Đẻ khó do thai to có thể là do:thai to toàn phần to từng phần của cơ thể: não úng thủy, bụng to, bụng cóc hoặc cổ trướng, mông có bướu (spina bifida)…Thường gây khó khăn và nguy hiểm cho cả thai nhi lẫn mẹ trong chuyển dạMột thai quá to thường yếu đuối và khó nuôi hơn một thai bình thườngThai nặng trên 4000g khi tới ngày sanh, bao gồm toàn thân thể của thai nhiSự đẻ khó có tính chất tương đối, tùy mức độ mất cân xứng giữa thai nhi to và khung chậu của mẹ Đẻ khó thường do vai thai nhi. Theo ACOG: tỷ lệ đẻ khó do thai to gây kẹt vai thay đổi từ 0,61,4%
Trang 1ĐẺ KHÓ DO THAI TO
HỌC VIÊN : BS VÕ THI THU HÀ
CK2 2009-2010
Trang 2MỤC TIÊU
-ĐỊNH NGHIA THAI TO.PHÂN LOẠI VÀ NGUYÊN NHÂN -MÔ TẢ DIỄN TIẾN CUỘC CHUYỂN DẠ THAI TO
-THÁI ĐỘ XỬ TRÍ ĐỐI VỚI ĐẺ KHÓ DO THAI TO
-TRÌNH BÀY CÁC THỦ THUẬT KHI ĐẺ KHÓ KẸT VAI
Trang 3Đẻ khó do thai to có thể là do:
– thai to toàn phần
– to từng phần của cơ thể: não úng thủy, bụng
to, bụng cóc hoặc cổ trướng, mông có bướu (spina bifida)…
Thường gây khó khăn và nguy hiểm cho cả thai nhi lẫn mẹ trong chuyển dạ
Một thai quá to thường yếu đuối và khó nuôi hơn một thai bình thường
Trang 5YẾU TỐ NGUY CƠ
Mẹ bị đái tháo đường, béo phì, hay cả hai: nguy cơ quan trọng nhất
Khác:
– Cha mẹ cao lớn, đặc biệt là người mẹ
– Đa sản
– Thai già tháng sinh lý
– Thai giới tính nam
– Tiền căn sanh con trên 4000g
– Chủng tộc
Trang 7Bé trai cân nặng 6,2 kg Mẹ tiểu đường Mổ bắt con tại Bệnh viện phụ sản Tiền
Giang(23.5.2010)
Trang 8CHẨN ĐOÁN
Tiền sử sanh con to
Nhìn: bụng to, nứt ở da bụng, chi dưới phù
Khám:
– Bề cao tử cung có thể 38-40cm: phân biệt đa ối, đa thai, u
xơ tử cung kèm theo có thai, cổ trướng và có thai…
– Thường ngôi đầu rất cao, chồm vệ, không lọt được khi có chuyển dạ
Siêu âm:
– Chẩn đoán phân biệt với đa thai, đa ối, dị dạng thai nhi… – Giá trị tiên đoán trọng lượng thai nhi chỉ đạt 50%
Trang 9DIỄN TIẾN CỦA SỰ CHUYỂN DẠ
Không lọt khi vào chuyển dạ hay khi gần ngày sanh
Chuyển dạ thường khó khăn, kéo dài → đờ tử cung, suy thai Đầu không lọt dù cơn co tử cung tốt
Cơn co tử cung bị rối loạn, có thể vỡ tử cung
Ối vỡ sớm dễ gây nhiễm trùng ối
Nếu đầu lọt thì sự xuống trong KC cũng sẽ rất chậm Đầu bị dồn ép nhiều, bướu huyết thanh to Sự xoay diễn ra khó khăn
và sự sổ thai dễ gây tổn thương phần mềm của mẹ
Thai dễ bị chấn thương sọ não
Kẹt vai là biến cố đáng sợ nhất
Trang 10XỬ TRÍ
Trường hợp biết chắc chắn thai to hoặc ngôi bất thường: nên mổ lấy thai.
Trang 11KẸT VAI
Hội sản phụ khoa Mỹ: một số bước thực hiện khi kẹt vai
bác sĩ nhi Ở thời điểm này, nên khởi đầu bằng kéo nhẹ nhàng Thông tiểu nếu bàng quang căng
đầu thai xuống
nắm một chân và gập mạnh đùi mẹ cho áp sát bụng
Trang 13Thủ thuật Woods: xoay dần dần vai sau 180 độ ra trước theo cách xoắn lại
Trang 14Cố gắng kéo cánh tay sau ra ngoài
Trang 15Thủ thuật Zavanelli: đẩy đầu trở vô khung chậu
và mổ lấy thai
hoặc chẩm sau
trở vào âm đạo sau đó mổ lấy thai
Trang 16ĐẺ KHÓ DO ĐẦU TO (NÃO ÚNG THỦY)
Thường do khiếm khuyết của ống thần kinh gây ra
sự rối loạn về cơ chế lưu thông dịch não tủy (dị
dạng hay bướu làm tắc nghẽn) hoặc do sự rối loạn
về cơ chế hấp thu
Hậu quả:
– dãn nở rộng não thất
– nhu mô não bị chèn ép và teo
– chu vi đầu thai to
Trang 18Trước chuyển dạ:
Trong chuyển dạ:
Cận lâm sàng:
các não thất dãn rộng
Trang 19Nếu thai không thể sống được, rút dịch não tủy:
– ngôi đầu: chọc dò qua thóp hay đường khớp – ngôi mông: chọc qua lỗ chẩm
Trường hợp não úng thủy nhẹ, cố gắng bảo vệ thai, sau sanh sẽ làm phẫu thuật dẫn lưu dịch não tủy
Trang 21ĐẺ KHÓ DO CỔ
ĐẺ KHÓ DO THÂN
Trang 22-Do cổ có những bướu, nhiều khi rất lớn như u nang, bướu tân dịch, bướu
tuyến giáp làm cho đầu không gập được gây nên những bất thường của ngôi thai như ngôi mặt, ngôi trán, ngôi thóp trước
- Định bệnh rất khó, nhiều khi chỉ có thể biết được sau khi đã đem thai ra ngoài qua mổ lấy thai, hoặc chọc bướu nếu thai
đã chết, hoặc khi đầu ra bị áp chặt vào âm
hộ, hoặc qua thăm khám thấy phần cổ của thai nhi có bướu.
Trang 24ĐẺ KHÓ DO CỔ
ĐẺ KHÓ DO THÂN
Trang 25chặt vào âm hộ, hoặc qua thăm khám thấy phần cổ của thai nhi có bướu
Trang 27ĐẺ KHÓ DO THÂN
lớn đến nỗi sự đẻ tự nhiên không thể thực hiện được như trong trường hợp chứng tăng nguyên hồng cầu (erythroblastosis), giang mai, xung khắc nhóm máu giữa mẹ và con, bệnh loạn dưỡng sụn, phù voi (elephanthiasis)
Bụng của bào thai cũng có thể lớn đến độ làm làm cho sự sinh đẻ bị bế tắc như trong trường hợp bào thai bị báng bụng, bướu thận – thường là
u nang thận bẩm sinh, bướu gan hay của các tạng trong bụng, bàng quang đầy nước tiểu và căng cứng trong các dị tật nghẽn tắc đường bài niệu thấp của thai nhi.