Biển Đông là một trong số các biển lớn của thế giới, có diện tích 3,477 triệu km2 và tổng lượng nước khoảng 3,928 triệu km3. Chiều dài biển Đông khoảng 3000km, chiều rộng 1000km, độ sâu trung bình của biển Đông là 1140m. Gần bờ, đáy vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan sâu chưa tới 100m, ra ngoài khơi, gần Philippin và các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa mới gặp lòng chảo sâu 4000m, chỗ sâu nhất đạt 5554m.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ ÔN THI THPTQG
VẤN ĐỀ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM
Tác giả: ……….
I Đặc điểm chung của biển Đông Việt Nam
1.1 Khái quát về biển Đông
Biển Đông là một trong số các biển lớn của thế giới, có diện tích 3,477 triệu
km2 và tổng lượng nước khoảng 3,928 triệu km3 Chiều dài biển Đông khoảng 3000km, chiều rộng 1000km, độ sâu trung bình của biển Đông là 1140m Gần bờ, đáy vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan sâu chưa tới 100m, ra ngoài khơi, gần Philippin
và các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa mới gặp lòng chảo sâu 4000m, chỗ sâu nhất đạt 5554m
Biển Đông là một biển nửa kín, nằm ở rìa Tây Thái Bình Dương, trải rộng từ vĩ
độ 30 lên đến vĩ độ 260 Bắc và từ kinh độ 1000 đến 1210 Đông Biển Đông tiếp giáp với 9 nước là Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Bruney, Malayxia, Singapore, Thái Lan, Camphuchia và một vùng lãnh thổ là Đài Loan Biển Đông
có vị trí chiến lược đối với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng và các quốc gia khác trên thế giới
1.2 Biển Đông Việt Nam
Phần biển Đông thuộc lãnh thổ Việt Nam rộng khoảng trên một triệu km2, trong đó có hai vịnh lớn là vịnh Bắc Bộ (150 000 km2) và vịnh Thái Lan (462 000km2) Phía Bắc và Nam lãnh thổ thềm lục địa mở rộng Tại vịnh Bắc Bộ, thềm lục địa ra cách cửa sông Hồng tới 500km Về phía Nam, thềm lục địa lan xa hơn nữa, nối liền Việt Nam với Malaixia và Inđônêxia Đoạn ven biển Trung Trung Bộ thì thềm lục địa thu rất hẹp, trung bình chỉ khoảng 50km, chỗ hẹp nhất chỉ còn 30km ở mũi Đại Lãnh (Phú Yên)
Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị
và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có Với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100 km2 đất liền có 1km
bờ biển) Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôn gắn với quá trình xây dựng
và phát triển của đất nước và con người Việt Nam
Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nước ta có diện tích biển khoảng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tích Biển Đông Vùng biển nước ta có khoảng 4000 đảo được phân bố khá đều theo chiều dài của bờ biển đất nước, với vị trí đặc biệt quan trọng như một tuyến phòng thủ tiền tiêu để bảo vệ sườn phía Đông của đất nước Một số đảo ven bờ còn có vị trí quan trọng được sử dụng làm các điểm mốc quốc gia trên biển để thiết lập đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam, từ đó xác định vùng nội thủy, lãnh hải, vùng
Trang 2tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, làm cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển
Vùng biển nước ta: bao gồm cả vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
Phạm vi các vùng biển theo luật quốc tê (1982)
đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam
Theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, các quốc gia ven biển có năm (05) vùng biển gồm: Nội thủy nằm bên trong đường cơ sở; lãnh hải có chiều rộng 12 hải lý; vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở; riêng thềm lục địa có thể kéo dài ra tới 350 hải lý Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển nói trên:
(1) Nội thủy: Là vùng nước nằm ở phía trong đường cơ sở của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, nội thủy được coi như lãnh thổ trên đất liền, đặt dưới chủ quyền toàn vẹn đầy đủ và tuyệt đối của quốc gia Việt Nam
Đường cơ sở: là đường ranh giới phía trong của lãnh hải và phía ngoài của nội
thủy, do quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo định ra phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 để làm cơ sở xác định phạm vi của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia Là đường dùng làm căn cứ
để tính chiều rộng lãnh hải và các vùng biển khác Có 2 loại đường cơ sở:
- Đường cơ sở thông thường: Là đường sử dụng ngấn nước thủy triều thấp nhất
ven bờ biển hoặc hải đảo
Trang 3- Đường cơ sở thẳng: Là đường nối các điểm hoặc đảo nhô ra nhất của bờ biển lục
địa hoặc đảo Đường cơ sở thẳng áp dụng khi bờ biển quốc gia ven biển bị chia cắt hoặc có chuỗi đảo gắn liền và chạy dọc theo bờ biển
Nước ta có chuỗi đảo chạy dọc theo bờ biển được vận dụng để xác định đường
cơ sở thẳng Năm 1982, Chính phủ nước ta ra tuyên bố xác định đường cơ sở thẳng ven bờ lục địa Việt Nam gồm 10 đoạn nối 11 điểm Trừ điểm A8 nằm trên mũi Đại Lãnh, các điểm còn lại đều nằm trên các đảo Điểm 0 nằm trên ranh giới phía Tây Nam của vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia Điểm A1: Hòn Nhạn (Kiên Giang); A2: Hòn Đá Lẻ (Cà Mau); A3: Hòn Tài Lớn; A4: Hòn Bông Lan; A5: Hòn Bảy Cạnh (Bà Rịa - Vũng Tàu); A6: Hòn Hải (nhóm đảo Phú Quý - Bình Thuận); A7: Hòn Đôi (Khánh Hòa); A8: Mũi Đại Lãnh (Khánh Hòa); A9: Hòn Ông Căn (Bình Định); A10: Đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi); A11: Đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị)
(2) Lãnh hải: Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải
lý (01 hải lý tương đương 1.852m), ở phía ngoài đường cơ sở Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới của quốc gia ven biển Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982, chủ quyền đối với vùng lãnh hải không phải
là tuyệt đối như vùng nội thủy, tàu thuyền các nước khác được “đi qua không gây hại” trong lãnh hải Các quốc gia ven biển có quyền ấn định các tuyến đường, quy định việc phân chia các luồng giao thông dành cho tàu nước ngoài đi qua lãnh hải nhằm bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích của mình
(3) Vùng tiếp giáp lãnh hải: Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng
12 hải lý, hợp với lãnh hải thành một vùng rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng
để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình nhằm bảo vệ quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam
(4) Vùng đặc quyền kinh tế: Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam tiếp liền vùng lãnh hải và hợp với vùng lãnh hải thành vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế nhằm mục đích kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có thẩm quyền trong bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam
(5) Thềm lục địa: Thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao
gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa
mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ
Trang 4ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ
sở đó Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, nước nào có thềm lục địa tự nhiên quá rộng thì thềm lục địa có thể mở rộng ra không quá 350 hải lý
kể từ đường cơ sở Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên
ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam
II Đặc điểm địa lí biển Đông
2.1 Các yếu tố khí tượng, hải văn
a Khí tượng
*Hướng và tốc độ gió
Từ tháng X đến tháng IV hướng gió Đông Bắc chiếm ưu thế, mạnh nhất vào giữa mùa đông Ngoài hướng Đông Bắc còn có hướng Đông hoặc Đông Nam
Từ thắng V đến tháng IX hướng gió Tây nam chiếm ưu thế Riêng ở vịnh Bắc Bộ hướng Nam chiếm ưu thế Ngoài ra còn có hướng Đông Nam và Tây Nam
Về tốc độ gió trung bình năm, mùa đông gió mạnh hơn mùa hạ, ngoài khơi mạnh hơn vùng ven bờ Ở ngoài khơi mùa hạ khoảng 6-7m/s, mùa đông là 8-9m/s Ở vùng ven bờ mùa hạ khoảng 3-4m/s, mùa đông 5-6m/s.Gió mạnh nhất là gió bão
*Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ không khí trung bình trên biển Đông trên 200C và có xu hướng tăng từ Bắc vào Nam và từ vùng ven bờ ra ngoài khơi, do đường đẳng nhiệt trên phần Bắc biển Đông thường chạy chếch theo hướng Tây Nam- Đông bắc
Ảnh hưởng của gió mùa đông bắc thể hiện rõ rệt qua nhiệt độ không khí thấp nhất trên biển Đông Trên biển Đông vĩ tuyến 160B vẫn là một ranh giới khí hậu quan trọng
*Lượng mưa
Lượng mưa vùng biển ven bờ xấp xỉ với vùng bờ biển liền kề (Cô Tô 1733mm, Hòn Ngư 2099mm, Cồn Cỏ 2278mm Côn Đảo 2095mm) Ra ngoài khơi lượng mưa có xu thế giảm dần do thiếu một vài cơ chế dòng thăng, đối lưu nhiệt và địa hình chắn gió (Bạch Long Vĩ 1127mm, Hoàng Sa 1227mm, Phú Quý 1199mm) Lượng mưa có ảnh hưởng đến sự phát triển của sinh vật trên các đảo và cung cấp nước ngọt cho cư dân trên đảo
*Tầm nhìn xa
Tầm nhìn xa có 9 cấp (50m,100m,500m,1km,2km,4km,10km,20km,50km)thì cấp 5 trở lên(2km)việc đi lại đã thuận lợi Trên biển Đông hầu như tất cả các ngày trong mùa hạ đều có tầm nhìn xa trên 2km Phía Bắc vĩ tuyến 160B trung bình có khoảng 2 ngày trong mùa đông là có sương mù nhưng cũng chỉ buổi sang còn trưa
và chiều đều không có tở ngại đối với giao thông Từ vĩ tuyến 160B vào phía Nam quanh năm không xuất hiện tình trạng sương mù
b.Các yếu tố hải văn
Biển Đông trải dài từ xích đạo đến chí tuyến Bắc, nằm trong vùng nội chí
tuyến nên là một vùng biển có đặc tính nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của gió mùa.
Tính chất nhiệt đới gió mùa được thể hiện rõ trong điều kiện khí tượng, hải văn và sinh vật biển
Trang 5*Nhiệt độ nước biển
Nhiệt độ trung bình năm của không khí trên biển Đông tăng dần từ Bắc xuống Nam, từ vùng ven bờ ra ngoài khơi Ven bờ ở phía Bắc nhiệt độ không khí trung bình năm 22- 240C, từ sau vĩ tuyến 160B, nhiệt độ trung bình năm lên tới 26 - 270C Nước biển tầng mặt có nhiệt độ trung bình năm trên 230C, từ phía nam đảo Cồn Cỏ đạt trên 250C Nhìn chung, nhiệt độ nước biển thường chênh với nhiệt độ không khí khoảng từ 10C đến 20C Tính chất gió mùa thể hiện ở sự biến đổi nhiệt độ không khí trên biển và nhiệt độ nước biển theo mùa trong năm Sự hạ thấp nhiệt độ không khí và nước biển vào mùa đông do gió mùa đông bắc cũng biểu hiện rõ rệt chỉ từ vĩ tuyến 160B trở ra, giống như trên đất liền
