ hạn thanh toán

c) Tiền tệ thế giới (money of the world):

Khi ra khỏi những giới hạn của lĩnh vực lưu thông trong nước, thì tiền trút

bỏ những hình thái địa phương mà nó đã khoác lấy ở đó (tiêu chuẩn giá cả, tiền đúc, tiền lẻ, ký hiệu giá trị) và trở lại hình thái ban đầu của nó là hình thái những thỏi kim loại quý Trên thị trường thế giới, vàng, bạc thực sự được dùng làm phường tiện mua bán có tính chất quốc tế Lúc này, tiền thực sự mới có đầy đủ chức năng của nó

Trong khi phân tích về tiền tệ thế giới C.Mác cũng đã phê phán nhưng sai lầm của D.Ricardo, khi ông ta cho rằng, một bảng cân đổi thương mại không thuận lợi là do tình trạng quá thừa phương tiện lưu thông gây ra Tiền đúc bị xuất khẩu là do tình trạng rẻ mạt của nó Thực tế không phải như vậy, việc xuất khẩu đó là do chênh lệch giá trị của kim loại quý trong mỗi nước gây ra, và phương tiện lưu thông với tư cách là kim loại quý thì không bao giờ có tình trạng thừa, nếu nhiều hơn nhu cầu nó sẽ tự động đi vào cất trữ

1.2 Phần thứ hai - Sự chuyển hóa của tiền thành tư bản

Phần thứ hai, phân tích lưu thông của tư bản, bắt đầu từ công thức chung của

tư bản T – H – T , đó là vì giá trị thặng dư chỉ biểu hiện ra ở lợi nhuận, không có giá trị thặng dư thì không có lợi nhuận, nhưng không có lưu thông tư bản chủ nghĩa biểu hiện bằng công thức trên thì cũng không có giá trị thặng dư, vì nếu không có lưu thông tư bản chủ nghĩa thì sự chiếm đoạt lao động không công của người khác chỉ có thể được thực hiện bằng cách cưỡng bức trắng trợn và trực tiếp như dưới chế

độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến Chỉ có trên cơ sở lưu thông hàng hóa tự

do, nhờ đó sự lưu thông hàng hóa sức lao động xuất hiện, thì sự chiếm đoạt lao động thặng dư mới trở thành sự chiếm đoạt giá trị thặng dư và giá trị thặng dư mới mang hình thái lợi nhuận

1.2.1 Công thức chung của tư bản

Trang 23

C.Mác chỉ rõ, tư bản, ở bất cứ đâu, bao giờ cũng xuất hiện dưới hình thái tiền Tiền với tư cách là tiền và tiền với tư cách là tư bản lúc đầu chỉ khác nhau ở hình thái lưu thông

Hình thái trực tiếp của lưu thông hàng hóa là H – T – H, tức là sự chuyển hóa của hàng hóa thành tiền và sự chuyển hóa ngược lại của tiền thành hàng hóa, tức là bán để mà mua Bên cạnh hình thái đó, còn thấy có một hình thái vận động khác là T – H – T, tức là chuyển hóa tiền tệ thành hàng hóa và sau đó là sự chuyển hóa ngược lại hàng hóa thành tiền tệ, tức là mua vào để mà bán Trong

sự vận động của tiền tệ, những đồng tiền nào vận động theo hình thái thứ hai (T – H – T) đều chuyển hóa thành tư bản, trở thành tư bản, hay đó chính là công thức vận động của tiền với tư cách là tư bản

C.Mác chỉ ra sự giống nhau và khác nhau của hai hình thái lưu thông: Điểm giống nhau: Cả hai hình thái lưu thông đều phân thành hai giai đoạn đối lập giống nhau H – T, tức là bán và T – H, tức là mua; đều bao gồm hai yếu

tố vật thể là hàng và tiền; và ẩn dấu đằng sau hai yếu tố vật thể đó là người mua

và người bán;

Sự khác nhau của hai hình thái lưu thông H – T – H (1) và T – H – T (2) là:

Một là, Lưu thông hàng hóa giản đơn bắt đầu bằng bán và kết thúc bằng

mua, còn lưu thông của tư bản thì bắt đầu bằng mua và kết thúc bằng bán; ở (1) điểm mở đầu và kết thúc là H, T là trung gian, còn ở (2) điểm mở đầu và kết thúc là T, H lại là trung gian

Hai là, trong H – T – H, tiền được chuyển hóa thành hàng hóa, tức thành

các giá trị sử dụng và đi vào tiêu dùng, do đó tiền bị tiêu mất hẳn; còn trong T –

H – T, người mua chỉ chi tiền để rồi thu lại tiền với tư cách người bán, tức là tiền chỉ được ứng trước mà thôi Trong H – T – H , cũng một đồng tiền đó nhưng đổi chỗ hai lần và làm cho tiền chuyền từ tay người này sang tay người khác Còn trong T – H – T, cũng một hàng hóa ấy đã đổi chỗ hai lần và sự chuyển chỗ hai lần của cùng một hàng hóa làm cho tiền trở lại điểm xuất phát đầu tiên của nó

Trang 24

Ba là, ở H – T – H việc chi tiền ra không có quan hệ gì với việc tiền quay

trở về cả, ngược lại trong T – H – T, việc tiền quay trở về được quyết định bởi chính ngay tính chất của loại chi phí đó Tiền không quay trở về coi như việc giao dịch không thành công, tức thiếu công đoạn bán bổ sung cho việc mua và hoàn thành việc mua ấy Mục đích của vòng chu chuyển H – T – H là giá trị sử dụng còn mục đích quyết định và động cơ của T – H – T là giá trị

