Sự biểu hiện củatình đồng chí và sức mạnh của nó được tác giả gợi bằng hình ảnh ở những câu thơ tiếp: “ Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước, gố
Trang 1ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN 9
Đề ra: Trong truyện “Người con gái Nam Xương” nhân vật Trương Linh vội tin câu
nói ngây thơ của con trẻ đã nghi oan cho Vũ Nương ruồng rẫy và đánh đuỗi nàng đi Vũ Nương bị oan ức nên nhảy xuống sông tự vẫn.
Em hãy đọc kĩ lại tác phẩm và tìm xem có những chi tiết nào trong truyện tác giả muốn hé mở khả năng có thể tránh được thảm kịch đau thương cho Vũ Nương Những nguyên nhân nào làm cho thảm kịch đó vẫn diễn ra dẫn đến cái chết đau thương cũa người phụ nữ đức hạnh?
Em hãy bình luận về nguyên nhân cái chết đó.
HƯỚNG DẪN
1 Đọc kĩ tác phẩm, nắm vững chi tiết, độc lập suy nghĩ để tìm ra những chi tiết mà đềyêu cầu Tài thắt nút và mở nút là ở chỗ ấy Mỗi em tìm tòi theo cách của mình miễn làhợp lí
2 Bình luân về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương Có nguyên nhân trực tiếp do tính nếtcá nhân của Trương Linh và nguyên nhân sâu xa của chế độ xã hội từ đó tìm ra ý nghĩa tốcáo và nhân đạo của tác phẩm
BÀI VIẾT THAM KHẢO
“Truyền kì mạn lục” là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta thế kỉ XVI, một tập truyện văn thơ đầu tiên bằng chữ Hán ở Việt Nam Truyện “Người con gái Nam
Xương” là một truyện hay trong tác phẩm
Truyện kể rằng, Vũ Thị Thiết là một phụ nữ đức hạnh ở Nam Xương, chồng làTrương Linh, người nhà giàu nhưng không có học, tính lai đa nghi Triều đình bắt lính,Trương Linh phải tòng quân trong khi vợ đang mang thai Chồng đi xa mới được mườingày thì nàng sinh con trai đặt tên là Đản Năm sau, giặc tan, việc quân kết thúc, TrươngLinh trở về thì con đã biết nói, nhưng đứa trẻ nhất định không nhận Trương Linh làm bố
Nó nói: “Ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi
trước kia chỉ thin thít Trước đây thường có một ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.”
Tính Trương Linh hay ghen, nghe con nói vậy đinh ninh rằng vợ hư, đã vu oan choVũ Nương, ruồng rẫy và đánh đuổi nàng đi Vũ Nương bị oan ức đã nhảy xuống sông tựvẫn
Đọc kĩ tác phẩm, em thấy truyện không phải không hé mở khả năng có thể dễ dàngtránh được thảm kịch đau thương đó Tài kể chuyện của tác giả là ở chỗ đó, cởi ra rồi lạithắt vào đẫy câu chuyện đi tới, khiến người đọc hứng thú theo dõi và suy nghĩ, chủ đề củatác phẩmtừng bước nổi lên theo dòng kể của câu chuyện Lời con trẻ nghe như thật màchứa đựng không ít điều vô lí không thể tin ngay được, nếu Trương Linh biết suy nghĩ,
người cha gì mà lạ vậy: “không biết nói, chỉ nín thin thít” chẳng bao giờ bế con mình, mà hệt như “cái máy” - “mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi” Câu nói đó của đứa trẻ
chẳng phải là một câu đố, giảng giải được thì cái chết của Vũ Nương sẽ không xảy ra.Nhưng Trương Linh cả ghen, ít học, thiếu suy nghĩ, đã vô tình bỏ dở khả năng giải quyết
Trang 2tấm thảm kịch, dẫn tới cái chết oan uổng của người vợ mà chàng không phải không có tìnhyêu thương Tất nhiên sự đời có thế mới thành chuyện, vả lại trên đơì làm gì có sự ghentuông sáng suốt.
Bi kịch có thể tránh được khi vợ hỏi chuyện kia ai nói, chỉ cần Trương Linh kể lạilời con nói mọi chuyện sẽ rõ ràng Vũ Nương sẽ chứng minh cho chồng rõ ở một mìnhnàng hay đùa với con trỏ vào bóng mình và nói là cha Đản Mãi sau này, một đêm phòngkhông vắng vẻ, ngồi buồn dưới bóng đèn khuya, chợt người con chỉ vào bóng mình trênvách mà bảo đó là cha nó, Trương Linh mới tỉnh ngô, thấu hiểu nỗi oan của vợ thì mọichuyện đã xong Vũ Nương không còn nữa trên đời
Câu chuyện bắt đầu từ một bi kịch gia đình, một chuyện trong nhà, một vụ ghentuông Không ít tác phẩm xưa nay đã viết về cái chuyện thường tình đầy tai hoạ này Vũnương không may lấy phải người chồng cả ghen, nguyên nhân trực tiếp dẫn nàng đến cái
chết bi thảm là “máu ghen” của người chồng nông nổi Nhưng sự thực vẫn là sự thực!cái
chết oan uổng quá và người chồng độc đoán quá!
