DANH PHÁP VÀ ĐỒNG PHÂN CỦA PHỨC CHẤT Tên gọi của phức chất. Vì phức chất được biết đến với số lượng lớn, do đó cần thiết phải có hệ thống đặt tên. Nhiều năm trước, một số phức đã được đặt tên theo người phát hiện ra chúng. Ví dụ: KC2H4PtCl3 được biết như muối Zeise NH4Cr(NCS)4(NH3)2 được biết như muối Reinecke Pt(NH3)4PtCl4được biết như muối xanh Magnus Pt(NH3)3Cl2PtCl4 được biết như muối hồng Magnus Điều đó là không được đầy đủ nếu một số lượng lớn các hợp chất phải được đặt tên. Như trong các lĩnh vực khác của hóa học, một hệ thống phức tạp của danh pháp cho các hợp chất vô cơ đã được phát triển bởi IUPAC. Hệ thống để đặt tên các phức chất sẽ đưa vào bảng nhiều loại hợp chất không thường gặp trong một nghiên cứu của hóa học vô cơ để đảm bảo xử lý một cách triệt để các quy tắc chính thức. Số quy tắc cần được tuân thủ trong cách đặt tên hợp chất phức là không nhiều, đủ để đặt tên cho phần lớn các phức chất. Các quy tắc sẽ được phất biểu và sau đó minh họa bằng cách thông qua một số ví dụ. Trong cách đặt tên một hợp chất phức, cation được đọc trước, tiếp theo là tên các anion. Một hoặc cả hai có thể là phức.
Trang 1DANH PHÁP VÀ ĐỒNG PHÂN CỦA PHỨC CHẤT
Tên gọi của phức chất.
Vì phức chất được biết đến với số lượng lớn, do đó cần thiết phải có hệ thống đặt tên Nhiều năm trước, một số phức đã được đặt tên theo người phát hiện ra chúng
Ví dụ: K[C2H4PtCl3] được biết như muối Zeise NH4[Cr(NCS)4(NH3)2] được biết như muối Reinecke
[Pt(NH3)4][PtCl4]được biết như muối xanh Magnus
[Pt(NH3)3Cl]2[PtCl4] được biết như muối hồng Magnus
Điều đó là không được đầy đủ nếu một số lượng lớn các hợp chất phải được đặt tên Như trong các lĩnh vực khác của hóa học, một hệ thống phức tạp của danh pháp cho các hợp chất vô cơ đã được phát triển bởi IUPAC Hệ thống để đặt tên các phức chất sẽ đưa vào bảng nhiều loại hợp chất không thường gặp trong một nghiên cứu của hóa học vô cơ để đảm bảo xử lý một cách triệt để các quy tắc chính thức
Số quy tắc cần được tuân thủ trong cách đặt tên hợp chất phức là không nhiều, đủ để đặt tên cho phần lớn các phức chất Các quy tắc sẽ được phất biểu và sau đó minh họa bằng cách thông qua một số ví dụ
Trong cách đặt tên một hợp chất phức, cation được đọc trước, tiếp theo là tên các anion Một hoặc cả hai có thể là phức
1 Trong tên của ion phức, các phối tử được đọc tên theo thứ tự bảng chữ cái Một tiền tố được sử dụng để chỉ ra số các phối
tử không được coi như một phần trong tên của phối tử
Ví dụ: trichloro được đặt theo thứ tự được đánh dấu từ tên chloro
Tuy nhiên, nếu phối tử là diethylamine (C2H5)2NH, tiền tố “di” là một bộ phận trong tên của phối tử, nó được sử dụng trong việc xác định thứ tự chữ cái
(a) Tên của bất kì phối tử anion được kết thúc bằng đuôi “o”
Ví dụ: Cl- là chloro; CN- là cyano; SCN- là thiocyanato…
( Xem các ví dụ thể hiện trong bảng 16.1)
Trang 2(b) Phối tử trung tính được đặt tên bằng cách sử dụng tên hóa học thông thường của chúng
Ví dụ: H2NCH2CH2NH2 là ethylenediamine; C5H5N là pyridin
Bốn trường hợp ngoại lệ cho quy tắc này là:
H2O là aqua
NH3 là ammine
CO là carbonyl
NO là nitrosyl
Bảng 16.1 cho thấy tên một số phối tử trung tính phổ biến
(b) Bất kì phối tử cation đều kết thúc bằng đuôi “ium” Trường hợp này ít bắt gặp,nhưng có thể gặp trường hợp với phối tử
N2H4 (có cấu trúc là NH2NH2) Một proton có thể phối hợp với một kim loại Trong trường hợp đó, NH2NH3+ được đọc tên là hidrazinium
2.Để biết số lượng các phối tử dùng các tiền tố di, tri, tetra… Nếu tên của các phối tử chứa một trong các tiền tố, số lượng các phối tử được biểu thị bằng cách sử dụng các tiền tố bis, tris, tetrakis…
Ví dụ: (H2NCH2CH2NH2)2: bis(ethylenediamine)
Trang 32 Sau khi đọc tên các phối tử, tên của kim loại được đọc tiếp theo, với trạng thái oxi hóa của nó bằng chữ số La Mã trong ngoặc đơn
3 Nếu ion phức chứa kim loại là một anion, tên của kim loại kết thúc bằng đuôi “ate”
Trong một số loại phức chất (đặc biệt là các hợp chất cơ kim) cần thiết có các quy tắc khác, nhưng phần lớn các phức được đọc tên một cách chính xác bằng cách sử dụng danh sách ngắn các quy tắc đã cho
Trong phức [Co(NH3)6]Cl6, cation là [Co(NH3)6]3+, và được đọc tên đầu tiên Các phối tử amonia được đọc tên là ammine, số lượng được biểu thị bởi tiền tố hexa Vì vậy, tên của hợp chất là hexaammine cobalt(III) chloride
- [Co(NH3)5Cl]Cl2 có 5 phân tử NH3 và một phối tử Cl- đến Co3+ Theo các quy tắc trên thì tên của phức chất là
pentaammine chloro cobalt(III) chloride
- Kali hexacyono ferrate(III) là K3[Fe(CN)6]
- Muối Reinecke, NH4[Cr(NCS)4(NH3)2] được đọc tên là ammonium diammine tetrathiocyanatochromate(III)
- Trong muối xanh Magnus, [Pt(NH3)4][PtCl4] cả cation và anion đều là phức Tên của phức là tetraammine platinum(II) tetrachloroplatinate(II)
- Hợp chất [Co(en)3](NO3)3 là tris(ethylenediammine) cobalt(III) nitrate
Một vài phối tử chứa nhiều hơn một nguyên tử có thể cho một cặp electron
Ví dụ: SCN- là liên kết của một số ion kim loại thông qua các nguyên tử nitơ nhưng với các nhóm khác thông qua nguyên
tử lưu huỳnh Trong một số trường hợp, trạng thái này được đọc tên là thiocyanato-N- và thiocyanato-S- Trong một số sách, cách thức liên kết là biểu thị trước tên N-thyocyanato và S-thyocyanato
Vì một số phối tử chứa nhiều hơn một cặp electron có thể cho ion kim loại, nó có thể cho các phối tử tương tự nhau liên kết đồng thời đến 2 kim loại trung tâm Nói cách khác, các phối tử có chức năng như nhóm cầu nối Nhóm cầu nối được biểu thị bởi μ trước tên của các phối tử và tách tên của nhóm đó từ phần còn lại của phức bằng dấu nối [(NH3)3Pt(SCN)Pt(NH3)3]Cl3 là hexaammine- μ - thiocyanatodiplatinum(II) chlorid
Một khía cạnh khác của danh pháp là việc xác định điện tích trên các cation và anion phức bằng số dấu ngoặc sau tên Những con số trên được gọi là Ewens-Bassett Một số ví dụ cho thấy trạng thái oxi hóa như sau:
[Fe(CN)6]3+ Hexacyano ferrate(3-) hoặc hexacyano ferrate(III)
[Co(NH3)6]3+ Hexaammine cobalt(3+) hoặc hexaammine cobalt(III)
[Cr(H2O)6][Co(CN)6] Hexaaqua chromium(3+) hexacyano cobaltate(3-) hoặc hexaaqua chromium(III)
hexacyano cobaltate(III)
Một tập hợp nhiều đặc trưng các quy tắc cho các danh mục có sẵn như một phụ lục trong cuốn sách của Huheey, Keiter và Keiter liệt kê trong tài liệu tham khảo ở cuối chương này
II Đồng phân