Bốn là, trong lưu thông hàng hóa giản đơn H – T – H, tuy cả hai đều là

hàng hóa nhưng đó là hai giá trị sử dụng khác nhau Trong lưu thông T – H – T thì sự việc lại khác hẳn Thoạt nhìn thì có vẻ không có nội dung, do tính chất trùng lặp của nó, cả hai cực đều có một hình thái là tiền, do vậy mà không có sự khác nhau về chất Tuy nhiên sẽ là hết sức phi lý nếu người chủ tiền bỏ tiền ra dùng một con đường vòng đầy mạo hiểm để rồi lại thu về chính số tiền đó, mà phải là số tiền lớn hơn Vì vậy, hình thái đầy đủ của quá trình này à T - H - T’ trong đó T’ = T + ∆t, nghĩa là số tiền ứng ra ban đầu cộng với một số tăng thêm nào đó Số tăng thêm đó, hay số dư so với giá trị lúc ban đầu, tôi gọi là giá trị thặng dư (surplus value)”22 Như vậy, tư bản là giá trị tự tăng thêm trong lưu

thông, C.Mác viết “ giá trị được ứng ra lúc ban đầu không những được bảo tồn trong lưu thông, mà còn thay đổi đại lượng của nó, cộng thêm một giá trị thặng

dư, hay là đã tự tăng thêm giá trị Chính sự vận động đó đã biến giá trị đó thành

tư bản” 23 Dù trong lĩnh vực nào công nghiệp, thương nhân, hay tư bản cho vay, thì tư bản cũng vận động theo cách đó Do vậy, T - H - T’ thực sự là công thức chung của tư bản

1.2.2 Những mâu thuẫn của công thức chung của tư bản

Để chứng minh giá trị thặng dư không phải do lưu thông tạo ra, C.Mác đã đưa ra các trường hợp trao đổi như không ngang giá; bán đắt, mua rẻ hoặc bán

rẻ, mua đắt…tất cả đều không làm tăng thêm giá trị và do đó giá trị thặng dư không do việc mua rẻ bán đắt mà ra C.Mác khẳng định, lưu thông hay trao đổi

hàng hóa không tạo ra giá trị nào cả “Dù có loay hoay mấy chăng nữa thì kết

22 Sđd, tr.227

23 Sđd, tr.228

Trang 25

quả cũng vẫn thế thôi: nếu người ta trao đổi những vật ngang giá thì chẳng nảy sinh một giá trị thặng dư nào, nếu người ta trao đổi những vật không ngang giá thì cũng chẳng nảy sinh một chút giá trị thăng dư nào Lưu thông hay giá trị thặng dư không tạo ra một chút giá trị nào cả” 24

Đến đây, vấn đề đặt ra là giá trị thặng dư không sinh ra từ lưu thông, vậy thì phải chăng giá trị thặng dư được sinh ra ở ngoài lưu thông ? Ở ngoài lưu (tiền

bỏ vào két sắt) không thể làm tăng thêm giá trị Như vậy, tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông đồng thời không phải trong lưu thông Đó là một mâu

thuẫn của công thức chung

- C.Mác đã chỉ ra 2 điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa: “Như vậy là để chuyển hóa tiền thành tư bản, người chủ tiền phải tìm người lao động

tự do trên thị trường hàng hóa, tự do theo hai nghĩa: theo nghĩa là một con người tự do, chi phối được sức lao động của mình với tư cách là một hàng hóa,

và mặt khác anh ta không còn một hàng hóa nào khác để bán, nói một cách khác

là trần như nhộng, hoàn toàn không có những vật cần thiết để thực hiện năng lực lao động của mình” 26

Phân tích hàng hóa sức lao động, C.Mác chỉ ra rằng, cũng như bao hàng hóa khác, khi sức lao động trở thành hàng hóa thì nó cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng

24 Sđd, tr.245-246

25 Sđd, tr.251

26 Sđd, tr.253

Trang 26

Về thuộc tính giá trị, theo C.Mác, giá trị sức lao động cũng giống như mọi hàng hóa khác được quyết định bởi số thời gian lao động cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động Để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động phải thông qua tiêu dùng của con người Vì vậy giá trị sức lao động chính là giá trị các tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống của con người C.Mác khẳng định: giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của người lao động; giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết cho con cái người lao động; những chi phí đào tạo tùy theo tính chất phức tạp của sức lao động

Giá trị sức lao động bao hàm một yếu tố tinh thần và lịch sử, tức là quy

mô, phương thức thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu để sản xuất và tái sản sức lao động phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm, trình độ văn minh của mỗi nước, cũng như nhu cầu, thói quen sinh hoạt của người lao động

Giá trị của sức lao động cũng như giá trị của bất cứ hàng hóa nào khác đã

được quyết định trước khi nó đi vào lưu thông: “Trong tất cả các nước có phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sức lao động chỉ được trả sau khi nó đã hoạt động trong một thời gian nhất định Vậy là ở khắp mọi nơi, người lao động đều ứng trước giá trị sử dụng của sức lao động của mình cho nhà tư bản; anh ta

để cho nhà tư bản tiêu dùng sức lao động của mình trước khi nhận được giá cả của nó” 27

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động chỉ được thể hiện ra trong quá trình sử dụng nó, tức là quá trình tiêu dùng sức lao động Quá trình tiêu dùng sức lao động đồng thời cũng là quá trình sản xuất hàng hóa và giá trị thặng dư Việc tiêu dùng sức lao động, cũng như việc tiêu dùng hàng hóa khác, đều diễn ra bên ngoài thị trường, hay bên ngoài lĩnh vực lưu thông, tức là trong lĩnh vực sản xuất

Và tất cả mọi bí mật của quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, của việc chế tạo ra lợi nhuận sẽ bị bóc trần ra trước mắt chúng ta ở trong lĩnh vực đó

1.3 Phần thứ ba - Sự sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối

1.3.1 Quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị

27 Sđd, tr.260

Trang 27

1.3.1.1 Quá trình lao động

C.Mác chỉ ra rằng tiêu dùng sức lao động, đó chính là quá trình lao động Người mua sức lao động tiêu dùng sức đó bằng cách bắt người bán nó phải lao động, tức là phải sản xuất ra những giá trị sử dụng, hay của cải vì lợi ích của nhà

tư bản và dưới sự kiểm soát của nhà tư bản

Bên cạnh những bản chất chung của quá trình lao động, C.Mác đã chỉ rõ hai đặc trưng của quá trình lao động tư bản chủ nghĩa với tư cách là quá trình

nhà tư bản tiêu dùng sức lao động: “Người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản, lao động của anh ta thuộc về nhà tư bản; sản phẩm là sở hữu thuộc nhà tư bản, chứ không phải của người sản xuất trực tiếp, không phải của người công nhân” 28

