Ngày nay, nấm Linh chi đượctrồng khá phổ biển ở một số quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ViệtNam… cho nên việc sử dụng nấm Linh chi như một loại thực phẩm chức năng giúp hỗ tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU PHÁ VÁCH BÀO TỬ NẤM LINH CHI
Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYỄN HOÀI HƯƠNG Sinh viên thực hiện: TRẦN MINH HOÀNG
MSSV: 1211100082 Lớp: 12DSH01
TP Hồ Chí Minh, 2016
Trang 2Nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong đồ án này là hoàn toàntrung thực, chưa từng được ai sử dụng để công bố trong bất kì công trình nào khác.Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận án đều đã được ghi rõ nguồn gốc
TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Trần Minh Hoàng
Trang 3Trước hết xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến trường Đại học Công nghệ TP.HCM đã tạo
cơ hội cho tôi được học tập tại trường Cám ơn quý thầy cô khoa Công nghệ sinhhọc
– Thực phẩm – Môi trường đã tận tình truyền đạt kiến thức và tâm huyết trong quátrình giảng dạy suốt những năm qua Xin gửi lời cám ơn đến TS Nguyễn Thị Hai đã
cung cấp chủng nấm Trichoderma harzianum T2; cô Đỗ Thị Tuyến đã cung cấp cơ
chất β-glucan và enzyme cellulase C20032; Ths Nguyễn Thị Ngọc Yến đã cung cấpbào tử nấm Linh chi Cám ơn quý thầy cô phụ trách quản lý phòng thí nghiệm Côngnghệ sinh học – Thực phẩm – Môi trường đã tạo điều kiện làm việc cho tôi và nhómthực hiện đồ án Đặc biệt xin chân thành cám ơn TS Nguyễn Hoài Hương, người đãtận tình hướng dẫn và truyền đạt kinh nghiệm để tôi có thể hoàn thành đồ án tốtnghiệp này, nếu không có sự giúp đỡ của cô chắc chắn đồ án tốt nghiệp của tôi gặprất nhiều thiếu sót
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã có những sự giúp đỡ,động viên trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành đồ án tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cám ơn!
Sinh viên thực hiện
Trần Minh Hoàng
Trang 4Nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH vi
MỞ ĐẦU .1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích của đề tài 2
4 Mục tiêu của đề tài 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Kết quả đạt được ban đầu 3
7 Hạn chế của đề tài 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Giới thiệu về nấm Linh chi 4
1.1.1 Phân loại 4
1.1.1.1 Phân loại theo khoa học 4
1.1.1.2 Phân loại theo hình dạng và màu sắc 5
1.1.2 Đặc điểm sinh học của nấm Linh chi 9
1.1.2.1 Cuống nấm 9
1.1.2.2 Mũ nấm 9
1.1.2.3 Thụ tầng 10
1.1.2.4 Bào tử nấm Linh chi 10
1.1.3 Chu kì sống của nấm Linh chi 14
1.1.4 Điều kiện sinh trưởng và phát triển của nấm Linh chi 15
1.1.4.1 Dinh dưỡng 15
1.1.4.2 Nhiệt độ 15
1.1.4.3 Độ ẩm 15
1.1.4.5 Không khí 15
Trang 5Nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi
1.1.4.6 Ánh sáng 16
1.1.4.7 Trị số pH 16
1.1.5 Thành phần dược tính của nấm Linh chi 16
1.1.5.1 Thành phần dược tính tổng quát 16
1.1.5.2 Triterpenoid 17
1.1.5.3 Hợp chất saponin 21
1.1.5.4 Những thành phần khác 22
1.1.6 Công dụng của nấm Linh chi 22
1.1.6.1 Phòng ngừa ung thư 22
1.1.6.2 Tăng cường khả năng miễn dịch 23
1.1.6.3 Khả năng chống oxy hóa 24
1.1.6.4 Điều trị bệnh đái tháo đường 24
1.1.7 Nghiên cứu về bào tử nấm Linh chi 24
1.2 Giới thiệu về nấm Trichoderma 27
1.2.1 Phân loại 27
1.2.2 Lịch sử phát triển 27
1.2.3.1 Đặc điểm hình thái 28
1.2.3.2 Đặc điểm sinh trưởng 29
1.2.3.3 Các sản phẩm trao đổi chất của Trichoderma 31
1.2.4 Các hệ enzyme nấm Trichoderma sinh tổng hợp 31
1.2.4.1 Hệ enzyme chitinase 31
1.2.4.2 Hệ enzyme β – glucanase 33
1.2.4.3 Hệ enzyme cellulase 34
1.2.4.4 Hệ enzyme protease 35
1.3 Giới thiệu về enzyme phá vách tế bào 36
1.3.1 Enzyme phá vách tế bào thực vật 37
1.3.2 Enzyme Cellulase C20032 41
CHƯƠNG 2 : VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
Trang 6Nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi
2.1 Vật liệu – Thiết bị - Hóa chất 44
2.1.1 Vật liệu 44
2.1.2 Nơi tiến hành 44
2.1.3 Thời gian thực hiện 44
2.1.4 Thiết bị và dụng cụ 44
2.1.4.1 Thiết bị 44
2.1.4.2 Dụng cụ 45
2.1.5 Hóa chất – Môi trường sử dụng 45
2.1.5.1 Hóa chất 45
2.1.5.2 Môi trường sử dụng 47
2.2 Phương pháp nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi 49
2.3 Phương pháp nuôi cấy nấm Trichoderma harzianum T2 thu enzyme dịch nuôi cấy 53
2.3.1 Phương pháp nuôi cấy Trichoderma harzianum trên môi trường thạch PDA 54
2.3.2 Thu dịch enzyme nuôi cấy bằng phương pháp tăng sinh trên môi trường lỏng 54
2.3.3 Thu dịch enzyme nuôi cấy bằng phương pháp tăng sinh trên môi trường rắn 54
2.4 Phương pháp xác định nhiệt độ tối ưu, pH tối ưu của enzyme chitinase trong dịch nuôi cấy nấm Trichoderma harzianum T2 và enzyme chế phẩm C20032 56
2.4.1 Dựng đường chuẩn glucosamine 56
2.4.2 Xác định hoạt độ enzyme chitinase ở pH và nhiệt độ khác nhau 56
2.5 Phương pháp xác định hoạt tính enzyme celullase trong dịch nuôi cấy nấm Trichoderma harzianum và chế phẩm enzyme C20032 57
2.5.1 Dựng đường chuẩn glucose 57
2.5.2 Phản ứng xác định hoạt tính cellulase 58
2.6 Phương pháp xác định hoạt tính enzyme protease dịch nuôi cấy và chế phầm C20032 bằng phương pháp Anson cải tiến 59
2.6.1 Dựng đường chuẩn tyrosine 59
Trang 72.7.1 Dựng đường chuẩn β-glucan 61 2.7.2 Phản ứng xác định hoạt tính β-glucanase 61
harzianum và chế phầm C20032 bằng phương pháp Bradford 62 2.8.1 Dựng đường chuẩn Albumin 62 2.8.2 Xác định hàm lượng protein trong mẫu 62
Trichoderma harzianum và enzyme chế phẩm C20032.
