1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tác động của dân số đến giáo dục

18 267 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 179,5 KB
File đính kèm tác động của dân số đến giáo dục.rar (32 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

dân số Việt Nam, tác động của dân số đến giáo dục. chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển của giáo dục. di cư và giáo dục. phân bố mật độ dân só ảnh hưởng đến giáo dục. định hướng và giải pháp. THỰC TRẠNG DÂN SỐ VÀ GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM. Vai trò và tác động của dân số tới vấn đề giáo dục ở Việt Nam4

Trang 1

(CHƯƠNG TRÌNH SAU ĐẠI HỌC)

TIỂU LUẬN TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ TỚI VẤN

ĐỀ GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM

TP Hồ Chí Minh, tháng 10/2018

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 2

Trang 2

1.3 Vai trò và tác động của dân số tới vấn đề giáo dục ở Việt Nam 5 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DÂN SỐ VÀ GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM 6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trên thế giới hiện nay, vấn đề dân số là vấn đề nóng bỏng, có tính thời sự và

là mối quan tâm của toàn nhân loại Dân số tăng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển bền vững về các mặt của con người và xã hội Không chỉ là vấn đề nóng bỏng của toàn thế giới mà Việt Nam dưới tình hình dân số hiện nay cũng đang đứng trước cơ hội và thách thức nhiều mặt, trong đó phải kể đến mặt giáo dục Vì vậy, phát triển dân số hợp lí sẽ trở thành điều kiện thuận lợi cho phát triển GD hoặc ngược lại, sự phát triển dân số không hợp lí sẽ kìm hãm sự phát triển GD trên mọi phương diện.Con người là vốn quý nhất, là chủ nhân của thế giới, là động lực để phát triển xã hội và cũng là mục tiêu hướng tới của mỗi quốc gia cũng như cả thế giới Ở Việt Nam, chiến lược phát triển KT – XH thời kì 2011 – 2020 của đảng ta đã khẳng định “Phát triển con người phải được coi là chiến lược trung tâm của Việt Nam” Muốn phát triển con người thì phải chú trọng đến phát triển giáo dục Giáo dục được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao chất lượng dân

Trang 3

số, phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiêp hoá - hiện đại hoá đất nước Giáo dục vừa là mục tiêu vừa là sức mạnh của nền kinh tế Sự phát triển dân

số ngày càng nhanh chóng đã tạo động lực toàn diện tới tác vấn đề kinh tế - xã hội

Nhận thấy đây là vấn đề cấp bách được xã hội rất quan tâm, tác giả đã chọn

đề tài nghiên cứu “Tác động của dân số đến vấn đề giáo dục ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của mình

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Mục đích của tiểu luận là phân tích tác động của dân số tới giáo dục Việt Nam từ đó đề ra những phương hướng và chiến lược cụ thể trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nước nhà

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên thì tiểu luận cần phải thực hiện những nhiệm

vụ quan trọng sau:

- Một là: Tổng hợp tài liệu liên quan đến vấn đề dân số và giáo dục

- Hai là: Tìm hiểu thực tiễn phát triển hệ thống quản lí giáo dục của các nước trên thế giới

- Ba là: Phân tích thực trạng phát triển và tác động của dân số đến nền giáo dục Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp xuyên suốt mà tiểu luận sử dụng là phương pháp biện chứng duy vật, ngoài ra tiểu luận còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu; phương pháp thống kê, logic lịch sử; phương pháp quy nạp, diễn dịch; phương pháp mô hình hóa; phương pháp nghiên cứu thực địa…

4 Kết cấu tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của nội dung nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng dân số và giáo dục Việt Nam

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển giáo dục Việt Nam

Trang 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Một số khái niệm cơ bản

- Dân số: Là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ quy mô, cơ cấu

- Phát triển dân số: Là quá trình phát triển số dân trên một lãnh thổ một quốc gia hoặc trên toàn thế giới, trong một thời gian nhất định ( thường tính từ 1 năm trở lên)

- Giáo dục: Giáo dục là một quá trình tổ chức có mục đích, là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kĩ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động Một cách khái quát nhất có thể định nghĩa GD là tất cả các dạng học tập của con người