1.3.1.2 Quá trình làm tăng giá trị

C.Mác cho rằng, trong nền sản xuất hàng hóa nói chung, giá trị sử dụng không phải là vật mà người ta ưa thích vì bản thân nó Nói chung, giá trị sử dụng chỉ được sản xuất ra là vì nó là thực thể vật chất và là vật mang giá trị trao đổi

Từ đó C.Mác chỉ rõ mục đích của nhà tư bản: “Một là, hắn muốn sản xuất ra một giá trị sử dụng có một giá trị trao đổi, một vật dùng để bán Và hai là, hắn muốn sản xuất ra một hàng hóa có giá trị lớn hơn tổng số giá trị những hàng hóa cần thiết đẻ sản xuất ra nó, tức là lớn hơn tổng số giá trị những tư liệu sản xuất và sức lao động mà hắn đã ứng trước tiền mặt ra để mua trên thị trường hàng hóa” 29 Cũng giống như bản thân hàng hóa là sự thống nhất giữa giá trị sử dụng

và giá trị, quá trình sản xuất hàng hóa cũng phải là một sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị

Từ đó, C.Mác đi vào phân tích quá trình sản xuất với tư cách là quá trình tạo ra giá trị C.Mác lấy ví dụ về quá trình sản xuất sợi

Muốn sản xuất sợi trước hết phải có nguyên liệu, ví dụ 10 pao bông với giá 10 si ling, tư liệu lao động (cọc sợi) được dùng để chế biến bông là 2 siling, như vậy giá trị của những tư liệu sản xuất, bông, cọc sợi là 12 si ling hay 2 ngày

28 Sđd, tr.277

29 Sđd, tr.279

Trang 28

lao động; giá trị hàng ngày của sức lao động là 3 si-ling hay ½ ngày lao động, giả định trong 6 giờ lao động người công nhân chuyển hóa 10 pao bông thành 10 pao sợi Theo đó, tổng giá trị sản phẩm của 10 pao sợi là 2,5 ngày lao động hay

15 si ling: 2 ngày chứa đựng trong bông và cọc sợi hay 12 si ling và ½ ngày lao động được thu hút trong quá trình kéo sợi hay 3 si-ling Do đó giá cả phù hợp với giá trị của 10 pao sợi là 15 si-ling, giá cả của 1 pao sợi là 1si ling 6 pen ny

Như vậy, sau 6 giờ tiến hành sản xuất, nhà tư bản đã thu về được số tiền đúng bằng số triền mặt mà hắn đã ứng ra để mua các yếu tố sản xuất: 10 si-ling bông, 2 si-ling cọc sợi, 3 si-ling sức lao động

Để sản xuất ra 20 pao sợi với giá là 30 ling, nhà tư bản chỉ bỏ ra 20 ling mua bông, 4 si-ling hao mòn cọc sợi và 3 si-ling tiền thuê công nhân, tổng cộng là 27 si-ling, nhưng thực tế, anh ta thu về 30 si-ling Vậy là 27 si-ling đã chuyển hóa thành 30 si-ling Chúng đã đem lại một giá trị thặng dư là 3 si-ling Tiền đã biến thành tư bản

si-Từ đó, C.Mác so sánh quá trình tạo ra giá trị và quá trình làm tăng giá trị;

quá trình tạo ra giá trị và quá trình lao động và rút ra kết luận: “Với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hóa; với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa của sản xuất hàng hóa” 30

1.3.2 Tư bản bất biến và tư bản khả biến

C.Mác chỉ rõ, những nhân tố khác nhau của quá trình lao động tham gia một cách khác nhau vào sự hình thành giá trị của sản phẩm C.Mác đã dùng tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa để giải thích cho những vấn đề đó

Khi trình bày những vai trò khác nhau mà những nhân tố khác nhau của quá trình lao động đã đóng góp trong sự hình thành giá trị của sản phẩm, trên thực tế đã vạch rõ những chức năng của những bộ phận cấu thành khác nhau của

30 Sđd, tr.294 – 295

Trang 29

tư bản trong quá trình làm tăng giá trị của bản thân nó Và từ những phân tích đó, C.Mác đã đặt tên cho từng bộ phận của tư bản Bộ phận tư bản biến thành tư liệu sản xuất, do không thay đổi đại lượng giá trị của nó trong quá trình sản xuất C.Mác gọi là bộ phận bất biến của tư bản, hay tư bản bất biến.\

Bộ phận tư bản biến thành sức lao động lại thay đổi giá trị của nó trong quá trình sản xuất, nó không chỉ tái sản xuất ra vật ngang giá với bản thân nó, mà còn sản xuất ra giá trị thặng dư, từ một đại lượng bất biến, bộ phận này lại không ngừng chuyển hóa thành đại lượng khả biến C.Mác gọi là bộ phận khả biến của tư bản, hay tư bản khả biến

1.3.3 Tỷ suất giá trị thặng dư

Trong chương này C.Mác trình bày bốn vấn đề: Mức độ bóc lột sức lao động, hay mức độ nhà tư bản bóc lột người công nhân; biểu hiện giá trị của sản phẩm bằng những phần tỷ lệ của sản phẩm; phê phán “giờ cuối cùng” của xê ni ô; sản phẩm thặng dư, trong đó trọng tâm là làm rõ tỷ suất giá trị thặng dư, bởi

vì tỷ suất giá trị thặng dư biểu hiện chính xác mức độ nhà tư bản bóc lột người công nhân, đồng thời đó cũng là cơ sở để nhận thức và giải quyết các vấn đề còn lại trong chương này