Một phụ nữ đức hạnh, tâm hồn như ngọc sáng mà bị nghi oan bởi một chuyện khôngđâu ở một lời con trẻ, một câu nói đàu của mẹ với con mà phải tìm đến cái chết bi thảm,
ai oán trong lòng sông thăm thẳm Câu chuyện đau lòng vượt ra ngoài khuôn khổ cuả mộtgia đình, nó buộc chúng ta phải suy nghĩ tới số phận mong manh của con người trong mộtxã hội mà những oan khuất, bất công, tai hoạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với họ mànhững nguyên nhân dẫn đến nhiều khi rất lạ lùng không thể lường trước được Đó là xãhội phong kiến ở nước ta, nhất là ở thời nó đã suy vong Xã hội đó đã sinh ra những chàng
Trương Linh, những người đàn ông đặc đầu óc “nam quyền”, chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ Tính ghen tuông của cá nhân cộng với tư tưởng “nam quyền” trong xã hội đã
làm nên một Trương Linh độc đoán đến kỳ cục, khư khư theo ý riêng, nhất thiết khôngnghe ý kiến của người khác Đứa trẻ nói thì tin ngay, còn vợ than khóc giãi bày thống thiếtthì nhất định không tin, họ hàng, làng xóm phân giải công minh cũng chẳng ăn thua gì.Hậu quả là cái chết thảm thương của Vũ nương mà nguyên nhân sâu xa là chế độ phong
kiến bất công cùng chế độ “nam quyền” bất bình đẳng của nó đã gây ra bao nhiêu tao hoạ
cho người phụ nữ nói riêng và con người thời đó nói chung
Đề ra: Phân tích bài thơ “Đồng chí” của chính Hữu ( Ngữ văn 9 - Tập 1).
HƯỚNG DẪN CÁCH VIẾT:
Bài thơ “Đồng chí” ra đời vào đầu năm 1948, sau chiến dịch Việt Bắc của quân và
dân ta đánh thắng cuộc tiến công quy mô lớn của thực dân Pháp cuối năm 1947 lên khucăn cứ địa Việt Bắc Nhà thơ Chính Hữu lúc đó là chính trị viên đại đội thuộc trung đoànThủ đô, cùng đơn vị của mình tham gia chiến đấu suốt chiến dịch Đầu năm 1948 ChínhHữu viết bài thơ này Bài thơ là kết quả của những trãi nghiệm thực va những cảm xúc sâu
xa của tác giả với đồng đội trong chiến dịch Việt Bắc Bài thơ nói về tình đồng đội, đồngchí thắm thiết, sâu nặng của những người lính cách mạng mà phần lớn họ xuất thân từnông dân Đồng thời bài thơ cũng thể hện lên hình ảnh chân thực, giản dị mà cao đẹp của
Trang 3anh bộ đội trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp còn rất khó khănthiếu thốn.
Bài thơ” Đồng Chí” viết theo thể thơ tự do, với hai mươi dòng thơ, chia làm ba đoạn Cả bài thơ đều tập trung vào thể hiện chủ đề về tình”Đồng Chí”.