- Phát triển GD: Là việc mở rộng quy mô của hệ thống GD trên các mặt nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển nhân cách, đáp ứng những đòi hỏi phát triển của xã hội cũng như của mỗi thành viên

1.2 Các chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển của giáo dục

- Tỉ lệ người lớn biết chữ ( trên 15 tuổi )

Trang 5

- Số năm đi học trung bình hay tỉ lệ nhập học các cấp

- Số học sinh trên 1 vạn dân

- Chi phí cho giáo dục: % trong GDP hay so với tổng chi ngân sách

- Số lượng giáo viên / học sinh

- Trình độ trang thiết bị, đồ dùng,phương tiện dạy học

→Kinh tế càng phát triển thì các chỉ số càng cao

1.3 Vai trò và tác động của dân số tới vấn đề giáo dục ở Việt Nam

1.3.1 Vai trò

Giáo dục được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiêp hoá - hiện đại hoá đất nước

Giáo dục vừa là mục tiêu vừa là sức mạnh của nền kinh tế

Giáo dục là nền tảng văn hoá, là điều kiện quan trọng cho một nền dân chủ, chính trị ổn định

Giáo dục là nền tảng xã hội của nền kinh tế tri thức (Nhiều quốc gia trong đó

có Việt Nam coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.)

Muồn tiếp cận nền được nền kinh tế và kỹ thuật hiện đại, có trình độ dân trí của nhân dân và trình độ chuyên môn nghề nghiệp của người lao động

Trình độ giáo dục là một đại lượng đặc trưng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia

1.3.2 Tác động của dân số tới vấn đề giáo dục ở Việt Nam

DS và GD có mối liên hệ tác động lẫn nhau và chịu tác động của nhiều yếu

tố khác như kinh tế, chính trị, quan niệm, phong tục, truyền thống văn hóa, tôn giáo Sự thay đổi về quy mô và cơ cấu dân số sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển về số lượng và chất lượng của hệ thống giáo dục

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DÂN SỐ VÀ GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM 2.1 Ảnh hưởng của quy mô và tốc độ gia tăng dân số đến chất lượng giáo dục

Việt Nam là nước có tỷ lệ gia tăng dân số cao Quy mô và tốc độ tăng dân số

có tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của giáo dục Ở nước ta do quy

mô dân số tăng nhanh nên số lượng học sinh cũng không ngừng tăng nên Tốc độ tăng dân số cao sẽ làm cho số học sinh trong độ tuổi đến trường tăng nhanh chóng Tuy nhiên, tác động gián tiếp của quy mô và tốc độ tăng dân số thể hiện thông qua ảnh hưởng của sự tăng nhanh dân số đến chất lượng cuộc sống, mức thu nhập từ đó ảnh hưởng đến quy mô giáo dục, đầu tư cho giáo dục, chất lượng giáo dục Tốc độ gia tăng dân số không tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế dễ dẫn đến tình trạng đói nghèo, thiếu ăn, thiếu chỗ ở, thu nhập thấp, dẫn đến tình trạng những gia đình đông con không có tiền đóng học cho con, nên con cái phải nghỉ học để phụ giúp gia đình đi làm kiếm tiền Như vậy, khi dân số tăng mà thu nhập thấp thì tỉ lệ trẻ em đến trường thấp dẫn đến tỉ lệ mù chữ trong dân cư cao

Việt Nam là một quốc gia có quy mô dân số lớn, tốc độ phát triển dân số ngày càng nhanh, khoảng cách dân số tăng gấp đôi ngày càng rút ngắn Năm 2014

Trang 7

Việt Nam đạt 90,7 triệu người, đứng thứ 3 ở Đông Nam Á, chỉ sau Indo-nêxia (248,8 triệu người) và Philippin (99,4 triệu người) và xếp thứ 13 trong tổng số hơn