*Nhiệt độ nước biển
Nhiệt độ nước biển Đông tầng trên mặt trung bình 230C và biến động theo mùa, theo khu vực và theo độ sâu Nhiệt độ nước biển tăng dần từ trong đất liền ra ngoài khơi, từ Bắc vào Nam Ở miền Bắc, vào mùa đông vùng biển ven bờ nhiệt
độ có thể xuống tới dưới 150C nên biên độ dao động nhiệt lớn Ở phía Nam và ngoài khơi sự dao động mùa không đáng kể vì nhiệt độ luôn cao từ 230C-260C Trong mùa hạ nhiệt độ trên khắp biển Đông tương đối giống nhau, 290C-300C Như vậy sự chênh lệch nhiệt độ Bắc- Nam cũng chỉ mạnh vào mùa đông như trên đất liền Nhiệt độ nước biển giảm theo độ sâu, cường độ giảm phụ thuộc vào độ sâu đáy biển và vị trí vùng biển
*Độ mặn nước biển
Độ mặn nước biển trung bình khoảng 32-33 0/00, thay đổi theo khu vực, theo mùa và theo độ sâu Ngoài khơi có độ mặn cao và ổn định, ven bờ do ảnh hưởng của nước sông ngòi đổ ra mà có sự biến động theo mùa rõ rệt kèm theo là sự giảm sút của độ mặn bình quân và sự khác nhau giữa ba miền
Sự biến động mùa của độ mặn theo sát nhịp điệu mùa khô-mưa và cũng là nhịp điệu mùa lũ-cạn, nói chung độ mặn cao vào mùa khô cạn, thấp vào mùa mưa lũ Khi nước sông đổ ra biển nhiều, độ mặn có thể giảm xuống dưới 240/00 và trở thành nước lợ
Độ mặn nước biển tăng theo độ sâu nhưng sự gia tăng này chỉ mạnh ở ven bờ
do tầng mặt có sự dao động mùa, ngoài khơi chỉ khoảng 1 0/00 Ở Vịnh Bắc Bộ, vào đông xuân sự chênh lệch giữa tầng mặt và tầng đáy khoảng 2-30/00, nhưng cho đến
hè thu sự chênh lệch lên tới 8-140/00
*Sóng
Sóng biển Đông không lớn và bị chi phối bởi chế độ gió mùa cũng như mọi đặc điểm của vùng biển Trong mùa gió đông bắc, tốc độ gió lớn hơn nên sóng cũng nhiều và mạnh hơn trong mùa gió tây nam Sóng gió và sóng lừng từ hướng đông bắc tới và vỗ mạnh vào bờ biển nước ta, nhất là ở Trung bộ
Nơi nhiều sóng và sóng lớn nhất là duyên hải Trung Bộ
*Thủy triều
Chế độ thủy triều ven biển Việt Nam rất đặc biệt và có sự phân hoá mạnh theo khu vực từ Móng Cái đến Hà Tiên.Sóng nhật triều mạnh nhất ở Bắc Bộ sau giảm dần, vào đến Huế là yếu nhất, rồi từ Huế lại mạnh dần cho tới Nam Bộ Sóng bán nhật triều mạnh nhất ở Nam Bộ, từ đó giảm dần ra phía Bắc Bộ và về phía vịnh Thái Lan
Trang 6*Hải lưu
Biển Đông còn là vùng biển tương đối kín Hình dạng khép kín của vùng
biển tạo nên tính chất khép kín của dòng hải lưu với hướng chảy chịu ảnh hưởng của gió mùa Tại hai vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan cũng hình thành những dòng hải lưu chảy theo những vòng tròn nhỏ hơn
2.2 Tài nguyên biển nước ta
a Tài nguyên khoáng sản
Biển Đông góp phần làm giàu tài nguyên thiên nhiên nước ta Vùng thềm lục địa chứa các mỏ khoáng sản trầm tích hữu cơ và trọng sa Khoáng sản có trữ lượng lớn và giá trị nhất là dầu khí Hai bể dầu lớn nhất là bể chứa Nam Côn Sơn có diện tích 70 000km2 và bể chứa Cửu Long diện tích khoảng 23 000km2 hiện đang được khai thác Các bể dầu khí Malai - Thổ Chu và bể Sông Hồng có diện tích nhỏ hơn cũng có trữ lượng đáng kể và còn hơn chục mỏ dầu khí khác đã được xác định Lượng dầu thô khai thác được hàng năm của chúng ta đạt hàng chục triệu tấn Ngoài ra, các mỏ sa khoáng oxit ti tan, băng cháy, các bãi cát ven biển có trữ lượng lớn là nguồn nguyên liệu quý cho ngành công nghiệp Vùng ven biển nước