1.3.3.1 Mức độ bóc lột sức lao động hay mức độ nhà tư bản bóc lột công nhân

C.Mác chỉ rõ, giá trị thặng dư, do tư bản ứng trước C sản sinh ra trong quá trình sản xuất, hay số tăng lên của giá trị tư bản ứng trước, biểu hiện ra trước hết như là một số dư trong giá trị của sản phẩm so với tổng số giá trị của nhưng yếu

tố sản xuất ra sản phẩm đó C.Mác lưu ý chúng ta rằng, việc nhận thức về lao động là nguồn gốc của giá trị hay nguyên lý giá trị - lao động có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nhận thức nguồn gốc của giá trị thặng dư C.Mác viết:

“Nếu coi giá trị chỉ là thời gian lao động đã cô đọng lại, chỉ là lao động đã vật hóa, là rất quan trọng để nhận thức được giá trị nói chung, thì việc coi giá trị thặng dư chỉ là thời gian lao động thặng dư đã cô đọng lại, chỉ là lao động thặng

dư đã vật hóa, cũng quan trọng như thế để nhận thức được giá trị thặng dư”31

31 Sđd, tr.321

Trang 30

Theo đó, tỷ suất giá trị thặng dư được biểu hiện dưới dạng:

m

=

Thời gian lao động thặng dư

v Thời gian lao động cần thiết Hai tỷ số biểu thị cùng một tỉ lệ dưới những hình thái khác nhau, trong đó một trường hợp thì dưới hình thái lao động đã vật hóa, còn một trường hợp thì dưới hình thái lao động đang vận động Do vậy, tỷ suất giá trị thặng dư biểu hiện chính xác trình độ bóc lột sức lao động, hay mức độ nhà tư bản bóc lột người công nhân32 Do chỗ tỉ suất giá trị thặng dư từ chỗ biểu hiện thành công thức , cho nên nó chỉ ra một cách chính xác cái tỷ lệ

giữa hai bộ phận cấu thành của ngày lao động

1.3.3.2 Việc biểu hiện giá trị của sản phẩm bằng những phần tỷ lệ của sản phẩm

Trên đây đã nghiên cứu các hình thái biểu hiện của các bộ phận cấu thành giá trị hàng hóa dưới hình thái lao động vật hóa hay dướí dạng giá trị, ở mục này C.Mác đi vào làm rõ sự biểu hiện của nó bằng những tỷ lệ của sản phẩm

Theo đó, tổng sản phẩm được phân giải thành các bộ phận: một lượng sản phẩm đại biểu cho lao động chứa đựng trong các tư liệu sản xuất, hay bộ phận bất biến của tư bản; một lượng đại biểu cho lao động cần thiết được gắn thêm vào quá trình sản xuất, hay bộ phận khả biến của tư bản; một lượng đại biểu cho

số lao động thặng dư, hay giá trị thặng dư Sự phân giải này tuy đơn giản nhưng lại rất quan trọng để chúng ta vận dụng vào nghiên cứu phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và lý luận về tái sản xuất tư bản xã hội sau này

1.3.3.3 Phê phán “giờ cuối cùng” của Xê ni o

Nat xô U.Xê ni o, một trong các nhà kinh tế học Anh, trong một tác phẩm

“Letters on the Factory Act, as it affects the cotton manufacture”, trong đó ông ta cho rằng, nếu như số giờ lao động giảm đi mỗi ngày một giờ, thì lợi nhuận ròng của nhà tư bản sẽ không còn nữa, còn nếu giảm đi 1 ½ giờ thì tổng lợi nhuận cũng

sẽ không còn nữa C.Mác đã chứng minh rằng, tuyệt nhiên không phải như vậy

32 Sđd, tr.322

m

v Lao động thặng dư

Lao động cần thiết

Trang 31

Nếu như có giảm ngày lao động từ 11 ½ giờ xuống còn 10 ½ giờ thì chỉ làm cho tỷ suất giá trị thặng dư từ 100% giảm xuống còn 82 14/23 % mà thôi Và như vậy cái

“giờ cuối cùng” chỉ là một câu chuyện bịa đặt và hoang đường

1.3.3.4 Sản phẩm thặng dư

Phần sản phẩm đại biểu cho giá trị thặng dư, thì chúng ta gọi là sản phẩm thặng dư (surplus produce) Cũng giống như tỷ suất giá trị thặng dư được quyết định bởi tỷ lệ giữa nó và bộ phận cấu thành tư bản khả biến, cho nên mức sản phẩm thặng dư cũng do tỷ lệ giữa sản phẩm thặng dư so với phần sản phẩm đại biểu cho lao động cần thiết quyết định Theo đó, C.Mác chỉ rõ mục đích quyết định của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mức độ giàu có cũng vậy, nó không phải được đo bằng lượng tuyệt đối của sản phẩm mà bằng lượng tương đối của sản phẩm thặng dư Và tổng số lao động cần thiết và lao động thặng dư hợp thành đại lượng tuyệt đối của thời gian lao động của người công nhân – tức là ngày lao động (working day)

1.3.4 Ngày lao động

1.3.4.1 Giới hạn của ngày lao động

C.Mác đã chỉ ra rằng: tỷ lệ quyết định tỷ suất giá trị thặng dư, cho nên nếu thời gian lao động cần thiết không đổi thì tỷ suất giá trị thặng dư do độ dài của thời gian lao động thặng dư quyết định

Nhưng chỉ với riêng tỷ suất giá trị thặng dư không thôi thì chúng ta không thể biết đại lượng của ngày lao động Ví dụ, tỷ suất giá trị thặng dư là 100%, nhưng ngày lao động cũng có thể là 8, 10 hoặc 12 giờ…

Vậy ngày lao động không phải là một đại lượng bất biến mà là một đại lượng khả biến Một bộ phận của ngày lao động là do thời gian lao động cần thiết quyết định, nhưng tổng đại lượng của ngày lao động lại thay đổi theo độ dài hay thời gian của lao động thặng dư Vì vậy, ngày lao động là cái có thể xác định được, nhưng bản thân nó là đại lượng không xác định33

