Đổi mới phương pháp dạy học môn vật lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả trong dạy học và rút ra các bài học kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của mục tiêu giáo dục và của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trang 1MỤC LỤC
II các vấn đề thực trạng của việc đổi mới phương pháp dạy học 4
IV Những biện pháp để đổi mới phương pháp dạy học môn vật lý ở
Trang 2Trong thời kỳ đất nước đang phát triển và có những bước chuyển mìnhvượt bậc như hiện nay, sự đổi mới toàn diện trên nhiều lĩnh vực được coi làmột trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của đấtnước Để thích ứng kịp với sự phát triển trên thì giáo dục cũng phải tự đổi mớinhằm tạo ra những thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước có đủ sức, đủ tài đưađất nước sánh vai với các cường quốc trên thế giới đúng với lời dạy của Bác.Thực hiện Nghị quyết lần thứ 4 của BCH TW Đảng khẳng định: "Tiếp tục đổimới sự nghiệp giáo dục và đào tạo", toàn ngành giáo dục nói chung và các thầy
cô giáo nói riên đang ra sức thi đua để đưa sự nghiệp trồng người lên một tầmcao mới
Trong tất cả các môn học thì vật lý học là một trong những môn khoahọc về tự nhiên, nhiệm vụ chủ yếu của nó là nghiên cứu các hiện tượng vật lý,tìm nguyên nhân, khám phá ra các định luật vật lý phục vụ lợi ích của conngười Vật lý là cơ sở cho nhiều ngành kỹ thuật Những thành tựu của vật lý và
kỹ thuật phục vụ rất nhiều cho cuộc sống của con người trên mọi mặt Để cóhiệu quả cao trong giảng dạy thì người giáo viên dạy vật lý phải thường xuyênnghiên cứu, sử dụng những thành quả của những môn khoa học có liên quan,cần phải tiếp thu những thành tựu tiên tiến, những kinh nghiệm và phươngpháp giảng dạy theo hướng đổi mới
Với những lý do trên nên tôi chọn đề tài:
"Một số phương pháp đổi mới để nâng cao hiệu quả trong dạy học mônvật lý"
II MỤC ĐÍCH
- Đổi mới phương pháp dạy học môn vật lý để nâng cao chất lượng, hiệu
quả trong dạy học và rút ra các bài học kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của mụctiêu giáo dục và của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trang 3- Xuất phát từ mục tiêu giáo dục và đào tạo của đất nước hiện nay.
Giáo dục và đào tạo hiện nay có mục tiêu lớn nhất là tạo ra các thế hệ trẻ
có trình độ văn hóa, năng lực sáng tạo, phẩm chất đạo đức tốt đáp ứng kịp thờinhững yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Để đạt được mục tiêu đó thì tronggiảng dạy ở nhà trường phổ thông điều quan trọng nhất là phát triển trí tuệ vànăng lực tự học tự sáng tạo của học sinh trong học tập
- Xuất phát từ nội dung bản chất của quá trình dạy học, hoạt động nhậnthức
Bản chất của quá trình dạy học là quá trình giúp học sinh phát triển trítuệ thông qua việc rèn luyên kỹ năng, thái độ học tập Thông qua việc học, họcsinh phát triên năng lực sáng tạo, bộc lộ phẩm chất tâm lý và hình thành nhâncách Trong quá trình làm cho học sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng, nhiệm vụcủa quá trình dạy học không phải chỉ giới hạn ở sự tạo thành các kiến thức, kỹnăng, kỹ xảo có tính chất tái tạo đơn thuần Mà cần phải làm sao cho trong quátrình dạy học phát triển được ở học sinh năng lực áp dụng kiến thức trong tìnhhuống mới Giải nhữgn bài toán không phải chỉ là chỉ theo khuôn mẫu đã có,thực hiện những bài toán làm có tính chất nghiên cứu và thiết kế, vạch ra cácangorit hợp lý mà trước kia chưa biết để giải các bài toán thuộc loại mới, cũngnhư nắm được những kỹ năng, kỹ xảo mới hợp yêu cầu thực tiễn Tức là phảiphát triển năng lực sáng tạo của học sinh