ta còn thuận lợi cho nghề làm muối, nhất là vùng ven biển Nam Trung Bộ
b Tài nguyên sinh vật
Sinh vật biển Đông tiêu biểu cho vùng biển nhiệt đới giàu thành phần loài và
có năng suất sinh học cao, nhất là ở vùng ven bờ, nơi giàu nguồn thức ăn có mật
độ tập trung sinh vật cao nhất Trong biển Đông có tới trên 2000 loài cá, trên 100 loài tôm, khoảng vài chục loài mực, hàng nghìn loài sinh vật phù du và sinh vật đáy khác Trên các đảo, nhất là tại hai quần đảo lớn Hoàng Sa và Trường Sa, ta còn có nguồn tài nguyên quý giá, các rạn san hô cùng đông đảo các loài sinh vật khác tập trung ven đảo
c Tài nguyên giao thông vận tải biển
Đối với Việt Nam, vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên con đường hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực Điều kiện tự nhiên của bờ biển Việt Nam là tiềm năng to lớn cho ngành giao thông hàng hải Việt Nam Dọc bờ biển Việt Nam xác định nhiều khu vực xây dựng cảng, trong đó có một số nơi có thể xây dựng cảng biển nước sâu như: Cái Lân và một số điểm ở khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, Lạch Huyện, Đình Vũ, Cát Hải, Đồ Sơn, Nghi Sơn, Cửa Lò, Hòn La, Vũng Áng, Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quốc, Vân Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải… Phía Nam, cảng quy mô vừa như Hòn Chông, Phú Quốc… Ngoài sự hình thành mạng lưới cảng biển, các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hóa nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc một cách nhanh chóng và thuận lợi
d Tài nguyên du lịch biển
Trang 7Biển Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển du lịch - ngành công nghiệp không khói, hiện đang đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế của đất nước Do đặc điểm kiến tạo khu vực, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển đã tạo thành nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, nhiều vịnh, bãi cát trắng, hang động, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm
có trên thế giới như di sản thiên nhiên Hạ Long được UNESCO xếp hạng Các thắng cảnh trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha, Bích Động, Non nước…, các di tích lịch sử và văn hóa như: Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm, Nhà thờ đá Phát Diệm… phân bố tại vùng ven biển Tiềm năng du lịch kể trên rất phù hợp để Việt Nam phát triển và đa dạng các loại hình du lịch hiện đại như nghỉ ngơi; dưỡng bệnh; tắm biển; du lịch sinh thái nghiên cứu khoa học vùng ven bờ, hải đảo, ngầm dưới nước; du lịch thể thao: bơi, lặn sâu, lướt ván, nhảy sóng, đua thuyền…
2.3 Thiên nhiên nước ta mang tính bán đảo, chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển
Dải đất liền của nước ta hẹp ngang, kéo dài 15 độ vĩ tuyến, tiếp giáp với biển Đông rộng lớn trên chiều dài 3260 km Biển Đông ảnh hưởng sâu sắc đến tính chất nội chí tuyến gió mùa ẩm của đất liền qua tác động của các khối không khí hải dương và các cơn bão Sự tương tương tác biển- đất liền thể hiện rõ nhất tại vùng
bờ biển và vùng biển nông ven bờ, thông qua sự xâm nhập của nước mặn, sâu nhất
là vào mùa khô và sự đổ ra biển của nước và phù sa sông, xa nhất là vào mùa mưa