33

Lao động thặng dư Lao động cần thiết

Trang 32

Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, lao động cần thiết bao giờ cũng chỉ có thể là một phần của ngày lao động, vì vậy ngày lao động không bao giờ có thể rút ngắn tới mức tối thiểu đó được Ngược lại, ngày lao động có một giới hạn tối đa, nó không thể kéo dài quá giới hạn đó được Giới hạn tối đa được quyết định về hai mặt: Trước hết do những giới hạn về thể chất và tinh thần của sức lao động quyết định Trong một ngày tự nhiên 24 giờ, một người chỉ có thể làm việc trong một phần thời gian nhất định, còn phải dành một phần khác cho thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tinh thân để tái sản xuất sức lực Vì vậy ngày lao động phải ngắn hơn ngày tự nhiên, tức là phải nhỏ hơn 24 giờ Thứ hai là do kết quả của cuộc đấu tranh giữa giai cấp các nhà tư bản và giai cấp công nhân cho giới hạn của ngày lao động

Nhà tư bản luôn luôn thèm khát lao động thặng dư, do đó luôn tìm cách kéo dài thời gian ngày lao động Anh ta dựa vào quy luật trao đổi để biện hộ sự tận dụng tối đa hàng hóa sức lao động mà hắn đã mua Tuy nhiên, người công nhân cũng có lý lẽ của mình để yêu cầu nhà tư bản sử dụng ngày lao động với độ dài bình thường Do vậy, mỗi bên đều có lý lẽ để bảo vệ quyền lợi của mình, và trong thực tiễn lịch sử nền sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn diễn ra cuộc đấu tranh cho giới hạn ngày lao động giữa hai giai cấp tư sản và vô sản

1.3.4.2 Lòng thèm khát vô hạn đối với lao động thặng dư Chủ xưởng và lãnh chúa

Sự chiếm đoạt lao động thặng dư đã có từ lâu, từ khi xã hội hình thành một bộ phận người chiếm độc quyền về tư liệu sản xuất Tuy nhiên, hình thái chiếm đoạt lao động thặng dư trong các phương thức sản xuất phong kiến và chiếm hữu nô lệ rất dễ nhận thấy, nhưng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì rất khó nhận thấy điều đó

C.Mác đã so sánh sự thèm khát vô hạn độ đối với lao động thặng dư trong các công quốc vùng sông Đa nuýp với sự thèm khát lao động thặng dư trong các công xưởng Anh

C.Mác chỉ ra rằng: lao động thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản che giấu, khó

Trang 33

nhận thấy vì nó nhập với lao động cần thiết Còn lao dịch của nông nô thì bị tách khỏi lao động cần thiết và dễ nhìn thấy Tuy nhiên, cả hai đều thèm khát lao động thặng dư, nhà tư bản thì muốn kéo dài ngày lao động còn lãnh chúa thì ra sức tìm ngày lao dịch Đối với luật lao động ở Rumani thì củng cố chế độ nông

nô và phản ánh lòng thèm khát lao động thặng dư của lãnh chúa Trong khi luật công xưởng cũng thể hiện lòng thèm khát của nhà tư bản nhưng lại bộc lộ một cách tiêu cực có nguy cơ làm kiệt sức dân tộc C.Mác đề cập đến luật công xưởng năm 1850 quy định ngày lao động trung bình trong một tuần là 10 giờ và đưa ra những đoạn trích của các báo cáo của thanh tra công xưởng nói lên lòng thèm khát vô độ của bọn tư bản trong việc luôn tìm cách kéo dài ngày lao động

1.3.4.3 Những ngành công nghiệp của nước Anh trong đó sự bóc lột không bị pháp luật hạn chế

Trước hết, C.Mác đề cập đến công nhân ngành đăng ten đang lâm vào tình trạng thiếu thốn chưa từng thấy trong thế giới văn minh Trẻ con từ 9 đến 10 tuổi phải lao động 15 giờ mỗi ngày chỉ để kiếm miếng ăn hàng ngày với sự mệt mỏi

về thể chất và tình thần Một chế độ mà như mục sư Môn tê ghiu Van pi mô tả là một chế độ nô lệ không có giới hạn, nô lệ về mọi phương diện: xã hội, thể chất, đạo đức và tinh thần

Đối với ngành gốm thì “có vẻ là một ngành dễ chịu và vệ sinh hơn” Tuy nhiên, công nhân trong ngành này kể cả trẻ em và thiếu nữ phải lao động từ 6 giờ sáng đến 9 giờ tối Nhiều người bị mắc những bệnh nan y, chết non, thể trạng suy kiệt, thoái hóa cả về đạo đức mà nguyên nhân chính dẫn đến những điều đó là do “giờ lao động kéo dài”

Đối với ngành diêm, một ngành được coi là “khét tiếng vì độc và ghê tởm” Công nhân ở đây một nửa là trẻ em từ 13 đến 18 tuổi làm việc trong điều kiện “rách rưới, gần chết đói, hoàn toàn không được chăm sóc giáo dục” hơn cả dưới địa ngục Tình trạng trong ngành giấy in hoa cũng không cải thiện là bao

mà theo như C.Mác “lao động thường kéo dài và hầu như liên tục không nghỉ từ

6 giờ sáng đến 10 giờ đêm, và thậm trí còn khuya hơn nữa” Ngành bánh mỳ với

Trang 34

phương pháp sản xuất cũ kỹ, công nhân ban đêm sản xuất bánh trong những lò nóng nực, ban ngày lại đi phân phối bánh Họ còn phải lao động cả chủ nhật

Trong khi đó, công nhân trong ngành công nghiệp phải lao động 13-14 giờ trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt nhất, cộng thêm với lao động phụ 4 giờ trong ngày chủ nhật Công nhân ngành đường sắt phải làm việc 14, 18, 20 giờ, trong một

số trường hợp đặc biệt thì kéo dài 40 - 50 giờ không nghỉ…Những ví dụ trên là những minh chứng cho sự bóc lột tàn bạo mà giai cấp tư sản đã thực hiện đối với giai cấp công nhân Anh

