Câu 1: Trong học phần “Đại cương tâm lý và tâm lý học nhà trường” được học trong chương trình có ý nghĩa như thế nào đối với cá nhân em và đối với việc dạy học sau này? Hãy minh họa bằng việc phân tích cụ thể 1 nội dung trong chương trình mà em tâm đắc nhất. Câu 2: Giải quyết tình huống: Trong lớp học của em có 1 học sinh thuộc loại trung bình tỏ ra chán học nhưng luôn giữ được quan hệ khá tốt với mọi người. Em sẽ làm gì để cải thiện học sinh này? Hãy dùng kiến thức Tâm lý học để giải thích việc làm của mình.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
- -
TIỂU LUẬN
Học phần: Đại cương về tâm lý và tâm lý học nhà trường
(PSE2001 2)
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS.Đinh Thị Kim Thoa
Sinh viên: Nguyễn Thị Thanh Hằng
Mã sinh viên: 15010311
Lớp: QH – 2015 – S Ngành: Sư phạm Hóa học
Hà Nội, tháng 12/2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế, không có sự thành công nào mà không gắn liền với sự hỗ trợ, giúp đỡ dù
ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Sự giúp đỡ ấy vô cùng quý giá đối với chúng em trên con đường tiến tới thành công
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin chân thành cảm ơn cô Đinh Thị Kim Thoa đã tận tâm hướng dẫn chúng em thực hiện tiểu luận Nếu không có những hướng dẫn, dạy bảo của cô thì em nghĩ đề tài này của em sẽ rất khó có thể hoàn thiện được
Kiến thức của em còn hạn chế và nhiều bỡ ngỡ Do vậy, những thiếu sót là điều chắc chắn không thể tránh khỏi, chúng em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô và các bạn để kiến thức của em trong tiểu luận này nói riêng và kiến thức về kỹ năng giao tiếp nói chung được hoàn thiện hơn
Sau cùng, em xin kính chúc các thầy cô thật dồi dào sức khỏe, thành công trong sư nghiệp cao quý để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau
Em xin chân thành cám ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Thanh Hằng
Trang 3NỘI DUNG Câu 1: Trong học phần “Đại cương tâm lý và tâm lý học nhà trường” được học trong chương trình có ý nghĩa như thế nào đối với cá nhân em và đối với việc dạy học sau này? Hãy minh họa bằng việc phân tích cụ thể 1 nội dung trong chương trình mà
em tâm đắc nhất
“Biết người biết ta trăm trận trăm thắng" – câu nói từ Binh Pháp Tôn Tử này đã chứng minh được tính đúng đắn và giá trị mạnh mẽ của tâm lý học qua bao thời đại, ở mọi nền văn hóa Ra đời và tách ra khỏi triết học trở thành một khoa học độc lập từ năm 1889 nhưng trước đó và cho đến nay tâm lý học vẫn có một vị trí to lớn trong cuộc sống và hoạt động con người Theo dòng lịch sử, có thể nói rằng trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội đều
có sự đóng góp của tâm lý học
Đầu tiên, tâm lý học có ý nghĩa về mặt lý luận, góp phần tích cực vào việc đấu tranh chống lại các quan điểm phản khoa học về tâm lý người và khẳng định quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về tâm lý người Tâm lý con người có chức năng định hướng, điều khiển, điều chỉnh nên tâm lý học có vai trò to lớn với tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người như: lao động sản xuất, y tế, giáo dục, thể thao, an ninh quốc phòng… Mục đích cao nhất của hoạt động lao động là tạo ra năng suất lao động cao Muốn vậy phải chú ý nhiều mặt từ việc chế tạo công cụ lao động, đảm bảo an toàn lao động, tổ chức lao động hợp