64
2.9.1 Phương pháp xác định tỉ lệ enzyme phối hợp giữa dịch nuôi cấy nấm Trichoderma harzianum và chế phẩm C20032 64 2.9.2 Phương pháp xác định số lượng bào tử bằng buồng đếm hồng cầu .65 2.9.3 Phương pháp xác định độ ẩm bào tử nấm Linh chi 67 2.9.4 Phương pháp thay đổi nồng độ của chế phẩm C20032 kết hợp với dịch
nuôi cấy nấm Trichoderma harzianum
68CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 703.1 Kết quả định tính enzyme chitinase, β-glucanase, protease trong chế phẩmC20032 10% và dịch nuôi cấy 70
3.1.1 Kết quả định tính các enzyme trong chế phẩm C20032 10% 70 3.1.2 Kết quả định tính enzyme trong dịch nuôi cấy nấm Trichoderma harzianum môi trường nuôi cấy lỏng 71 3.1.3 Kết quả định tính enzyme trong dịch nuôi cấy nấm Trichoderma harzianum môi trường nuôi cấy rắn 72
3.2 Kết quả định lượng hoạt tính các enzyme trong dịch nuôi cấy nấm
Trichoderma harzianum nuôi cấy môi trường lỏng và nuôi cấy môi trường rắn và
73
3.3 Kết quả khảo sát hoạt tính enzyme chitinase trong dịch nuôi cấy nấm
Trang 8Nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chiTrichoderma harzianum và chế phẩm C20032 75
3.3.1 Kết quả khảo sát hoạt tính enzyme chitinase trong dịch nuôi cấy nấm
Trang 9Nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi
Trichoderma harzianum ở điều kiện nhiệt độ và pH khác nhau .75
3.3.2 Kết quả khảo sát hoạt tính enzyme chitinase có mặt trong chế phẩm C20032 10% 76
3.4 Kết quả khảo sát tỉ lệ phá vỡ bào tử nấm linh chi khi thay đổi tỉ lệ enzyme phối hợp giữa dịch nuôi cấy và chế phẩm C20032 10% 77
3.5 Kết quả tỉ lệ bào tử nấm linh chi bị phá vỡ khi thay đổi nồng độ chế phẩm C20032 kết hợp dịch nuôi cấy nấm Trichoderma harzianum 81
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
4.1 Kết luận 85
4.2 Kiến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 1
Trang 10Nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PDA: Potato Dextrose Agar
EC: Enzyme cellulase C20032
DNC: Dịch nuôi cấy
G lucidum: Ganoderma lucidum
T.harzianum: Trichoderma harzianum
T hamatum: Trichoderma hamatum
T polysporum: Trichoderma polysporum
T viride: Trichoderma viride
T reesei: Trichoderma reeisei
B.cinerea: Botrytis cinerea
T hamatum: Trichoderma hamatum
T virens: Trichoderma virens
BSA: Bovine serum albumin
DD: Dung dịch
TCA: Trichloacetic acid
FC: Folin – Ciocalteu
CMC: Sodium carboxymethyl cellulose
DNS: acid – 2 – hydroxyl – 3,5 – dinitrobenzoic
MT: Môi trường
ĐC: Đối chứng
TB: Trung bình
NT: nghiệm thức
Trang 11các mẫu vật khác nhau
11
các trạng thái khác nhau của nấm Linh chi (2,5mg/ml)
25
β-glucanase
61
C20032 10%
65
DANH MỤC BẢNG
Trang 12Nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi
nhiệt độ và pH thay đổi
75
chế phẩm C20032 10% điều kiện pH5
77
lệ enzyme phối hợp giữa DNC và chế phẩm C20032 10%
mặt trong hỗn hợp dịch thí nghiệm có sự thay đổi nồng
độ enzyme chế phẩm C20032
82
v
Trang 13Nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi
DANH MỤC HÌNH
tử nấm Linh chi
19
trường thạch dịch chiết khoai tây PDA
28
Trang 14Nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi
T.harzianum MT nuôi cấy lỏng và MT nuôi cấy rắn
74
nuôi cấy nấm T harzianum ở nhiệt độ và pH khác nhau
thay đổi tỉ lệ enzyme phối hợp ở ngày thứ 4
78
đổi tỉ lệ enzyme phối hợp giữa DNC và chế phẩmC20032 10%
Trang 15Nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
ưu của enzyme chitinase từ DNC nấm T harzianum T2
51
linh chi bằng enzyme DNC nấm T harzianum T2 kết
hợp chế phẩm EC 20032
52
enzyme dịch nuôi cấy
Trang 16Nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi
Trang 17Nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi
1 Tính cấp thiết của đề tài
MỞ ĐẦU
Trong y học cổ truyền phương Đông, nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) là một
loại dược phẩm quý, nó được sử dụng như một loại thượng dược trong các bàithuốc để điều trị một số căn bệnh cũng như bồi bổ sức khỏe Tuy nhiên khi sử dụngnấm Linh chi trong việc điều trị người ta chỉ chú trọng đến việc phối hợp các vịtrong bài thuốc và nấu chúng trong nhiều giờ để tách các hoạt chất mà không chú ýđến thành phần, các biện pháp tách chiết các hoạt chất sao cho tối ưu Bên cạnh đó,Tây y hiện đại cho rằng thảo dược không được xem là một loại thuốc để chữa bệnh