Cái bắt gặp đầu tiên của những người lính là từ những ngày đầu gặp mặt Họ đều có
sự tương đồng về cảnh ngộ nghèo khó ”quê hương anh nước mặn đồng chua, lành tôi
nghèo đất cày lên sỏi đá” Những người lính là những người của làng quê nghèo lam lũ,
vất vả với cày cấy, ruộng đồng với những làng quê khác nhau Họ từ các phương trời
không hề quen nhau ”từ muôn phương về tụ hội trong hàng ngũ của những người lính cách
mạng” Đó chính là cơ sở của tình đồng chí sự đồng cảm giai cấp của những người lính
cùng chung nhiệm vụ chiến đấu để giải phóng quê hương, đất nước Diễn đạt ý nghĩa đó,tác giả đã diễn tả bằng hình ảnh:
“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”
“Súng - đầu” sát bên nhau là tượng trung cho ý chí và tình cảm, cùng chung lí tưởng,
nhiệm vụ chiến đấu, sát cánh bên nhau Tình đồng chí, đồng đội nảy nở và hình thành bềnchặt trong sự chan hoà và chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui Đó là mối tình tri kỉ củanhững người bạn chí cốt mà tác giả đã biểu hiện bằng một hình ảnh cụ thể, giản dị mà hết
sức gợi cảm: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” Sau câu thơ này, nhà thơ hạ một câu, một dòng thơ, hai tiếng “Đồng chí” vang lên như một “nốt nhấn”, là sự kết tinh của mọi cảm xúc, mọi tình cảm Câu thơ “Đồng chí” vang lên như một phát hiện, một lời khẳng
định, đồng thời lại như một cái bản lề gắn kết đoạn đầu với đoạn thứ hai của bài thơ Dòng
thơ hai tiéng “Đồng chí” như khép lại, như lắng sâu vào lòng người cái tình ý sáu câu thơ
đầu của bài thơ, như một sự lí giải về cơ sở của tình đồng chí Sáu câu thơ trước hai tiếng
“Đồng chí” ấy là cội nguồn và sự hình thành của tình đồng chí keo sơn giữa những người
đồng đội
Mạch cảm xúc và suy nghĩ trong bài thơ được triển khai trong đoạn thơ thứ hai lànhững biểu hiện cụ thể của tình đồng chí và sức mạnh của tình đồng chí Sự biểu hiện củatình đồng chí và sức mạnh của nó được tác giả gợi bằng hình ảnh ở những câu thơ tiếp:
“ Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính”
“Đồng chí”- đó là sự cảm thông sâu xa những tâm tư, nỗi lòng của nhau Ba câu thơ
trên đưa người đọc trở lại với hoàn cảnh riêng của những người lính vốn là những ngườinông dân đó Họ ra đi trở thành những người lính nhưng mỗi người có một tâm tư, một nỗilòng về hoàn cảnh gia đình, người thân, công việc đồng quê Họ gửi lại tất cả cho hậuphương, gửi bạn thân cày cấy ruộng nương của mình Họ nhớ lại những gian nhf trống
không “mặc kệ gió lung lay” Nhưng đành để lại, đành gửi lại, họ phải ra đi vì nghĩa lớn
“cứu nước, cứu nhà.”
Giờ ở tiền tuyến, họ nhớ về hậu phương với một tình cảm lưu luyến khó quên Hậu
phương, tiền tuyến (người ở lại nơi giếng nứơc, gốc đa)không nguôi nhớ thương người thân
Trang 4của mình là những người lính nơi tiền tuyến Tuy dứt khoát, mạnh mẻ ra đi nhưng nhữngngười lính không chút vô tình Trong chiến đấu gian khổ, hay trên đường hành quân họđều nhớ đến hậu phương- những người thân yêu nhất của mình:
“ Ôi! Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồi hồi nhớ mắt người yêu”
(Nguyễn Đình Thi)
“Đồng chí”-đó là cùng chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính
với những hình ảnh chân thực, xúc động, gợi tả và gợi hình (từng cơn ốm lạnh sốt run
người, vầng trán ướt mồ hôi,áo rách vai, quần vài mãnh vá, miệng cười buốt giá, chân không giày) những ngày tháng ở rừng.
Để diển tả được sự gắn bó, chia sẻ, sự giống nhau vế cảnh ngộ người lính tác giả đãxây dựng những câu thơ sóng đôi, đối ứng với nhau trong từng cặp, từng câu:
“ Anh với tôi biết từng cơn ốm lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”
Miệng cười buốt giá Chân không giày”
Sức mạnh nào đã giúp họ vượt qua tất cả?
Hình ảnh” thương nhau tay nắm lấy bàn tay” biểu hiện thật giản đị và xúc động của
tình cảm đồnh chí, đồng đội thiêng liêng của những người lính Tình cảm đó là nguồn sức
mạnh và niềm vui để họ vượt qua Cái “bắt tay”(như bàn tay biết nói) chính là tình cảm
của người lính truyền cho nhau sức mạnh và niềm tin để họ vượt qua tất cả những gian lao,thiếu thốn, thử thách trong chiến đấu
Tình đồng chí, đồng đội còn biểu hiện ở sự thử thách Đoạn thơ cuối thật cô đọngbằng hình ảnh khi nhà thơ viết:
“Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo”.
Đây là một bức tranh đẹp của tình đồng chí, đồng đội- một bức tranh đặc sắc và có ýnghĩa
Bức tranh trên là mội cảnh thực trong mội đêm phục kích “chờ giặc tới” tại một cảnh ”rừng hoang sương muối” hoang vắng lạnh lẻo nổi bập lên ba hình ảnh gắn kết với nhau ”vầng trăng khẩu súng và người lính” vầng trăng như treo khẩu súng của người lính Người lính thì “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”.