lí khoa học, xây dựng bầu không khí lao động tập thể, động viên khen thưởng trong lao động tất cả các mặt đó của lao động đều cần đến các tri thức tâm lý học Ngoài ra, hầu khắp các lĩnh vực khác nhau của xã hội như: tư pháp, thanh tra, y tế, thương mại, du lịch đều cần sự có mặt của khoa học tâm lý, sự ra đời các khoa học liên ngành như tâm lý học y học, tâm lý học tư pháp, tâm lý học du lịch Tâm lý học giúp giải thích một cách khoa học những hiện tượng tâm lý xảy ra trong bản thân mình, ở người khác, trong cộng đồng, trong xã hội, là cơ sở của việc tự rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách và xây dựng tốt mối quan hệ giao lưu, quan hệ liên nhân cách, quan hệ xã hội Đó là những minh chứng cụ thể khẳng định vai trò to lớn của tâm lý học đối với các ngành khoa học khác và đối với cuộc sống xã hội con người
Đặc biệt với công tác giáo dục, tâm lý học có vị trí vô cùng quan trọng, những tri thức tâm lý học là cơ sở khoa học cho việc định hướng đúng trong dạy học và giáo dục học sinh
Trang 4Việc hiểu được các yếu tố tác động đến quá trình hình thành nhân cách, các quy luật tâm lý… sẽ giúp cho việc xây dựng chương trình dạy học và phương pháp dạy học phù hợp với
sự phát triển của người học Từ đó, tâm lý học đã góp phần vào việc đào tạo các thế hệ công dân có ích cho dân tộc và cho nhân loại Có thể nêu ra vài ví dụ về vấn đề này: Vận dụng các quy luật cảm giác, tri giác để điều chỉnh ngôn ngữ, sử dụng đồ dùng trực quan có hiệu quả nâng cao mức độ nhận thức bài giảng cho học sinh Hiểu biết các quy luật tình cảm là cơ sở khoa học cho việc tổ chức các biện pháp giáo dục "ôn nghèo gợi khổ" để "giáo dục trong tập thể và bằng tập thể" Mặt khác, việc nhận thức đúng logic phát triển nhận thức của học sinh
đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng đã định hướng cho giáo viên xây dựng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy những năng lực cốt lỗi cho học sinh
Mặc dù còn khá mới, song những năm gần đây, lĩnh vực tâm lý học giáo dục ngày càng trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của ngành giáo dục nói riêng và cả xã hội nói chung Nhất là trong bối cảnh giới trẻ đang nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến đạo đức, lối sống… hay áp lực thi cử, áp lực chọn ngành nghề trước ngưỡng cửa vào đời Trên các cơ sở thống nhất về quan niệm dạy học và giáo dục, chuyên ngành tâm lý học giáo dục (nghĩa rộng) là một khoa học chuyên nghiên cứu các hiện tượng tâm lý, quy luật phát triển của chúng dưới tác đông của quá trình giáo dục Tâm lý học giáo dục bao gồm hai nhánh chuyên sâu nằm bên trong nó đó là tâm lý học dạy học (sự phát triển mặt năng lực trí tuệ của con người dưới tác động của quá trình dạy học) và tâm lý học giáo dục (nghĩa hẹp – sự phát triển mặt phẩm chất đạo đức, giá trị thẩm mý của nhân cách con người dưới tác động của quá trình giáo dục hành vi đạo đức và các giá trị)