mà chỉ có thể được xem như một loại thực phẩm chức năng và nấm Linh chi cũngđược xếp vào loại thảo dược thực phẩm chức năng Ngày nay, nấm Linh chi đượctrồng khá phổ biển ở một số quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ViệtNam… cho nên việc sử dụng nấm Linh chi như một loại thực phẩm chức năng giúp
hỗ trợ sức khỏe, tăng tuổi thọ, phòng ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh ung bướu, timmạch, huyết áp, tiểu đường…
Trong hai thập kỉ qua, các phương pháp phân tích khoa học hiện đại đã cho phép xácđịnh được một số lượng lớn các hợp chất hóa học có trong quả thể, tơ và bào tử nấmLinh chi như: triterpenoid, steroid, polysaccharide, saponin, chất khoáng, vitamin,amino acid, phenol… Trong đó Triterpenoid, polysaccharide được xem là thànhphần chính có nhiều hoạt tính sinh học của nấm Mặc dù có một lượng lớn các hoạtchất sinh học được tìm ra trong nấm Linh chi nhưng việc phân tích, chiết xuất cáchoạt chất sinh học này đa số đuợc thực hiện trên quả thể và tơ nấm, có rất ít nghiêncứu thực hiện việc trích ly các hoạt chất có trong bào tử nấm Linh chi bởi bào tửđược cấu tạo bởi lớp vách đôi rất bền vững nên làm giảm khả năng chiết xuất cácchất Do đó, việc nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi là giai đoạn quan trọngcho quá trình phân tích thành phần các chất có trong bào tử
Để góp phần nghiên cứu việc chiết xuất hiệu quả các hoạt chất có trong bào tử nấmLinh chi, tôi đã tiến hành nghiên cứu phương pháp phá vỡ bào tử nấm Linh chi bằng
phương pháp sử dụng enzyme dịch nuôi cấy từ nấm Trichoderma harzianum T2 kết
Trang 18hợp với enzyme thương mại Cellulase C20032 được trình bày trong đồ án tốt nghiệp
“NGHIÊN CỨU PHÁ VÁCH BÀO TỬ NẤM LINH CHI”
2 Tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu thành phần các hợp chất có trong nấm Linh chi được thựchiện chủ yếu trên quả thể và tơ nấm Hội nghị nấm học thế giới 7/1994 tạiVancouver (Canada) đã dành riêng một hội thảo về Linh chi, kết quả đã đi đến quyếtđịnh thành lập Viện nghiên cứu Linh chi Quốc tế đầu tiên về nấm Linh chi, đặt trụ
sở tại New York (Hoa Kỳ) Do vậy, vào tháng 10/1994 Hội nghị Quốc tế đầu tiên vềnấm Linh chi đã được tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc Tại đây quan điểm về sự
tồn tại độc lập của họ Linh chi Ganodermataceae Donk với tầm quan trọng là các
nấm làm thuốc quý Vào tháng 7/1996, Hội nghị Quốc tế về nấm học Châu á, lạidành một trong năm Hội thảo cho các báo cáo về Linh chi tại đại học Chiba, NhậtBản Tại mỗi Hội nghị số báo cáo rất lớn, thể hiện tầm quan trọng kinh tế và sựphong phú của nấm Linh chi
Vào thập niên 70 – 80, bắt đầu một trào lưu khảo cứu hóa dược học các nấm Linhchi Chủ yếu ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Việt Nam Gần đâymột số phòng thí nghiệm ở Hoa Kỳ và vùng Đông Nam á cũng bắt đầu tham gia vàotiến trình này Năm 1988, Nhật Bản đã điều trị thành công bệnh nhược cơ bằng Linhchi theo nguyên tắc điều hoà miễn dịch Bệnh viện Sơn Đông, Trung Quốc dùng
“súp” Linh chi để giải độc và bổ gan có kết quả tốt, trong 70.000 ca trên 90% khỏibệnh (Lui Xing Jia, 1994) Tác giả cho rằng nấm Linh chi có tác dụng tốt đối vớiđường tiết niệu, điều hoà rối loạn tuần hoàn não, tránh các cơn kịch phát nghẽnmạch và làm dịu thần kinh,…
Năm 2010, Chaiyavat Chaiyasut, Chakkrapong Kruatama and Sasithorn Sirilun đãcông bố công trình nghiên cứu phá vách bào tử nấm Linh chi bằng quá trình lên men
vi khuẩn Lactobacillus plantarum và bào tử nấm Linh chi.
3 Mục đích của đề tài
Xây dựng quy trình phá vỡ vách bào tử nấm Linh chi thu dịch chiết bào tử
Trang 194 Mục tiêu của đề tài
Xây dựng quy trình phá vỡ vách bào tử nấm linh chi bằng phương pháp kết hợp
enzyme chế phẩm thương mại và enzyme dịch nuôi cấy nấm mốc Trichoderma
harzianum kí sinh trên nấm linh chi.