- Xuất phát từ thực tế giáo dục hiện nay
Đa số giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc phát huy khả năng tựhọc, tự sáng tạo của học sinh mà chỉ chăm lo cung cấp cho học sinh những kiếnthức cần thiết để các em làm bài điểm cao Ở nhiều trường còn tập trung vàgiảng dạy lý thuyết mà bỏ qua phần thực hành và liên hệ thực tiến làm mất dầnhứng thú học tập của học sinh Điều này nguy hại là, sau khi học xong các hiệntượng vật lý và các định luật về vật lý một số em lại không biết vận dụng cáchiện tượng, định luật đó vào để giải thích một số hiện tượng về khoa học tựnhiên và không chỉ ra được ứng dụng rộng rãi của nó trong khoa học kỹ thuật
- Xuất phát từ xu thế giáo dục của thế giới hiện nay:
Về đổi mới phương pháp là vấn đề cấp bách của thời đại đối với chúng
ta Ngày nay sự đổi mới phương pháp dạy học là sự sống của giáo dục ViệtNam Vì trước những bước tiến của nhân loại, đất nước ta đang đổi mới nềnkinh tế để hoà nhập với thế giới hiện đại Do vậy việc đổi mới phương phápdạy học là không thể thiếu được trong nhà trường hiện nay Dạy học, lấy học
Trang 4sinh làm trung tâm là cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học Có nhưvậy thì mới có phát huy được năng lực Năng lực đó phải được đào tạo và rènluyện thành thói quen, phải được hình thành từ nhà trường phổ thông cũng nhưcủa môn khoa học tự nhiên khác Vì môn Vật lý là môn khoa học thực nghiệm
nó là cơ sở cho nhiều ngành kỹ thuật, các máy móc được chế tạo dựa trên cácthành tựu vật lý: Động cơ ô tô, máy bay được chế tạo dựa vào kiến thức vềnhiệt, Máy phát điện, động cơ điện, vô tuyến truyền hình được chế tạo dựatrên kiến thức về điện những thành tựu của vật lý và kỹ thuật phục vụ rấtnhiều cho cuộc sống của con người trên mọi mặt Vì vậy việc đổi mới phươngpháp trong dạy học vật lý là không thể thiếu được
II CÁC VẤN ĐỀ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Trong những năm cải cách giáo dục (1981 đến nay) chúng ta đang cốgắng và đa dạng hoá cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Cải cách giáo dục trên
cả 3 mặt: hệ thống giáo dục, nội dung và phương pháp dạy học Song phươngpháp giáo dục vẫn chưa được quan tâm và phương pháp dạy học chưa được đổimới tương xứng Mặc dù những năm gần đây có cố gắng mà cụ thể là số giáoviên giỏi, học sinh giỏi cũng đã tăng nhiều so với những năm trước Tuy nhiêntình trạng phổ biến vẫn là:
+ Các bài dạy chưa có đầy đủ các thí nghiệm, vẫn còn tình trạng dạychay, các bộ dụng cụ thí nghiệm được trang bị về trường đa phần chất lượngchưa tốt, trải qua các năm học dần bị mai một làm cho học sinh ở các năm họcsau không có đủ dụng cụ để thực hành hoặc nếu đủ thì chưa đáp ứng được yêucầu về số lượng, chất lượng
+ Giáo viên thuyết trình kết hợp với đàm thoại chưa đưa học sinh vàotình huống có vấn đề Hệ thống câu hỏi và các tình huống của giáo viên đưa rachưa sát sao, chưa gắn với thực tiễn bài học, chưa gần gũi với học sinh
+ Học sinh được luyện tập, thực hành ít và chủ yếu là vận dụng tri thứcmột cách máy móc đơn giản, chưa thấy được ứng dụng của các kiến thức đã
học vào trong thực tế.