Ở Việt Nam hiện nay đã có chương trình đào tạo ngành tâm lý học đường Đặc biệt, trong bối cảnh sống, học tập và rèn luyện của thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại hiện nay chứa đựng nhiều yếu tố bất lợi, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển nhân cách các em lứa tuổi học sinh Bởi vậy, nhu cầu được hỗ trợ về mặt tinh thần để phát triển thuận lợi ngày càng trở nên cấp bách Hơn nữa, bản thân hoạt động giáo dục trong các nhà trường cũng cần được làm phong phú thêm với những hiểu biết sâu hơn về mặt tâm lý của học sinh để các nội dung giáo dục phù hợp với khả năng và tâm lý lứa tuổi của các em Một điểm quan trọng không kém, đó là thông qua hoạt động tư vấn hướng nghiệp, tư vấn học đường và hỗ trợ việc làm, các nhà tâm lý học tiếp cận tới học sinh, sinh viên để giúp đỡ các em đánh giá, tìm hiểu đặc
Trang 5điểm bản thân Từ đó, các em có cơ sở chọn ngành học, tìm phương pháp học tập, tìm công việc phù hợp với bản thân, phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình để liên tục hoàn thiện Hiện nay có khá nhiều các em học sinh có những vướng mắc cần chia sẻ và mong muốn có một không gian riêng tư trong trường học để nói ra và tìm giải pháp cho những vấn đề của bản thân Chính vì vậy, các dịch vụ tham vấn hướng nghiệp, tham vấn khủng hoảng học đường, tham vấn sức khỏe tâm thần trường học đã và đang trở thành nhu cầu xã hội cấp bách Từ đó đòi hỏi phải có cần có đội ngũ chuyên gia tham vấn tâm lý được đào tạo bài bản Những năm gần đây, một số địa phương, trong đó có Hà Nội đã thí điểm, triển khai phòng tư vấn tâm lý học đường tại một số trường học để có thể nắm bắt tâm tư tình cảm, giáo dục định hướng và phát triển nhân cách cho học sinh ngay từ khi còn trên ghế nhà trường Hoạt động của các nhà tâm lý trong nhà trường có tác dụng nâng cao chất lượng học tập của học sinh, nhất là đối với những trẻ có khó khăn về học tập; đồng thời giảm thiểu những khó khăn tâm lý, phát huy tối đa tiềm năng trong mỗi cá nhân học sinh Nhưng những hoạt động tư vấn tâm lý học đường này chủ yếu mới dừng lại ở hình thức tham vấn, giải đáp những thắc mắc, băn khoăn của học sinh, phụ huynh riêng lẻ, chưa trở thành một hoạt động trợ giúp tâm lý học đường thật sự chuyên nghiệp Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành nhiều văn bản, quyết định về công tác tư vấn, tư vấn tâm lý và các vấn đề xã hội cho học sinh, sinh viên Gần đây nhất, Bộ đã ban hành Thông tư 31/2017/TT-BGDĐT “Hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông” có hiệu lực từ
2-2-2018, góp phần giải quyết những tồn tại hiện nay
Yếu tố chương trình góp phần không nhỏ trong việc tạo ra chất lượng đào tạo Trong nhà trường sư phạm, các môn học nghiệp vụ đóng vai trò cơ bản đối với việc hình thành những kỹ năng nghề nghiệp Học phần “Đại cương tâm lý và tâm lý học nhà trường” mà cụ thể được chia ra thành 3 bộ phận là Tâm lý học đại cương, Tâm lý học phát triển và Tâm lý học giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành những kiến thức và những kỹ năng nghiệp vụ sư phạm nền tảng cho người học Đặc biệt là với người học - sinh viên sư phạm, sau thời gian kiến thực và thực tập, sinh viên sẽ có đầy đủ 2 mặt cơ sở lý luận
và thực tiễn để tự đánh giá về tính phù hợp của nội dung chương trình, nguyên tắc xây dựng chương trình, nội dung dạy học Chương trình giảng dạy học phần “Đại cương tâm lý và tâm
lý học nhà trường” được thực hiện tại Trường đại học Giáo dục trong nhiều năm qua đã liên
Trang 6tục được cập nhật, bổ sung, điều chỉnh mang lại hiệu quả vô cùng to lớn cho sinh viên chúng
em Đối với bản thân em, học phần này đã mang lại ý nghĩa vô cùng to lớn mà em xin trình bày dưới đây