5 Phương pháp nghiên cứu
Tổng quan tài liệu và tiến hành thực nghiệm
Đề tài được xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel và Statisticals AnalysisSystems (SAS)
6 Kết quả đạt được ban đầu
Tìm ra được phương pháp phá vách bào tử nấm Linh chi bằng phương pháp kết hợp
chế phẩm thương mại và enzyme dịch nuôi cấy nấm mốc Trichoderma harzianum
Xác định được tỉ lệ phá vỡ bào tử nấm linh chi trên một lượng nhất định
7 Hạn chế của đề tài
Tỷ lệ bào tử phá vỡ còn thấp làm hạn chế việc định lượng hoạt chất trong dịch trích
ly sau phá vỡ cũng như hiệu suất trích ly hoạt chất
Trang 20CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu về nấm Linh chi
Nấm Linh chi hay còn gọi là Linh chi thảo, nấm trường thọ, nấm lim, thuốc thầntiên, hạnh nhĩ Cách đây khoảng 2000 năm, nấm Linh chi đã được ghi trong sách
“Thần nông bản thảo kinh”, tác phẩm chuyên tập hợp những kinh nghiệm về dượcthực vật từ đời Hán trở về trước Xưa kia linh chi chỉ được khai thác trong thiênnhiên nên nó là loại thuốc quý, hiếm và rất đắt tiền Từ đầu thế kỷ 17, nấm Linh chi
đã được nuôi trồng ở Trung Quốc, chính bởi chính giá trị dược liệu cao của chúng.Ngay từ thời Hoàng đế, trong các thư tịch cổ đã ghi chép về giá trị của Linh chi.Trong “Bản thảo cương mục”, các ghi chép đã chuẩn mực hơn, và nấm Linh Chingày càng được coi trọng Cho nên, dễ hiểu là các nhà Đông y Việt Nam kế tục LýThời Trân, đã phát hiện ra Linh Chi ở nước ta và như Lê Quý Đôn đã chỉ rõ đó là
“nguồn sản vật quý của đất rừng Đại Nam”
1.1.1 Phân loại
1.1.1.1 Phân loại theo khoa học
Nấm Linh chi có tên khoa học là Ganoderma lucidum, thuộc họ Nấm lim
(Ganodermataceae) Tên tiếng Anh là Varnished conk hay lingzhi
Vị trí phân loại của nấm Linh chi (Nguyễn Lân Dũng, 2010)
- Loài: Ganoderma lucidum
- Giới: Nấm – Mycota hay Fungi
Theo trình định danh, có đến 8 lần đặt tên khoa học cho loài này Kể từ lần đặt tên đầu tiên của Curtis W (1781) cho đến khi P.A Karsten – nhà nấm học Phần Lan xác
Trang 21định tên chính thức Ganoderma lucidum (Leyss Ex Fr.) Karst đã mất đến 100 năm
(1881)
1.1.1.2 Phân loại theo hình dạng và màu sắc
Trong bộ “Bản thảo cương mục” (in năm 1995) của Lý Thời Trân, đại danh y TrungQuốc đã phân loại Linh chi theo màu sắc thành lục bảo Linh chi (6 loại), với màusắc và tên gọi khác nhau: Thanh chi, Xích chi, Hoàng chi, Bạch chi, Hắc chi, Tử chi
Xích chi: Còn được gọi với những cái tên khác như Linh chi đỏ hay đơn chi, hồng
chi có vị đắng Tên khoa học là Ganoderma lucidum Xích chi giúp ích tâm khí, chủ
vị, tăng trí tuệ Sử dụng linh chi đỏ để tăng cường trí nhớ, bổ trung, phòng tránh cácbệnh tim mạch và chữa trị tức ngực
Hình 1.1 Xích chi – Ganoderma lucidum
Thanh chi: Linh chi xanh hay long chi có màu xanh, vị chua Tên khoa học là
Ganoderma genus Thanh chi giúp cho sáng mắt, giúp cho an thần, bổ can khí, nhân
thứ, dùng lâu sẽ thấy thân thể nhẹ nhàng và thoải mái
Trang 22Hình 1.2 Thanh chi Ganoderma genus Bạch chi: Linh chi trắng hay ngọc chi có màu trắng Tên khoa học là Fomitopsis
officinalis Bạch chi có vị cay tính bình không độc, ích phế khí, chữa ho nghịch hơi.
Hình 1.3 Bạch chi Fomitopsis officinalis
Hoàng chi: Linh chi vàng hay kim chi, có vị ngọt, màu vàng Tên khoa học là
Laetiporus sulphureus Linh chi vàng có tác dụng ích tì khí, trung hòa, an thần.
Trang 23Hình 1.4 Hoàng chi Laetiporus sulphureus
Hắc chi: Linh chi đen hay huyền chi có màu đen và vị mặn Tên khoa học là
Polyporus melanopus Hắc chi có tác dụng ích thận khí, khiến cho đầu óc sản khoái
và tinh tường
Hình 1.5 Hắc chi Polyporus melanopus
Tử chi: Linh chi tím hay Mộc chi, màu tím có vị ngọt Tên khoa học là Ganoderma
sinense Tử chi có tác dụng bảo thần, làm cứng gân cốt, ích tinh, da tươi đẹp.
Trang 24Hình 1.6 Tử chi – Ganoderma sinense
Gần đây khi đã tìm ra được phương pháp gây giống, những nhà khoa học Nhật Bảnchứng minh được rằng những cây nấm có màu sắc khác nhau không phải vì khácloại mà chỉ vì môi trường và điều kiện sống khác nhau Nếu thay đổi điều kiệnngười ta có thể có được sáu loại từ cùng một giống
Hình 1.7 Phân loại linh chi theo màu sắc
Trang 25Ngoài cách phân loại Linh chi theo màu sắc, người ta còn có thể phân loại linh chitheo các đặc điểm như:
Do đó, có thể thấy rằng Linh chi không những đa dạng về chủng loại mà còn đadạng về sinh thái, đây là loại nấm mang tính toàn cầu (Patouillard, N 189) Linh chithuộc nhóm nấm lớn và rất đa dạng về chủng loại, từ khi xác lập một chi riêng làGanoderma Karst (1981), đến nay tính ra có tới 2000 loài và phổ biến nhất là
Ganoderma lucidum có tới 45 loại.