lũ , tạo nên một dải cảnh quan nước lợ đặc trưng
Tính bán đảo được thể hiện trước hết ở khí hậu, địa hình ven biển và ở cảnh quan thiên nhiên nước ta Vì thế, thiên nhiên Việt Nam mang tính bán đảo, thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển
a Khí hậu mang tính hải dương điều hoà
Biển Đông rộng và chứa một lượng nước lớn là nguồn dự trữ ẩm làm cho độ ẩm
tương đối của không khí thường trên 80% Các luồng gió hướng đông nam từ biển thổi vào luồn sâu theo các thung lũng sông làm giảm độ lục địa ở các vùng cực tây của đất nước Biển Đông làm biến tính các khối khí đi qua biển vào nước ta Về mùa đông, các dòng khí lạnh khô từ lục địa phương Bắc tràn xuống qua vùng biển nóng ẩm nhận thêm nhiệt và ẩm nên giảm bớt tính chất lạnh khô, mang lại thời tiết mưa phùn cho vùng đồng bằng và ven biển phía Bắc Về mùa hạ, khối khí phương nam từ xích đạo đi lên qua biển Đông trở nên dịu mát hơn Biển Đông đã mang lại cho nước ta một lượng mưa lớn, làm giảm đi tính chất khắc nghiệt của thời tiết lạnh khô trong mùa đông và làm dịu bớt thời tiết nóng bức trong mùa hè Nhờ có biển Đông khí hậu nước ta mang nhiều đặc tính của khí hậu đại dương, điều hoà hơn
b Địa hình ven biển đa dạng và đặc sắc
Các dạng địa hình ven biển nước ta rất đa dạng, đặc trưng cho địa hình vùng biển nhiệt đới ẩm với tác động của quá trình xâm thực - bồi tụ diễn ra mạnh mẽ trong mối tương tác giữa biển và lục địa Đó là các dạng địa hình vịnh cửa sông, các bờ biển mài mòn, các tam giác châu với bãi triều rộng lớn, các bãi cát phẳng lì, các vũng vịnh nước sâu, các đảo ven bờ và những rạn san hô có nhiều giá trị về kinh
tế và du lịch
Trang 8c Cảnh quan thiên nhiên rừng ưu thế
Lượng mưa ẩm cao do biển Đông mang lại làm xúc tiến mạnh mẽ cường độ vòng tuần hoàn sinh vật vốn đã thuận lợi trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nước ta Nhờ vậy, rừng nguyên sinh khí hậu ở nước ta là kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm xanh quanh năm có năng suất sinh học rất cao Ngay cả rừng thứ sinh mọc lại cũng phần lớn là rừng kín thường xanh Ngoại trừ một số địa phương có khí hậu khô khan hoặc những nơi đất đai bị khai thác kiệt quệ, còn hầu như khắp mọi nơi trên đất nước màu xanh bao phủ do quá trình tái sinh, hồi phục rừng diễn ra mau chóng Địa hình đồi núi chiếm chủ yếu khiến cho cảnh quan rừng là tiêu biểu cho thiên nhiên nước ta Cảnh quan rừng ưu thế đã thay thế cảnh quan sa mạc, bán sa mạc nhiệt đới, cận nhiệt đới mà ta thấy ở các nước có cùng vĩ độ thuộc Tây Nam Á và Bắc Phi
Biển Đông còn mang lại cho tài nguyên rừng nước ta diện tích rừng nhiệt đới ẩm thường xanh ngập mặn ven biển khá rộng, nguyên có tới 450.000 ha, riêng Nam Bộ 300.000 ha Rừng ngập mặn ở nước ta lớn thứ hai trên thế giới sau rừng ngập mặn Amazôn ở Nam Mĩ Hệ sinh thái rừng ngập mặn cho năng suất sinh học cao, đặc biệt là sinh vật nước lợ Tuy nhiên, hiện nay rừng ngập mặn bị thu hẹp rất nhiều chỉ còn khoảng 15% diện tích (68.303 ha, năm 2003)
d.Thiên tai
Bão, sóng lừng, nước dâng là những thiên tai do biển Đông gây ra làm ảnh hưởng không nhỏ đến cảnh quan thiên nhiên và sự phát triển kinh tế xã hội nước
ta Mỗi năm trung bình vùng đồng bằng và ven biển nước ta đón nhận 3 - 4 cơn bão trực tiếp từ biển Đông đổ vào Năm bão nhiều có tới 8 10 cơn, năm ít cũng 1