1.3.4.4 Lao động ban ngày và ban đêm chế độ làm ca kíp

Khuynh hướng của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là chiếm đoạt lao động trong tất cả 24 giờ của một ngày Nhưng vì về mặt sinh lý không thể bòn rút sức lao động của cùng một con người trong suốt ngày, đêm được, muốn vượt được chướng ngại sinh lý đó, người ta cần phải thay phiên những sức lao động, vì vậy

họ đã tìm cách tổ chức lại quá trình sản xuất như làm ca kíp, chế độ làm việc luân phiên…Và cách tổ chức sản xuất đó đã trở thành phổ biến trong các công xưởng của nước Anh và một số nước tư bản khác Với cách thức như vậy, nhà tư bản đã duy trì hoạt động sản xuất liên tục 24/24 giờ trong ngày, trong tuần

1.3.4.5.Cuộc đấu tranh cho ngày lao động bình thường Những đạo luật cưỡng bức kéo dài ngày lao động từ thế kỷ XIV đến cuối thế kỷ XVII

C.Mác đưa ra vấn đề: ngày lao động là gì? Và có thể kéo dài bao nhiêu? Đối với nhà tư bản, họ quan niệm ngày lao động gồm 24 giờ trừ một vài giờ nghỉ ít ỏi, và với sự thèm khát vô hạn nhà tư bản luôn tìm mọi cách để vắt kiệt sức lao động bằng cách kéo dài thời gian lao động trong ngày

Tuy nhiên, nếu kéo dài ngày lao động một cách trái tự nhiên thì sẽ ảnh hưởng đến tuổi thọ sức lao động và việc bù lại sức lao động đã hao mòn cần phải nhanh hơn, nghĩa là những chi phí để tái sản xuất sức lao động phải lớn hơn Điều này tác động trục tiếp đến lợi ích của nhà tư bản, vì vậy một yêu cầu đặt ra là phải quy định ngày lao động bình thường

Việc quy định ngày lao động bình thường là kết quả của cuộc đấu tranh

Trang 35

lâu dài giữa nhà tư bản và công nhân Lịch sử cuộc đấu tranh đó có hai trào lưu đối lập: pháp chế công xưởng hiện đại thì cưỡng bức rút ngắn ngày lao động, còn quy chế lao động lại cưỡng bức kéo dài ngày lao động Trong thời kỳ đầu khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới xuất hiện, giai cấp tư sản luôn tìm mọi cách để bóc lột lao động thặng dư thông qua sức mạnh quan hệ kinh tế cùng với sự giúp đỡ của Nhà nước Trong nhiều thế kỷ, người công nhân “tự do” bán toàn bộ thời gian lao động của mình, trong khi nhà tư bản chưa thể sử dụng phương pháp thuần kinh tế để kéo dài ngày lao động Phải đến cuối thế kỷ XVII, thông qua quyền lực Nhà nước với pháp luật trong tay, nhà tư bản đã thực hiện việc cưỡng bức để kéo dài ngày lao động Liên tục các quy chế ra đời như: Quy chế lao động đầu tiên năm 1349 thời Ê-đu-a III; quy chế năm 1496 thời Hen ri VII; quy chế E-li da bét năm 1562 Các quy chế đó quy định một cách tỉ mỷ thời gian lao động của người lao động trong ngày, trong tuần, trong tháng, trong mùa…nhằm tận dụng tối đa thời gian lao động của công nhân Cho mãi đễn thời

kỳ đại công nghiệp (thế kỷ XVIII), tư bản vẫn chưa thể dùng phương pháp trả giá sức lao động 1 tuần để chiếm được toàn bộ lao động cả tuần của người công nhân Bởi lúc đó, với mức lương 4 ngày đã đủ sống được cả tuần, vì vậy người công nhân không chịụ làm việc hai ngày còn lại Điều này đã tạo những luồng ý kiến khác nhau giữa các học giả Có người thì bênh vực công nhân, song cũng

có người thì chỉ trích thái độ bướng bỉnh của người công nhân, cho rằng họ là những kẻ lười biếng và để triệt tính lười biếng đó thì cần lập “trại lao động lý tưởng” với 14h lao động Tuy nhiên, 63 năm sau nước Anh đã rút ngắn ngày lao động trẻ em xuống 12h, tiếp đó nhiều nước ở Tây Âu cũng thực hiện theo Mặc

dù vậy, trong thực tiễn những “trại lao động” khổng lồ vẫn là những “trại kinh khủng” đối với người công nhân

1.3.4.6 Cuộc đấu tranh cho ngày lao động bình thường Cưỡng bức hạn chế thời gian lao động bằng pháp luật Pháp chế công xưởng nước Anh từ năm

1833 đến năm 1864

Sau nhiều thế kỷ thực hiện kéo dài ngày lao động, tư bản mở tiệc ăn

Trang 36

mừng Lúc này giai cấp vô sản định thần trở lại và bắt đầu thực hiện phản kháng

mà nơi đầu tiên là tại nước Anh Tuy nhiên, trong 30 năm (1802- 1833) những kết quả mà họ giành được mới chỉ trên danh nghĩa Chỉ từ khi có luật công xưởng 1833 thì công nhân mới có ngày lao động bình thường Đạo luật 1833 chỉ rõ: ngày lao động bình thường từ 5 giờ 30 sáng đến 8 giờ 30 tối, cho phép sử dụng lao động thiếu niên không quá 12h/ ngày Cấm sử dụng lao động trẻ em dưới 9 tuổi; đối với trẻ em từ 9 đến 18 tuổi cấm lao động ban đêm Các nhà lập pháp thì lại không muốn làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà tư bản, vì vậy họ đã đưa ra cơ chế đặc biệt được gọi là chế độ đổi kíp cho phép trẻ em từ 9 đến 13 tuổi làm việc từ 5 giờ 30 đến sáng 1 giờ 30 chiều và tiếp đó là một kíp khác Chính quyền tư sản không tích cực thi hành luật, còn các nhà tư bản thì mở cuộc vận động chống lại luật Trong vòng 10 năm thi hành luật bộc lộ ra nhiều khó khăn trong thực hiện như chế độ đổi kíp mới, thủ tục đăng ký sổ sách phức tạp… khiến thanh tra không thể làm việc được Bản thân các chủ tư bản trong việc thực hiện luật cũng tố giác lẫn nhau

Cuối cùng, đạo luật công xưởng bổ sung 7/6/1844 ra đời với sự bảo trợ của pháp luật đối với phụ nữ trên 18 tuổi, bình đẳng với nam giới Lao động trẻ

em dưới 13 tuổi rút xuống còn 6 giờ 30 đến 7 giờ Các quy định về chế độ ca kíp được cụ thể hơn Ngày lao động của thanh niên nam giới cũng được hạn chế do mối quan hệ phải hợp tác với trẻ em và phụ nữ Để bù lại lợi ích cho nhà tư bản,

hạ nghị viện lại hạ tuổi lao động từ 9 xuống 8 tuổi

Năm 1847 Luật lao động 10h được Nghị viện Anh thông qua, giới tư bản

đã tìm cách ngăn cản việc thi hành thực hiện đạo luật, tiến hành giảm tiền công xuống 10% - 25%, hoặc vận động công nhân hủy bỏ đạo luật đó Thậm trí họ còn thực hiện các thủ đoạn như quyến rũ, đe dọa buộc công nhân nói theo ý của chủ song không thành công Trên các diễn đàn chính trị, họ tìm cách tuyên truyền, tố giác các thành tra trước quốc hội…Tuy nhiên, tất cả các việc làm đó đều thất bại và đạo luật bắt đầu có hiệu lực từ 1/5/1848 Nhưng ngày sau đó của Đảng Hiến chương và cuộc khởi nghĩa Pari đã tác động sâu sắc tới niềm tin của

Trang 37

giai cấp công nhân Khắp nơi, giai cấp công nhân bị đặt ra ngoài vòng pháp luật Giai cấp tư sản lại công khai chống lại đạo luật ngày làm việc 10 giờ kể cả các luật từ năm 1833 Một bộ phận công nhân bị sa thải, khôi phục lại chế độ lao động ban đêm, bớt xén thời gian nghỉ trưa của công nhân, trong khi các thanh tra viên công xưởng vẫn cương quyết đôn đốc việc thi hành pháp luật Trong các xí nghiệp, chủ tư bản tổ chức chế độ lao động đổi kíp phức tạp, chia công nhân thành 13, 14 ngạch, chia thời gian lao động thành những quãng nhỏ, khi bắt lao động, khi bắt ngồi không chờ đợi…trong khi các thanh tra không thể kiểm soát được lao động Cuối cùng, năm 1850 Luật Ngày lao động 10 giờ đã bị bãi bỏ Phản ứng lại trước hành động đó, công nhân tiến hành mít tinh biểu tình có tính chất uy hiếp Họ cho rằng Luật Ngày lao động 10h giờ chỉ là trò bịp bợm của nghị viện, mâu thuẫn giai cấp đã trở nên sâu sắc Kết quả dẫn tới một sự thỏa hiệp giữa chủ xưởng và công nhân với sự ra đời Luật công xưởng bổ sung 5/8/1850: chế đổi đổi kíp bị xóa bỏ vĩnh viễn, thời gian lao động của các đối tượng có sự điều chỉnh Luật 1850 chỉ giảm lao động cho thanh niên và phụ nữ chứ không cải thiện điều kiện lao động cho trẻ em mặc dù có sự phản đối của các thanh tra viên song vô hiệu Đến cuối năm 1853 luật có bổ sung “cấm sử dụng trẻ em buổi sáng trước thiếu niên và phụ nữ, và buổi chiều thì sau thiếu niên và phụ nữ” Từ đó trở đi Luật 1850 điều tiết ngày lao động của tất cả các công nhân Luật công xưởng đã giành được thắng lợi sau khi thắng lợi ở các ngành công nghiệp lớn Bản thân giai cấp tư sản phải thừa nhận sự cần thiết hạn chế ngày lao động bằng luật Từ năm 1860, luật công xưởng lan ra khắp các ngành công nghiệp

1.3.4.7 Cuộc đấu tranh cho ngày lao động bình thường Tác động ngược trở lại của pháp chế công xưởng nước Anh tới nước khác

Việc sản xuất ra giá trị thặng dư là mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Vì vậy, kéo dài ngày lao động nhằm tối đa tạo ra giá trị thặng dư cho bon

tư bản Dựa vào sự kiện lịch sử, C.Mác đã rút ra một số kết luận sau:

Một là: Xu hướng của tư bản là muốn kéo dài ngày lao động một cách vô

Trang 38

hạn nhằm thỏa mãn trước hết trong các ngành công nghiệp Sự thay đổi phương thức sản xuất và quan hệ xã hội đã làm thay đổi người sản xuất, là nguyên nhân của sự phá hoại giới hạn ngày lao động, rồi sau đó lại yêu cầu xã hội phải can thiệp bằng luật để thống nhất ngày lao động Trong nửa đầu thế kỷ XIX, sự can thiệp đó mới chỉ biểu hiện ở một nền pháp chế ngoại lệ, nhưng dần dần nó lan rộng ra và bao trùm toàn bộ nền sản xuất

Hai là: Việc tạo ra một ngày lao động bình thường là kết quả của cuộc đấu

tranh lâu dài giữa hai giai cấp, nó nổ ra trước tiên ngay trên quê hương của nền công nghiệp đó là nước Anh sau đó lan rộng ra các nước khác như Pháp, Mỹ…

1.3.5 Tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư

Trong chương này, C.Mác phân tích khối lượng giá trị thặng dư và các nhân tố ảnh hưởng đến khối lượng giá trị thặng dư

Khối lượng giá trị thặng dư sản xuất ra sẽ bằng giá trị thặng dư mà mỗi ngày lao động mỗi công nhân riêng biệt đem lại nhân với số lượng công nhân sử dụng C.Mác chỉ ra ba quy luật về mối quan hệ giữa khối lượng giá trị thặng dư với các đại lượng tỷ suất giá trị thặng dư và tư bản khả biến

Quy luật thứ nhất: khối lượng giá trị thặng dư sản xuất ra bằng đại lượng

của tư bản khả biến ứng trước nhân với tỷ xuất giá trị thặng dư hay bằng với tỷ

lệ kép giữa số sức lao động cùng bị nhà tư bản bóc lột trong cùng một thời gian

và trình độ bóc lột từng sức lao động riêng biệt

M = V x m hay = k x n x a’

Trong đó:

M là tổng số giá trị thặng dư; V là tổng tư bản khả biến; m là giá trị thặng

dư do một công nhân tạo ra; v là tư bản khả biến để mua một sức lao động; n là

số công nhân sử dụng; k là giá trị một sức lao động trung bình; a’/a là trình độ bóc lột sức lao động

Quy luật thứ hai: Để khối lượng M không đổi, nếu V giảm thì phải tăng

m’ lên, ngược lại nếu m’ giảm thì phải tăng V lên tương ứng

Trang 39

Tuy nhiên, việc tăng m’ hay kéo dài ngày lao động không thể vượt qua được giới hạn của nó về mặt tự nhiên và sinh lý Vì vậy, nếu V giảm thì phải tăng m’ trong giới hạn sinh lý của ngày lao động, do đó trong giới hạn sinh lý của lao động thặng dư bao hàm trong ngày lao động đó bù vào Quy luật này cũng giúp ta nhận thức các hiện tượng phức tạp khác như xu hướng của nhà tư bản muốn giảm số lượng công nhân hay lượng tư bản khả biến xuống mức tối thiểu nhưng lại muốn sản xuất ra một lượng giá trị thăng dư tối đa

Quy luật thứ ba: Nếu tỷ suất giá trị thặng dư hay mức độ bóc lột sức lao

động, và giá trị sức lao động hay đại lượng thời gian lao động xã hội cần thiết,

đã cho sẵn thì lẽ tất nhiên là tư bản khả biến càng lớn thì khối lượng giá trị và giá trị thặng dư sản xuất ra cũng càng lớn34

1.4 Phần thứ tư - Sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối

1.4.1 Khái niệm giá trị thặng dư tương đối

Các phần trước C.Mác giả định ngày lao động là một đại lượng bất biến Thực tế nó là một đại lượng bất biến trong những điều kiện sản xuất nhất định, trong một giai đoạn phát triển nhất định của xã hội Ngoài số thời gian lao động cần thiết ra, người công nhân có thể lao động làm thêm giờ 2, 3, 4, 6 giờ, v.v Đến đây, C.Mác giả định ngày lao động cố định với việc chia thành lao động cần thiết và lao động thặng dư là đại lượng cho sẵn Vậy làm thế nào để việc sản xuất ra giá trị thặng dư có thể tăng được hay để cho lao động thặng dư có thể kéo dài ra mà không kéo dài ngày lao động hoặc không phụ thuộc vào nó

C.Mác chỉ ra rằng, việc kéo dài số lao động thặng dư sẽ tương ứng với việc rút ngắn số lao động cần thiết Cái sẽ thay đổi không phải là độ dài của ngày lao động mà là sự phân chia của sự lao động thành lao động cần thiết và lao động thặng dư Khi độ dài của ngày lao động đã có sẵn thì thời gian lao động thặng dư được kéo dài là do thời gian lao động cần thiết bị rút ngắn Từ đó, C.Mác gọi “giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng cách kéo dài ngày lao động là giá trị thặng dư tuyệt đối; trái lại, giá trị thặng dư có được do rút ngắn thời gian

34 Sđd, tr 445

Trang 40

lao động cần thiết và do sự thay đổi tương ứng trong tỷ lệ của hai bộ phận cấu thành ngày lao động, thì tôi gọi đó là giá trị thặng dư tương đối”35

Để hạ thấp giá trị sức lao động, phải nâng cao sức sản xuất của lao động hay năng suất lao động ở ngành công nghiệp mà sản phẩm quyết định giá trị sức lao động, tức là những sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra tư liệu sinh hoạt và những ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt Bởi vì, nâng cao sức sản xuất của lao động ở các ngành đó sẽ làm cho giá trị của các tư liệu sinh hoạt rẻ đi, điều đó cũng có nghĩa là làm giảm giá trị sức lao động

C.Mác kết luận, quá trình phát triển sức sản xuất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng là quá trình làm tăng tỷ suất giá trị thặng dư bằng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối Đó là một quá trình lịch sử lâu dài trải qua các giai đoạn phát triển trong mối tương quan, tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Để minh chứng cho điều đó, C.Mác đã luận giải sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp qua 3 giai đoạn: Hiệp tác; công trường thủ công; và đại công nghiệp cơ khí

1.4.2 Hiệp tác

Trước hết C.Mác chỉ ra rằng, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ thực tế bắt đầu ở nơi nào mà cùng một tư bản cá biệt ấy trong cùng một thời gian thuê nhiều công nhân làm việc, do đó lao động được mở rộng qui mô và sản phẩm được cung cấp với số lượng lớn

Lao động hiệp tác là hình thức lao động trong đó nhiều người làm việc theo

kế hoạch bên cạnh nhau và cùng với nhau, trong cùng một quá trình sản xuất hay trong những quá trình khác nhau, nhưng gắn liền với nhau C.Mác chỉ ra những ưu thế của hiệp tác so với sản xuất cá thể là:

Một là, sinh ra sự thi đua, kích thích năng lực lao động trong mỗi con

người, làm tăng năng suất lao động cá nhân

Hai là, sau khi bù lại những chênh lệch cá nhân về thể lực, kỹ năng …

giữa những người sản xuất, nhờ đó mà hao phí lao động cá biệt của xí nghiệp

35 Sđd, tr.458

Ngày đăng: 24/01/2019, 16:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w