Ở Việt Nam, loài chuẩn Linh chi Ganoderma lucidum mới được trồng thành công
trong phòng thí nghiệm năm 1978 Năm 1994 loài nấm lim – một chủng Linh chi đỏđặc sắc của các rừng cây Lim miền Bắc Việt Nam đã được Phạm Văn Thụ đưa vàonuôi trồng chủ động
1.1.2 Đặc điểm sinh học của nấm Linh chi
Về hình thái ngoài, chúng cũng có ít nhiều sai khác
1.1.2.1 Cuống nấm
Cuống nấm dài hoặc ngắn, đính bên có hình trụ đường kính 0,5 – 3cm, cuống nấm ítphân nhánh, đôi khi uốn khúc Lớp vỏ cuống màu nâu, nâu đỏ hoặc nâu đen, bóng,không có lông phủ trên mặt tán nấm
1.1.2.2 Mũ nấm
Mũ nấm: khi non hình trứng, lớn dần hình quạt Mũ nấm dạng thận – gần tròn, đôi
khi xòe hình quạt hoặc ít nhiều dị dạng Trên mặt mũ có vân gợn đồng tâm và có tia
Trang 26rãnh phóng xạ, màu sắc từ vàng nâu – vàng cam – đỏ cam – đỏ nâu – nâu tím – nâuđen, được bao phủ bởi sợi không vách ngăn ngang xếp sít nhau kiểu hàng rào và cóđầu sợi dầy thêm ra, đường kính đoạn sợi phình to ra 8 - 10μm Chính những tế bào
vỏ này tạo nên lớp vỏ bền vững và bóng như vecni cho nấm Lớp vỏ láng phủ suốttheo cuống Kích thước tán biến động từ 2 – 30cm, dày 0,8 – 2,5cm, cuống dài từ2,5
– 3,5cm, tròn mập hoặc mảnh (đường kính từ 0,5 – 2,2cm) phần đính cuống hoặc
gồ lên hoặc lõm như lõm rốn Thịt nấm dày từ 0,4 – 1,8cm màu vàng kem – nâunhạt – trắng Nấm mềm dai khi tươi, khi khô chắc cứng và nhẹ Hệ sợi kiểu trimitic,đầu tận cùng lớp sợi phình hình chùy, màng rất dày đan kít vào nhau tạo thành lớp
vỏ láng phủ trên mặt trên mũ và bao quanh cuống bởi sự hình thành các chất lacatetan mạnh trong cồn Nhờ lớp laccate láng bóng không tan trong nước đó mà nấmchịu được mưa, nắng Ở lớp dưới, hệ sợi tia xuống đều đặn, tiếp giáp vào tầng sinhbào tử
1.1.2.3 Thụ tầng
Tầng sinh sản (bào tầng, thụ tầng – hymenium) là một lớp ống dày từ 0,2 – 1,7 cm,gồm các ống nhỏ thẳng, miệng tròn, trắng – vàng ánh xanh, khoảng 3 – 5 ống/mm.Đảm đơn bào mang 4 đảm bào tử hình trứng – trứng cụt – hình chùy, không màu,dài
16 - 22μm Thực chất đó là do màng phủ lỗ nảy mầm (germpose) phồng căng haylõm thụt vào mà thành
1.1.2.4 Bào tử nấm Linh chi
Cũng như các loài nấm khác, nấm Linh chi khi trưởng thành sẽ sản sinh ra bào tử,tức là hạt giống hữu ích cho đời sau Bào tử đảm thường được mô tả có dạng trứngcụt Đôi khi có tác giả mô tả là dạng hình trứng có đầu chóp tròn – nhọn Thực ra
đó là do chụp phủ lớp nảy mầm hoặc phồng căng, hoặc lõm thụt vào mà tạo thành.Mỗi bào tử được bao phủ với hai lớp tường rất khó khăn gọi là sporoderm (FDA1.8.1999), màu vàng mật ong sáng, chính giữa khối nội chất tụ lại một giọt hình cầu,dạng giọt dầu, kích thước bào tử rất nhỏ dao động ít nhiều khoảng từ 5-6 x 8,5 – 12
μm Vỏ bào tử khá dày, cỡ 0,7 – 1,2 μm, có cấu trúc phức tạp Bào tử nấm Linh chi
Trang 27có hai lớp vỏ rất cứng, khó nảy mầm Bào tử Linh chi có chứa các thành phần giốngnấm Linh chi: Polysacharide, triterpenoid, acid béo, acid amin, vitamin, các nguyên
tố vi lượng, với
Trang 28hàm lượng đậm đặc hơn Linh chi từ 7 – 20 lần (Nguyễn Thị Sáu, 2014) Cho đếnnay, hơn 150 triterpenoids đã được phát hiện Do những tiến bộ gần đây trong quangphổ hiện đại và kỹ thuật quang phổ, một loạt các triterpenoids được phân lập từbào tử của nấm Linh chi và đã thu hút được sự chú ý của các nhà hóa học và dược
sĩ Từ năm 1988 các nhà khoa học đã phân lập được 29 triterpenoids bao gồm cảcấu trúc và hoạt tính sinh học của chúng
Bảng 1.1 Biến động kích thước bào tử đảm nấm Linh chi chuẩn ở các mẫu vật khác
nhau (Lê Xuân Thám, 1996)
9 – 13 x 6 – 8
7 – 12 x 6 – 8
7 – 12 x 6 – 87,5 – 10 x 5 – 6,5
9 – 13 x 5 – 78,2 – 11,5 – 13,5 x 6,3 – 7,5 – 8,1
9 – 12 x 5,5 – 8
10 – 11,8 x 6,8 – 7,8
7 – 8 x 6 – 7,8
9 – 11 x 6 – 78,5 – 11,5 x 5 – 7
9 – 12 x 5 – 7
8 – 10,5 x 5 – 77,5 – 11,5 x 5,5 – 7
Đông DươngNhật Bản Trung Quốc Indonesia,
Úc châu Anh quốcBắc Âu, Phi châuĐông Phi châu Bắc Việt Nam Argentine
Bồ Đào NhaBắc MỹBắc MỹBắc ÂuTrung QuốcĐài Loan
Hà Bắc, Việt Nam Lạng Sơn Việt Nam
Đà Lạt Việt NamKhi Linh chi phóng thích bào tử, nhìn xuyên qua ánh nắng sẽ thấy từng đợt bào tửbay qua như khói bám vào bề mặt nấm tạo thành một lớp bụi mỏng màu nâu đỏ rất
Trang 29mịn Tuy vậy số lượng bào tử linh chi rất ít Khi thu hoạch 1 tấn nấm Linh chi sẽ chỉthu được 1 kg bào tử.
