1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn hóa dân tộc tày hoàn chỉnh nhóm 1

37 199 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 16,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà ởNgười Tày thường cư trú và sinh sống tại Nhà Sàn với đặc điểm thường thấy là nhà đất mái lợp cỏ gianh và phổ biến nhất thường là loại nhà ở 3 gian, 2 mái... - Nhà Quan ma: Loại nhà

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG

Trang 2

1 Định nghĩa dân tộc

2 Nguồn gốc dân tộc Tày

3 Dân số và địa bàn cư

trú

KHÁI QUÁT CHUNG

Trang 3

Toàn bộ nhân dân

của môt quốc gia

Nghĩa hai

Dân tộc là bộ phận của quốc gia – quốc gia có

nhiều dân tộc

Có hai nghĩa được dùng

phổ biến nhất

Trang 4

 Dân tộc Tày còn có

tên gọi là “Tày Ðen g” hoặc Thổ

 Sinh sống lâu dời ở

khu vực miền núi

Trang 6

 Chủ yếu cư

trú tại các tỉnh trung du

và miền núi phía bắc

 Gần đây,

người Tày còn di cư tới một số tỉnh Tây Nguyên

1.626.392 người

 Là dân tộc có

dân số đứng thứ 2 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả

63 tỉnh, thành phố

Trang 7

NHỮNG NÉT VĂN HÓA

TIÊU BIỂU

Trang 8

VĂN HÓA

VẬT CHẤT

Trang 9

Ẩm

thực

Cuộc sống của người Tày thường gắn bó với thiên nhiên, do đó, nguồn lương thực, thực phẩm chính của người Tày là những sản

phẩm thu được từ hoạt

động sản xuất ở vùng có rừng, sông, suối, đồi núi bao quanh

Trang 10

- Thường ngày, người Tày ăn hai bữa: bữa trưa và bữa tối

- Theo truyền thống có nhiều quy định trong bữa ăn như: Khi ăn thường sắp thành 2 mâm, một mâm giành cho đàn ông đặt ở gian giữa gần bàn thờ tổ tiên, một mâm giành cho nữ và trẻ em được đặt kế tiếp ở gian bên, nồi cơm để giữa

- Phong cách ẩm thực trong nghi thức bữa ăn của người Tày

đề cao tính trọng lão và trọng khách

Trang 11

- Về đồ uống (ẩm) họ có các loại nước uống hàng ngày được nấu từ các loại lá cây như nhân trần, chè, hạt

muồng, lá vối… Các loại

rượu gồm rượu ngô, rượu

Trang 12

Những món ăn đặc sắc của dân tộc Tày là : Bánh coóc mò của người Tày ở Võ Nhai - Thái Nguyên; Bánh gio; Xôi ngũ sắc; Bánh chuối của người Tày ở Nguyên Bình – Cao Bằng, Rêu nướng ở Xuân Giang - Hà Giang; Nem măng đắng ở

Lào Cai

Trang 14

Nhà ở

Người Tày thường cư trú

và sinh sống tại Nhà Sàn với đặc điểm thường thấy

là nhà đất mái lợp cỏ gianh và phổ biến nhất thường là loại nhà ở 3 gian, 2 mái

Trang 15

Những kiểu nhà ở của người Tày

- Nhà Lều: Là loại nhà có kết cấu đơn giản và sơ khai nhất của người Tày

- Nhà Quan ma: Loại nhà sàn thường có 4 gian có đặc điểm là cột được chôn sâu xuống đất, được biến thể từ kiểu nhà lều để nhằm bảo

vệ con người và vật nuôi khỏi thú dữ

Trang 16

- Nhà Cai Tư: Là kiểu nhà biến thể tiếp của nhà Quan Ma thường có đặc điểm là 5 gian ( 3 gian chính và 2 gian trái) Cột nhà Cai tư được kê bằng đá tảng.

- Nhà Con Thong: Là loại nhà sàn được người Tày dùng để ở phổ biến nhất hiện nay

Trang 17

Nguyên vật liệu được sử dụng để xây

nhà

- Vật liệu làm nhà sử dụng phổ biến trong kiến trúc nhà ở của người dân tộc Tày được lựa chọn rất kỹ lưỡng Từ cột, ván, sàn, cọ,…

- Để làm nhà, nguyên liệu chủ yếu của người Tày được xử lý theo kỹ thuật truyền thống Họ ngâm gỗ, tre, nứa tươi dưới nước và bùn trong khoảng thoài gian từ 3 đến 6 tháng trở nên để chống mối mọt Kết cấu nhà ở của người Tày có sàn cao trung bình khoảng từ 1.8m và độ rộng hơn 100m2

Trang 18

Những chú ý về kiến trúc ngôi nhà

- Chú ý về hướng làm nhà: Người Tày thường rất cẩn trọng trong việc lựa chọn hướng để làm nhà Hướng của kiến trúc nhà ở của người dân tộc Tày thường tựa lưng vào núi, hướng ra sông, suối

- Chú ý về cách bố trí công năng sử dụng: Nhà sàn được cấu tạo khuôn viên riêng, có một nhà chính, có sàn phơi, nhà kho Khuôn viên thường chỉ có một cổng duy nhất ở phía chái chính Thường nhà sàn có 5 gian, 3 gian hoặc 1 gian hai chái, mái chép hình lưỡi rìu, thấp so với mặt sàn

Trang 19

- Chú ý về cầu thang trong thiết kế kiến trúc nhà ở của người Tày: Cầu thang lên nhà sàn làm bằng gỗ và thường có 9 bậc, mỗi bậc tượng trưng cho một vía của người phụ nữ Tày.