2 cơn bão Bão qua biển Đông gây mưa to, lượng mưa đột ngột tăng lên đến 300 -400mm trong một ngày đêm, nước dâng nhanh, gió giật mạnh, sóng lớn làm phá huỷ các công trình xây dựng, đắm chìm tàu bè và làm ngập mặn đất đai Những đợt sóng lớn (sóng lừng) do gió bão gây nên có thể rất cao, độ cao cực đại ở Cô
Tô, Bạch Long Vĩ là 6 - 7m, ở Hoàng Sa, Trường Sa đến 11m Bão lớn, sóng lừng, nước dâng là những thiên tai bất thường, khó phòng tránh vẫn thường xuyên hàng năm đe doạ, gây hậu quả nặng nề cho vùng đồng bằng ven biển nước ta, nhất là vùng ven biển Trung Bộ Ngoài ra còn hiện tượng sạt lở bờ biển, cát bay, cát lấn ruộng đồng, làng mạc, triều cường,
III Các đảo và quần đảo có ý nghĩa chiến lược trong việc bảo vệ an ninh quốc phòng
3.1 Các đảo, quần đảo
a Thuộc vùng biển nước ta có hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ
- Có những đảo đông dân như: Cái Bầu, Cát Bà, Lý Sơn, Phú Quý, Phú Quốc
- Có những đảo chụm lại thành quần đảo như: Vân Đồn, Cô Tô, Cát Bà, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Côn Đảo (còn gọi là quần đảo Côn Sơn), quần đảo Nam Du, quần đảo Thổ Chu
Căn cứ vị trí chiến lược và các điều kiện địa lý, kinh tế, dân cư người ta có thể chia các đảo, quần đảo thành các nhóm:
Trang 9- Hệ thống đảo tiền tiêu, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Đó là các đảo, quần đảo: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Bạch Long Vĩ
- Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Đó là các đảo như: Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc…
- Các đảo ven bờ gần đất liền, có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn cứ để bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta Đó là các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà (Hải Phòng), huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang) v.v
* Quần đảo Hoàng Sa
Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 30 đảo, đá, cồn san hô và bãi cạn, nằm ở khu vực biển giữa vĩ độ 150 45’00”N - 170 15’00” và kinh độ 111000’00”E -
1130 00’00”E trên vùng biển có diện tích 30.000km2, cách đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) khoảng 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 140 hải lý Diện tích toàn bộ phần đất nổi của quần đảo khoảng 8km2 Quần đảo Hoàng Sa chia thành hai nhóm An Vĩnh (còn gọi là nhóm Đông - Bắc) và Trăng Khuyết (còn gọi là nhóm Tây)
- Nhóm phía Đông có tên là An Vĩnh, gồm khoảng 12 đảo nhỏ và một số đảo san
hô, Trong đó có 2 đảo lớn là Phú Lâm và Linh Côn, mỗi đảo rộng 1,5 km2
- Nhóm phía Tây gồm nhiều đảo xếp vòng cung nên gọi là nhóm Trăng khuyết (hay còn gọi là nhóm lưỡi liềm): trong đó có các đảo Hoàng Sa, Quang Ảnh, Hữu Nhật, Quang Hoà, Duy Mộng, Lưỡi Liềm, bãi Xà Cừ, đảo Bạch Quy, Chim Én, Tri Tôn…và các bãi đá ngầm, trong đó có đảo Hoàng Sa (dài 950m, rộng khoảng 650m, diện tích 0,32km2)
Trên đảo Hoàng Sa có trạm khí tượng của Việt Nam hoạt động từ năm 1938 đến
1974, được tổ chức khí tượng quốc tế đặt số hiệu 48-860 (số 48 chỉ khu vực Việt Nam)
* Quần đảo Trường Sa
Quần đảo Trường Sa nằm giữa Biển Đông về phía Đông Nam nước ta, phía Bắc là quần đảo Hoàng Sa, phía Đông giáp biển Philippin, phía Nam giáp biển Malaixia, Brunây và Inđônêxia