Đầu tiên, học phần “Đại cương tâm lý và tâm lý học nhà trường” đã giúp em nắm được các tri thức cơ bản về tâm lý học, từ đó em có thể nhìn nhận lại bản thân mình, thay đổi
để khiến bản thân mình trở thành người có ích hơn cho xã hội Thứ hai, thông qua học phần này, em đã bước đầu biết vận dụng các tri thức được học vào công tác xây dựng phương pháp dạy học và giáo dục hiệu quả - đây là thành quả lớn nhất mà em có thể mang theo trên con đường sự nghiệp tương lai của mình cũng như quá trình kiến tập và thực tập sư phạm sắp tới
Đối với phần Tâm lý học đại cương, qua các bài học, em đã được cung cấp rất nhiều kiến thức về các vấn đề tâm- sinh lý của các hiện tượng tâm lý người, các qui luật, cơ chế tâm lý, các quá trình, trạng thái và thuộc tính tâm lý con người đồng thời giúp em phân tích
và chứng minh được vai trò của các hiện tượng tâm lý trong đời sống con người Ở nội dung đầu tiên, em đã nắm được cơ sở sinh lý thần kinh của ý thức, các trạng thái ý thức, chú ý, chức năng của ý thức Tiếp đó, em đã hiểu được bản chất cơ chế của hiện tượng ý thức, phân biệt được các trạng thái ý thức, vô ý thức, hiểu được vài trò chú ý của ý thức trong đời sống của con người đồng thời vận dụng kiến thức đã học giải thích được các hành động có ý thức
và vô thức ở con người Bên cạnh đó, em đã được tìm hiểu về các quá trình thu nhận, xử lý thông tin, hiểu được khái niệm cảm giác sự phát triển tâm lý, ý thức thông qua các loại cảm giác đồng thời biết vận dụng quy luật cảm giác vào học tập, cuộc sống Bên cạnh quy luật cảm giác, em con được tìm hiểu về các nguyên tắc tổ chức tri giác, tri giác hình và nên, tri giác chiều sâu, khoảng cách, chuyển động, ảo ảnh tri giác, hiểu được bản chất quy luật, quá trình xử lý thông tin của tri giác, mối quan hệ của cảm giác và tri giác đối với sự phát triển tâm lý, ý thức, biết vận dụng các kiến thức để giải thích nhận thức cảm tính ở người và ứng dụng các quy luật của tri giác vào học tập, cuộc sống Ngoài ra, nhờ nắm bản chất của tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ, cơ sở chức năng của tư duy, chu kỳ, các giai đoạn của tư duy, mối quan hệ của tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ, các thành tố và các giai đoạn phát triển ngôn ngữ , phân biệt được các giai đoạn giải quyết vấn đề, bản thân em đã tự vận dụng được kiến thức để phân tích mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ trong giải quyết những vấn đề
Trang 7của học tập Sau khi giải quyết được những vấn đề đó, em đã được tìm hiểu về cơ sở tâm sinh
lý, các giai đoạn trí nhớ: ghi nhớ lưu giữ, tái hiện thông tin, nắm được nguyên nhân, quy luật của sự quên và kỹ thuật nhớ, hiểu được bản chất, vai trò của trí nhớ, mối quan hệ giữa các giai đoạn và vai trò của trí nhớ đối với đời sống con người và vận dụng chúng để giải thích các vấn đề của trí nhớ và ứng dụng vào học tập của bản thân Ở chương tiếp theo, em đã nắm được những nhu cầu cơ bản của con người, động cơ thúc đẩy hành vi, các trạng thái xúc cảm, bản chất xã hội của tình cảm và mối quan hệ giữa động cơ và cảm xúc biểu hiện trong hành vi con người, hiểu được bản chất, qui luật của động cơ, cảm xúc, nguyên nhân, động lực của hành động, vai trò của động cơ, cảm xúc đối với sự phát triển tâm lý, nhân cách, nhờ