Điều hết sức lý thú, mặc dù hình thái bên ngoài rất biến đổi, đa dạng, song về cấutạo tinh vi của bào tử đảm thì có độ ổn định rất cao, dù là chủng nuôi trồng ở Nhật,Trung Quốc, chủng nấm Lim Hà Bắc hay chủng Đà Lạt Rõ ràng kiến tạo lỗ thủngtrên bề mặt lớp vỏ ngoài là phổ biến Lỗ nảy mầm hình tròn, khá lớn, là đặc điểmquan trọng phổ biến ở các loài Ganoderma (đường kính 3,2 – 4,2μm) Thuật ngữ
“germpore” là tương đương định nghĩa “aperture” do Erdtman đưa ra (1952) – là chỉvùng mà tại đó vỏ bào tử mỏng đi rất nhiều, nơi mầm sợi nấm nguyên thủy (haymầm ống phấn trong trường hợp của tiểu bào tử ở thực vật) nhú ra khi nảy mầm(germination) Trên lớp vỏ ngoài thấy rõ các trụ chống – chính là khái niệm “gaichống” theo nhiều tác giả khác Đỉnh các trụ nổi gồ thành các mụn cóc – gò hạt Cáctrụ chống chính là tầng cột theo phân loại của G.Erdtman (1952) (columellae), cáctrụ đuợc nối với nhau bởi các vách mỏng chống từ tầng nền tới tầng phủ, chúng tạothành các xoang rỗng của lớp ngoài, nhờ đó tạo khả năng bảo vệ cao cho vỏ bào tử.Lớp vỏ trong mỏng hơn, sát ngay bên dưới tầng nền của lớp vỏ bào tử, thường cảnquang mạnh do vậy thấy đậm màu dưới kính hiển vi quang học Cấu trúc của lớp vỏtrong cho đến nay còn chưa được biết rõ Cần lưu ý rằng: khái niệm “gai chốngnhọn” từ màng trong đâm sát màng ngoài của hầu hết các mô tả trước đây khôngchính xác Thực chất các gai hay chính các cột chống hầu như không nhọn, màphình đầu thành các u lồi – và chính các u lồi này đội lớp màng phủ trong suốt ngoàicùng (episporium, exosporium hay chính là tầng phủ tectum), tạo thành các kiếntrúc gò hạt – mụn cóc
– u nhú trên bề mặt vỏ bào tử Điều này Heim (1962), Hansen (1958), Perreau(1973), Mims et al (1989) đã từng phân tích và thảo luận nhiều
Trang 30Hình 1.8 Hình thái giải phẫu thể quả nấm linh chi Ganoderma lucidum
Hình 1.9 Các kiểu bào tử đảm đặc thù của họ Linh chi Ganodermataceae1: Kiểu miệng rộng, gặp ở Ganoderma và Humphrey a (có mấu lồi đáy bào tử).2: Kiểu miệng tiêu giảm, gặp ở Haddowia và Amauroderma (lưu ý kiểu bào tử xẻ
múi ở Haddowia rất tương đồng với kiểu xẻ rãnh ở Ganoderma).
Bào tử nấm Linh chi chứa các vật liệu di truyền và các chất sinh học, nó có giá trị vềdược phẩm lớn hơn quả thể, tuy nhiên hoạt chất trong bào tử nấm khó thu nhận, chonên hầu hết các kết quả nghiên cứu về Linh chi được tiến hành bằng cách sử dụngquả thể
Trang 311.1.3 Chu kì sống của nấm Linh chi
Hình 1.10 Chu kì sống của nấm Linh chiBào tử đảm đơn bội, trong điều kiện thuận lợi, nảy mầm tạo nên hệ sợi sơ cấp(primary
3 – 15% Hệ sợi sơ cấp đơn nhân, đơn bội mau chóng phát triển phối hợp với nhautạo thành hệ sợi thứ cấp (tức hệ sợi song hạch), phát triển và phân nhánh rất mạnhtràn ngập khắp giá thể
Lúc này thường có hiện tượng hình thành bào tử vô tính màng dày - rất dày(gasterospores – Chlamydospores), chúng dễ dàng rụng ra và khi gặp điều kiện phùhợp sẽ nảy mầm cho ra hệ sợi song hạch tái sinh Hệ sợi thứ cấp sẽ phát triển mạnhđạt đến giai đoạn cộng bào tức là các vách ngăn được hòa tan Tiếp đó là giai đoạnsợi bện kết để chuẩn bị cho sự hình thành mầm móng thể quả (primordial) Đâychính là giai đoạn phân hóa hệ sợi Từ hệ sợi nguyên thủy hình thành các sợi cứngmàng dày, ít phân nhánh, bện kết lại thành các cấu trúc bó được cố kết bởi các sợibện phân nhánh rất mạnh Từ đó hình thành các mầm nấm màu trắng mịn vươn dàithành các trụ tròn mập Phần đỉnh trụ bắt đầu xòe thành tán, trong lúc lớp vỏ láng đỏcam xuất hiện Tán lớn dần hình thành bào tầng và bắt đầu phát tán bào tử đảm liêntục cho đến khi nấm già sẫm màu, khô tóp và lụi dần trong 3 – 4 tháng
Nấm Linh Chi có thể mọc trên cây gỗ (thường là thuộc bộ đậu Fabales) sống hay đãchết Quả thể gặp rộ vào mùa mưa (từ tháng 5 – tháng 11), có thể trên thân cây(cuống thường ngắn), quanh gốc cây hoặc từ các rễ cây (khi ấy cuống thường dài và
có thể
Trang 32phân nhánh) Nấm thường mọc tốt dưới bóng rợp, ánh sáng khuếch tán nhẹ Do cólớp vỏ láng đỏ Linh Chi có thể chịu nắng rọi – khi đó thường xuất hiện lớp phấnánh xanh tím, có thể chịu mưa liên tục Ở những vùng thấp rõ ràng là ưu thế của cácchủng chịu nhiệt độ cao (28oC – 35oC) như ở vùng châu thổ sông Hồng và đồngbằng sông Cửu Long (quanh TP Hồ Chí Minh) Ở vùng núi đồi vĩ độ cao (>1000m)
Đà lạt, Sapa, Tam Đảo, Tây Nguyên…ở nước ta Nếu theo các tư liệu cổ thì LinhChi của vùng rừng sâu, núi cao được coi là linh thiêng quí giá
1.1.4 Điều kiện sinh trưởng và phát triển của nấm Linh chi
1.1.4.1 Dinh dưỡng
Nguồn carbon: nguồn carbon chủ yếu là đường glucose, saccharose, maltose, tinhbột, pectin, lignin, cellulose, hemicelluloses, từ đó chúng tổng hợp năng lượng vàtạo thành các chất cần thiết
Nguồn nitơ hữu cơ: protein, pepton, acid amin, ngoài ra có thể hấp thu urê, muốiamon, sulphate amon Nitơ không được quá nhiều làm cho sợi nấm mọc nhiều khóhình thành quả thể Trong giai đoạn sinh trưởng sợi nấm, tỉ lệ C/N là 25/1 Giai đoạnhình thành thể quả, tỉ lệ là 30/1 hoặc 40/1
Nguyên tố vi lượng: Ca, P, Mg, K nguồn vi lượng đó chỉ thêm trong quá trình nuôicấy giống mẹ, còn khi trồng thì chúng có trong nước và nông sản phẩm
1.1.4.2 Nhiệt độ
Thích hợp nhất là 22 – 28oC Khi nuôi cấy tầng sâu nhiệt độ thích hợp là 28oC
thành tán mà ở dạng sừng hươu, dạng đuôi gà
1.1.4.3 Độ ẩm
Hàm lượng nước môi trường thường là 65% là vừa, quá nhiều hoặc quá ít sẽ ảnhhưởng đến sự phát triển sợi nấm Độ ẩm không khí nên giữ ở 85 – 95%, nuôi cấytrong phòng cần giải quyết vấn đề về độ ẩm và thông thoáng gió
1.1.4.5 Không khí
Trang 33Nấm Linh chi là loài hiếu khí vì vậy cần thông gió, giữ độ ẩm và nhiệt độ thích hợp.Khi nuôi cấy nấm trong tầng lỏng cần lắc 100 – 150 vòng/phút Lắc mạnh dễ làmsợi nấm đứt đoạn.