Từ trung tâm quần đảo Trường Sa đến biển của Malaixia khoảng 250 hải lý, đến biển của Philippin khoảng 201 hải lý, đến biển của Brunây khoảng 320 hải lý, đến đảo Nam Hải khoảng 585 hải lý và đến đảo Đài Loan khoảng 810 hải lý; cách Cam Ranh khoảng 243 hải lý, cách Vũng Tàu 440 hải lý
Quần đảo Trường Sa gồm trên 100 hòn đảo nhỏ và bãi san hô với diện tích vùng biển rộng khoảng 410.000km2 nằm ở giữa vĩ độ 6 0 30’ đến 12 0 Bắc và kinh
độ 109 0 30’ đến 117020’ Đông
Diện tích toàn bộ phần đảo nổi của quần đảo khoảng 3km2, được chia làm 8 cụm (Song Tử, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên), đảo cao nhất là Song Tử Tây (khoảng 4 - 6m), đảo lớn nhất là đảo
Ba Bình (0,44km2), sau đó là đảo Nam Yết (0,06km2)
Trang 10Khoảng cách giữa các đảo cũng khác nhau, gần nhất từ đảo Song Tử Đông đến Song Tử Tây khoảng 1,5 hải lý, xa nhất Song Tử Tây (phía Bắc) đến An Bang (phía Nam) khoảng 280 hải lý
b Các huyện đảo ở nước ta (đến năm 2006)
-Huyện đảo Vân Đồn và huyện đảo Cô Tô (tỉnh Quảng Ninh)
- Huyện đảo Cát Hải và huyện đảo Bạch Long Vĩ (thành phố Hải Phòng)
- Huyện đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị)
-Huyện đảo Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng)
- Huyện đảo Lí Sơn (tỉnh Quảng Ngãi)
- Huyện đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hoà)
- Huyện đảo Phú Quý (tỉnh Bình Thuận)
- Huyện đảo Côn Đảo (tỉnh Bình Thuận)
- Huyện đảo Kiên Hải và huyện đảo Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang)
3.2 Vấn đề an ninh- quốc phòng trên biển Đông, các đảo, quần đảo
* Vai trò
Biển nước ta được ví như mặt tiền, sân trước, cửa ngõ quốc gia; biển, đảo, thềm lục địa và đất liền hình thành phên dậu, chiến lũy nhiều lớp, nhiều tầng, bố trí thành tuyến phòng thủ liên hoàn bảo vệ Tổ quốc
- Các đảo và quần đảo tạo thành hệ thống tiền tiêu bảo vệ đất liền, hệ thống căn cứ
để nước ta tiến ra biển và đại dương khai thác có hiệu quả các nguồn lợi vùng biển, hải đảo và thềm lục địa
- Việc khẳng định chủ quyền của nước ta đối với các đảo và quần đảo có ý nghĩa là
cơ sở khẳng định chủ quyền của nước ta đối với vùng biển và thềm lục địa quanh đảo
- Biển Đông có tầm quan trọng về vị trí chiến lược và tài nguyên biển vô cùng phong phú
*Tranh chấp
biển Quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa là hai quần đảo trên các rạn san
hô ở Biển Đông, trong đó quần đảo Hoàng Sa đang là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan Quần đảo Trường Sa là nơi tranh chấp chủ quyền của 6 quốc gia và lãnh thổ: Trung Quốc, Đài Loan,Việt Nam, Philippin, Malaysia và Brunei Các quốc gia này tuyên bố chủ quyền toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa
Lịch sử dân tộc đã ghi nhận có tới 2/3 cuộc chiến tranh, kẻ thù đã sử dụng đường biển để tấn công xâm lược nước ta Những chiến công hiển hách trên chiến trường sông biển đã minh chứng: Ba lần đại thắng quân thù trên sông Bạch Đằng (năm 938, 981 và 1288); chiến thắng trên phòng tuyến sông Như Nguyệt 1077; chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785 và những chiến công vang dội của quân và dân ta trên chiến trường sông biển trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là những minh chứng ghi đậm dấu ấn không bao giờ mờ phai trong lịch sử dân tộc
Ngày nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biển đảo Việt Nam có vai trò quan trọng, làm tăng chiều sâu phòng thủ đất nước ra hướng biển Do đặc