đó em có thể vận dụng kiến thức để lý giải sự điều khiển, điều chỉnh hành vi bản thân và người khác thông qua động cơ và cảm xúc Nội dung cuối cùng phần Tâm lý học đại cương
đề cập đến là cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội của sự hình thành và phát triển nhân cách, bản chất của nhân cách và mối quan hệ của các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc hình thành nhân cách Từ đó em có thể vận dụng kiến thức để hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách của bản thân Như vậy, phần Tâm lý học đại cương đã cung cấp cho em hệ thống tri thức cơ bản về Tâm lý học dưới góc độ quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm cơ sở nghiên cứu các lĩnh vực khác của Tâm lý học, đặc biệt là 2 lĩnh vực Tâm lý học phát triển và Tâm lý học giáo dục mà em đã được tìm hiểu ngay sau đó
Đối với phần Tâm lý học phát triển, em đã được tiếp xúc với quá trình phát triển tâm
lý của con người từ lứa tuổi sơ sinh đến lứa tuổi thanh niên sinh viên (0-25 tuổi) Quá trình này bao gồm 8 giai đoạn: sơ sinh (0-2 tháng tuổi), hài nhi (2-15 tháng tuổi), ấu nhi (15-36 tháng tuổi), mẫu giáo (3-6 tuổi), học sinh tiểu hoc (7-11 tuổi), học sinh trung học cơ sở
(11-15 tuổi), học sinh trung học phổ thông (16-18 tuổi) và thanh niên sinh viên (19-25 tuổi) Đối với mỗi giai đoạn, học phần đã cung cấp cho em các kiến thức về các hoạt động chủ đạo, các quá trình phát triển tâm lý, đặc điểm của các quá trình phát triển trí tuệ, tư duy, tình cảm …
Từ những kiến thức đó, bản thân em có thể tự giải thích được các hành động của bản thân và mọi người xung quanh, đồng thời đề xuất được những giải pháp ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý đối với đời sống của từng lứa tuổi
Ở phẩn Tâm lý học giáo dục – đây là phần cung cấp cho em nhiều kiến thức liên quan đến công việc sau này của mình nhất Sau khi tìm hiểu về các vấn đề nói chung của tâm lý
Trang 8học giáo dục, em đã được học về bản chất tâm lý của hoạt động dạy học, sự phát triển của trí tuệ và vận dụng được các kiến thức đó để xây dựng các phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực và nhận thức cho học sinh Bên cạnh đó, bản chất tâm lý của hoạt động học tập cũng là nội dung quan trọng được đề cập đến, từ đó em có thể hình thành được các kỹ năng học tập cho bản thân, tự xây dựng động cơ và hứng thú học tập cho mình và ứng dụng
để hướng dẫn học sinh của mình sau này Ngoài ra, thông qua việc tìm hiểu về bản chất tâm
lý của hoạt động giáo dục đạo đức, thái độ và các giá trị, em đã ứng dụng được những kiến thức đó vào việc đề xuất các phương án hình thành đạo đức, thái độ và các giá trị cho lứa tuổi học sinh Cuối cùng, phần Tâm lý học giáo dục đã giúp em hình thành năng lực sư phạm và tự xây dựng con đường phát triển năng lực sư phạm của mình
Lấy ví dụ rõ hơn trong phần Tâm lý học đại cương, khi em học về nội dung “Chú ý” Rèn luyện khả năng chú ý cho bản thân và cho học sinh có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động sư phạm của người giáo viên, bởi học sinh có khả năng này tốt sẽ ghi nhớ sâu nội dung học tập, ảnh hưởng tới kết quả nhận thức, nâng cao hiệu quả học tập Nhận thức của con người không thể sử lý được hết mọi thông tin mà thế giới cung cấp Hàng ngày , chúng