Trang 20

Trang

phục

Trang phục cổ truyền của người Tày được làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm đồng nhất trên trang phục nam và nữ, hầu như không có hoa văn trang trí

Trang 21

- Trang phục nam giới người Tày có quần chân què, đũng rộng, cạp lá tọa, áo ngắn cũng may năm thân, cổ đứng Nam cũng có áo dài như cái áo ngắn kéo dài vạt xuống quá đầu gối.

Trang 22

- Trang phục nữ

giới gồm áo cánh,

áo dài năm thân,

quần váy, thắt

lưng, khăn đội đầu,

hài (giày) vải

Phụ nữ Tày còn thắt lưng bằng những tấm vải chàm hay đũi dài khoảng hai sải tay, rộng khoảng 40cm gấp làm tư, chiều dài đủ quấn quanh thân người hai vòng, buộc lại ở phía sau, để buông dải đuôi xuống sau lưng

Trang 23

Hoạt động sản

xuất

- Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng

- Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến

- Người Tày có nghề thủ công khá phong phú, họ đan các đồ dùng bằng cót, bồ, sọt, rổ, nơm,

Trang 24

Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo.

Trang 26

VĂN HÓA

TINH THẦN

Trang 27

Ngôn

ngữ

- Ngôn ngữ của dân tộc Tày là tiếng Tày Tiếng Tày có vị trí quan trọng và được

sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày của cư dân

bản xứ

Trang 28

- Trước đây tiếng Tày sử dụng chữ viết là chữ Hán Nôm - Tày, dạng chữ này hiện giờ không còn được sử dụng Ngày nay tại Việt Nam chữ quốc ngữ được sử dụng, và vấn đề phát âm của tiếng Tày theo chữ quốc ngữ không có sai là bao nhiêu.

Trang 29

Tín

ngưỡng

- Người Tày chủ yếu theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, một trong những vấn đề tín ngưỡng tâm linh quan trọng nhất của dân tộc Tày Tổ tiên với người Tày là thiêng liêng, được thờ cúng trong nhà Gian giữa nhà, nơi trang trọng nhất

hướng ra cửa chính là vị trí đặt bàn thờ tổ tiên của gia đình

Trang 30

- Cũng như nhiều dân tộc khác,

người Tày còn có quan niệm phổ

biến là "vạn vật hữu linh" (bái vật giáo)

- Trong đời sống tâm linh, người Tày đều chịu ảnh hưởng của tam giáo từ

xa xưa Đó là: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo

Trang 31

Lễ hội

- Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác

nhau Tết Nguyên đán - mở đầu năm mới và tết rằm tháng

7 - cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả Ngoài ra, còn có lễ hội Lồng tồng, lễ hội Nàng Hai, lễ hội rước Đất rước Nước là các lễ hội đặc trưng cho đồng bào dân tộc Tày

Trang 32

Lễ hội Nàng Hai Lễ hội Đất rước Nước

Lễ hội Lồng

tồng

Trang 33

Hôn

nhân

Theo phong tục truyền thống,

hầu hết người Tày kết hôn trong cùng dòng họ Gia đình người Tày theo chế độ gia đình hạt nhân, phụ hệ, một vợ một chồng Hôn

lễ truyền thống của người Tày

được tiến hành qua các nghi

thức: Lễ dạm, lễ ăn hỏi, lễ sêu

tết, lễ báo ngày cưới, lễ cưới, lễ đón dâu, đưa dâu,… thể hiện bản sắc văn hoá của một tộc người

Trang 34

Tang

ma

- Theo quan niệm của người Tày, con người sinh ra có linh hồn Song để linh hồn người chết được siêu thoát, trở về

đoàn tụ với tổ tiên ở bên kia thế giới thì làm ma chay càng

có ý nghĩa quan trọng Người Tày có hai nghi lễ làm ma cho người đã khuất, đó là đưa tang (làm ma tươi) và dâng nhà

xe (làm ma khô)

Trang 35

Âm

nhạc

- Người Tày có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú, đủ các thể loại thơ, ca, múa nhạc, Các điệu dân ca phổ biến nhất là hát lượn, hát đám cưới, ru con Có nhiều điệu lượn như lượn Slương, lượn Then, lượn Nàng Hai, Người Tày còn

có các điệu hát Then, gọi là Văn ca - được ngâm hát trong đám tang, gọi là hát hội trong các hội Lồng tồng, gọi là Cỏ lẩu trong hát đám cưới

- Đàn Tính là loại nhạc cụ có mặt trong tất cả những sinh hoạt văn hoá tinh thần của đồng bào Tày

Ngày đăng: 03/12/2018, 03:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w