Câu thơ “đầu súng trăng treo” (chỉ có 4 chữ) gây cho người đọc một sự bất ngờ lí thú
“ súng và trăng” sao lại hoà quỵên vào nhau đẹp thế! Hình ảnh thơ nói lên ý nghĩa cao
đẹp của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của anh bộ đội cụ Hồ trong những năm đầu khánhchiến chống Pháp
Bài thơ có ba khổ, ba tứ thơ, chủ yếu tạo thành ý chung xuyên suốt toàn bài thơ
“Đồng chí”.“Đồng chí-thương nhau nắm lấy bàn tay-đầu súng trăng treo”
Trang 5Bài thư hàm xúc, mộc mạc, chân thực trong sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, giợi tả, cósức khái quát cao, khắc hoạ được một trong những phẩm chất tốt đẹp của anh bộ đôi cụHồ Đó là mối tình đồng chí, đồng đội gắn bó, keo sơn, thắm đượm tình cảm, gian khổ cónhau, sống chết có nhau Bài thơ có thực, có mơ toạ nên vẻ đẹp của bài thơ, gây cho người
đọc những suy tư sâu sắc những cảm xúc sâu lắng Bài thơ “Đồng chí” có những nét thành
công trong việc khắc hoạ hình ảnh người lính cách mạng trong thơ ca kháng chiến
Đề ra: Phân tích bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”của Phạm Tiến Duật
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Phạm Tiến Duật là nhà thơ trẻ và lớn lên “trong sắc áo của anh bộ đội Trường Sơn”
giữa những ngày ác liệt nhất của cuộc chiến tranh nhân dân chống Mỹ
Tiếng thơ Phạm Tiến Duật hình thành và lớn lên với những bài thơ “ Trường Sơn
đông-Trường Sơn tây, lửa đèn, giửi em cô thanh niên xung phong, nhớ ”đã góp phần trẻ
hoá thơ Việt Nam thời chống Mỹ Bài thơ “bài thơ về tiểu đội xe không kính” được rút ra trong tập thơ “vầng trăng-quầng lửa” của tác giả Trong bài thơ tác giả đã xây dựng một hìng tượng độc đáo những “chiếc xe không kính” chắn gió vẫn băng băng trên đường ra
trận vì chiến trường miền Nam ruột thịt
Mở đầu bài thơ, tác giả đã giải thích vì sao tất cả xe trong tiểu đội đều “không có
kính” vì bom đạn giặc Mỹ làm “kính vỡ đi rồi” Chỉ một chi tiết nhỏ “không có kính vì xe không có kính-bom giật, bom rung kính vỡ mất rồi” tác giả đã làm cho người đọc hiểu được
sự ác liệt, tàn bạo của cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ gây ra Những chiếc xe này đã làmnổi bật hình ảnh những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong những nămchống Mỹ cứu nước
Thế mà, những người lính trên những chiếc “xe không kính” vẫn “ung dung buồng
lái ta ngồi nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng!”
Thái dộ ung dung và “cái nhìn” của anh lái xe như bất chấp, coi thường tất cả nguy hiểm ở phía trước mác dù “bụi phun tóc trắng như người già”, cho dù “mưa tuôn mưa xối
như ngoài trời” các anh vẫn “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” hoặc tếu táo “phì phèo châm điếu thuốc” hay “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.”
Hình ảnh trong các câu thơ trên đã làm nổi rõ cái hiên ngang, dũng cảm, bất chấpmọi nguy hiểm của các chiến sĩ lái xe, để lái những chiếc xe không kính ra mặt trận vớimột niềm tin niềm vui của tuổi trẻ
Khung kính đã bị vỡ, không có gì để chắn gió trời ùa vào, đập thẳng vào mắt Thế
mà, tác giả lại viết: “ nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng”.
“ Xoa” là cử chỉ nhẹ nhàng vuốt ve âu yếm Qua cách diễn đạt của câu thơ thì ở đây,
gió không làm đau, làm rát mắt của người lái xe mà ngược lại gió còn vỗ về nhè nhẹ vào
đôi mắt “đắng” Và, con đường trước mặt- con đường ra trận trở nên gần sát hơn đang chạy ngược lại “Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim” Vì không có kính chắn, nên người lái xe có cảm giác và ấn tượng “Con đường chạy thẳng vào tim” Con đường thực
trước mặt đó củng chính là con đường được nhà thơ nâng lên thành con đường lý tưởng con
Trang 6đường cách mạng , con đường ở trong trái tim của người chiến sĩ Chính là con đường đóđã giúp cho cac chiến sĩ lái xe thêm sức mạnh, niềm tin, bất chấp bom đạn của kẻ thù, tiến
lên phía trước: “ Thấy sao trời và đột ngột cánh chim- như sa như ùa vào buồng lái” Người lái xe vẫn vui với “ sao trời” và “Cánh chim”, “ sao trời và cánh chim” ngày đêm như bầu
bạn với người lính lái xe Ngày cũng nhưu đêm, thiên nhiên, đất trời luôn sát cánh vớingười chiến sĩ lái xe trên suốt chặng đường dài ra trận Với nghệ thuật nhân hoá tài tình,nhà thơ đã biến những khó khăn trở ngại khio lái những chiếc xe không kính trở thành gầngủi gắn bó thân thương hơn Giọng điệu thơ có khi thật ngang, tự nhiên, bất chấp gian khổ
được thể hiện rõ trong cấu trúc đựoc lặp lại “ Ừ thì ”, “Chưa cần rửa”, “Chưa cần
thay” , “Lái trăm cây số nữa ” Dường như gian khổ nguy hiểm, ác liệt của chiến tranh
không làm ảnh hưởng đến tinh thần của họ, trái lại, những người lính lái xe xem như là
một nhịp để rèn thử thách sức mạnh và ý chí của mình “ chí làm trai” -tuổi trẻ người lính”.
Những người lái xe còn là những chàng trai trẻ, sôi nổi, vui nhộn, lạc quan Họ
“nhìn nhau”, “bát tay nhau”, và trên đường ra trận thì “ bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”, và cứ thế “ võng mắc chong chênh đường xe chạy”,
trời-trước mắt họ những chiếc xe lại tiến lê phía trời-trước, là ta cứ đi, lại đi “trời xanh thêm” không
có gì ngăn cản đuợc đường ra mặt trận
Cái gì đẫ làm nên sức mạnh ở họ để coi thường gian khổ bất chấp gian nan như vậy?Đó chính là ý chí chiến đấu để giải phóng miền nam là tình yêu nước nồng nhiệt ở tuổi trẻthời đánh Mỹ cứu nước
Những chiếc xe bị bom đạn Mỹ làm cho biến dạng trơ trụi, trụi trần ”Không có kính
rồi xe không đèn- không có mui xe, thùng xe có xước” Nhưng điều kì lạ là những chiếc xe
trụi trần ấy vẫn chạy, vẫn băng ra tiền tuyến Tác giả lại một làn nữa lí giải bất ngờ và rất
chí lí: “chỉ cần trong xe có một trái tim” Trái tim người lính cách mạng- trái tim của lòng
quả cảm
Với lời thơ tự nhiên như lời nói bình thường, giọng điệu thơ gần gủi, vui tươi, dí dỏm,bài thơ đã nêu bật hình ảnh người lái xe trên tuyến đường Trường Sơn: dũng cảm hiênngang, với niềm vui sôi nổi, lạc quan yêu đời bất chấp mọi khó khăn, nguy hiểm để ra trận
vì Miền Nam ruột thịt thân yêu Họ luôn đối diện với khó khăn thử thách, mà vẫn cườiđùa, tếu táo, hồn nhiên, tự tin Đó là nét đặc sắc của bài thơ cũng như ngôn ngữ, giọngđiệu riêng của thơ Phạm Tiến Duật Hôm nay đất nước dã hoà bình sau hơn 30 năm giảiphóng Miền Nam con đường Trường Sơn đã đi vào lịch sử, đọc lại bài thơ này, chúng tacàng tự hào và khâm phục biết bao các chiến sĩ lái xe ở Trường Sơn ngày trước cùng bộđội Trường Sơn đã góp phần vào chiến thắng huy hoàng của dân tộc
Đề ra: Cảm nhận của em về chân dung người lính lái xe trong “ Bài thơ tiểu đội xe
không kính” của Phạm Tiến Duật
Phạm Tiến Duật là nhà thơ nổi lên từ phong trào chống Mỹ cứu nước Năm 1964, tốtnghiệp khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội I Ông vào bộ đội và xung phong vàotuyến lửa khu Bốn
Trang 7Từng là lính lái xe nên ông có những bài thơ viết rất hay về binh chủng này “ Tiểu
đội xe không kính” là một bài thơ tiêu biểu.
Bài thơ là khúc hát ca ngợi những người lính lái xe đã đã vượt lên hiện thực dữ dội,ác liệt của khói lửa chiến tranh thời chống Mỹ để hoàn thành nhiệm vụ
Bài thơ đã xây dựng một hình tượng độc đáo đó là những chiếc xe, nói cho đúng làcả một tiểu đội xe không có kính chắn gió, chắn bụi băng băng ra trận Mà độc đáo thật,
vì chỉ gặp ở Việt Nam, ở những chiến sĩ lái xe quân sự thời chống Mỹ Có thể nói “chất”
độc đáo này được lên men từ chiến trường ác liệt:
“Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”
Nguyên nhân xe không kính là vậy Đấy là mội hiện thực trần trụi mà tác giả khôngthể hư cấu
Bên cạnh hiện thực trần trụi đấy là hình ảnh người lính lái xe hiện lên rất đẹp Cứtưởng với hiện thực dữ dội, ác liệt, trớ trêu ấy, người lính lái xe phải bó tay, thế nhưng vẫnnổi lên với tư thế:
“Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”
Nghĩa là xe cứ đi Không những ung dung mà người lính lái xe còn tỏ ra rất chủđộng, hiên ngang vượt lên tất cả
Nói đến người lái xe là nói đến con mắt, nói đến cái nhìn Tô đậm cái nhìn của
người lái xe, chỉ trong một dòng thơ, tác giả đã sử dụng 3 lần từ “nhìn” (điệp từ) Nhìn trời
là để phát hiện máy bay hay pháo sáng về ban đêm Nhìn thẳng là cái nhìn nghề nghiệp,hiên ngang Và cũng từ ca - bin không kính, qua cái nhìn đã tạo nên những ấn tượng, cảmgiác rất sinh động, cụ thể đối với người lái xe:
“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái”
Những cảm giác này, dù mang ý nghĩa tả thực hay tượng trưng, đều thể hiện cái thếung dung tinh thần vượt lên của người lái xe
Hai khổ thơ tiếp, hình ảnh người lái xe được tô đậm Cái tài của Phạm Tiến Duật trongkhổ thơ này là cứ hai câu đầu nói về hiện thực nghiệt ngã phải chấp nhận thì hai câu saunói lên tinh thần vượt lên hoàn cảnh để chiến thắng hoàn cảnh của người lái xe trong thờigian chiến tranh ác liệt
Xe không kính nên “bụi phun tóc trắng như người già” là lẽ đương nhiên, xe không có kính nên “ướt áo, mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời” là lẽ tất nhiên.
Những cụm từ “ừ thì có bụi”, “ừ thì ướt áo” chứng tỏ họ không những đã ý thức
được mà còn rất quen với những gian khổ đó
Chính vì thế:
“Chưa cần lửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”
Trang 8Và cao hơn:
”Chưa cần thay lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi.”
Đây là những câu thơ đậm chất người lính, nói rất đúng tinh thần và cuộc sống của
người lính Các động tác “phì phèo châm điếu thuốc” tuy có vụng về nhưng sao đáng yêu thế? Cái cười “ha ha” nở ra trên khuôn mặt lấm lem của mọi người sao mà rạng ngời đến
thế? Bởi vậy, đọc những câu thơ này giúp ta hiểu được phần nào cuộc sống của người línhngoài chiến trường những năm tháng đánh Mỹ Đó là cuộc sống gian khổ trong bom đạnác liệt nhưng tràn đầy tinh thần lạc quan, yêu đời và tinh thần hoàn thành nhiệm vụ cao
Hai khổ thơ tiếp nói về cảnh sinh hoạt và sự họp mặt sau những chuyến vận tải trên
những chặng “đường đi tới” Vẫn những câu thơ có giọng điệu riêng, đậm chất văn xuôi
rất riêng của Phạm Tiến Duật đã thể hiện được tình đồng chí, đồng đội trong kháng chiến
Ở hai khổ thơ này, tác giả vẫn tô đậm cái hình tượng thơ “xe không kính”, nhưng lại có
cách nói khác rất lính:
“Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”
Khổ thơ cuối cùng, kết thúc bài thơ, tác giả muốn nói với chúng ta một điều như mộtđiều dự báo: đâu chỉ là tiểu đội xe không kính mà tương lai còn là tiểu đội xe không đèn,không mui xe, Hiện thực của cuộc chiến tranh diễn ra còn hết sức ác liệt, người lính lái
xe còn phải đối mặt với bao nhiêu nghiệt ngã, thử thách: “ Không có kính rồi xe không
đèn, không có mui, thùng xe có xước” nhưng nhất định họ sẽ hoàn thành nhiệm vụ, sẽ
chiến thắng bởi vì phía trước họ là miến Nam thân yêu và vì họ sẵn có một nhiệt tình cáchmạng, một trái tim quả cảm - trái tim người lính Bác Hồ
“ Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim”
Bài thơ là bức tượng đài nghệ thuật về người lính lái xe trong cuọoc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước của dân tộc ta
Đề ra: Phân tích cảnh ra khơi của” Đoàn thuyền đánh cá” được miêu tả trong bốn
câu đầu trong bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận:
”Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi”
Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” là bài thơ được Huy Cận sáng tác vào năm 1958, nhân một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Hồng Gia - Cẩn Phả - Quảng Ninh Bài thơ đã dụng
được một không khí khẩn trương, hăng say của những người lao động đánh cá trong mộtđêm trên biển, với tư thế làm chủ thiên nhiên, biển cả Bốn câu thơ đầu diển tả cảnh ra
khơi của “Đoàn thuyền đánh cá”, mở đầu cho một đêm đánh cá trên biển
Trang 9Hai câu thơ đầu diển tả thời điểm ra khơi của “Đoàn thuyền đánh cá” Thời gian ở
đây là lúc ngày tàn, được miêu tả bằng những chi tiết, hình ảnh cụ thể, giàu giá trị gợi
cảm: ”Mặt trời xuống biển như hòn lửa-sóng đã cài then đêm sập cửa” Ơ câu thơ này, tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh Màu đỏ của “mặt trời” được so sánh với “hòn lửa” Viết
về cảnh biển đêm, ngày tàn, nhưng cảnh vẫn không hoang vắng nhờ hình ảnh rực sáng
này Trong cản quan của Huy Cận, vũ trụ là một ngôi nhà khổng lồ Khi ngày đã tàn, “Mặt
trời xuống biển”, màn đêm buông xuống “Đêm sập cửa” thì sóng biển như “then cài” đóng
lại cánh cửa khổng lồ ấy Những hình ảnh ẩn dụ này chứng tỏ nhà thơ có trí tưởng tượngphong phú
Đối với thiên nhiên thì một ngày đã khép lại, nhưng với đoàn thuyền đánh cá thì đâylại là thời điểm bắt đầu cho công việc đánh cá trên biển trong đêm
“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi”
Từ “lại” nói lên rằng hằng ngày vào cái thời điểm ấy, khi trời yên biển lặng, đoànthuyền ra khơi đã thành một cảnh quen thuộc
Hình ảnh thơ “Câu hát căng buồn cùng gió khơi” là một hình ảnh được xây dựng nhờ
một trí tưởng tượng phong phú Huy Cận đã miêu tả, đã cụ thể hoá tiếng hát của nhữngngười lao động Những người lao động đánh cá ra khơi cùng với tiếng hát khoẻ khoắn đếnmức tạo nên một sức mạnh (cùng với gió khơi) làm căng những cánh buồm Họ ra khơi vớimột niềm phấn khởi, niềm tin vào thành quả lao động
Bốn câu thơ mở đầu miêu tả cảnh ra khơi của “Đoàn thuyền đánh cá” Cảnh ngày tàn mà
vẩn ấm áp, vẩn tràn đầy niềm vui, niềm lạc quan của người lao động Không khí chungcủa bốn câu thơ mở đầu này chi phối không khí chung của cả bài thơ
Đề ra: Phân tích cảnh ra khơi của” Đoàn thuyền đánh cá”của Huy Cận:
Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” là bài thơ được Huy Cận sáng tác vào năm 1958, nhân một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Hồng Gia - Cẩn Phả - Quảng Ninh Thông qua một
đêm đánh cá của một đoàn thyền trên biển, nhà thơ ca ngợi không khí lao động mới, trànđầy niềm lạc quan, làm chủ thiên nhiên, biển cả bao la
Bài thơ đã dựng được không khí lao động khẩn trương, hăng say, nhộn nhịp củamiền Bắc những năm đầu bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội
Bài thơ mở đầu bằng cảnh “Mặt trời xuống biển như hòn lửa” và kết thúc bằng hình ảnh “Mặt trời đội biển như màu nước-mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi” Như vậy là cảnh
lao động của đoàn thuyền đánh cá diển ra trong một đêm ròng Thế nhưng, bài thơ là mộtbức tranh với những đường nét khoẻ khoắn, màu sắc tươi sáng lạ thường Đánh cá trênbiển mênh mông thực chất là một công việc lao động nặng nhọc, đầy nguy hiểm Vậy màcả bài thơ là một khúc ca sảng khoái, tràn đầy niềm vui, phối hợp nhạc điệu với những
động tác khoẻ mạnh, dồn dập Bài thơ lặp lại nhiều lần chữ “hát”, và tiếng hát đã thực sự
trở thành âm thanh chủ đạo của bài thơ
Trang 10Cùng với tiếng hát được nhắc đi nhắc lại như một điệp khúc, trong bài thơ này, tácgiả còn tập trung miêu tả hình ảnh những con cá, những đàn cá gợi lên một bức tranh sinhđộng về cảnh biển giàu, đẹp Hình ảnh đàn cá liên tiếp suất hiện, lấp lánh ánh sáng màusắc như một bức sơn mài:
“Hát rằng cá bạc biển Đông lặng Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày đệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
Cá nục cá chim cùng cá đé Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em vẩy trắng vàng choé Vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông”
Giữa khung cảnh biển đêm mênh mông, hình ảnh con người lao động xuất hiệnvới tư thế làm chủ biển khơi, làm chủ công việc của mình Hình ảnh họ xuất hiện thật
gân guốc, khoẻ khoắn: “Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng - Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng”.
Bằng cảm hứng lãng mạn, Huy Cận đã dựng lên hình ảnh những người con laođộng mới với tầm vóc ngang tầm vũ tru và hoà hợp với khung cảnh trời nước bao la:
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng.”
Trên cái không gian bát ngát, con thuyền có buồn là trăng, được lái bằng gió lướtsóng đi phơi phới, gợi lên niềm vui niềm tự hoà chân chính của con người mới, làm chủthiên nhiên, hăng say lao động làm giàu cho Tổ quốc Huy Cận đã nhìn cảnh đánh cá trênbiển khơi bằng con mắt lạc quan phơi phới của mình
Sau một đêm đánh cá trên biển, bình minh lên, đoàn thuyền đánh cá lại trở về bếnbãi Vẫn là câu hát nhưng đây là câu hát tràn ngập niềm vui của con người sau một đêmlao động khẩn trương và đạt sản lượng mong muốn Thiên nhiên như chia sẻ niềm vui đó:
”Câu hát căng buốm cùng gió khơi” và cảnh trở nên vô cung sinh động Trên mặt biển
mênh mông, đoàn thuyền lao vùn vụt: ”Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” Đoàn
thuyền như chạy đua cùng với thời gian với niềm vui háo hức để trở về với bến bờ đangnhộn nhịp đón chờ
Bài thơ là khúc ca sảng khoái của người lao động đánh cá, thể hiện niềm phấn khởitrước những thành quả lao động của mình Hình ảnh con người hiện lên trong bài thơ làhình ảnh conngười mới làm chủ thiên nhiên, nhiệt tình lao động sản xuất để làm giàu chotổ quốc, gắn với biển cả quê hương
Trang 11Đề ra: Phân tích hình ảnh người mẹ Tà-ôi trong bài thơ “Khúc hát ru những em
bé trên lưng mẹ” (của Nguyễn Khoa Điềm)
Bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của nhà thơ Nguyễn Khoa
Điềm đời giữa những năm tháng quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trêncả hai miền Bắc-Nam Thời kì này, cuộc sống của cán bộ, nhân dân ta trên các chiến khu(phần lớn là những vùng miền núi) rất gian nan, thiếu thốn Cán bộ, nhân dân ta phải bámrẫy, bám đất để tăng gia sản xuất, vừa sẳn sàng chiến đấu bảo vệ căn cứ Bài thơ là lời hát
ru những em bé dân tộc Tà-ôi lớn trên lưng mẹ ở vùng chiến khu Trị-Thiên trong thời kìchiến tranh chống Mỹ
Hình ảnh người mẹ Tà-ôi trong bài thơ, qua từng đoạn thơ với từng khúc hát ru đượcgắn với hoàn cảnh, công việc cụ thể
Ơ khúc thứ nhất, người mẹ hiện lên với dáng tần tảo, lam lũ, vất vả với công việc
giả gạo nuôi bộ đội Mẹ giả gao, con vẫn trên lưng mẹ Câu thơ: “Vai mẹ gầy nhấp nhô
làm gối” thật cảm động Mẹ gầy vì công việc giúp nuôi bộ đội đánh giặc Mẹ gầy vì nuôi
cho con nhanh lớn Nhưng trái tim của mẹ vẫn hát về ước mơ:
“Mai sau con lớn vung chày lún sân”
Trong khúc ru thứ hai, diễn tả công việc mẹ lên núi trỉa bắp Câu thơ: “Lưng núi thì
to mà lưng mẹ nhỏ” hình thành theo kết cấu đối lập làm nổi bật hình ảnh me với công việc
vất vả Núi thì to, nương bắp thì rộng, mà sức mẹ có hạn Trên lưng mẹ, em vẫn ngủ say:
“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng”
Hình ảnh “Mặt trời” trong câu thơ sau được chuyển nghĩa (ẩn dụ): Cu Tai là mặt trời
của mẹ Em còn là tất cả của mẹ, là lí tưởng, là hi vọng của mẹ Mẹ mơ ước về con:
“Mai sau lớn lên phát mười Ka-lưi”
Đến khổ thứ ba, lời ru đồn đập, mạnh mẻ, gấp rút, bởi “giặc Mỹ đến đánh”, đuổi ta phải rời suối rời nương “Thằng Mỹ đuổi ta phải rời con suối” Mẹ phải chuyển lán, đạp
rừng , cùng tham gia đánh giặc Mẹ đến chiến trường, em vẩn trên lưng:
“Từ trên lưng mẹ em đến chiến trường Từ trong đói khổ em vào Trương Sơn”
Trong khói lửa của chiến tranh mẹ mong ước: “Mai sau con lớn làm người tự do”.