ta bị " tấn công " bởi các cảnh tượng, âm thanh , mùi vị và các kích thích khac nhau ở bất kỳ thời điểm nào chúng ta có xu hướng chỉ đáp trả hoặc ghi nhớ một số các kích thích, thông tin
mà thôi Chú ý là cái phông, nền để cho quá trình nhận thức diễn ra Chú ý là sự tập trung của ý thứ vào một hay một số các sự vật hiện tượng để định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh - tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả Chú ý được xem như
là một trạng thái tâm lý "đi kèm" các hoạt động tâm lý khác giúp cho các hoạt động đó diễn
ra hiệu quả, chẳng hạn như chăm chú nhìn, lắng nghe v.v Chú ý không có đối tượng riêng của bản thân nó: đối tượng của chú ý chính là đối tượng của hoạt động tâm lý mà nó đi kèm Chú ý được chia thành 3 loại: Chú ý không chủ định, chú ý có chủ định và chú ý sau chủ định Chú ý không chủ định là loại chú ý không có mục đích tự giác, không cần sự nỗ lực của bản thân, không cần sử dụng biện pháp nào mà vẫn chú ý vào đối tượng được Chú ý không chủ định chủ yếu do tác động bên ngoài gây ra, phụ thuộc vào đặc điểm vật kích thích như: Vật kích thích mới lạ, hấp dẫn về hình dáng, màu sắc; cường độ hay sự tương phản giữa vật kích thích và bối cảnh Ngoài đặc điểm của bản thân đối tượng thì quan hệ của đối tượng với nhu cầu, hứng thú của chủ thể cũng là nguyên nhân gây ra chú ý không chủ định
Trang 9Chú ý này có đặc điểm là không có mục đích đặt ra từ trước, không có biện pháp để chú ý, không đòi hỏi sự cố gắng, sự nỗ lực ý chí vì vậy sẽ ít mệt mỏi, không căng thẳng thần kinh song chú ý không chủ định thường kém bền vững Chú ý có chủ định là sự định hướng hoạt động do bản thân chủ thể đặt ra Do bản thân xác định mục đích hành động nên chú ý có chủ định phụ thuộc nhiều vào chính mục đích và nhiệm vụ hành động Loại chú ý này mang tính bền vững cao hơn Tuy nhiên do cần phải có sự nỗ lực cố gắng, nên nếu kéo dài thì dễ gây căng thẳng, mệt mỏi Chú ý sau chủ định: Loại chú ý này vốn là chú ý có chủ định nhưng không đòi hỏi sự căng thẳng về ý chí, lôi cuốn con người vào nội dung và phương thức hoạt động tới mức khoái cảm, đem lại hiệu quả cao của chú ý Chú ý sau chủ định giống với chú
ý không chủ định ở tính có mục đích tri giác nhưng nó cũng không đồng nhất với chú ý có chủ định vì sự say mê, hứng thú và không có sự căng thẳng ý chí Ba loại chú ý trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và chuyển hóa cho nhau, giúp con người phản ánh tốt nhất đối tượng Các loại chú ý này đều cần thiết cho hoạt động của con người vì mỗi loại đều có ưu điểm và hạn chế của nó, trong đó chú ý sau chủ định là loại cần hình thành trong các hoạt động của con người Chú ý có các thuộc tính cơ bản sau: Thứ nhất là sức tập trung chú ý Đây là khả năng tập trung vào một phạm vi hẹp, chỉ chú ý đến một hay một số đối tượng cần thiết cho hoạt động nhằm phản ánh đối tượng được tốt nhất, số lượng các đối tượng mà chú ý hướng tới gọi là khối lượng chú ý Sức chú ý càng cao thì cường độ chú ý càng lớn và hiệu quả hoạt động cao Thứ hai là tính bền vững của chú ý Đây là khả năng duy trì chú ý trong một thời gian dài đối với một hay một số đối tượng nhất định không chuyển sang đối tượng khác Đối lập với tính bền vững là sự phân tán chú ý Phân tán chú ý
là có chú ý nhưng không tập trung cao độ, lâu bền vào đối tượng, cũng như không phân phối