al (1999)) Trong một nghiên cứu về những thành phần của nấm, Mau et al (2001)
đã xác định được tỷ lệ của các thành phần chủ yếu trong nấm linh chi gồm: tro(1,8%),
Trang 34carbonhydrate (26 - 28%), chất béo thô (3 - 5%), chất xơ (59%) và protein (7 - 8%).Hàm lượng của protein trong nấm linh chi khoảng 7- 8%, thấp hơn so với nhiều loạinấm khác (Chang et al (1996); Borchers et al (1999)) Ngoài ra trong nấm còn chứacác glycoprotein và các polysaccharide.
Bên cạnh đó, nấm linh chi có chứa rất nhiều những phân tử có hoạt tính sinh họcnhư các terpenoid, các steroid, các phenol, các nucleotide và những dẫn xuất củachúng Hoạt tính sinh học của nấm linh chi có được chủ yếu là do cácpolysaccharide, peptidoglycan và các triterpen mang lại (Boh et al (2007)
1.1.5.2 Triterpenoid
Terpenoid là nhóm chất tự nhiên, có cấu trúc hóa học dựa trên cơ sở các phân tử
dẫn xuất của terpenoid nhưng pharnesyl pyrophosphate mới là chất liệu cơ bản đểsinh tổng hợp terpenoid (Nguyễn Kim Phi Phụng, 2010) Terpenoid có tác dụngchống viêm, chống lại sự hình thành các khối u và giúp giảm hàm lượng chất béo.Triterpene là một phân lớp của terpenoid được phân bố rộng rãi trong giới động vật,thực vật, hiện diện ở dạng tự do hoặc glycosid Cấu trúc hóa học của triterpen có thể
là mạch hở 3, 4, hoặc 5 vòng với 33 khung sườn cacbon chính (Jose D Connolly et
al (1991)) Khối lượng phân tử khoảng từ 400 đến 600 kDa, triterpene có cấu trúchóa học phức tạp và có khả năng bị oxy hóa cao (Mahato et al (1997)); Zhou et al.(2007))
Trong nấm linh chi, cấu trúc hóa học của triterpene có dạng lanostane, đây là chấttham gia vào quá trình tổng hợp nên lanosterol, quá trình sinh tổng hợp giúp hìnhthành nên các squalene mạch vòng (Haralampidis et al (2002)) Trong quá trìnhchiết xuất triterpene, người ta thường sử dụng các dung môi hữu cơ như methanol,ethanol, acetone, chloroform, ether hoặc là hỗn hợp của chúng Dịch chiết sau đó sẽđược phân tách bằng nhiều phương pháp khác nhau, có thể dùng HPLC thôngthường hoặc HPLC pha nghịch đảo (Chen et al (1999); Su et al (2001)) Nhữngtriterpene đầu tiên được Kubota phân tách từ nấm linh chi là ganoderic acid A và B(Kubota et al (1982)) Kể từ khi đó, hơn 100 loại triterpene cùng với cấu hình củachúng đã được
Trang 35tìm ra Trong số đó, có hơn 50 loại là đặc trưng chỉ được tìm thấy trong nấm linhchi Đa số các triterpene là các ganoderic và lucidenic acid, nhưng cũng có một sốloại khác như là ganoderal, ganoderiol và ganodermic acid (Jiang et al (2008)).Nấm linh chi rất giàu hàm lượng các triterpene, những chất này cũng góp phần tạonên vị đắng của nấm linh chi Chúng mang nhiều hoạt tính sinh học có lợi cho sứckhỏe, như khả năng chống oxy hóa và giảm hàm lượng chất béo trong cơ thể Tuynhiên, hàm lượng triterpene trong nấm linh chi lại không ổn định Chúng phụ thuộcrất nhiều vào giống, loài, nơi trồng, điều kiện canh tác cũng như phương pháp chếbiến, điều này đã được thể hiện trong một nghiên cứu của Chen và Su được tiếnhành vào năm 1999 và 2001 (Chen et al (1999); Su et al (2001)) Cho đến nay, hơn
150 triterpenoids đã được tìm thấy từ quả thể của nấm Linh chi đại diện cho năm lớpcấu trúc chính So với quả thể của nấm Linh chi, các nghiên cứu về bào tử của nấmLinh chi mới bắt đầu từ năm 1988 (Hou CY et al (1988)), cho đến nay đã có 29loại triterpenoids đã được tìm thấy trong bào tử này Với những tiến bộ gần đâytrong quang phổ và trắc phổ kỹ thuật hiện đại, một loạt các triterpenoids được phânlập từ các bào tử của nấm Linh chi và đã thu hút được sự chú ý của các nhà hóa học
và dược sĩ Tất cả các triterpenoids trong các bào tử của nấm Linh chi có quá trìnhtổng hợp tương tự nhau, cụ thể là con đường acid mevalonic (MVA) (Bingji Ma et
al (2011)) Các Triterpenoids này được bắt đầu từ trans - squalene và sau đó đãđược thay đổi bởi quá trình oxy hóa, giảm, khử acid, tạo vòng, sắp xếp lại, tạo ranhiều loại cấu hình triterpenoids trong bào tử của nấm Linh chi
Triterpenoids được cô lập từ bào tử Linh chi cho thấy khả năng kháng HIV-1protease, chống khối u, và các hoạt động chống bổ sung Triterpenoids này là thànhphần hoạt chất chính của bào tử Linh chi và biểu thị cho các hoạt tính sinh học khácnhau được sử dụng trong dược liệu
Trang 36Hình 1.11 Cấu trúc không gian của 29 loại triterpenoids trong bào tử nấm Linh chi
(Bingji Ma et al (2011))