Một trong những khía cạnh thú vị của hóa học của các hợp chất phức là khả năng tồn tại các đồng phân Đồng phân của các hợp chất chứa số lượng và các nguyên tử giống nhau, nhưng cấu trúc của chúng khác nhau Một số loại đồng phân đã được chứng minh, nhưng chỉ một vài trong số các loại quan trọng nhất được mô tả ở đây
II.1 Đồng phân hình học
Loại phổ biến nhất của đồng phân hình học liên quan đến đồng phân cis and trans trong vuông phẳng và phức bát diện Nếu phức MX2Y2 là tứ diện, chỉ tồn tại một đồng phân vì tất cả các vị trí trong tứ diện là tương đương Nếu phức MX2Y2 là vuông phẳng có thể có đồng phân cis và trans
Trang 4Trong phức bát diện, tất cả sáu vị trí là tương đương, vì vậy chỉ có một công thức MX5Y tồn tại Trong phức bát diện có công thức MX4Y2 sẽ có hai đồng phân [Co(NH3)4Cl2]+, hai đồng phân có thể được thể hiện như sau
Nếu phức bát diện có công thức MX3Y3, có hai đồng phân Trong bát diện, các vị trí được đánh số nên vị trí của các phối tử trong cấu trúc có thể được xác định Thông thường hệ thống số cho các phối tử trong một phức bát diện là
Hai đồng phân của [Co(NH3)3Cl3] có cấu trúc như sau:
Trong đồng phân fac, ba ion clorua được đặt vào các góc của một trong những mặt tam giác của bát diện Trong đồng phân mer, ba ion clorua được đặt xung quanh một cạnh của bát diện Hệ thống IUPAC của danh pháp không sử dụng phương pháp này Một bản tóm tắt các trình tự của IUPAC được trình bày trong cuốn sách của Huheey, Keiter and Keiter được trích dẫn trong các tài liệu tham khảo được liệt kê ở phần cuối của chương này
Đồng phân hình học là có thể dùng cho phức có cấu trúc dựa trên kim tự tháp vuông
Ví dụ: các cấu trúc cho một phức có cấu trúc MLX2Y2 cho thấy sự sắp xếp cis và trans là có thể dựa trên các phối tử
Trang 5II.2 Đồng phân quang họC
Cấu trúc không có mặt phẳng đối xứng, hình ảnh trong gương không chồng lên nhau Được gọi là cấu trúc chiral, như phân tử xoay quanh một chùm sáng phân cực Nếu chùm tia là quay sang phải (khi tìm dọc theo chùm tia ở hướng truyền), các chất đó là dextrorotatory (hoặc đơn giản là dextro) và được biểu thị bởi (+) Những chất mà quay mặt phẳng của ánh sáng phân cực bên trái
là levorotatory hoặc levo và được biểu thị là (-) Một hỗn hợp của một lượng bằng nhau của hai hình thức này là hỗn hợp không hấp thụ ánh sáng, và nó không tạo ra vòng quay của ánh sáng phân cực
Dichloro bis(ethylenediammine) cobalt(II) có thể tồn tại hai đồng phân hình học Đồng phân trans, có một mặt phẳng đối xứng chia đôi ion Cobalt và phối tử ethylenediamine, để lại một Cl ở hai bên mặt phẳng Tuy nhiên, đồng phân cis có một mặt phẳng đối xứng vì vậy tồn tại hai đồng phân quang học Điều này cũng là trường hợp của [Co(en)3]3+ được minh họa trong hình 16.3 Ánh sáng bao gồm các sóng dao động trong tất cả các hướng xung quanh hướng truyền Trong ánh sáng phân cực, sự lan truyền
có thể được xem như một vector, và có thể được giải quyết trong hai vector tròn Nếu không có chuyển động quay của mặt phẳng, chuyển động theo mỗi vector là tương đương để mỗi vector đi qua một khoảng cách bằng xung quanh vòng tròn như hình 16.4
Hình ảnh qua gương của phức [Co(en)3]3+
Mặt phẳng gương
Trang 6Đồng phân Δ (lambda) Đồng phân Δ (delta)
(quay trái) (quay phải)
Hình 16.3 Đồng phân quang học của [Co(en)3]3+ và hướng quay
của ánh sáng phân cực
Hình 16.4 Ánh sáng phân cực biểu diễn như là một vector không có vòng xoay
Hình 16.5 Vòng quay của ánh sáng phân cực biểu diễn như một vector xoay
Nếu ánh sáng phân cực đi qua một phương tiện thể hiện góc quay cực, chuyển động dọc theo một trong các vector tròn là chậm hơn Do đó các vector kết qủa được di dời từ các vector ban đầu của một số góc,Ф Hình 16.5 cho thất các mô hình vector trong
đó độ lệch pha là Ф và α được định nghĩa là một nửa của sự lệch pha Chỉ số khíc xạ môi trường, n, tỷ số của vận tốc ánh sáng trong chân không, c, vận tốc trung bình, v:
Trang 7n=c/v (16.1) Khi một tài liệu thể hiện các chỉ số khác nhau của khúc xạ cho tay phải và tay trái cấu thành của vector tròn, vận tốc trong các hướng khác nhau và mặt phẳng của ánh sáng phân cực trải qua các vòng xoay Các vector phải và trái, chỉ số khúc xạ là:
dẫn đến các mối quan hệ
Nếu chúng ta tượng trưng chiều dài đường đi của ánh sáng phân cực là d và Ф là sự lệch pha trong hai hướng, chúng ta thấy rằng:
Đối với ánh sáng, vận tốc và tần số có liên quan qua
Vì vậy, sau khi đơn giản hóa chúng ta có được:
Khi lamda là bước sóng của ánh sáng undergoing rotation Khi nói về α các mối quan hệ là:
(a) Levorotatory (b) Dextrotatory
(hiệu ứng cotton dương) (hiệu ứng cotton âm)
Giải quyết sự khác biệt trong chỉ số khúc xạ, chúng ta có được
(nr - nl) = α/λ0πd (16.8)
Trang 8Khi một dung dịch được nghiên cứu, vòng xoay cụ thể của ánh sáng có bước sóng lamda ở nhiệt độ t được viết là [α]λ , và nó được xác định bởi mối quan hệ
[α]λt = α/ds = α/dσp (16.9) Trong mối quan hệ đó, α là vòng quay quan sát, d là chiều dài đường đi, s là nồng độ của dung dịch trong g chất tan/ mL dung
dịch, σ là nồng độ g chất tan/ g dung dịch, ρ là tỉ trọng của dung dịch Nguồn ánh sáng thường được sử dụng nhất là đèn natri,
lamda = 589nm.Ví vậy, sự lựa chọn một vòng quay cụ thể được biểu hiện bằng việc sử dụng các biểu tượng như (+)589-[Co(en)3]3+ Các cuộc thảo luận về việc sử dụng các mối quan hệ giữa góc quay cực và chỉ số khúc xạ Tuy nhiên, vòng quay cực thay đổi theo bước sóng của ánh sáng cũng như các chỉ số khúc xạ Khi thay đổi vòng quay cực với bước sóng được nghiên cứu, nó được tìm thấy các đường cong trải qua một sự thay đổi trong độ dốc trong vùng tối đa một dải hấp thụ phát sinh từ sự chuyển tiếp điện tử (xem chương 18) Sự thay đổi trong vòng quay như một hàm của bước sóng được gọi là sự tán sắc luân quang (ORD) Hình 16.6 cho thấy một sơ đồ minh họa sự thay đổi luân phiên xảy ra trong vùng của một dải hấp thụ Sự thay đổi nhanh chóng trong vòng quay của bước sóng mà sự hấp thụ các phức xảy ra được gọi là hiệu ứng cotton vì nó được phát hiện vào năm 1895 bởi A.Cotton
Sơ đồ hình 16.6a minh họa một hiệu ứng cotton trong đó sự thay đổi luân phiên từ cực âm đến vị trí như các bước sóng được thay đổi khi xảy ra sự hấp thụ Kết quả hiệu ứng cotton khi thay đổi khi thay đổi luân chuyển từ dương sang âm ở dải bước sóng tương ứng với các dải hấp thụ
Hợp chất có cấu hình quang học tương tự cho thấy hiệu ứng tương tự cotton Nếu cấu hình tuyệt đối được biết đến (ví dụ, từ nhiễu xạ x-ray) cho một hợp chất hoạt quang có hiệu ứng cotton tương tự đưa ra bởi các hợp chất khác chỉ ra rằng nó có cấu hình quang học tương tự như đã biết Nói cách khác, nếu hai hợp chất cung cấp cho quá trình chuyển đổi điện tử biểu thị hiệu ứng cotton đó là như nhau (hoặc cả hai dương hoặc cả hai âm), các hợp chất có đối xứng nhau hoặc cấu hình quang học Mặc dù các phương pháp khác để nghiên cứu cấu hình tuyệt đối của các phức tồn tại, các phương pháp mô tả ở đây đã được sử dụng rộng rãi
và có lịch sử quan trọng Tham khảo tài liệu ở cuối chương này để biết thêm chi tiết về hiệu ứng cotton và ORD
II.3 Đồng phân liên kết
Đồng phân liên kết xảy ra khi một phối tử có thể liên kết nới các ion kim loại trong nhiều cách Phối tử có khả năng này được
gọi là phối tử ambidentate và bao gồm cặp electron cho như NO2-, CN- và SCN- có cặp electron không chia sẻ tại hai vị trí Các ion nitrite có thể liên kết với các ion kim loại thông qua cả nitơ và oxi nguyên tử Các trường hợp đầu tiên liên quan đến đồng phân liên kết đã được nghiên cứu năm 1890 bởi S M Jørgensen, và phức là [Co(NH3)5NO2]2+ và [Co(NH3)5ONO]2+ Phức thứ hai (có chứa Co-ONO) là chưa ổn định, và nó được chuyển đổi thành -NO2 đồng phân trong dung dịch và trạng thái rắn bằng cách nung hoặc do tiếp xúc với ánh sáng cực tím:
Đỏ, nitrito Vàng, nitro
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên các phản ứng này Một số đặc điểm khác thường của phản ứng này sẽ được mô tả trong chương 20 Lưu ý trong văn bản có công thức đồng phân liên kết, nó là thông thường để viết phối tử với các nguyên tử có chức năng như thể cho cặp electron gần nhất với các ion kim loại Đặc biệt nghiên cứu sẽ được đưa ra trong chương 20 đến tác động của phức cyanua vì CN- cũng là một phối tử ambidentate
Trong chương 9, các yếu tố cấu tạo đặc trưng tác động qua lại cứng-mềm được hướng dẫn về các thể cho và các chất nhận electron hình thành liên kết Nguyên tắc này đặc biệt hữu ích cho một số các trường hợp liên quan đến liên kết đồng phân Ví dụ, SCN- có thể liên kết với các kim loại thông qua lưu huỳnh hoặc nitơ nguyên tử Khi phức thiocyanate liên kết với các ion kim loại như Cr3+ và Fe3+ (acid Lewis cứng), các liên kết là thông qua các nguyên tử nitơ (các thể cho điện tử khó khăn hơn) Sự sắp xếp này (N- trong SCN-) đôi khi được gọi là liên kết isothiocyanate Tuy nhiên, liên kết thiocyanate đến Pd2+ và Pt2+ (acid Lewis mềm) thông qua các nguyên tử lưu huỳnh (thể cho electron dễ dàng hơn) Khả năng tồn tại một ion thiocyanate là một cách sắp xếp để thay đổi cách thức liên kết dưới một số điều kiện Tuy nhiên, điều này đôi khi phụ thuộc vào sự sắp xếp các nhóm khác với các kim loại như là một kết quả của một trong hai yếu tố về sự bố trí các nguyên tử trong không gian hoặc điện tử Các yếu tố điện tử
sẽ được thảo luận sau trong chương này
Khi cấu trúc Lewis được rút ra cho SCN-, các cấu trúc cộng hưởng chủ yếu là
S=C=N
Phức chất có chứa SCN- xuất hiện liên quan đến cấu trúc
Kết quả là hình dáng liên kết của SCN- đến các ion kim loại có thể được thể hiện như sau
Trang 9
I
II
Xoay quanh liên kết M-L không yêu cầu phải xét đến không gian cho N- trong SCN- nhưng cấu trúc II thể hiện một vị trí khác nhau cho S- trong SCN- Trong trường hợp đó, được thể hiện trong hình 16.7, một khối lượng biểu diễn như là một hình nón (đôi khi được gọi là một hình nón tròn xoay) được lan ra như sự quay xảy ra
Sự có mặt của các phối tử lớn có thể ức chế sự luân chuyển này và dẫn tới một sự thay đổi trong cách thức liên kết Như trường hợp liên quan đến phức platium [Pt((C6H5)3As)3SCN]+, trong đó có nhóm triphenylarsine lớn, và nó có thể dễ dàng chuyển đổi sang [Pt((C6H5)3As)3NCS]+
II.4 Đồng phân ion hóa
Mặc dù các hợp chất [Pt(en)2Cl2]Br2 và [Pt(en)2Br2]Cl2 có công thức tương tự nhau, nhưng chúng là hai hợp chất khác nhau Ví
dụ, đầu tiên khi cho Br- hòa tan trong nước, trong khi thứ hai cho Cl- Điều này xảy ra bởi vì trong trường hợp đầu tiên, các ion Cl -được phối hợp với Pt4+, trong khi ở trường hợp thứ hai ion Br- đang phối hợp với các ion kim loại Các đồng phân trong trường hợp như vậy được gọi là ion hóa đồng phân Dễ dàng để thấy rằng nhiều cặp hợp chất có thể được coi là đồng phân ion hóa, trong
đó có các ví dụ sau đây:
[Cr(NH3)4ClBr]NO2 và [Cr(NH3)4ClNO2]Br
[Co(NH3)4Br2]Cl và [Co(NH3)4ClBr]Br
[Co(NH3)5Cl]NO2 và [Co(NH3)5NO2]Cl
II.5 Đồng phân phối trí
Đồng phân phối trí đề cập đến trường hợp có những cách khác nhau để sắp xếp một số phối tử quanh hai kim loại trung tâm
Ví dụ, có một số cách để sắp xếp sáu ion CN- và sáu phân tử NH3 xung quanh hai ion kim loại có tổng số oxy hóa +6 Một cách là [Co(NH3)6][Co(CN)6], nhưng [Co(NH3)5CN][Co(NH3)(CN)5] và [Co(NH3)4(CN)2][Co(NH3)2(CN)4] cũng có thành phần tương tự Một số ví dụ khác của đồng phân phối trí:
[Co(NH3)6][Cr(CN)6] và [Cr(NH6)][Co(CN)6]
[Cr(NH3)5CN][Co(NH3)(CN)5] và [Co(NH3)5CN][Cr(NH3)(CN)5]
C
N
Trang 10Hình 16.7 Nón quét một vòng quay của SCN quanh liên kết M-S
II.6 Đồng phân hydrat
Rất nhiều phức kim loại được điều chế bằng phản ứng được thực hiện trong dung dịch nước Do đó, phức rắn thường thu được như hydrat Nước cũng là một phối tử có khả năng tồn tại trong các hợp chất khác nhau
Ví dụ: [Co(H2O)4Cl2]Cl.2H2O và [Cr(H2O)5Cl]Cl2.H2O có công thức tương tự nhau, nhưng chúng là những hợp chất khác nhau Trong trường hợp đầu tiên, hai ion clorua là phối tử và một ion là anion, trong khi ở trường hợp thứ hai con số được đảo ngược Nhiều ví dụ khác của đồng phân hydrate đã được biết đến
II.7 Đồng phân trùng hợp
Polyme là vật liệu cao phân tử trọng lượng bao gồm các đơn vị nhỏ (monome) mà trở nên gắn kết với nhau Trong hóa học phối trí, nó có thể có hai hay nhiều hợp chất có công thức thực nghiệm tương tự nhưng trọng lượng phân tử khác nhau
Ví dụ, [Co(NH3)Cl3] bao gồm một ion cobalt, ba phân tử amoni, và ba ion clorua Đây là tỷ lệ tương tự được tìm thấy trong [Co(NH3)6][CoCl6] trong đó có một trọng lượng phân tử là hai lần [Co(NH3)3Cl3] Các hợp chất khác có công thức thực nghiệm cùng là [Co(NH3)5Cl][Co(NH3)Cl5] và [Co(NH3)4Cl2][Co(NH3)2Cl4] Những hợp chất này được gọi là đồng phân trùng hợp của [Co(NH3)6][CoCl6], nhưng không có sự tương đồng với các trường hợp trùng hợp của các đơn vị monome có kết quả trong một vật liệu có trọng lượng phân tử cao hơn Đồng phân trùng hợp không phải là một cách chính xác để mô tả trong tài liệu, mặc dù thuật ngữ này đã được sử dụng trong nhiều năm