di chuyển chú ý một cách có tổ chức Tính bền vững của chú ý không mâu thuẫn với sức tập trung chú ý và sự di chuyển của chú ý Tính bền vững của chú ý có quan hệ mật thiết với các đặc điểm của cá nhân cũng như điều kiện khách quan của hoạt động Thứ ba là sự phân phối chú ý Đây là khả năng cùng một lúc chú ý đầy đủ đến nhiều đối tượng hay nhiều hoạt động khác nhau một cách có chủ định Phân phối chú ý không có nghĩa là chia đều chú ý cho mọi đối tượng hoạt động mà có sự không đồng đều chú ý ở các đối tượng khác nhau, đối tượng chính được chú ý nhiều, các đối tượng khác được chú ý ít hơn Muốn phân phối chú ý tốt thì phải đưa một số đối tượng hoạt động trở thành quen thuộc, chỉ có một hay một số hoạt động
Trang 10mới Sự phân phối chú ý không có mâu thuẫn gì với sức tập trung chú ý vì trong phân phối chú ý cũng có sự tập trung chú ý vào hoạt động mới Thứ tư là sự di chuyển chú ý: Đó là khả năng chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác theo yêu cầu của hoạt động Sự di chuyển chú ý không mâu thuẫn với độ bền vững của chú ý và cũng không phải phân tán chú
ý vì nó được di chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác một cách có ý thức và khi chuyển sang đối tượng chú ý mới thì chú ý lại được tập trung với cường độ cao
Từ những đặc điểm về khả năng tập trung chú ý, em đã tự biết cân nhắc các hành động, công việc của bản thân Sau khi học xong bài “Chú ý”, em đã tìm hiểu cách để tăng sự chú ý của bản thân, em đã tìm được “Phương pháp Pomodoro”, theo phương pháp này chúng
ta sẽ luyện tập tập trung trong 45 phút liền và cho bản thân nghỉ ngơi 15 phút Thời gian đầu tiên khi áp dụng phương pháp này vô cùng khó khăn, nhưng nếu cố gắng và kiên trì, em nghĩ
ai cũng có thể rèn luyện được khả năng chú ý của mình.Bên cạnh đó, em cũng tự xây dựng ý chí cho bản thân Chú ý và ý chí gắn liền với nhau, ý chí cho phép ta bỏ qua có ý thức những yếu tố gây xao lãng trong khi vẫn tập trung vào công việc đang làm Ngoài ra, em đã rèn luyện được thói quen ghi lại những vấn đề gây phân tâm để xử lí sau Internet giúp ta có thể truy cập tức thì bất kỳ thông tin nào, mỗi khi nghĩ ra điều gì đó, ta có xu hướng muốn tra cứu
nó ngay Do đó, mỗi khi có những suy nghĩ hoặc câu hỏi như vậy, ta sẽ bị ngừng tập trung vào công việc đang làm Để tiếp tục hoàn thành công việc của mình, bất cứ khi nào chợt nghĩ đến một điều gì đó, em đã viết nó ra một quyển sổ nhỏ và tự hứa với bản thân rằng sau khi hết thời gian tập trung và đến lúc giải lao, em sẽ quay lại kiểm tra Khi tham gia học tập,
em luôn tự ý thức chuyển điện thoại về chế độ im lặng, dùng bút highlight đánh dấu các nội dung theo lời giảng của giảng viên Bằng những cố gắng của mình và việc áp dụng những kiến thức Tâm lý học vào việc rèn luyện khả năng chú ý của mình, kết quả học tập học kì này của em đã tiến bộ hơn rõ rệt so với kì trước, em luôn hoàn thành công việc của mình đúng thời hạn và có chất lượng công việc tốt
Ngoài việc áp dụng kiến thức để rèn luyện bản thân, em đã tim hiểu được một số phương pháp giúp học sinh của mình rèn luyện được khả năng chú ý Để rèn luyện khả năng này ở học sinh, giáo viên nên giao cho các em những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý
và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi và lưu ý đến tính cá thể của học sinh, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả