1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Giới thiệu một số tác phẩm của mác,lênin, HCM về kinh tế

214 150 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 214
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nội dung tác phẩm được trình bày một cách toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, nhà nước pháp quyền, giai cấp …nhưng tập trung vào hai nội dung cơ bả

Trang 1

GIỚI THIỆU MỘT SỐ TÁC PHẨM KINH ĐIỂN CỦA C.MÁC, PH.ĂNGGHEN, V.I.LÊNIN VÀ HỒ CHÍ MINH VỀ KINH TẾ HỌC

Trang 2

Mục lục Trang

Phần II: V.I.Lê nin

5 Tác phẩm: “Bàn về cái gọi là vấn đề thị tr-ờng”

7 Tác phẩm: “Hải cảng Lữ Thuận thất thủ” của V.I.Lênin 124

8 Tác phẩm: “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa t-

11 Tác phẩm: “Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản”

của V.I.Lênin

173

12 Tác phẩm: “Bàn về thuế l-ơng thực” của V.I.Lênin 187

13 Tác phẩm: “Bàn về chế độ hợp tác xã” của V.I.Lênin 205 Phần III: Hồ chí minh

14 Tác phẩm: “Bản án chế độ thực dân pháp” của Hồ Chí Minh 226

15 Tác phẩm: “Đ-ờng cách mệnh” của Hồ Chí Minh 234

16 Tác phẩm: “Di chúc” của chủ tịch Hồ Chí Minh 245

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Nhằm đáp ứng yêu cầu giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập môn Kinh tế chính trị và Kinh tế quân sự Mác – Lênin Học viện Chính trị xuất bản cuốn sách tham khảo: “Giới thiệu một số tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh về kinh tế học chính trị và kinh tế quân sự” dùng cho đào tạo giảng viên khoa học xã hội nhân văn quân sự, chuyên ngành kinh tế chính trị Mác – Lênin, bậc đại học Cuốn sách do tập thể tác giả khoa Kinh tế chính trị và các nhà khoa học đang công tác tại Học viện Chính trị biên soạn Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Đức Nhuấn và Tiến sĩ, Trương Tuấn Biểu đồng chủ biên

Cuốn sách giới thiệu 15 tác phẩm, được chia làm 3 phần Phần I, giới thiệu 3 tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen; Phần II, giới thiệu 9 tác phẩm của V.I.Lênin; Phần III, giới thiệu 3 tác phẩm của Hồ Chí Minh Riêng tác phẩm Tư bản của C.Mác, do quy mô đồ sộ và những nguyên lý, lý luận kinh

tế chính trị được trình bày và phương pháp nghiên cứu trong tác phẩm giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong lý luận kinh tế chính trị Mác – Lênin nên Ban biên soạn quyết định giới thiệu riêng về tác phẩm trong một cuốn sách khác vào dịp thích hợp Các tác phẩm giới thiệu trong cuốn sách này được sắp xếp theo thứ tự thời gian mà các nhà kinh điển viết tác phẩm Trên cơ sở kế thừa các công trình khoa học có liên quan, nội dung cuốn sách đã có sự phát triển, khai thác sâu sắc hơn, toàn diện hơn những nội dung khoa học Kinh tế chính trị Mác – Lênin và Kinh tế quân sự Mác – Lênin, phù hợp với chương trình giảng dạy và đối tượng đào tạo giảng viên khoa học xã hội nhân văn quân sự chuyên ngành Kinh tế chính trị Mác – Lênin bậc đại học Cuốn sách có giá trị tham khảo tốt, giúp người học nghiên cứu sâu hơn những nguyên lý, lý luận gốc của các nhà kinh điển về Kinh tế học chính trị và Kinh tế quân sự Mác – Lênin

Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã có rất nhiều cố gắng song

Trang 4

cuốn sách không tránh khỏi những hạn chế nhất định Ban biên soạn mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các đồng nghiệp và bạn đọc

để bổ sung, phát triển và hoàn thiện trong những lần xuất bản sau

BAN BIÊN SOẠN

Trang 5

PHẦN I CÁC MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN

TÁC PHẨM

“NHỮNG NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”

CỦA PH ĂNGGHEN

1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM

1.1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

Tác phẩm ra đời trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã phát triển tới đỉnh cao của nó Cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất với nội dung chủ yếu là chuyển từ lao động thủ công sang lao động bằng máy móc đã diễn ra rộng khắp ở Tây Âu và Bắc Mỹ Quá trình này đã đẩy tới hình thành nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa, năng suất lao động tăng cao, thúc đẩy kinh

tế thị trường tư bản chủ nghĩa phát triển

Trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa từng bước được hoàn thiện và giữ được địa vị thống trị trong kinh tế Tuy nhiên, do dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nên đã sớm bộc lộ mâu thuẫn kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng mang tính xã hội hoá cao Đó chính là nguyên nhân dẫn đến những mâu thuẫn về chính trị - xã hội trong xã hội tư bản mà biểu hiện tập trung của nó

là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản

Giai cấp tư sản đã giữ được vai trò thống trị trong xã hội tư bản Sự tồn tại hay phát triển của giai cấp vô sản phụ thuộc vào tương quan lực lượng về kinh tế, chính trị giữa hai giai cấp đó và sự phát triển của nền đại công nghiệp

tư bản chủ nghĩa Đại công nghiệp đã sản sinh ra và tập trung giai cấp vô sản vào trong các nhà máy lớn, các khu đô thị tập trung Vì vậy, giai cấp vô sản

đã phát triển cả về số lượng và chất lượng Giai cấp vô sản từ thân phận làm thuê, bị áp bức bóc lột đã ý thức được sức mạnh của mình và thực sự trở thành lực lượng chính trị - xã hội rộng lớn khẳng định vai trò chính trị của mình với sự phát triển của nhân loại Vai trò đó của giai cấp vô sản lại phụ thuộc vào sự đoàn kết đấu tranh của nó nhằm chống lại giai cấp tư sản để xoá

Trang 6

bỏ sự áp bức bóc lột giai cấp Vì vậy, phong trào cộng sản thế giới trong thời gian này phát triển mạnh mẽ, trước hết là ở các nước tư bản phát triển như Anh, Pháp, Đức

Đứng trước sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc

tế, bằng thiên tài của mình, nắm chắc thời cơ, Ph.Ăngghen cho rằng để phong trào công nhân phát triển đúng hướng cấp thiết phải có lý luận soi đường và Người đã viết tác phẩm để truyền bá tư tưởng của mình

Cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 1847 theo sự uỷ nhiệm của Ban chấp hành khu bộ Pari của Liên đoàn những người Cộng sản, Ph.Ăngghen biên soạn dự thảo Cương lĩnh của Liên đoàn dưới nhan đề: “Những nguyên lý của chủ nghĩa Cộng sản” Vấn đề soạn thảo Cương lĩnh dưới dạng cẩm nang (dưới hình thức câu hỏi và câu trả lời) đã được thảo luận ngay từ trước Đại hội lần thứ nhất Tháng 9 năm 1847, Ban chấp hành Trung ương Liên đoàn những người Cộng sản ở Luân Đôn đã phân phát bản dự thảo “Cẩm nang về chủ nghĩa Cộng sản” cho các khu bộ và chi bộ thuộc Liên đoàn Văn kiện này

và cả bản dự thảo đã được chỉnh lý do M.Hétxơ, một người của phái “Chủ nghĩa xã hội chân chính” soạn thảo tại Pari còn mang ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng nên không làm cho C.Mác và Ph.Ăngghen hài lòng Ngày 22 tháng 10, tại phiên họp của Ban chấp hành khu bộ Liên đoàn những người Cộng sản tại Pari, Ph.Ăngghen đã phê phán kịch liệt bản dự thảo của M.Hétxơ và đã bác bỏ bản dự thảo này Ph.Ăngghen được giao soạn một dự thảo mới Bản dự thảo ấy chính là “Những nguyên lý của chủ nghĩa Cộng sản” được viết sau đó không lâu

Như vậy, tác phẩm ra đời từ tháng 5 năm 1846 đến tháng 3 năm 1848, đây là thời kỳ hình thành chủ nghĩa Mác Tác phẩm là cơ sở tiền đề cho bản tuyên ngôn của phong trào cộng sản - “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”

1.2 Kết cấu và nội dung tư tưởng của tác phẩm

Tác phẩm được in trong C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, năm 1995, từ trang 456 đến trang 480 Tác phẩm được soạn thảo dưới hình thức cẩm nang, gồm 25 câu hỏi và câu trả lời

Trang 7

Sở dĩ tác phẩm được Ph.Ăngghen trình bày dưới dạng câu hỏi và câu trả lời theo từng vấn đề là để hướng dẫn giai cấp vô sản nhận thức đúng những quan điểm tư tưởng về con đường giải phóng giai cấp, xây dựng xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa Vì vậy, nội dung tác phẩm được trình bày một cách toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, nhà nước pháp quyền, giai cấp …nhưng tập trung vào hai nội dung cơ bản là: Trình bày những vấn đề kinh tế của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa và những vấn đề chính trị - xã hội như vấn đề nhà nước, giai cấp, đấu tranh giai cấp…Sau đây là những nội dung chính về kinh tế chính trị học được trình bày trong tác phẩm

2 NỘI DUNG KINH TẾ CHÍNH TRỊ TRONG TÁC PHẨM

2.1 Quan điểm của Ph.Ăngghen về chủ nghĩa cộng sản

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chủ nghĩa cộng sản như chủ nghĩa cộng sản với tư cách là một phong trào, chủ nghĩa cộng sản với tư cách là một hình thái kinh tế - xã hội, chủ nghĩa cộng sản với tư cách là một học thuyết Trong tác phẩm này, riêng câu hỏi thứ 1, Ph.Ăngghen đã đặt vấn đề: Chủ nghĩa cộng sản là gì? và Ông trả lời ngay rằng: “Chủ nghĩa cộng sản là học thuyết về những điều kiện giải phóng giai cấp vô sản” Thực chất là giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, bất công, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, ở đó mọi người được phát triển tự do và toàn diện

2.2 Quan niệm về giai cấp vô sản và điều kiện ra đời, tồn tại của giai cấp vô sản

Quan niệm về giai cấp vô sản được Ph.Ăngghen đặt ra và trả lời trong câu hỏi thứ 2 Ông cho rằng giai cấp vô sản là giai cấp chỉ kiếm sống bằng bán sức lao động mà không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào, số phận của họ phụ thuộc vào việc có bán được hay không bán được sức lao động Đó là giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ phụ thuộc vào sự chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm

ăn và bản thân công việc làm ăn đó lại phụ thuộc vào cuộc cạnh tranh không

gì ngăn cản nổi giữa những nhà tư bản Đây là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX, họ là những người mất hết tư liệu sản xuất, cái sở hữu duy nhất là sức

Trang 8

lao động Tuy nhiên, Ăngghen cũng cho rằng giai cấp vô sản không đồng nhất với giai cấp nghèo đói, vì những người này có thể còn có chút tư liệu sản xuất, còn công nhân sống trong điều kiện như trên, tức là những người vô sản thì không phải lúc nào cũng có Sự phân biệt này được Ăngghen trình bày ở câu hỏi và câu trả lời thứ 3

Về sự ra đời của giai cấp vô sản, sự xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Ph.Ăngghen cho rằng giai cấp vô sản là sản phẩm của cuộc cách mạng công nghiệp Cuộc cách mạng này xảy ra đầu tiên ở nước Anh vào nửa sau của thế kỷ XVIII, sau đó thì diễn ra ở tất cả các nước văn minh trên thế giới Sở dĩ có cuộc cách mạng đó là vì có sự phát minh ra máy móc mà trước hết là máy hơi nước, máy kéo sợi…Chính sự ra đời của máy móc đã làm thay đổi toàn bộ phương thức sản xuất tồn tại từ trước tới nay và loại những người công nhân cũ Máy móc thì rất đắt nên chỉ có những nhà tư bản lớn mới dùng được Hàng hoá do máy móc sản xuất ra thì rẻ và tốt hơn so với hàng hoá do công nhân sản xuất ra bằng phương pháp thủ công Chính bằng cách đó máy móc đã trao toàn bộ công nghiệp vào tay các nhà tư bản lớn

và hoàn toàn làm giảm giá trị số tài sản nhỏ bé không đáng kể thuộc về công nhân Vì vậy chỉ trong một thời gian ngắn nhà tư bản đã nắm hết thảy mọi cái vào tay mình, còn công nhân thì không còn gì nữa Máy móc và chế độ công xưởng ra đời làm cho phân công lao động xã hội và sự chuyên môn hoá trong sản xuất ngày càng sâu sắc, năng suất, chất lượng hàng hoá tăng cao, giá lại

rẻ, bằng cách ấy cuối cùng tất cả các ngành công nghiệp lần lượt chịu sự khống chế của máy móc như đã từng xảy ra với ngành kéo sợi, dệt vải Tất cả các ngành công nghiệp ấy đã hoàn toàn chuyển vào tay các nhà tư bản lớn, còn công nhân thì mất hết mọi tàn dư cuối cùng bảo đảm sự độc lập của họ Chế độ công xưởng ngày càng mở rộng sự thống trị của nó thay thế cho công trường thủ công, tầng lớp trung gian trước đây nhất là những người thợ cả thủ công hạng nhỏ ngày càng phá sản; địa vị trước đây của người sản xuất hoàn toàn thay đổi và giai cấp tư sản, giai cấp vô sản mới được tạo ra dần dần cuốn hút tất cả các giai cấp khác vào hàng ngũ của mình Như vậy, chính nhờ sự ra đời của máy móc đã làm thay đổi địa vị trước đây của người sản xuất dẫn đến

Trang 9

sự hình thành 2 giai cấp: tư sản và vô sản Giai cấp những nhà tư sản lớn độc chiếm mọi tư liệu sản xuất và cả tư liệu sinh hoạt Giai cấp vô sản, những người hoàn toàn không có của phải bán lao động của mình cho nhà tư bản để đổi lấy những tư liệu sinh hoạt cần thiết Quan hệ giữa hai giai cấp là quan hệ chủ thợ, quan hệ bóc lột và bị bóc lột, qua đó quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và xác lập được địa vị thống trị của mình Sự ra đời của giai cấp

vô sản được Ph.Ăngghen trình bày ở câu hỏi và câu trả lời thứ 4 trong tác phẩm

Ở câu hỏi và câu trả lời thứ 5, Ph.Ăngghen phân tích về hàng hoá sức lao động thông qua việc làm rõ sự bán sức lao động của người vô sản cho nhà

tư bản Theo Ăngghen, sức lao động cũng là một thứ hàng hoá giống như mọi thứ hàng hoá khác, giá cả của nó cũng tuân theo quy luật giá trị Chi phí sản xuất ra sức lao động gồm có giá trị số lượng tư liệu sinh hoạt cần thiết để người công nhân có thể duy trì năng lực lao động của mình và để cho giai cấp công nhân khỏi bị diệt vong Vì là những người không có của nên người công nhân phải trao đổi sức lao động của mình nhưng cũng không thể nhận nhiều hơn số cần thiết cho mục đích trên Ph.Ăngghen cho rằng tiền lương chính là giá cả của sức lao động trong nền đại công nghiệp và cạnh tranh tự do sẽ hết sức thấp, nó là mức tối thiểu để duy trì đời sống của người công nhân Tuy nhiên tình hình có lúc tốt, có lúc xấu nên người công nhân cũng có lúc lĩnh được nhiều hoặc ít tiền lương nhưng tính trung bình thì số tiền lương mà họ nhận được cũng không nhiều hơn và không ít hơn mức tối thiểu nói trên Quy luật kinh tế đó của tiền lương ngày càng được thực hiện một cách chặt chẽ khi đại công nghiệp càng chiếm địa vị thống trị trong tất cả các ngành lao động

Từ câu hỏi và câu trả lời thứ 6 đến câu hỏi và câu trả lời thứ 10, Ăngghen phân biệt giai cấp vô sản với các giai cấp khác trong các xã hội trước chủ nghĩa tư bản và với người công nhân công trường thủ công Ông phân tích rằng trước khi có cách mạng công nghiệp, trong thời cổ đại có những người lao động là nô lệ của người chủ; thời trung cổ có người lao động

là nông nô của chúa đất quý tộc; từ thời trung cổ đến cách mạng công nghiệp trong các thành thị còn có những người thợ thủ công làm việc cho người thợ

Trang 10

cả tiểu thị dân và cùng với sự phát triển của công trường thủ công xuất hiện những công nhân công trường thủ công do các nhà tư bản lớn hơn thuê mướn

Sự ra đời của các giai cấp lao động và địa vị của họ gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội trong các giai đoạn lịch sử khác nhau so với các giai cấp có của chiếm địa vị thống trị Người vô sản khác người nô lệ ở chỗ: Người nô lệ

bị bán đi chỉ một lần thôi, là tài sản của người chủ nhất định, dù cùng cực thì sinh hoạt của họ vẫn được bảo đảm, nô lệ đứng ngoài cạnh tranh, họ là thứ đồ vật chứ không phải là một thành viên của xã hội công dân; người nô lệ muốn

tự giải phóng mình chỉ cần tiêu diệt một quan hệ nô lệ thôi Ngược lại, người

vô sản tự bán mình từng ngày, từng giờ; họ là tài sản của toàn bộ giai cấp tư sản, lao động (sức lao động) của họ chỉ bán được khi có người cần đến nên sinh hoạt không được bảo đảm; người vô sản sống trong điều kiện của cạnh tranh và chịu ảnh hưởng bởi tất cả các biến động của nó, họ được thừa nhận là một cá nhân, một thành viên của xã hội công dân, thuộc về một xã hội có trình độ phát triển cao hơn và do đó có trình độ cao hơn người nô lệ; người vô sản chỉ có thể tự giải phóng được sau khi tiêu diệt được chế độ tư hữu nói chung Từ đây có thể suy luận rằng thủ tiêu chế độ tư hữu tư bản là thủ tiêu chế độ tư hữu cuối cùng đẻ ra chế độ người bóc lột người Tiếp đó là sự so sánh của Ph.Ăngghen về sự khác nhau giữa người vô sản và người nông nô Người nông nô có và được sử dụng công cụ sản xuất, phải nộp một phần thu nhập của mình hay phải làm một số công việc, người nông nô phải đem nộp, sinh hoạt của họ được bảo đảm và họ đứng ngoài cạnh tranh Người nông nô

tự giải phóng hoặc bằng cách nào đó gia nhập vào hàng ngũ những người hữu sản và đi vào cạnh tranh Người vô sản thì làm việc bằng công cụ sản xuất của người khác, để làm lợi cho người đó và nhận một phần thu nhập, họ được lĩnh

về nhưng sinh hoạt của họ không được bảo đảm; họ sống trong điều kiện của cạnh tranh, họ tự giải phóng mình bằng cách tiêu diệt cạnh tranh, chế độ tư hữu và mọi sự khác nhau về giai cấp Người vô sản cũng khác với người công nhân trong công trường thủ công ở chỗ: Công nhân trong công trường thủ công họ ở khắp mọi nơi, đều có công cụ sản xuất như khung cửi, xa kéo sợi, mảnh đất nhỏ, hầu như họ luôn sinh sống ở nông thôn, ít nhiều quan hệ có

Trang 11

tính chất gia trưởng với địa chủ, người giao việc Ngược lại với người công nhân trong công trường thủ công, người vô sản không có gì hết, phần nhiều

họ sống ở những đô thị lớn liên hệ với người giao việc bởi những quan hệ thuần tuý tiền tệ Đại công nghiệp đã kéo người công nhân công trường thủ công ra khỏi điều kiện gia trưởng của họ, họ mất hết tài sản cuối cùng của họ

và chỉ khi đó họ mới trở thành người vô sản

2.3 Ph.Ăngghen phân tích vai trò của đại công nghiệp với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nói riêng và với sự phát triển của nhân loại nói chung

Trước hết, Ph.Ăngghen cho rằng đại công nghiệp hay lao động bằng máy móc đã cho phép nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm Sự thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc đã làm cho phân công lao động xã hội ngày càng sâu, rộng mang tính xã hội hoá cao, chuyên môn hoá sâu Cách mạng công nghiệp cho ra đời những sản phẩm công nghiệp với giá ngày càng hạ nên tác động làm rung chuyển và phá hoại hoàn toàn hệ thống công trường thủ công hay hệ thống công nghiệp cũ xây dựng trên cơ sở lao động thủ công ở tất cả các nước trên thế giới Cách mạng công nghiệp làm cho những nước lạc hậu, những nước mà công nghiệp vẫn dựa trên công trường thủ công, nửa dã man phải từ bỏ tình trạng biệt lập, khép kín của mình và bắt đầu mua của người Anh những sản phẩm hàng hoá rẻ hơn, làm cho công trường thủ công bị phá sản Hơn thế nữa, cuộc cách mạng công nghiệp đã làm cho những nước mà hàng chục thế

kỷ như Ấn Độ và ngay cả Trung Quốc cũng đang đi đến cách mạng Như vậy, đại công nghiệp phát triển đã xoá bỏ sự biệt lập khép kín của các quốc gia, ngay

cả những quốc gia phong kiến bảo thủ ở Phương Đông cũng bị lôi cuốn vào vòng xoáy của đại công nghiệp, nhờ đó gắn kết các dân tộc lại với nhau, xoá bỏ lạc hậu, thúc đẩy tiến bộ

Đại công nghiệp còn làm cho thị trường dân tộc gắn với thị trường thế giới, tạo ra thị trường thế giới thống nhất, các quốc gia đều phụ thuộc và lệ thuộc vào nhau Ánh sáng của văn minh, tiến bộ nhờ đó mà lan toả; chỉ cần một sự kiện xảy ra ở các nước văn minh đều có thể ảnh hưởng tới tất cả các nước khác Thật vậy, đại công nghiệp đã làm cho lực lượng sản xuất thế giới

Trang 12

phát triển, các nước không chỉ lệ thuộc, phụ thuộc vào nhau về kinh tế – kỹ thuật của sản xuất, cả đầu vào và đầu ra của nó mà còn lệ thuộc, phụ thuộc vào nhau cả về mặt kinh tế -xã hội của sản xuất, tức quan hệ sản xuất Do đó, Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tư bản mang tính xã hội hoá cao với quan

hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tỏ ra lạc hậu có xu hướng kìm hãm sự phát triển đó không còn là mâu thuẫn trong nòng từng nước mà đã trở thành mâu thuẫn trong toàn bộ hệ thống các nước tư bản Chính sự giải quyết mâu thuẫn này làm cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân ở một nước trở thành sự nghiệp giải phóng công nhân ở các nước; làm cho sứ mệnh của giai cấp vô sản trở thành sứ mệnh toàn thế giới Về vấn đề này được Ăngghen trả lời ở ý thứ nhất của câu hỏi thứ 11, Ông viết: “Như vậy là nền đại công nghiệp đã gắn liền tất cả các dân tộc trên trái đất lại với nhau, đã thống nhất tất cả các thị trường địa phương nhỏ bé thành một thị trường toàn thế giới, đã chuẩn bị

cơ sở, ở khắp nơi, cho văn minh và tiến bộ, đã làm cho tất cả những cái gì xảy

ra trong các nước văn minh đều có ảnh hưởng đến tất cả các nước khác”1

Tiếp đó, vấn đề thứ hai trong phần trả lời câu hỏi thứ 11, Ph.Ăngghen chứng minh đại công nghiệp phát triển không chỉ củng cố địa vị kinh tế của giai cấp tư sản mà còn củng cố địa vị chính trị của nó làm cho nó trở thành giai cấp thống trị trong xã hội tư bản Bởi đại công nghiệp thay thế công trường thủ công đã làm tăng thêm rất nhiều của cải và thế lực của giai cấp tư sản, làm cho nó trở thành giai cấp thứ nhất trong nước Nhờ sản xuất bằng máy, năng suất lao động tăng, giá trị của hàng hoá giảm trong khi đó sản xuất trong các công trường thủ công bằng các công cụ thủ công, năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao không cạnh tranh nổi, tầng lớp trung lưu phải phá sản Cuối cùng ở tất cả các nơi xảy ra quá trình đó, giai cấp tư sản đều nắm được chính quyền trong tay, gạt bỏ những tầng lớp trước đó vẫn giữ quyền thống trị, thủ tiêu mọi quyền lực của tầng lớp quý tộc, phá tan mọi thế lực của thị dân phường hội, mọi đặc quyền của thợ thủ công Để thay thế tất

cả những cái đó, giai cấp tư sản đề ra tự do cạnh tranh, cái bảo đảm cho quyền

1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, H 1995, 462,463

Trang 13

kinh doanh của giai cấp tư bản vào bất cứ ngành công nghiệp nào khi họ muốn và sự bình đẳng trong xã hội chỉ còn là sự bình đẳng của số tư bản ngang nhau Vì vậy có thể khẳng định đại công nghiệp phát triển thúc đẩy tự

do cạnh tranh Đại công nghiệp và tự do cạnh tranh là nguyên nhân và kết quả của nhau, là điều kiện tiền đề cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, Ph Ăngghen đã khẳng định: “Nhưng cạnh tranh tự do là tất yếu đối với thời kỳ phát triển ban đầu của đại công nghiệp, vì cạnh tranh tự do là một trạng thái

xã hội duy nhất trong đó đại công nghiệp có thể phát triển - tiêu diệt thế lực

xã hội của tầng lớp quý tộc và tầng lớp thị dân phường hội bằng cách đó, giai cấp tư sản cũng đã tiêu diệt cả chính quyền của hai giai cấp đó Sau khi trở thành giai cấp thứ nhất trong xã hội, giai cấp tư sản tuyên bố mình là giai cấp thứ nhất cả trong lĩnh vực chính trị”1

Kết thúc phần trả lời câu hỏi thứ 11, vấn đề thứ ba, Ph.Ăngghen khẳng định đại công nghiệp không chỉ làm cho giai cấp tư sản phát triển mà đồng thời với nó là sự phát triển tương ứng của giai cấp vô sản và họ ý thức được sứ mệnh của mình Do đó, cách mạng công nghiệp đã chuẩn bị điều kiện cho cách mạng

xã hội mà giai cấp vô sản tiến hành Sự phát triển của giai cấp vô sản không phải chỉ dừng lại ở một địa phương, một quốc gia mà ở khắp mọi nơi có cách mạng công nghiệp phát triển đều thúc đẩy giai cấp vô sản phát triển cùng với một tốc

độ phát triển của giai cấp tư sản Sự đông đúc của giai cấp vô sản tỷ lệ thuận với

sự giàu có của giai cấp tư sản Lý giải nguyên nhân này, Ph.Ăngghen phân tích:

“Vì chỉ tư bản mới có thể đem lại việc làm cho những người vô sản, và vì tư bản chỉ có thể tăng thêm khi sử dụng lao động, cho nên tư bản lớn lên bao nhiêu thì giai cấp vô sản cũng lớn lên bấy nhiều”2 Đồng thời, cách mạng công nghiệp tập trung cả hai giai cấp tư sản và vô sản vào các thành thị lớn, vì ở đó công nghiệp phát triển có lợi hơn Nhờ tập trung đông đảo quần chúng vào một chỗ như vậy

đã làm cho vô sản nhận thức được sức mạnh của mình Những máy móc mới thay thế lao động thủ công tiếp tục được phát minh, nó càng gây áp lực với tiền lương Tiền lương càng giảm xuống đến mức tối thiểu, khiến cho tình cảnh của

1,2, Sđ d, tr 463, 464

Trang 14

giai cấp vô sản ngày càng trở lên không sao chịu đựng nổi Phân tích lô gíc đó của sự phát triển đại công nghiệp, Ph.Ăngghen đi đến kết luận như một tất yếu

và niềm tin tưởng sâu sắc rằng: “Tóm lại, một mặt do sự bất mãn của giai cấp vô sản ngày càng tăng, mặt khác do sức mạnh của giai cấp vô sản ngày càng lớn cho nên cách mạng công nghiệp chuẩn bị điều kiện cho cuộc cách mạng xã hội

mà giai cấp vô sản sẽ tiến hành”1

Trong câu hỏi thứ 12, Ph.Ăngghen đặt vấn đề: cách mạng công nghiệp còn mang lại những hậu quả gì thêm nữa Trả lời vấn đề này, Ph.Ăngghen cho rằng: Đại công nghiệp phát triển mở rộng sản xuất với chi phí không nhiều, trong môi trường tự do cạnh tranh dẫn đến sản xuất vượt quá nhu cầu tiêu dùng gây ra khủng hoảng thương nghiệp dẫn đến hậu quả kinh tế, xã hội xấu Cuộc khủng hoảng này mang tính chu kỳ, nó trở thành căn bệnh kinh niên của chủ nghĩa tư bản, nó thức tỉnh tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân, đe doạ sự đổ vỡ của xã hội tư bản

Trong câu hỏi thứ 13, Ăngghen rút ra kết luận từ những cuộc khủng hoảng thương nghiệp tái diễn đều đặn ở trên, đó là tính chất ngày càng trầm trọng của khủng hoảng kinh tế dưới chủ nghĩa tư bản do sự phát triển của đại công nghiệp gây ra Để khắc phục tình trạng đó, đòi hỏi phải xây dựng một chế độ xã hội mới trong đó việc sản xuất không phải tiến hành riêng lẻ mà do toàn thể xã hội thực hiện theo một kế hoạch vững chắc phù hợp với nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội Ph.Ăngghen trình bày kết luận của mình trên

hai ý: Thứ nhất, đại công nghiệp đã tự mình tạo ra cạnh tranh tự do ở giai

đoạn phát triển ban đầu của nó, nhưng nay đã vượt quá cạnh tranh tự do; cạnh tranh trong điều kiện những cá nhân riêng lẻ tiến hành sản xuất công nghiệp

vô hình lại trở thành xiềng xích trói buộc đại công nghiệp, sẽ gây ra tình trạng rối loạn, cứ bảy năm một lần như thế sẽ đe dọa toàn bộ nền văn minh, ném những người vô sản vào cảnh nghèo xác sơ và làm cho nhiều nhà tư sản phải phá sản, từ đó đặt ra: “Do đó, hoặc phải từ bỏ đại công nghiệp - đó là điều tuyệt đối không thể được, hoặc phải thừa nhận rằng đại công nghiệp làm cho

1 Sdd, tr 465

Trang 15

việc xây dựng một tổ chức xã hội mới trở thành một việc tuyệt đối cần thiết, một tổ chức xã hội mới trong đó việc lãnh đạo sản xuất công nghiệp không phải do từng chủ xưởng riêng lẻ cạnh tranh với nhau thực hiện nữa, mà do toàn thể xã hội thực hiện theo một kế hoạch vững chắc và phù hợp với nhu

cầu của mọi thành viên trong xã hội” Thứ hai, với khả năng mở rộng sản xuất

vô hạn, đại công nghiệp tạo ra điều kiện tất yếu cho phép xây dựng một chế

độ xã hội, ở đó mọi vật phẩm cần cho đời sống sẽ được sản xuất đến nỗi mỗi thành viên xã hội đều hoàn toàn tự do phát triển và sử dụng mọi lực lượng, mọi năng lực của mình Ông rút ra nhận định rằng: “Cho nên, cái tính chất của đại công nghiệp trong xã hội hiện thời là đẻ ra mọi sự nghèo đói và mọi cuộc khủng hoảng thương nghiệp, thì đến một chế độ xã hội khác, chính tính chất ấy lại trở thành tính chất thủ tiêu sự nghèo khổ đó và những sự biến động đem lại tai hoạ đó” và có thể chứng minh rõ hai điều: “1, hiện nay tất cả mọi tai hoạ đó đều chỉ do cái chế độ xã hội không còn phù hợp với điều kiện thời đại nữa gây ra; 2, người ta đã có phương tiện để thủ tiêu triệt để những tai hoạ

đó bằng cách xây dựng nên một chế độ xã hội mới”1

2.4 Ph.Ăngghen dự báo về sự ra đời và đặc trưng của xã hội cộng sản chủ nghĩa

Trong câu hỏi thứ 14, Ăngghen hỏi: Chế độ xã hội mới đó phải như thế nào? Đọc phần trả lời của ông, thấy xã hội mới toát nên các đặc trưng: Việc sản xuất do toàn thể xã hội quản lý, tiến hành vì lợi ích chung, theo một kế hoạch chung, với sự tham gia của mọi thành viên trong xã hội; triệt tiêu cạnh tranh, thay cạnh tranh bằng hợp tác Lý giải vấn đề này Ông cho rằng việc quản lý công nghiệp và các ngành sản xuất nói chung không thể nằm trong tay từng cá nhân riêng lẻ cạnh tranh với nhau Vì từng cá nhân riêng lẻ kinh doanh công nghiệp sẽ đem lại hậu quả tất yếu của chế độ tư hữu và vì cạnh tranh không phải là cái gì khác mà là một phương thức kinh doanh công nghiệp khi công nghiệp do những người tư hữu riêng lẻ quản lý, cho nên chế

độ tư hữu không thể tách rời cá nhân kinh doanh công nghiệp và tách rời cạnh

1 Sdd, tr 466

Trang 16

tranh được Do đó, trong xã hội mới: “Chế độ tư hữu cũng phải được thủ tiêu

và phải được thay thế bằng việc sử dụng chung tất cả mọi công cụ sản xuất và việc phân phối sản phẩm theo sự thoả thuận chung, tức là bằng cáí mà mọi người gọi là sự cộng đồng về tài sản”1 Thủ tiêu chế độ tư hữu là cách nói vắn tắt và tổng quát nhất về việc cải tạo toàn bộ chế độ xã hội và việc cải tạo này cũng là kết quả tất yếu của sự phát triển công nghiệp

Ở câu hỏi và trả lời thứ 20 và thứ 21, Ph.Ăngghen bước đầu khái quát cho chúng ta một bức tranh tổng thể về xã hội cộng sản tương lai Đó là những dự báo được phân tích có cơ sở khoa học dựa vào sự phát triển của đại công nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản làm cho lực lượng sản xuất tư bản không tương thích với quan hệ sản xuất đã trở thành xiềng xích trói buộc sự phát triển của nó và cách mạng vô sản sẽ nổ ra để xoá bỏ chế độ tư hữu, xác lập xã hội cộng sản chủ nghĩa Ph.Ăngghen dự báo: Xã hội mới ra đời được kế thừa một nền sản xuất ở vào trình độ tiên tiến, hiện đại và có những đặc trưng sau:

- Việc sản xuất, phân phối, trao đổi được tiến hành theo kế hoạch trên quy mô toàn xã hội, mọi hậu quả tai hại gắn với chế độ quản lý đại công nghiệp hiện thời sẽ bị thủ tiêu trước hết

- Xoá bỏ khủng hoảng kinh tế, nghèo đói, bất công; đảm bảo thoả mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội, sẽ làm nảy sinh những nhu cầu mới

và tạo ra những phương tiện cho phép thoả mãn những nhu cầu đó

- Đại công nghiệp thoát khỏi xiềng xích của chế độ tư hữu sẽ phát triển với quy mô chưa từng có Do đó, có điều kiện để thoả mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội Trong nông nghiệp cũng xảy ra tình trạng tương tự như trong công nghiệp

- Xoá bỏ giai cấp và mọi sự đối lập về giai cấp

- Phát triển một cách tương xứng năng lực của con người với phương tiện hiện đại Việc tiến hành sản xuất tập thể bằng lực lượng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất sẽ cần đến những con người hoàn toàn mới và xã hội sẽ tạo nên những con người đó Vì vậy nền công nghiệp do toàn xã hội thực

1 Sdd, tr 467

Trang 17

hiện một cách tập thể và có kế hoạch càng cần có những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất

- Con người, mọi thành viên trong xã hội được phát triển toàn diện năng lực, mọi người bình đẳng hưởng thụ của cải do xã hội làm ra Sự liên hợp tất cả mọi thành viên trong xã hội nhằm mục đích cùng nhau khai thác lực lượng sản xuất một cách có kế hoạch Công tác giáo dục sẽ làm cho những người trẻ tuổi có khả năng nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn; làm cho họ có thể lần lượt chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất khác tuỳ theo nhu cầu của xã hội và tuỳ theo sở thích của bản thân

- Xoá bỏ sự đối lập giữa thành thị và nông thôn; cuối cùng là sự hoà hợp giữa thành thị và nông thôn “Cũng những con người ấy sẽ làm cả lao động nông nghiệp lẫn lao động công nghiệp chứ không phải giao hai công việc cho hai giai cấp khác nhau”

Về vấn đề chế độ cộng sản sẽ ảnh hưởng như thế nào đến gia đình Trả lời câu hỏi thứ 21, Ph.Ăngghen nói rất rõ: “Quan hệ nam nữ sẽ trở thành một công việc hoàn toàn tư nhân, chỉ thuộc về những người hữu quan và xã hội không cần phải can thiệp vào…Tổ chức cộng sản chủ nghĩa không những không đưa lại sự cộng thê mà trái lại còn tiêu diệt sự cộng thê”1

2.5 Tính tất yếu khách quan phải thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, biện pháp và bước đi thủ tiêu chế độ tư hữu

Những vấn đề trên được Ph.Ăngghen phân tích ở một loạt các câu hỏi

và câu trả lời, từ câu hỏi thứ 15 đến câu hỏi thứ 18 Ở câu hỏi và trả lời thứ

15, Ph.Ăngghen phân tích về sự cần thiết phải thủ tiêu chế độ tư hữu thông qua việc đặt vấn đề: Phải chăng như vậy có nghĩa là trước đây, không thể thủ tiêu được chế độ tư hữu? Ông khẳng định ngay: Đúng Sự thủ tiêu chế độ tư hữu cũng như sự ra đời của nó và xây dựng chế độ công hữu phải tuân thủ yêu cầu của quy luật kinh tế khách quan, quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Trước đây

1 Sdd, tr 475, 476

Trang 18

không thể thủ tiêu được chế độ tư hữu, vì: “Bất cứ một sự thay đổi nào của chế độ xã hội, bất cứ một sự cải biến nào về mặt quan hệ sở hữu cũng đều là kết quả tất yếu của việc tạo nên những lực lượng sản xuất mới, không còn phù hợp với các quan hệ sở hữu cũ nữa Bản thân chế độ tư hữu cũng ra đời như vậy” Ph.Ăngghen cho rằng vấn đề là ở chỗ không phải khi nào cũng có chế

độ tư hữu và chứng minh qua các thời kỳ lịch sử Vào cuối thời trung cổ, khi phương thức sản xuất mới – không chứa nổi trong khuôn khổ của chế độ sở hữu phong kiến và phường hội lúc bấy giờ, xuất hiện dưới hình thức công trường thủ công thì công trường thủ công đã vượt quá quan hệ sở hữu cũ, tạo cho nó một hình thức sở hữu mới, chế độ tư hữu Chứng minh theo lô gíc này, Ông kết luận: “Đối với công trường thủ công và đối với giai đoạn phát triển ban đầu của đại công nghiệp, không thể có hình thức sở hữu nào khác ngoài quyền tư hữu, không thể có chế độ xã hội nào khác ngoài chế độ xã hội xây dựng trên cơ sở tư hữu Chừng nào chưa thể sản xuất với quy mô có thể không những đủ cung cấp cho mọi người mà còn có thừa sản phẩm để tăng thêm tư bản xã hội và phát triển lực lượng sản xuất hơn nữa, thì chừng đó, luôn luôn còn phải có một giai cấp thống trị chi phối lực lượng sản xuất xã hội, và một giai cấp nghèo đói bị áp bức Đó là những giai cấp nào, điều này tuỳ ở trình độ phát triển của sản xuất”1 Để làm rõ hơn kết luận của mình, Ph.Ăngghen chứng minh từ thời kỳ trung cổ cho đến thời kỳ công trường thủ công trong thế kỷ XIX, lực lượng sản xuất vẫn chưa phát triển đến mức khiến cho có thể sản xuất đủ sản phẩm cho mọi người, và khiến cho chế độ tư hữu trở thành xiềng xích ngăn cản sự phát triển của lực lượng sản xuất đó Tuy nhiên cho đến nay, sự phát triển của lực lượng sản xuất do đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa tạo ra đã vượt quá chế độ tư hữu, do đó mà việc thủ tiêu chế độ

tư hữu là có thể thực hiện được và hoàn toàn cần thiết Về vấn đề này Ông nói: “Nhưng hiện nay, nhờ sự phát triển của đại công nghiệp nên thứ nhất, tư bản và lực lượng sản xuất đã được tạo ra với quy mô chưa từng có, và người

ta đã có phương tiện để, trong một thời gian ngắn phát triển lực lượng sản

1 Sdd, tr 467-468

Trang 19

xuất đó một cách vô hạn Thứ hai, các lực lượng sản xuất đó tập trung trong tay một số ít nhà tư sản, còn đông đảo quần chúng nhân dân thì ngày càng trở thành vô sản; hơn nữa của cải của tư sản ngày càng tăng thì tình cảnh của quần chúng nhân dân càng trở nên nghèo đói và không sao chịu nổi Thứ ba, những lực lượng sản xuất mạnh mẽ dễ tăng thêm đó đã vượt quá chế độ tư hữu và nhà tư sản đến mức là nó luôn luôn gây ra những sự chấn động hết sức mạnh mẽ trong chế độ xã hội Cho nên, chỉ có ngày nay, việc thủ tiêu chế độ

tư hữu mới trở thành không những là điều có thể thực hiện được, mà thậm chí còn là điều hoàn toàn cần thiết”

Về bước đi của thủ tiêu chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu, trong câu hỏi thứ 17, Ông đặt vấn đề: Liệu có thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được không? Câu trả lời của Ph.Ăngghen là: Không, không thể được Như vậy, việc thủ tiêu chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu phải tiến hành dần dần, từng bước, lâu dài trên cơ sở tôn trọng quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; không thể dùng biện pháp hành chính, nôn nóng, chủ quan, duy ý chí Điều này đã được Ph.Ăngghen giải thích rất rõ rằng: “cũng y như không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu Cho nên cuộc cách mạng của giai cấp vô sản đang có tất cả những triệu chứng là sắp nổ ra, sẽ chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần, và chỉ khi nào tạo nên được một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu”1

Về biện pháp để thủ tiêu chế độ tư hữu: Ở câu hỏi thứ 16, Ph.Ăngghen nêu vấn đề có thể thủ tiêu chế độ tư hữu bằng biện pháp hoà bình được không? ở phần trả lời, Ông cho rằng có thể thủ tiêu chế độ tư hữu bằng biện pháp hoà bình và những người cộng sản chính là những người sau cùng phản đối việc đó Như vậy, thủ tiêu chế độ tư hữu bằng biện pháp hoà bình là biện pháp có thể thực hiện được và là điều mong muốn Nhưng Ông cũng nhấn mạnh rằng không thể làm cách mạng theo ý muốn chủ quan, tuỳ tiện mà phải xuất phát từ yêu cầu, hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Bởi vì, trên thực tế sự phát triển của giai cấp vô sản ở hầu khắp tất cả các nước văn minh đều bị đàn

áp bằng bạo lực, như vậy tức là kẻ thù của những người cộng sản, giai cấp tư

1 Sdd, tr 469

Trang 20

sản đã gắng hết sức làm việc cho cách mạng Cuối cùng tất cả những điều đó thúc đẩy giai cấp vô sản làm cách mạng thì họ sẽ bảo vệ sự nghiệp của giai cấp bằng hành động Hành động của giai cấp vô sản trong cách mạng, chúng

ta cần hiểu đó không phải là biện pháp hoà bình nữa mà là biện pháp đối lập với hoà bình, bạo lực cách mạng

Trả lời câu hỏi thứ 18, Ăngghen đã chỉ ra những bước đi và biện pháp

cụ thể Trước hết, giai cấp vô sản phải xác lập được quyền thống trị về chính trị của mình và dùng quyền đó để thi hành những biện pháp rộng rãi, trực tiếp hay gián tiếp đánh vào chế độ tư hữu Nhưng những biệp pháp này, Ph.Ăngghen cho đó là những biện pháp chủ yếu nhất và xuất phát từ những điều kiện cụ thể thời Ph.Ăngghen Theo đó, từ đây có thể suy luận là khi những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội đã có sự thay đổi thì những biện pháp mà giai cấp vô sản áp dụng để xoá bỏ chế độ tư hữu có thể phải thay đổi

Sự thay đổi ấy như thế nào, cụ thể ra sao còn phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia và vấn đề cơ bản là giai cấp vô sản ở đó có nhận thức đúng đắn và đầy đủ các quy luật kinh tế khách quan để vận dụng cụ thể vào một hoàn cảnh cụ thể hay không Lời Ph.Ăngghen khẳng định:

“Trước hết, nó tạo ra một chế độ dân chủ và nhờ đó mà trực tiếp hay gián tiếp tạo ra quyền thống trị chính trị của giai cấp vô sản…Đối với giai cấp vô sản, chế độ dân chủ sẽ trở nên hoàn toàn vô ích nếu nó không được dùng ngay lập tức làm phương tiện để thi hành những biện pháp rộng rãi trực tiếp đánh vào chế độ tư hữu và bảo đảm sự tồn tại của giai cấp vô sản Những biện pháp chủ yếu nhất, tất yếu xuất phát từ những điều kiện hiện nay”1

Ph.Ăngghen đưa ra 12 biện pháp cụ thể để thủ tiêu chế độ tư hữu, như:

1, Hạn chế quyền tư hữu…; 2, Dần dần tước đoạt bọn chiếm hữu ruộng đất, bọn chủ xưởng…một phần bằng sự cạnh tranh của công nghiệp nhà nước, một phần trực tiếp bằng cách chuộc lại bằng tiền giấy; 3, Tịch thu tài sản của tất cả những kẻ chạy trốn ra nước ngoài…; 4 Tổ chức lao động hay giao việc cho những người vô sản trong nông trường, nhà máy, công xưởng quốc gia…;5, Thực hiện nghĩa vụ lao động đối với mọi người…; 6, Tập trung hệ thống tín dụng và việc buôn bán bằng tiền vào tay nhà nước…7, Tuỳ theo

1 Sdd, tr 470

Trang 21

việc tăng thêm vốn và số lượng công nhân mà tăng thêm số lượng máy móc…; 8, Đưa trẻ em vào giáo dục trong các cơ quan nhà nước với sự đài thọ của nhà nước, kết hợp giáo dục với lao động trong công xưởng; 9, Xây dựng những cung lớn làm chỗ ở chung cho các công xã, kết hợp tốt lối sống thành thị và nông thôn 10, Phá bỏ tất cả những ngôi nhà, khu nhà ở không hợp vệ sinh, chất lượng xây dựng kém…; 11, Con trong và ngoài giá thú có quyền thừa kế tài sản như nhau; 12, Tập trung toàn bộ công việc vận tải vào trong tay nhà nước Theo Ông những biện pháp trên cũng không thể tiến hành tất cả ngay trong một đợt, dù là trực tiếp nhưng vẫn phải tiến hành dần dần từng bước, đồng thời đi liền với nó là xây dựng chế độ công hữu và khi nào toàn

bộ tư bản, toàn bộ sản xuất, toàn bộ việc trao đổi đã tập trung vào trong tay nhà nước thì chế độ tư hữu sẽ tự tiêu vong, tiền tệ sẽ trở thành thừa…và con người sẽ thay đổi đến mức tất cả những hình thức cuối cùng của quan hệ xã hội cũ có thể biến mất đi

2.6 Ph.Ăngghen dự báo về cuộc cách mạng vô sản

Cuộc cách mạng vô sản không chỉ có tính chất dân tộc mà còn có tính chất quốc tế, trước hết nó sẽ đồng thời nổ ra ở các nước văn minh và cuộc cách mạng đó phát triển nhanh hay chậm là tuỳ thuộc ở chỗ nước nào có công nghiệp phát triển hơn, tích luỹ được nhiều của cải hơn và có nhiều lực lượng sản xuất hơn Ông lấy hai nước công nghiệp là nước Đức và nước Anh có trình độ phát triển công nghiệp khác nhau để so sánh, nước Đức cách mạng vô sản thực hiện chậm hơn và khó khăn hơn, còn nước Anh thì nhanh hơn và dễ dàng hơn Về tầm ảnh hưởng của cuộc cách mạng vô sản, Ông nói: “Cách mạng vô sản cũng có ảnh hưởng rất lớn đến các nước khác trên thế giới, nó sẽ làm thay đổi hoàn toàn và thúc đẩy cực kỳ nhanh chóng tiến trình phát triển trước kia của các nước đó Nó là một cuộc cách mạng có tính chất toàn thế giới và vì vậy nó sẽ có một vũ đài toàn thế giới”1 Sở dĩ

có cuộc cách mạng vô sản và tính chất quốc tế của nó là do đại công nghiệp phát triển tạo ra sự kết nối và sự phụ thuộc, tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các dân tộc, san bằng

sự phát triển giữa các nước; nó có thể đồng thời nổ ra ở các nước văn minh mà không phải chỉ ở một nước, một dân tộc Vấn đề trên được Ph.Ăngghen trình bày ở

1 Sdd, tr 472

Trang 22

câu hỏi và trả lời thứ 19

2.8 Phân biệt người cộng sản khác với người xã hội chủ nghĩa và thái độ của người cộng sản với các chính đảng khác

Trước khi đi vào phân biệt người cộng sản với người xã hội chủ nghĩa

và thái độ của họ với các chính đảng khác, Ph.Ăngghen đã đặt ra hai vấn đề: ở câu hỏi thứ 22 và 23 nói về thái độ của tổ chức cộng sản đối với các dân tộc

và các tôn giáo hiện đương tồn tại đã được Ông trả lời nhưng hiện nay bản thảo không còn được giữ lại Sự phân biệt người cộng sản với người xã hội chủ nghĩa, trong trả lời câu hỏi thứ 24, Ông chia ra làm ba loại người xã hội chủ nghĩa Loại thứ nhất là những người ủng hộ xã hội phong kiến và gia trưởng càng ngày càng bị tiêu diệt bởi đại công nghiệp và thương nghiệp thế giới, người cộng sản bao giờ cũng kiên quyết đấu tranh với loại người xã hội chủ nghĩa phản động này Loại thứ hai gồm những người ủng hộ xã hội hiện nay, nhưng lại lo sợ và muốn xoá bỏ những tai hoạ do xã hội hiện tại, tức xã hội tư bản chủ nghĩa sản phẩm của đại công nghiệp và cạnh tranh tự do Với loại người này, người cộng sản cũng phải đấu tranh không mệt mỏi chống những người xã hội chủ nghĩa tư sản đó Cuối cùng loại thứ ba gồm những người xã hội chủ nghĩa dân chủ, họ đi theo con đường của những người cộng sản nhưng chỉ muốn thực hiện một phần những biện pháp nêu ra và không coi

đó là những biện pháp quá độ dẫn đến chủ nghĩa cộng sản mà coi đó là những biện pháp đầy đủ để xoá bỏ cảnh nghèo nàn và những tai hoạ của xã hội đương thời; cho nên trong quá trình hoạt động, người cộng sản sẽ liên hiệp với những người xã hội chủ nghĩa dân chủ, phải cố sức duy trì chính sách chung với họ, chỉ cần họ không phục vụ giai cấp tư sản thống trị và không tấn công người cộng sản

Về thái độ của người cộng sản với các chính đảng khác là khác nhau ở trong các nước khác nhau như Anh, pháp, Bỉ, Mỹ, Đức được Ph.Ăngghen trả lời ở câu hỏi thứ 25

3 Ý NGHĨA CỦA TÁC PHẨM

Ra đời cách đây hơn 160 năm nhưng những tư tưởng, quan điểm của Ph.Ăngghen về chủ nghĩa cộng sản trong tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị, là

Trang 23

ngọn cờ đưa đường chỉ lối cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Đúng như Ph.Ăngghen đã khẳng định ngay từ đầu khi viết tác phẩm, Chủ nghĩa cộng sản là học thuyết về những điều kiện giải phóng giai cấp vô sản Những điều kiện ấy không phải từ trên trời rơi xuống mà trái lại nó được hình thành chính ngay trên mảnh đất hiện thực của chủ nghĩa tư bản Chính sự phát triển của đại công nghiệp và cạnh tranh tự do tư bản chủ nghĩa đã làm xuất hiện giai cấp tư sản áp bức thống trị trong xã hội tư bản và giai cấp của những người vô sản bị áp bức thống trị Sự phát triển của đại công nghiệp trước hết

là ở những nước văn minh sau đó nan tràn ra tất cả các dân tộc, đã kết nối tất

cả các dân tộc, các thị trường địa phương nhỏ bé thành thị trường toàn thế giới, khiến cho tất cả những gì xảy ra ở một nước văn minh đều có thể ảnh hưởng tới các dân tộc khác Sự phụ thuộc, lệ thuộc vào nhau của các nước là rất lớn Nhờ sức mạnh của đại công nghiệp làm cho lực lượng sản xuất tư bản mang tính xã hội hoá cao mâu thuẫn với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất đang có xu hướng kìm hãm sự phát triển của nó Biểu hiện của mâu thuẫn này về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Giải quyết mâu thuẫn đó phải bằng một cuộc cách mạng vô sản và cuộc cách mạng này trong thời đại cách mạng công nghiệp nó không chỉ có tính chất dân tộc mà còn có tính chất quốc tế Vì vậy, dưới ánh sáng soi đường của học thuyết giải phóng giai cấp mình, giai cấp vô sản toàn thế giới phải đoàn kết lại để lật đổ giai cấp tư sản thống trị thế giới Trong bối cảnh hiện nay, dưới sự tác động nhiều chiều của toàn cầu hoá kinh

tế và sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại làm cho tính chất toàn cầu của những vấn đề kinh tế – xã hội thế giới ngày càng sâu sắc Những vấn đề phức tạp về kinh tế - xã hội của thế giới do chính

sự phát triển của đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa tạo ra và chủ nghĩa tư bản cũng không thể một mình giải quyết được những mâu thuẫn nội tại trong lòng

xã hội của nó cũng như những vấn đề của nhân loại Sự chung tay của loài người để giải quyết những vấn đề này chính là điều kiện để tập hợp sức mạnh của giai cấp vô sản, loài người tiến bộ đấu tranh cho một xã hội tiến bộ

Đối với Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam, lý luận của Ph.Ăngghen về

Trang 24

chủ nghĩa cộng sản là cơ sở khoa học để chúng ta nhận thức và vận dụng giải quyết những vấn đề thực tiễn công cuộc đổi mới của Đảng đang đặt ra Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, do đó những nhiệm vụ kinh tế cơ bản mà Đảng và nhân dân ta phải thực hiện để đạt tới mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” là rất nặng nề Công nghiệp hoá, hiện đại hoá với nước ta là nhiệm vụ kinh

tế cơ bản xuyên suốt của cả thời kỳ quá độ Bởi vì nếu không tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì nước ta không thể có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại của chủ nghĩa xã hội; không có điều kiện vật chất cần thiết để đáp ứng nhu cầu ngày càng đầy đủ và chính đáng của nhân dân, ổn định chính trị – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh Do đó, những tư tưởng của Ph.Ăngghen về vai trò của đại công nghiệp với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nói riêng và sự phát triển của nhân loại nói chung là nền tảng lý luận cần thiết, rất bổ ích chỉ đạo sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta Là nước đi sau nên để đuổi kịp các nước văn minh, xuất phát từ thực tiễn nước ta và bối cảnh quốc tế hiện nay mà sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức càng trở thành nhiệm vụ cấp bách và cũng là mục tiêu cơ bản lâu dài của đất nước Đồng thời đó cũng là cơ sở để chúng ta đấu tranh với những quan điển sai trái cho rằng thế giới hiện nay chưa có quốc gia nào đạt tới trình độ kinh tế tri thức mà Đảng ta

đã đặt vấn đề phát triển kinh tế tri thức là nôn nóng, chủ quan Không phải như vậy, mà chỉ có trên cơ sở lực lượng sản xuất tiên tiến hiện đại, chúng ta mới xây dựng được quan hệ sản xuất tiến bộ làm nền tảng cho chế độ xã hội mới, nền kinh

tế mới Từ lý luận của Ph.Ăngghen về xoá bỏ chế độ tư hữu và xây dựng chế độ

sở hữu công cộng, chúng ta càng nhận thức sâu sắc rằng không thể nôn nóng, chủ quan, duy ý chí thoát ly khỏi mảnh đất hiện thực, tức là trình độ lực lượng sản xuất của nước ta Vì vậy, trong tiến trình xây dựng quan hệ sản xuất mới tiến bộ việc thực hiện đa dạng hoá chế độ sở hữu, hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và theo đó là nền kinh tế với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là phù hợp với quy luật kinh tế khách quan cũng như thực tiễn kinh tế đất nước Chính sự phát triển lực lượng sản xuất của nhân loại mà trước hết ở các nước tư bản phát triển nhờ cuộc cách mạng công nghiệp đã phát triển ở trình độ cao dẫn đến quá trình toàn cầu hoá

Trang 25

kinh tế, vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực tới mọi quốc gia trên thế giới Để phát triển đất nước, chúng ta không thể đứng ngoài quá trình này Vì vậy, đường lối mở cửa chủ động hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ chính là để nước ta phát huy lợi thế so sánh, kết hợp nội lực và ngoại lực, biến thách thức trở thành cơ hội phát triển Ngay trong tác phẩm, Ph.Ăngghen

đã phân tích tầm tác động sâu rộng, nhiều chiều của đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, nó là cơ sở lý luận cho đường lối mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại

Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là thông qua nghiên cứu tác phẩm này cần nắm chắc những quan điểm tư tưởng của Ph.Ăngghen không những để phục vụ việc phổ biến truyền bá sâu rộng trong quần chúng mà còn biết vận dụng để xem xét những vấn đề thực tiễn của cách mạng, đấu tranh chống lại những quan điển sai trái bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối quan điểm của Đảng ta

TÁC PHẨM

Trang 26

“PHÊ PHÁN CƯƠNG LĨNH GÔ TA”

CỦA C.MÁC

1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI TÁC PHẨM

Tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta” được C.Mác viết vào năm

1875 và xuất bản lần đầu năm 1890 Nhưng trong thực tế cả C.Mác và Ph.Ăngghen đều tham gia chuẩn bị nội dung của tác phẩm quan trọng này Tác phẩm được viết trong hoàn cảnh:

Một là, ở nước Đức, năm 1863 có một tổ chức công nhân đã được

thành lập gọi là: Tổng hội liên hiệp công nhân Đức do Ph.Látxan cầm đầu

Látxan không phải là một người xã hội chủ nghĩa chân chính Chủ nghĩa Látxan, thực chất là một thứ chủ nghĩa xã hội dân chủ tiểu tư sản, mang tính chất cải lương và thoả hiệp Toàn bộ nội dung lý luận của chủ nghĩa Látxan xoay quanh 4 vấn đề:

- Quy luật sắt về tiền công

- Thành lập các hội sản xuất với sự giúp đỡ của Nhà nước quân chủ chuyên chế

- Đối lập với giai cấp công nhân, các giai cấp khác hợp thành một khối phản động và liên minh với giai cấp quý tộc, phong kiến để chống lại giai cấp tư sản

- Cương lĩnh chính trị: Phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và trực tiếp mới đảm bảo được các quyền lợi xã hội chính đáng của các giai cấp cần lao Đức, loại trừ được đối kháng giai cấp Theo đuổi mục đích trên bằng đường lối hoà bình và hợp pháp Đặc biệt là bằng cách tranh thủ dư luận quần chúng để xây dựng chế độ phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và trực tiếp, coi đó là con đường duy nhất để tiến lên chủ nghĩa xã hội

Hai là, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng của C.Mác và

Ph.Ăngghen chống lại chủ nghĩa Látxan đã có tác dụng giác ngộ và thúc đẩy phong trào công nhân Đức tiến tới thành lập một Đảng khác với phái của Látxan Năm 1869 ở Aidơnắc đã diễn ra Đại hội để thành lập Đảng Công nhân dân chủ xã hội Đức C.Mác và Ph.Ăngghen chào mừng, nhưng không quên phê phán những điều lệch lạc trong cương lĩnh Aidơnắc Đặc biệt là điều

nói về: "Xây dựng một Nhà nước tự do" thể hiện sự mơ hồ về Nhà nước của

Trang 27

những người lãnh đạo Aidơnắc Như vậy, ở Đức có 2 Đảng đang tồn tại: Tổng hội liên hiệp công nhân Đức và Đảng Công nhân dân chủ - xã hội Đức đều tuyên bố đi theo chủ nghĩa Mác và dựa trên lập trường của quốc tế một

Ba là, sau chiến tranh Pháp - Phổ, việc thống nhất nước Đức được

hoàn thành, nhưng việc thống nhất này bằng con đường bạo lực, chiến tranh thôn tính; bằng con đường dân chủ và phản cách mạng; bằng cách Phổ hoá toàn bộ nước Đức C.Mác khẳng định, vẫn là một nền chuyên chính quân sự được tổ chức theo lối quan liêu, được bảo vệ bằng cảnh sát, được trang sức bằng hình thức nghị viện với một mớ hỗn tạp những yếu tố phong kiến và những ảnh hưởng tư sản

Bốn là, Sự thống nhất nước Đức và sự phát triển phong trào công nhân

ở nước Đức đã làm cho giai cấp công nhân đông lên, tập trung hơn và có khả năng đấu tranh trên quy mô cả nước Trung tâm phong trào công nhân quốc tế

đã chuyển từ Pháp sang Đức Do đó, cần phải thống nhất lực lượng cả nước

để đối phó với các thế lực phản động Trong lúc này phái Látxan đã mất ảnh hưởng trong phong trào quần chúng Vì vậy, Họ đề nghị Lípnếch mở một cuộc thương lượng để tiến tới thống nhất hai tổ chức này Những người lãnh đạo hai bên thoả thuận mở hội nghị chung vào ngày 14 và 15- 2- 1875, để chuẩn bị cho Đại hội hợp nhất sẽ họp ở Gôta và dự thảo cương lĩnh cho một Đảng hợp nhất Lípnếch tham gia tiểu ban Lúc này, Augutxtơ Bêben đang bị cầm tù Bản dự thảo cương lĩnh gửi cho Bêben và Brắccơ Bêben và Brắccơ không tán thành bản cương lĩnh nhưng cũng không phản đối một cách triệt để, bởi vì hai ông không đủ sức chống lại khuynh hướng cơ hội trong ban lãnh đạo Đảng

Bản dự thảo được gửi cho C.Mác và Ph.Ăngghen ở Luân Đôn Đọc xong, cả C.Mác và Ph.Ăngghen rất bất bình với bản cương lĩnh Tháng 3-1875, Ph.Ăngghen viết thư gửi cho Bê Ben phản đối những điểm sai lầm trong bản cương lĩnh Tháng 5-

1875, C.Mác viết thư phản đối bản cương lĩnh và gửi Brắccơ, kèm theo bản dự thảo cương lĩnh có ghi những điều nhận xét và phê phán của C.Mác

Việc C Mác viết bản phê phán cương lĩnh Gôta là rất cần thiết cho phong trào công nhân Đức lúc đó, bởi vì:

Trang 28

Một là, C.Mác cần phải phê phán bản dự thảo cương lĩnh Gôta để vạch

ra sai lầm thoả hiệp hữu khuynh, vô nguyên tắc của những người lãnh đạo Đảng Aidơnắc; vạch trần bản chất cơ hội, cải lương của phái Látxan

Hai là, Thông qua phê phán bản dự thảo cương lĩnh Gôta, để kịp thời

vạch trần quan điểm phản động của phái Látxan xuyên tạc chủ nghĩa Mác; khẳng định những quan điểm đúng đắn của mình, đề phòng mọi sự hiểu lầm

có thể xảy ra do sự vu khống của bọn vô chính phủ

Ba là, C.Mác và Ph.Ăngghen nhân dịp phê phán bản cương lĩnh Gôta

để làm cho những người dân chủ - xã hội và quần chúng công nhân có thêm tài liệu để đánh giá phái Látxan một cách chính xác hơn

2 NỘI DUNG KINH TẾ CHÍNH TRỊ TRONG TÁC PHẨM

2.1 Những quan điểm, tư tưởng của C.Mác về lao động, tiền công

có ruộng đất C.Mác đã từng nói, sự phụ thuộc về mặt kinh tế của những người vô sản vào các giai cấp độc quyền chiếm hữu các tư liệu lao động chính

là cơ sở của tình trạng bị nô dịch, của mọi sự bất hạnh về mặt xã hội, của tình trạng bị khuất phục về tinh thần và bị lệ thuộc về mặt chính trị của những người lao động vào giai cấp tư sản C.Mác và Ph.Ăngghen luôn chú ý đến mối quan hệ giữa người lao động và những điều kiện vật chất để lao động Quan tâm đến vấn đề giải phóng lao động, làm cho người lao động làm chủ những điều kiện vật chất để lao động, tức là làm chủ tư liệu sản xuất, làm chủ mọi nguồn sinh sống của mình Do đó, cương lĩnh chính trị của một Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa thì phải đưa vấn đề sở hữu về tư liệu sản xuất lên hàng đầu, không thể bỏ qua vấn đề xoá bỏ chế độ sở hữu phong kiến và tư bản

Trang 29

Thế nhưng, trong cương lĩnh Gôta chỉ bàn một cách tách rời giữa lao động và điều kiện vật chất để lao động Cương lĩnh nêu “Lao động là nguồn gốc của mọi của cải và mọi văn hoá”1 C.Mác đã phê phán: “Lao động không phải là nguồn gốc duy nhất của giá trị sử dụng mà nó tạo ra (tức là của cải vật chất), mà giới tự nhiên cũng như lao động là nguồn gốc của những giá trị sử dụng” Chính bản thân lao động cũng chỉ là biểu hiện của một sức tự nhiên, sức lao động của con người Vì vậy, sức lao động có kết hợp với đối tượng lao động và tư liệu lao động mới tạo ra được của cải Cho nên, nếu chỉ bàn suông về lao động một cách tách rời với việc đảm bảo cho người lao động có điều kiện vật chất để lao động thì như C.Mác nói đó là một luận điểm tư sản rỗng tuyếch

- Xây dựng một cương lĩnh xã hội chủ nghĩa phải dựa vào tinh thần của “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch ra: Giai cấp vô sản phải đánh đổ giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền, giành lấy dân chủ sau đó dùng quyền lực chính trị của mình để đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, biến tất cả những tư liệu sản xuất chủ yếu thành tài sản chung của xã hội C.Mác chỉ rõ, do lao động cần được gắn liền với những điều kiện vật chất để lao động, cho nên rất dễ hiểu là: Nếu công nhân có sức lao động mà không có những điều kiện vật chất để lao động thì nhất định sẽ phải làm nô lệ cho những kẻ nắm trong tay những điều kiện vật chất ấy Trong trường hợp như thế, công nhân chỉ có thể lao động, cũng như có thể sống nếu như họ được những kẻ chiếm hữu những điều kiện vật chất cho phép Theo C.Mác, chính vì công nhân không phải là người làm chủ tư liệu sản xuất, cho nên lao động càng phát triển lên thành lao động xã hội thì ở phía người lao động cảnh nghèo khổ và cảnh sống vất vưởng lại càng phát triển ở phía người lao động, còn của cải và văn hoá ngày càng phát triển ở kẻ không lao động Muốn thay đổi một cách căn bản tình trạng ấy, không có con đường nào khác là giai cấp vô sản phải xoá bỏ chế độ sở hữu tư sản và thay thế nó bằng chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất C.Mác còn vạch ra rằng, xuất phát từ tình hình thực tế của nước Đức quân chủ chuyên chế, nếu chỉ thấy tư liệu lao động thuộc độc quyền của giai cấp tư sản là không đủ, mà còn bao gồm cả ruộng đất nữa C.Mác chỉ ra câu này được những người thảo

1 C M¸c vµ Ph.¡ngghen, toµn tËp, TËp 19, Nxb ChÝnh trÞ- Quèc gia, Hµ néi, 2002 Tr 26

Trang 30

ra Cương lĩnh Gôta rút ra từ văn kiện “Điều lệ Hội liên hiệp công nhân quốc tế” do C.Mác viết năm 1864 C.Mác đã chỉ rõ, sự phụ thuộc về mặt kinh tế của những người lao động đối với bọn độc quyền nắm các tư liệu lao động, tức những nguồn để sinh sống là cơ sở của sự nô dịch dưới tất cả các hình thức của nó, là cơ sở của mọi sự bất hạnh về mặt xã hội của tình trạng khuất phục về mặt tinh thần và sự lệ thuộc về mặt chính trị Theo C.Mác, sự độc quyền về tư liệu lao động, nghĩa là về những nguồn sinh sống là bao gồm cả ruộng đất Látxan đã hiệu đính lại câu nói của C.Mác, làm cho nó sai lệch đi,

vì nó chỉ công kích giai cấp tư sản chứ không công kích bọn địa chủ

b C Mác phê phán quan điểm “ngày lao động bình thường” của Lát Xan C.Mác cho rằng đây là yêu sách mang tính mập mờ, mơ hồ vì ngày lao động bao giờ cũng được quy định với thời gian cụ thể Đấu tranh cho “ngày lao động bình thường” 1 là làm việc mấy giờ trong ngày? Trong điều kiện người công nhân làm việc vẫn phụ thuộc vào chế độ chuyên chế tư bản thì đây là yêu sách không tưởng

c C.Mác phê phán "Quy luật sắt về tiền công"

Cương lĩnh nêu vấn đề xoá bỏ “quy luật sắt về tiền công”, xoá bỏ chế độ tiền công cùng với cái “quy luật sắt về tiền công” Như vậy, Cương lĩnh đã mặc

nhiên thừa nhận cái quy luật sắt ấy là có thật Luận điểm “Quy luật sắt về tiền công” của phái Lát Xan là một luận điểm phản khoa học, bởi vì nó dựa trên cơ sở lý luận phản động của thuyết nhân khẩu thừa của Mantuýt mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã

phê phán Luận điểm "Quy luật sắt về tiền công" nhằm che đậy bản chất bóc lột của

giai cấp tư sản Nó cho rằng, tình trạng bần cùng hoá giai cấp công nhân là không tránh khỏi Vì trên trái đất vĩnh viễn có "Nạn nhân khẩu thừa", cho nên bao giờ cũng có tình trạng nghèo khổ và chết đói Mantuýt cho rằng: Tình trạng nghèo khổ

vì quá đông người là số phận của nhân loại và mỗi người có quyền nhận đầy đủ mọi thứ cần thiết để sống là điều vô lý Trong xã hội tư bản cũng thế, vì công nhân ngày càng đông, nên họ chỉ có thể nhận được một số tiền công tối thiểu và đời sống nghèo khổ là tất nhiên Vì vậy, công nhân đòi tăng lương là một điều vô ích, các tổ chức công đoàn và các cuộc bãi công cũng đều là vô ích

C.Mác vạch ra rằng, nếu thừa nhận “quy luật sắt về tiền công” của

1 C M¸c vµ Ph.¡ngghen, toµn tËp, TËp 19, Nxb ChÝnh trÞ- Quèc gia, Hµ néi, 2002 Tr 51

Trang 31

Látxan, tức là người ta cũng thừa nhận luôn cả cơ sở lý luận của nó là thuyết

"Nhân khẩu thừa" của Mantuyt là đúng, do đó không thể nào xoá bỏ được cái

gọi là "Quy luật sắt về tiền công" Điều chê trách hơn nữa là những người lãnh

đạo Đảng Aidơnắc lại thụt lùi trước những tín điều ngu xuẩn của phái Látxan sau khi đã tiếp thu được những quan điểm khoa học về những vấn đề cơ bản của kinh tế chính trị vô sản Năm 1865, C.Mác đã viết tác phẩm "Tiền công, giá cả

và lợi nhuận", tác phẩm ấy được C.Mác trình bày trước Ban Chấp hành trung ương Hội liên hiệp công nhân quốc tế tại hai phiên họp ngày 20 và ngày 27- 6-

1865 C.Mác giải thích nguồn gốc của lợi nhuận là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm không của công nhân Tiền công của công nhân và lợi nhuận của nhà

tư bản là những bộ phận cấu thành của số giá trị mới tạo ra trong sản phẩm Tỷ

lệ giữa tiền công và lợi nhuận chỉ có thể thay đổi trong phạm vi một giá trị không đổi Tiền công cao nếu ta khấu trừ nhiều hơn vào số giá trị thặng dư thể hiện dưới hình thái lợi nhuận của nhà tư bản Ngược lại, tiền công giảm nếu ta khấu trừ nhiều vào số giá trị mới được thể hiện dưới dạng tiền công Vì vậy, trong khi phê phán cương lĩnh Gôta, C.Mác phải nhắc lại rằng, tiền công mà nhà

tư bản trả cho công nhân chỉ là một phần rất nhỏ của giá trị mới mà công nhân

đã sáng tạo ra để bù lại sức lao động mà họ đã hao phí, phần còn lại, tức giá trị thặng dư đã bị nhà tư bản cướp mất Công nhân làm thuê chỉ được phép lao động cho chính đời sống của mình Nói cách khác, chỉ được phép sống chừng nào người ấy làm không công cho nhà tư bản Do vậy, chế độ làm thuê là một chế độ

nô lệ phải thủ tiêu1

d C.Mác phê phán quan điểm của Latxan về vấn đề nhà nước

Cương lĩnh Gôta thể hiện sự rời bỏ tư tưởng về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản Bản cương lĩnh cho rằng, "Đảng Công nhân Đức dùng mọi thủ đoạn hợp pháp để đấu tranh thành lập một nhà nước tự do - và xã hội chủ nghĩa" Quan điểm này hoàn toàn trái với những nguyên lý của chủ nghĩa Mác Trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" đã chỉ ra rằng, giai cấp vô sản phải tiến hành cách mạng công khai, dùng bạo lực lật đổ giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền, giành lấy dân chủ Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, nhà nước chuyên chính vô sản chính là giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp

1 Sđ d tr 41,42

Trang 32

thống trị và đến khi nào không còn giai cấp nữa thì lúc đó nhà nước sẽ mất đi Như vậy, giai cấp vô sản muốn có một nhà nước phục vụ cho mục đích của mình thì chỉ có một con đường đấu tranh cách mạng, bằng nhiều thủ đoạn, chủ yếu bằng đấu tranh chính trị chứ không phải bằng hoạt động hợp pháp C.Mác phê phán: Phải xuất phát từ tình hình thực tế của nước Đức quân chủ chuyên chế và tư sản, đáng lẽ phải nói đến việc đấu tranh giai cấp thì người ta lại đặt vấn đề theo đường lối cải lương, hy vọng dùng thủ đoạn hợp pháp hòng thay đổi tính chất nhà nước phản động ấy hòng có một "Nhà nước tự do và xã hội chủ nghĩa" thì hoàn toàn là một sự mơ hồ hão huyền Theo C.Mác, khái niệm "nhà nước tự do" là một khái niệm phi lý điều

đó chỉ có nghĩa là coi nhà nước như là một tổ chức tồn tại độc lập, tách rời xã hội và có những cơ sở riêng của nó1 Thật ra, xã hội chính là cơ sở của nhà nước Một nhà nước được xây dựng trên mảnh đất của xã hội tư sản, tất nhiên mang tính chất tư sản Tính chất tư sản của nhà nước chỉ mất đi khi nào nền tảng kinh tế của xã hội tư sản đã biến đổi Cho nên, muốn có nhà nước khác

về chất với nhà nước tư sản thì phải làm thay đổi ngay cái nền tảng kinh tế -

xã hội của nó bằng cách mạng

Vậy, nhà nước biến đổi như thế nào trong xã hội tương lai, tức là trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản sau khi giai cấp công nhân đã giành chính quyền Theo C.Mác, chỉ có thể giải đáp câu hỏi đó một cách khoa học, chứ không phải cứ ghép bừa vào khái niệm nhà nước tính

từ này hay tính từ khác mà được Khái niệm "nhà nước tự do và xã hội chủ nghĩa" nêu ra trong bản cương lĩnh Gôta chính là sản phẩm của một sự lắp ghép tuỳ tiện như vậy Theo C.Mác, một khi nói đến tự do là nói đến tự do của nhân dân lao động chứ không phải là "tự do" của nhà nước C.Mác giải thích: Tự do là ở chỗ biến nhà nước cơ quan tối cao của xã hội thành một cơ quan hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội, và ngay cả ngày nay nữa, các hình thức nhà nước được gọi là tự do hay không tự do, là tuỳ ở chỗ trong những hình thức ấy sự tự do của nhà nước bị hạn chế nhiều hay ít”2 Trong thư gửi Bê

1 Sdd, Tr 45,46

2 Sdd, Tr 46

Trang 33

Ben, Ph.Ăngghen phê phán: Nói đến nhà nước tự do đối với tất cả các công dân trong xã hội, tức là nói đến một nhà nước có một chính phủ độc tài Cho nên, nói đến nhà nước tự do là một điều vô lý, hoặc giả nói đến "Một nhà nước tự do" tức là thừa nhận nhà nước với tư cách là một công cụ thống trị và đàn áp giai cấp đối lập với nhân dân lao động sẽ tồn tại mãi mãi trên cơ sở riêng của nó Khi phê phán khái niệm "Nhà nước tự do", Ph Ăngghen đã nêu

ra luận điểm nổi tiếng "Chừng nào giai cấp vô sản còn cần đến nhà nước thì như thế tuyệt nhiên không phải là vì tự do, mà là để trấn áp kẻ địch của mình

và ngày nào đó có thể nói đến tự do thì nhà nước sẽ không còn nhà nước nữa" Đối với C.Mác, khi phê phán cương lĩnh Gôta đã nêu ra luận điểm có tính chất nguyên tắc: "Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, trong đó nhà nước không thể là cái gì khác hơn là chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản"1 Từ đó cho đến nay, lý luận cơ bản về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản là bắt nguồn từ luận điểm nói trên của C.Mác Với luận điểm

ấy C.Mác đã vạch rõ quy luật của quá trình chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, bản chất chính trị của quá trình ấy và sự tồn tại tất yếu của chuyên chính vô sản trong suốt quá trình ấy

Song không phải là đến "Phê phán cương lĩnh Gôta" mới là lần đầu tiên C.Mác nêu ra những tư tưởng hoặc luận điểm về thời kỳ quá độ và về chuyên chính vô sản Từ những năm 1848- 1871, với các tác phẩm "Đấu tranh giai cấp ở Pháp" C.Mác đã nêu nhiều luận điểm về vấn đề đó

Trong “phê phán cương lĩnh Gôta”, C.Mác khẳng định dứt khoát rằng, quá trình chuyển từ xã hội tư bản lên chủ nghĩa cộng sản là một thời kỳ cải biến cách mạng chứ không phải là quá trình cải lương xã hội

Về phương diện văn hoá, xã hội bản cương lĩnh cũng đưa ra những yêu sách không xã hội chủ nghĩa mà chỉ là cải lương chủ nghĩa Chẳng hạn, yêu sách có một nền giáo dục phổ cập như nhau đối với tất cả mọi người trong khi trình độ văn hóa của mọi người lại rất khác nhau; ngày lao động tiêu

1 Sdd, Tr 47

Trang 34

chuẩn, nhưng lại không quy định rõ thời gian lao động của ngày và những yêu sách tủn mủn khác như yêu sách quy định trong nhà tù Theo C.Mác, tất cả những yêu sách đó hoàn toàn vô dụng trong điều kiện giai cấp công nhân vẫn phụ thuộc vào nhà nước quân chủ chuyên chế có tính chất tư sản

2.2 Những quan điểm tư tưởng của C.Mác về chủ nghĩa cộng sản

và sự quá độ lên chủ nghĩa cộng sản

a Quan điểm của C.Mác về sự quá độ lên chủ nghĩa cộng sản

Lần đầu tiên C.Mác nêu ra những luận điểm thiên tài của mình về hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản, về những nguyên tắc phân phối thích hợp với hai giai đoạn ấy

C.Mác khẳng định “Cái xã hội mà chúng ta nói ở đây là một xã hội cộng sản chủ nghĩa, nhưng không phải một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên cơ sở của chính nó, mà trái lại, là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản, do đó là một xã hội mà về mọi phương diện - kinh

tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra"1 Đó là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản - chủ nghĩa xã hội

Về luận điểm này, V.I.Lênin chỉ rõ: Tất cả lý luận của C.Mác là một

sự áp dụng thuyết tiến hoá dưới hình thức triệt để nhất, đầy đủ nhất, chín chắn nhất và có thực chất nhất vào chủ nghĩa tư bản hiện đại Cho nên, người ta thấy rằng C.Mác đã phải tính đến vấn đề áp dụng lý luận đó vào sự phá sản tương lai của chủ nghĩa cộng sản tương lai

C.Mác đặt vấn đề chủ nghĩa cộng sản giống như một nhà tự nhiên học, Chẳng hạn vấn đề tiến hoá của một giống sinh vật mới, một khi những sự biến đổi của nó tất nhiên trong quá trình lịch sử phải có một giai đoạn đặc biệt hay một thời kỳ đặc biệt quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Trong giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và chế độ người bóc lột người bị thủ tiêu Mọi người lao động có quyền bình đẳng đối với tư liệu sản xuất đã trở thành tài sản chung của xã hội Trong phân phối, chưa có sự bình đẳng trong thực tế, vì rằng việc cung cấp những sản phẩm tiêu dùng nhằm đáp ứng những nhu cầu sinh hoạt vật chất và văn hoá của những thành viên còn thực hiện theo nguyên tắc lấy lao

1 Sdd, Tr 33

Trang 35

động làm đơn vị đo lường chung sự cống hiến phần của mỗi người cho xã hội Những người cống hiến phần lao động xã hội ngang nhau sẽ được hưởng những phần sản phẩm ngang nhau Như vậy, tựa hồ như đã bình đẳng rồi Nhưng theo C.Mác, như vậy chưa phải là thật sự bình đẳng, vì rằng trong lao động và trong đời sống thực tế giữa các cá nhân lại không có sự ngang nhau

Ví dụ: Người này khoẻ hơn người kia; người này làm việc tốt, người kia kém; người này có gia đình và con cái, còn người kia còn son rỗi C.Mác kết luận: Tuy làm việc ngang nhau, ngang nhau về thời gian lao động, do đó cũng dự phần ngang nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội, nhưng thật ra thì người này lĩnh nhiều hơn người kia, người này giầu hơn người kia

Sự không bình đẳng trong phân phối, C.Mác gọi là "Cái giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản" và chỉ được khắc phục bằng kết quả phát triển mạnh của sức sản xuất, bảo đảm cho xã hội có nhiều của cải thật nhiều cho phép phân phối hoàn thiện hơn V.I.Lênin phát triển luận điểm này và chỉ rõ "Làm theo năng lực hưởng theo lao động" – đó là nguyên tắc hợp lý trong điều kiện chủ nghĩa xã hội,

có tác dụng kích thích tính tích cực đối với sự phát triển của sức sản xuất

Giai đoạn cao của chủ nghĩa cộng sản khác giai đoạn thấp chủ yếu do trình độ phát triển khác nhau về kinh tế và văn hoá, lúc này con người không phụ thuộc một cách thụ động vào sự phân công nữa Lao động không chỉ là phương tiện để sống mà còn là nhu cầu bậc nhất của đời sống V.I.Lênin đã nhận xét: Để xác định hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản, C.Mác đã không bám vào những định nghĩa tưởng tượng có tính chất giả tạo, không bám vào những cuộc tranh luận vô ích về danh từ Trái lại, C.Mác hoàn toàn dựa vào

sự phân tích một cách khoa học trình độ chín muồi về kinh tế và văn hoá của chủ nghĩa cộng sản Những nguyên tắc phân phối xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cũng hoàn toàn do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định chứ không phải do ý muốn chủ quan của lãnh đạo, hoặc những khái niệm phi lý nào mà có

Trong khi xác định không thể tách dời giữa sản xuất và phân phối, giữa những nguyên tắc phân phối phù hợp với hai giai đoạn của xã hội cộng sản chủ nghĩa C.Mác đã phê phán những người thảo ra cương lĩnh Gôta là: Chưa thoát

Trang 36

khỏi ảnh hưởng của những người xã hội chủ nghĩa tầm thường, là những người chỉ hiểu chủ nghĩa xã hội chủ yếu xoay quanh việc phân phối mà thôi C.Mác vạch ra: nếu coi phân phối là chủ yếu và chỉ nhấn mạnh vào cái đó thì sẽ mắc sai lầm, thì sẽ là theo đuôi những nhà kinh tế học tư sản vốn có thói quen quan niệm phân phối như một cái gì tách dời với phương thức sản xuất

C.Mác cho rằng, vấn đề hàng đầu không phải là phân phối mà là vấn đề phương thức sản xuất Phương thức sản xuất quyết định cách thức phân phối, cho nên vấn đề hàng đầu là xoá bỏ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thay đổi thì phân phối sẽ thay đổi Phương thức phân phối mới phù hợp với phương thức sản xuất mới thì phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa sẽ được thực hiện

b Các Mác phê phán Látxan về phân phối sản phẩm lao động và nêu ra

sơ đồ phân phối tổng sản phẩm xã hội

Látxan cho rằng: "thu nhập của lao động thuộc về tất cả mọi thành viên trong xã hội một cách không bị cắt xén và theo những quyền ngang nhau Để phê phán luận điểm trên C.Mác chất vấn rằng: "Thuộc về tất cả mọi thành viên trong xã hội ư? Thế thì sản phẩm toàn vẹn của lao động sẽ ra sao? Chỉ thuộc những thành viên có lao động trong xã hội thôi ư? Thế thì cái quyền ngang nhau của tất cả mọi người trong xã hội sẽ ra sao?"1

C.Mác đã bác bỏ luận điểm ấy, và chỉ rõ nếu phân phối sản phẩm cho tất cả mọi thành viên trong xã hội, tức cho tất cả mọi người không phân biệt người lao động và người không lao động thì không thực hiện được khẩu hiệu "sản phẩm toàn vẹn của lao động" Ngược lại, nếu sản phẩm toàn vẹn thuộc về những người lao động thì không thực hiện cái gọi là "quyền bình đẳng" của tất cả mọi thành viên trong phân phối, do đó luận điểm đó là vô lý, không lôgíc

C.Mác vạch ra: trong xã hội cộng sản chủ nghĩa người ta không thể và không nên phân phối tất cả sản phẩm cho những cá nhân tiêu dùng Muốn cho

xã hội ấy phát triển thì trước khi phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cá nhân, người ta phải khấu trừ:

1 Sđ d, tr 31

Trang 37

+ Một phần thay thế tư liệu sản xuất đã tiêu dùng

C.Mác đã kết luận "sản phẩm toàn vẹn của lao động" đã trở thành sản phẩm không toàn vẹn mất rồi Tuy nhiên, những cái gì mà người lao động không nhận được một cách trực tiếp cho cá nhân thì họ lại nhận được một cách gián tiếp, hay trực tiếp thông qua phúc lợi công cộng Và theo C.Mác, nếu phần giành cho quản lý có khả năng ngày càng giảm đi theo sự phát triển của xã hội thì phần sản phẩm giành cho tiêu dùng xã hội ngày càng có khả năng tăng lên C.Mác đã chỉ ra rằng: những người xã hội chủ nghĩa ở Đức và tất cả các nước xã hội chủ nghĩa ngày nay khi giành được chính quyền cần nhận rõ mối quan hệ giữa sản xuất và phân phối, tích luỹ và tiêu dùng, phúc lợi công cộng và tiêu dùng cá nhân

c Các Mác phê phán các quan điểm phủ nhận vấn đề đồng minh của giai cấp vô sản và làm lu mờ nguyên lý của chủ nghĩa quốc tế vô sản

Vấn đề này cần phải trở lại "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" để thấy luận điểm của chủ nghĩa Mác bị xuyên tạc như thế nào? Tuyên ngôn chỉ ra: Chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thật sự cách mạng, các tầng lớp trung gian như: Tiểu chủ, tiểu thương, thợ thủ công, nông dân cũng đấu tranh chống lại giai cấp tư sản - kẻ thù chung đe doạ sự sống còn của họ, do đó họ chống lại

để duy trì chế độ tư hữu và chế độ sản xuất nhỏ của họ Khi gặp nguy cơ phá sản và rơi vào hàng ngũ những người tay trắng, họ có thái độ cách mạng và có thể đi với giai cấp vô sản, đấu trang cho lợi ích tương lai của họ Trong tuyên

1 Sđ d, tr 31,32

Trang 38

ngôn của Đảng Cộng sản không có đoạn nói "Đối diện với giai cấp công nhân, tất cả các giai cấp khác hợp thành một khối phản động" như cương lĩnh Gôta nêu Những người thảo ra cương lĩnh Gôta đã không đứng trên quan điểm giai cấp vô sản để phân biệt đâu là cách mạng, đâu là phản cách mạng trong những thời kỳ lịch sử khác nhau Trong xã hội Đức lúc bấy giờ, giai cấp

vô sản cần tập hợp lực lượng dân chủ, nhất là nông dân và cả giai cấp tư sản

để chống lại giai cấp địa chủ và các thế lực phong kiến phản động Về sau, giai cấp vô sản lại tiếp tục tập hợp tất cả các tầng lớp nhân dân lao động để chống lại giai cấp tư sản Phái Látxan không nhận thức như thế, họ đã cô lập giai cấp vô sản về một phía và dồn tất cả lực lượng xã hội khác về phía đối địch với giai cấp vô sản, đó là sai lầm chính trị nghiêm trọng Phái Látxan làm như thế để tô vẽ cho sự liên minh của ông ta với bọn chuyên chế và phong kiến thù địch chống lại giai cấp tư sản

Trong thư gửi Bêben, Ph.Ăngghen cũng đặt vấn đề rằng, nếu ở Đức, giai cấp tiểu tư sản dân chủ thuộc khối phản động, thì tại sao Đảng Công nhân dân chủ - xã hội Đức lại kề vai sát cánh với các Đảng đại biểu cho cho giai cấp ấy trong suốt bao nhiêu năm? Nếu coi phái dân chủ tiểu tư sản thuộc khối phản động thì tại sao chính bản cương lĩnh Gôta lại ít nhất đến gần 7 điểm gần như sao chép từng câu, từng chữ trong cương lĩnh của phái ấy?

Năm 1882, trong thư gửi Bêben và Lípnếch, Ph.Ăngghen lại tiếp tục phê phán quan điểm sai lầm ấy Ph.Ăngghen cho rằng, nếu thế thì tất cả các Đảng phái khác sẽ tập hợp lại thành một trận tuyến, còn những người xã hội chủ nghĩa sẽ chụm lại thành một trận tuyến khác và người ta hy vọng rằng nếu có một cuộc chiến đấu xảy ra giữa hai trận tuyến ấy, thì tức khắc những người xã hội chủ nghĩa có thể "Đơn phương độc mã" đánh ngã tất cả các giai cấp thuộc trận tuyến bên kia? Ph.Ăngghen chỉ ra rằng, thực tiễn cách mạng của nước Đức không diễn ra một cách đơn giản như thế Trái lại cách mạng Đức thời kỳ

ấy sẽ phải diễn ra như sau:

- Lúc đầu, đại biểu đa số nhân dân thuộc nhiều giai cấp, mà đại biểu là các Đảng phái chính trị, trong đó có cả Đảng Cộng sản Đức liên minh lại chống thế lực phản động đang thống trị là bọn quân chủ chuyên chế và đánh

Trang 39

bại chúng Sau đó, vì mâu thuẫn giai cấp đối kháng trong xã hội tư sản vẫn còn, cho nên giữa các giai cấp và các Đảng phái còn lại sẽ tiếp tục diễn ra một cuộc đấu tranh mới Thế là Đảng Công nhân Đức lại phải tập hợp xung quanh giai cấp công nhân những lực lượng đối lập với giai cấp tư sản, tiến hành đấu tranh chống nó và đánh đổ nó Chỉ có như thế Đảng Công nhân Đức mới giành được mục đích của mình Theo Ph.Ăngghen, nếu làm ngược lại, nếu muốn khởi đầu một quá trình cách mạng bằng giai đoạn kết thúc của quá trình

ấy thì Đảng Công nhân Đức không bao giờ có thể giành được thắng lợi

Với nội dung phê phán trên, Ph.Ăngghen phát triển tư tưởng về cách mạng không ngừng đã được Ông đề ra trong "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản"

Tóm lại, về thực chất quan điểm "Đối lập với giai cấp công nhân, các giai cấp khác hợp thành một khối phản động" là sự phủ nhận một vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng của cách mạng vô sản - vấn đề đồng minh tạm thời và lâu dài của giai cấp vô sản, trong đó quan trọng nhất là vấn đề liên minh công nông1

Những người thảo ra cương lĩnh Gôta đã làm lu mờ đi nguyên lý chủ nghĩa quốc tế vô sản Bản cương lĩnh Gôta chỉ nói đến sự hoạt động riêng biệt của giai cấp vô sản trong phạm vi dân tộc, nó không vạch rõ được mối quan hệ đoàn kết, tương trợ giữa giai cấp công nhân các nước với nhau mà lại nêu lên một khẩu hiệu chung chung về "Tình hữu nghị quốc tế giữa các dân tộc" Theo C.Mác, việc bỏ qua nguyên lý quốc tế vô sản là một sai lầm rất nặng của cương lĩnh Gôta C.Mác, phê phán những người thảo ra cương lĩnh Gôta quan niệm phong trào vô sản theo quan điểm dân tộc hẹp hòi trái với đường lối Quốc tế I, trái với khẩu hiệu "Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại" Cương lĩnh không hề nói đến nhiệm vụ quốc tế của giai cấp công nhân Đức Trong thư gửi Bêben, Ph.Ăngghen khẳng định rằng, như thế là nguyên lý của chủ nghĩa quốc tế vô sản của phong trào công nhân đã bị những người thảo ra cương lĩnh hoàn toàn phủ nhận bởi ngay những người đã từng đấu tranh thực hiện nguyên lý ấy vào những thời kỳ trước Còn khái niệm "Tình hữu nghị quốc tế giữa các dân tộc", theo

1 Sđ d, tr 38

Trang 40

Ph.Ăngghen chỉ là khái niệm mơ hồ, có nghĩa như một kiểu "Hợp chủng quốc châu âu" của bọn tư sản mà thôi Ph.Ăngghen còn cho rằng, nếu không thể tiến lên hơn nữa, thì ít nhất ra những người lãnh đạo Đảng Công nhân Đức lúc này cũng không nên tụt lại sau bản cương lĩnh Aidơnắc năm 1869 Chẳng hạn cương lĩnh có thể nói những việc như: Đảng Công nhân Đức có ý thức về sự đoàn kết với giai cấp công nhân các nước khác vẫn sẵn sàng làm nhiệm vụ do sự đoàn kết

ấy đề ra cho mình; giúp đỡ lẫn nhau để chống lại sự đàn áp của nhà nước trong những cuộc bãi công, tổ chức việc thông báo tin tức giữa giai cấp công nhân Đức

và giai cấp công nhân các nước Cổ động việc chống lại những cuộc chiến tranh

đã nổ ra hoặc có nguy cơ nổ ra

3 Ý NGHĨA CỦA TÁC PHẨM

Tác phẩm "Phê phán cương lĩnh Gôta" là một trong những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác, có giá trị lý luận và thực tiễn rất lớn đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Tác phẩm cho thấy chủ nghĩa Mác chẳng những phát hiện và minh chứng

sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản, sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội,

mà còn vạch rõ quy luật hình thành, phát triển của chủ nghĩa xã hội

Trong tác phẩm này, C.Mác đã nêu ra những luận điểm thiên tài về 2 giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản C.Mác khẳng định tính khách quan của quá trình cải biến cách mạng, của thời kỳ quá độ chính trị từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản

C.Mác phát hiện thêm lý luận về vấn đề nhà nước, đặc biệt là làm nổi bật tính tất yếu và vai trò lịch sử của chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá

độ từ xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội cộng sản chủ nghĩa

Phê phán cương lĩnh Gôta là bài học lớn về cuộc đấu tranh của chủ nghĩa Mác chống chủ nghĩa cơ hội, cải lương, những khuynh hướng thoả hiệp

vô nguyên tắc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Thông qua việc phê phán cương lĩnh Gôta, C.Mác để lại những bài học quý báu về vấn đề xây dựng Đảng, phê bình và tự phê bình trong Đảng

Hai ông đã vạch ra rằng, để phát triển tổ chức đảng cần chú ý trước hết đến công nhân, giác ngộ họ về lý tưởng cộng sản chứ không phải là lôi kéo

Ngày đăng: 24/01/2019, 16:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w