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các tài liệu nghiên cứu về giáo dục và đào tạo
- Nghiên cứu các văn kiện Đại hội của Đảng
- Nghiên cứu các chỉ thị hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học
- Nghiên cứu luật giáo dục, điều lệ trường phổ thông
Trang 52 Phương pháp nghiên cứu thực tế
1 Nắm bắt được mục tiêu của mỗi bài học
Mục tiêu: Là căn cứ để đánh giá chất lượng của học sinh và hiệu quả bàidạy của giáo viên Người dạy phải nắm bắt được mục tiêu dạy học trong từngnội dung kiến thức, người học phải nắm được cái gì sau bài học Mục tiêu cầnphải được lượng hoá
Có 3 nhóm mục tiêu:
a Mục tiêu kiến thức:
Yêu cầu học sinh phải lĩnh hội các khái niệm vật lý cơ sở để có thể mô tảđúng các hiện tượng và quá trình vật lý cần nghiên cứu và giải thích một sốhiện tượng và quá trình vật lý đơn giản Đối với các định luật vật lý, các côngthức thì giáo viên cần phải hướng cho học sinh cách ghi nhớ sao cho dễ học, dễthuộc Vật lý là môn học thiên về giải thích, nhận biết các hiện tượng nên cầnphải giúp học sinh nhận biết được những dấu hiệu cơ bản có thể quan sát, cảmnhận được của các hiện tượng đó Sau đó học sinh vận dụng cho quen trongngôn ngữ khoa học thay cho ngôn ngữ thông thường ban đầu
Thí dụ khái niệm ảnh ảo: Thông thường học sinh chỉ biết cái ảnh cụ thể,
có thể nhìn thấy, sờ thấy như ảnh ở thẻ học sinh, ảnh in trên báo ảnh ảo làmột khái niệm khác hẳn, tuy là ảnh ảo nhưng vẫn tồn tại thật, vẫn xác địnhđược vị trí, độ lớn nhưng lại không hứng được trên màn Học sinh phân biệtđược ảnh ảo ảnh thật
Chú trọng việc xây dựng kiến thức xuất phát từ những hiểu biết, nhữngkinh nghiệm đã có của học sinh rồi sửa đổi, bổ sung phát triển thành kiến thứckhoa học Tránh việc đưa ra ngay những khái niệm trừu tượng xa lạ với họcsinh, diễn đạt bằng những câu, chữ khó hiểu Thông thường một định luật vật
lý có hai phần: Phần định tính và định lượng Tuỳ từng định luật, từng đốitượng học sinh và điều kiện giảng dạy, giáo viên có thể đưa cả hai phần haykhông?
Thí dụ:
Trang 6- Định luật bảo toàn cơ năng gồm 2 phần:
+ Định tính: cơ năng của một hệ kín là một đại lượng được bảo toàn.+ Định lượng: động năng + thế năng = cơ năng = không đổi
Trong khi giảng dạy, giáo viên có thể chỉ đưa vào nội dung phần địnhtính và giải thích cho học sinh hiểu hoặc đưa vào cả phần định lượng để họcsinh nắm được bài rõ hơn
- Biên độ dao động của vật dao động càng lớn thì âm phát ra càng to
- Hiệu điện thế giữa hai đầu bóng đèn càng lớn (nhỏ) thì dòng điện chạyqua bóng đèn có cường độ dòng điện càng lớn (nhỏ)
Những hiểu biết về phương pháp nhận thức khoa học cũng được nângcao thêm một mức Cần hướng dẫn học sinh thường xuyên đưa nhiều dự đoánkhác nhau về cùng một hiện tượng và tự lực đề xuất các phương án làm thínghiệm để kiểm tra dự đoán Có thể học sinh chỉ nêu được sơ bộ về phương án,kiểm tra, giáo viên cần giúp đỡ họ phát triển hoàn chỉnh phương án để trởthành khả thi hoặc thảo luận để chọn phương án tối ưu Cần hướng dẫn họcsinh thực hiện một số phương pháp suy luận khác như phương pháp tương tự,phương pháp tìm nguyên nhân của hiện tượng Những hiểu biết về phươngpháp nhận thức đó, nhằm rèn luyện cho học sinh thói quen mỗi khi rút ra mộtkết luận không thể dựa vào cảm tính mà phải có căn cứ thực tế và biết cách suyluận chặt chẽ
b Về kỹ năng
- Về kỹ năng quan sát:
Bước đầu xây dựng cho học sinh biết quan sát mục đích, có kế hoạch.Trong một số trường hợp đơn giản học sinh có thể tự vạch ra kế hoạch quan sátchứ không phải tuỳ tiện ngẫu nhiên, có khi phải tổ chức cho học sinh trao đổi
kỹ trong nhóm về mục đích kế quan sát rồi mới thực hiện quan sát
- Kỹ năng thu thập xử lý thông tin:
Trong khi quan sát thí nghiệm chú trọng trong việc ghi chép các thôngtin thu thập được, lập thành biểu bảng một cách trung thực Việc xử lý thôngtin, dữ liệu thu được phải theo những phương pháp xác định, thực chất phươngpháp suy luận là để từ những dữ liệu, số liệu cụ thể rút ra kết luạn chung (quynạp) hay từ những tính chất quy luật chung suy ra những biểu hiện cụ thể trongthực tiễn (suy diễn) Chú trọng ngôn ngữ phát triển, ngôn ngữ vật lý ở học sinh.Yêu cầu học sinh phải sử dụng những khái niện mới để mô tả và giải thích các
Trang 7hiện tượng, các quá trình, rèn luyện kỹ năng diễn đạt rõ ràng, chính xác ngônngữ của vật lý, thông qua việc trình bày các kết quả quan sát nghiên cứu vàtrong thảo luận ở nhóm, ở lớp Tạo điều kiện để học sinh nói nhiều hơn ởnhóm, ở lớp.
Yêu cầu học sinh trung thực, tỷ mỉ, cẩn thận trong khi làm việc cá nhân.Khuyến khích học sinh mạnh dạn nêu ý kiến của mình, không dựa dẫm vàobạn Có tinh thần cộng tác phối hợp với các bạn trong hoạt động chung củanhóm Phân công mỗi người một việc, mỗi lần một người trình bày ý kiến của
tổ, biết nghe ý kiến của bạn, thảo luận một cách dân chủ Biết kiềm chế mình,trao đổi trong nhóm đủ nghe không gây ồn ào ảnh hưởng đến toàn lớp
2 Tổ chức học sinh học tập
Hình thức chủ yếu vẫn là học tập theo lớp, cả lớp cùng nghiên cứu mộtvấn đề, đạt đến cùng một kết luận riêng bài thực hành khác với trước đây, bâygiờ bao gồm 2 loại:
- Loại thứ nhất: Học sinh thông qua thí nghiệm hình thành kiến thứcmới Loại này khác với loại bài nghiên cứu kiến thức mới thông thường dựatrên thí nghiệm ở chỗ: học sinh phải tiến hành các phép đo đạc định lượng,phải làm báo các kết quả thực hành Đối với hình thức này, học sinh chủ độngtìm ra kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên Thí dụ như bài 27 "đo hiệuđiện thế và cường độ dòng điện đối với mạch điện song song: (Vật lý 7)
- Loại thứ hai: Không nhằm hình thành kiến thức mới, chỉ nhằm rènluyện một loạt kỹ năng phân biệt, loại này giống như các bài thực hành đang có
ở THCS hiện nay Thí dụ: như bài 6 "Quan sát và vẽ ảnh của một vật tạo bởigương phẳng: (Vật lý 7)
Học sinh ngày càng phát triển hoàn thiện hơn, hình thức làm việc theonhóm, cụ thể là:
+ Phân công nhận và thu dọn, nộp lại dụng cụ thí nghiệm của nhóm
Trang 8+ Điều khiển hoạt động của nhóm: Phân công công việc, trao đổi ý kiến,tập hợp những ý kiến khác nhau, lần lượt cử người đại diện nhóm phát biểu
+ Nhắc nhở các thành viên hoàn thành nhiệm vụ cá nhân và nhiệm vụchung của nhóm
+ Sử dụng rộng rãi có hiệu quả hình thức làm việc theo nhóm ở lớpnhằm:
- Tạo điều kiện khuyến khích học sinh làm việc tự lực
- Tạo điều kiện, khôngkhí thuận lợi để mỗi học sinh phát biểu ý kiến cánhân, phát huy sáng tạo rèn luyện ngôn ngữ
+ Rèn luyện thói quen phân công, hợp tác giúp đỡ nhau trong hoạt độngtập thể, trong cộng đồng: Vừa tự do nêu ý kiến riêng (dù chưa được đầy đủ,chính xác) Biết tranh luận để bảo vệ ý kiến của mình, vừa biết lắng nghe ýkiến của bạn Nhờ có ý kiến của bnạn trong nhóm mà sửa lại ý kiến sai củamình và gợíy cho mình những suy nghĩ mới
3 Một số cách đặt câu hỏi (có 6 cách).
a, Câu hỏi (biết)
- Mục tiêu: Kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ kiện, số liệu, địnhnghĩa, tên tuổi, địa điểm
- Tác dụng: Giúp học sinh ôn lại những gì đã học
- Cách đặt câu: Cái gì? bao nhiêu? hãy định nghĩa?
Em biết những gì, hãy mô tả, cái nào? bao giờ? khi nào?
b, Câu hỏi " hiểu"
- Mục tiêu: Kiểm tra học sinh cách liên hệ, kết nối các số liệu dữ kiện,định nghĩa
- Tác dụng cho thấy học sinh có khả năng diễn tả được lời nói nêu đượccác yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong bài học
- Cách đặt cây hỏi: Tại sao? Hãy liên hệ? Hãy so sánh? Hãy tính?
Trang 9- Cách đặt câu hỏi:
Làm thế nào? Hãy tính sự chênh lệch? hoặc em có thể giải quyết khókhăn về vấn đề này như thế nào?
d, Câu hỏi " phân tích" :
- Mục tiêu: Kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề từ đó đi đến kếtluận hoặc tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh vấn đề nào đó
- Tác dụng: Cho thấy khả năng tìm ra mối quan hệ mới tự diễn giải vàđưa ra kết luận
- Câu hỏi: Tại sao?
- Cách đặt câu hỏi: Em hãy tìm ra cách ?
f Câu hỏi " đánh giá" :
- Mục tiêu: Kiểm tra học sinh có thể đóng góp ý kiến hoặc đánh giá ýtưởng giải pháp
Tóm lại: Các câu hỏi của giáo viên đưa ra phải có sự lựa chọn, tinh giản
Tư duy bắt đầu từ cảm giác, tri giác các đối tượng và các hiện tượng.Không có sự nhận thức cảm tính thì không có thể có tư duy của học sinh Từđây rút ra nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học vật lý trongviệc phát triển tư
Trang 10duy, phát triển những năng lực trí tuệ chung là : kích thích sự quan sát hiệntượng, quá trình và các đối tượng một cách chăm chú có định hướng.
Trong những dấu hiệu cơ bản của sự phát triển trí tuệcủa học sinh là:Khả năng so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trìu tượng hoá tách rađược cái bản chất trong các hiện tượng, trong mỗi tình huống Và việc chuẩn bịthí nghiệm và việc kế hoạch hoá chúng, việc tiến hành các thí nghiệm là nhằmđược mục đích đó
- Phát triển ngôn ngữ cho học sinh:
Tư duy và ngôn ngữ trong sự thống nhất không thể tách rời, do đó sựphát triển tư duy có liên quan trực tiếp với sự phát triển ngôn ngữ của học sinh
Việc dạy học vật lý phải thúc đẩy học sinh mô tả, giải thích các đốitượng, các hiện tượng, các quá trình vật lý và các ứng dụng kỹ thuật dưới hìnhthức nói và viết theo một trình tự logic và đúng ngữ pháp Muốn vậy phải sửdụng cho học sinh thuật ngữ chuyên môn đẻ mô tả và giải thích các hiện tượng,giải thích rõ các giai đoạn nối tiếp của thí nghiệm và nội dung của các phươngtrình vật lý
Phát triển tư duy logic, tư duy vật lý và tư duy khoa học kỹ thuật
+ Tư duy logic:
Để phát triển tư duy logic cần sử dụng việc đánh giá những quan sát vàthực nghiệm Việc giải thích những mối liên hệ tương hỗ của những hiện tượngvật lý, việc dự đoán những kết quả mong muốn, việc kiểm tra bằng thựcnghiệm những hệ quả tút ra từ các giả thuyết và thuyết
+ Tư duy biện chứng:
Các hiện tượng và quá trình vật lý cần được khảo sát hoàn toàn phù hợpvới sự sự phát triển biện chứng của chúng Điều đó có nghĩa là chúng phảiđược phân tích toàn diện, được xem xét trong những mối quan hệ tương hỗ củachúng trong sự phát triển lịch sử và mâu thuẫn nội taị Việc dạy học vật lý ngay
từ những bài đầu tiên cũng đòi hỏi việc phát triển tư duy biện chứng
Ví dụ 1:
Nghiên cứu ma sát cần giải thích cho học sinh rằng: Trong những trườnghợp này ma sát có hại, nhưng những trường hợp khác lại có lợi
Ví dụ 2:
Trang 11Định luật Ôm chỉ áp dụng đối với kim loại, khôgn áp dụng được chochất bán dẫn.
+ Tư duy vật lý tư duy khoa học kỹ thuật:
Tư duy vật lý là kỹ năng quan sát các hiện tượng vật lý, phân tích mộthiện tượng phức tạp thành những bộ phận, thành phần phần xác lập ở trongchúng mối liên hệ và những sự phụ thuộc xác định Tìm ra mặt định tính, địnhlượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lý, đoán trước được các hệ quả
từ các lý thuyết và áp dụng được kiến thức của mình
Tư duy khoa học, kỹ niệm bao gồm kỹ năng tìm ra mối liên hệ sâu sắcgiữa một bên là toán học, vật lý học và một bên là ứng dụng kỹ thuật khác củacác khoa học đó, biến các tư tưởng khoa học thành sơ đồ, mô hình, kết cấu kỹthuật
- Phát triển năng lực áp dụng các phương pháp nhận thức tổng quát củakhoa học
Vật lý học là môn có nhiều khả năng để làm việc này Hình thứuc vậnđộng vật lý là hình thức hoạt động đơn giản, phổ biến nhất Vì thế trong cácgiờ học vật lý với các ví dụ tương đối đơn giản, quen thuộc có thể hấp dẫn họcsinh tới chỗ hiểu và áp dụng các phương pháp nhận thức khoa học
Làm quen với các phương pháp nhận thức như: Đề xuất, giả thuyết,phương pháp thực nghiệm, phương pháp toán học, phương pháp tương tự và
mô hình hoá, phương pháp quy nạp, suy diễn
Như vậy là trong quá trình dạy học vật lý, việc áp dụng các phương phápkhoa học khác nhau đã phát triển được các mặt hoạt động trí tuệ chung, khôngchỉ trong giới hạn của bản thân vật lý
* Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
- Tổ chức nội dung kiến thức vật lý trong dạy học phỏng theo chu trìnhsáng tạo khoa học
Cơ sở lý thuyết của phương pháp phát triển khả năng sáng tạo của họcsinh trong quá trình dạy học là sự hiểu biết những quy luật sáng tạo khoa học
tự nhiên Lê Nin nêu lên "Từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng, rồi từ
tư duy trìu tượng trở về thực tiễn đó là con đường biện chứng của nhận thức,chân lý, nhận thức thực tế khách quan"
Trên cơ sở khái quát hoá những lời phát biểu đó, có thể trình bày nhữngkhía cạnh chính của quá trình sáng tạo khoa học dưới dạng chu trình: Từ khái
Trang 12quát hoá xây dựng mô hình trìu tượng hệ quả kiểm tra chúng bằng thựcnghiệm.
Ví dụ: Trình bày tài liệu sách giáo khoa về đề tài " Dòng điện trong kimloại" theo sơ đồ chu trình được khép kín
Sau này có thể hình dung dòng điện trong kim loại như dòng trôi dạtnhững êlectron tự do trong mạng tinh thế dưới tác dụng của điện trường
Từ giả thuyết đó có thể dẫn đến hệ quả là kết luận lý thuyết về định luật
Ôm cho đoạn mạch Một trong những hệ quả của định luật đó là đường đặctrưng vôn - ampe của dãy dẫn kim loại thẳng Thí nghiệm thực hành của họcsinh nghiên cứu đặc trưng vôn-ampe của dây kim loại xác nhận kết quả đó
Sự phân tích công thức định luật Ôm dẫn đến một hệ quả quan trọng:Khi nung nóng kim loại thì thời gian chuyển động của electron giảm đi, nghĩa
là cường độ dòng điện cũng giảm Thí nghiệm thực hành nhằm nghiên cứu sựphụ thuộc của điện trở suất của kim loại vào nhiệt độ xác nhận kết luận đó
Việc sử dụng đều đặn bài tập sáng tạo về vật lý không ngừng phát triển ởhọc sinh năng lực dự toán trực giác mà còn hình thành ở họ trạng thái tâm lýquan trọng
- Tổ chức định hướng hành động chiếm lĩnh tri thức vật lý của học sinhtheo tiến trình dạy học, giải quyết vấn đề nhằm phát triển năng lực tìm tòi, sángtạo của học sinh trong quá trình học tập
+ Dạy học giải quyết vấn đề
+ Khái niệm vấn đề và tình huống có vấn đề
+ Tiến trình giải quyết vấn đề khi xây dựng, vận dụng tri thức vật lý
bằng sơ đồ sau " Đề xuất vấn đề - suy đoán giải pháp và khảo sát lý thuyết hoặc thực nghiệm - kiểm tra, vận dụng kết quả"