Trang 37Hình 1.12 – 29 Triterpenoids trong bào tử nấm Linh chi (Bingji Ma et al (2011))
Triterpenoids được cô lập từ bào tử của nấm Linh chi
Năm triterpenoids đã được cô lập từ phần trong ether - tan của bào tử của nấm Linhchi và trên cơ sở tính chất hóa học và dữ liệu quang phổ, acid ganopsoreric A (1),acid ganoderic B (2), acid ganoderic C1 (3), acid ganoderic E (4) và
Trang 38ganodermanontriol (5) được xác định tương ứng (Bingji Ma et al (2011)) Thínghiệm dược lý cho thấy acid ganopsoreric A có có hoạt tính GTP thấp đối với ganchuột bị tổn thương bởi CCl4 và GaNI (Chen RY et al (1993)) Hai triterpenoidspentacyclic mới, có tên ganosporelactone A (6) và B (7) được cô lập từ bào tử củanấm Linh chi, có thể được bắt nguồn từ khung lanostane thông qua việc hình thànhliên kết C18 và C23 (Chen RY et al (1991)) Hai triterpenes lanostane kiểu mới,lucidumol A (8) và β - acid ganoderic (9), cùng với một lucidumol B (10) và bảytriterpenoids đã biết, ganodermanondiol (11), ganoderiol F (12), acid ganoderic A(13), acid ganolucidic A (14), và 2, 3, 5 Trong số các hợp chất cô lập, các hợp chất
5, 10, 11 và 14 cho thấy khả năng kháng virus gây suy giảm miễn dịch (kháng HIV)
- 1 protease hoạt động đáng kể với giá trị IC50 với giá trị 20 - 90 mM (Min BS et al.(1998))
Sáu triterpenes lanostane loại oxy hóa cao mới, được gọi là ganoderic acid γ (15),acid ganoderic δ (16), acid ganoderic ε (17), acid ganoderic ξ (18), acid ganoderic η(19), acid ganoderic θ (20), cùng với ganolucidic axit D (21) và axit ganoderic C2(22) được phân lập từ các bào tử nấm Các khả năng gây độc của các hợp chất 15-21
đã được thực hiện trong ống nghiệm chống Meth - A và LLC dòng tế bào ung thư(Min BS et al (1998)) Một terpenoid C27 oxy hóa cao mới, lucidenic axit SP1 (23),
triterpenoids, acid ganoderic C6 (24), acid ganoderic G (25), và 2, 3, 5, 8, 9, 11, 12,
13, 14
1.1.5.3 Hợp chất saponin
Saponin là một nhóm chất trao đổi thứ cấp quan trọng trong thế giới thực vật Têngọi của saponin bắt nguồn từ từ sapo trong tiếng latin, có nghĩa là xà phòng.Saponin có tính chất đặc trưng: khi hòa tan vào nước sẽ có tác dụng làm giảm sứccăng bề mặt của dung dịch và tạo nhiều bọt Saponin thường ở dạng vô định hình,
có vị đắng Saponin rất khó tinh chế, có điểm nóng chảy cao, từ 200oC trở lên và
có thể trên
Trang 39dụng chất này để cô lập saponin Về phương diện hóa học, saponin được xác địnhgồm các cấu trúc khác nhau: triterpenoids, glucosylated steroids steroidal alkaloids.
Trang 40Khả năng dược tính: trị long đờm, chữa ho, chất phụ gia cho một số vaccine, thôngtiểu, kháng viêm, chống khối u.
1.1.5.4 Những thành phần khác
Tiến hành phân tích thân nấm linh chi, người ta còn tìm thấy thành phần chấtkhoáng như phospho, silicon, sulfur, kali, calcium và magnesium chiếm một tỉ lệkhá cao Bên cạnh đó còn có sắt, nhôm, kẽm, đồng, mangan và strontium với hàmlượng thấp hơn Ngoài ra còn có một số kim loại nặng như chì, cadmium và thủyngân (Chen et al (1998)) Trong một nghiên cứu của Chiu được tiến hành vào năm
2000, khi phân tích nấm linh chi hoang thuộc loài Ganoderma spp, ông đã xác định
được trong hàm lượng chất khoáng của loại nấm này có chứa 10,2% là kali, calcium
và magnesium Cũng trong một nghiên cứu khác thì Falandysz đã không tìm thấycadmium và thủy ngân trong những mẫu nấm linh chi, nhưng hàm lượng seleniumđược xác định là 72
µg/g
Trong thành phần của nấm linh chi (Ganoderma spp) có một chất cũng nhận được
rất nhiều sự quan tâm, đó là germanium Đây là chất có hàm lượng nhiều thứ 5 trongcác chất khoáng (489 µg/g) có trong nấm linh chi Chất này tồn tại rất ít ở các loạithực vật trong tự nhiên, chỉ một phần rất nhỏ được tìm thấy trong nhân sâm, lô hội
và tỏi Mặc dù germanium không phải là thành phần thiết yếu, nhưng chỉ cần mộtliều lượng thấp cũng đã có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch, kháng khối u,chống oxy hóa và chống đột biến (Kolesnikova et al (1997))
Những hợp chất khác cũng được tìm thấy trong nấm linh chi đó là các loại enzymenhư metalloprotease (đây là loại enzyme có tác dụng trì hoãn quá trình đông máu).Ngoài ra, ergosterol (provitamin D2), các nucleoside và các nucleotide (nhưadenosine và guanosine) cũng đã được tìm thấy trong nấm linh chi, đây là nhữnghợp chất có tác dụng ức chế thuận nghịch α-glucosidase và SKG-3
1.1.6 Công dụng của nấm Linh chi
1.1.6.1 Phòng ngừa ung thư