200 nước trên thế giới Với quy mô dân số như vậy, nước ta đã tăng thêm 4,7 triệu người sau 5 năm (trung bình mỗi năm tăng 940 nghìn người) kể từ năm 2009 Quy

mô dân số lớn còn thể hiện ở mối quan hệ giữa dân số và đất đai Theo các nhà khoa học tính toán mật độ dân số thích hợp chỉ nên dừng lại từ 35 đến 40 người/ 1km2, thì ở Việt Nam gấp 5 đến 6 lần “mật độ chuẩn” và gần gấp 2 lần mật độ dân số của Trung Quốc – nước đông dân nhất nhất thế giới

Mặc dù tỷ lệ giảm sinh vừa qua đã giảm và còn tiếp tục giảm, nhưng kết qủa giảm sinh chưa thật sự vững chắc, còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gia tăng dân số nhanh trở lại Nếu không duy trì sự nỗ lực thì quy mô dân số nước ta vào giữa thế kỷ XXI

có thể nên tới 125 triệu người hoặc cao hơn, và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

Ở nước ta, nhiều trường lớp cũng được mở ra và đội ngũ giáo dục cũng tăng nhằm đáp ứng cho nhu cầu số lượng học sinh tăng lên Trong giai đoạn 2001-2010,

tỷ lệ nhập học tinh tăng nhanh, trong đó mẫu giáo 5 tuổi tăng từ 72% lên 98%, tiểu học từ 94% lên 97%, trung học cơ sở từ 70% lên 85%, trung học phổ thông từ 33% lên 50%; quy mô đào tạo nghề tăng 3,08% lần, trung cấp chuyên nghiệp tăng 2,69 lần, cao đẳng và đại học tăng 2,32 lần; tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 43%, bước đầu đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển rộng khắp trong toàn quốc đã mở rộng cơ hội học tập cho mọi người; bước đầu xây dựng xã hội học tập

Tại thời điểm khai giảng năm học 2015-2016, cả nước có 4,5 triệu trẻ em đi học mầm non; 15,2 triệu học sinh phổ thông đến trường, bao gồm 7,6 triệu học sinh tiểu học, 5,2 triệu học sinh trung học cơ sở và 2,4 triệu học sinh trung học phổ thông Tính đến tháng 9/2015, cả nước có 32/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, trong đó

10 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo

Trang 8

trung học cơ sở đi học đúng tuổi đạt tỷ lệ 90,4%; số trẻ em độ tuổi trung học cơ sở không đi học là 6,0% Số học sinh hoàn thành cấp trung học cơ sở tiếp tục đi học trung học phổ thông đạt tỷ lệ 90% Số trẻ em độ tuổi trung học phổ thông đi học đúng tuổi đạt tỷ lệ 70,7%; số trẻ em độ tuổi trung học phổ thông không đi học là 24,1%

2.1.1 Tác động của dân số đến việc giảng dạy

Dân số tăng nhanh đẫn đến số lượng học sinh trong 1 lớp tăng nhanh Số lượng học sinh trong 1 lớp mà Bộ giáo dục quy định là từ 35 – 40 học sinh Thế nhưng rất nhiều trường có số lượng học sinh trong 1 lớp là từ 40 – 50 học sinh, thậm chí là 55 học sinh Điều này nói lên một thực trạng đáng cảnh báo về việc lớp học quá tải ở đa số các trường của nước ta hiện nay Đây là thực trạng chung của các thành phố lớn khi dân số ở đây quá đông và chật chội Vì thế, điều này hưởng không nhỏ đến việc giảng dạy của giáo viên Đa số các giáo viên đều cho rằng họ cảm thấy khó khăn trong việc dạy học một lớp có sĩ số đông, đó là việc truyền tải kiến thức, ổn định nề nếp của lớp đông học sinh không được tốt bằng lớp có ít học sinh hơn, do giáo viên không thể bám sát được từng em, làm cho chất lượng học sinh không đều, có khi bị chênh lệch lớn Đó là một trong những vấn đề nan giải của giáo dục hiện nay khi tình trạng thiếu lớp, thiếu giáo viên đã ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng dạy và học trong các trường của nước ta hiện nay

2.1.2 Tác động của dân số đến việc học tập

Do số lượng học sinh trong 1 lớp đông nên không tránh khỏi tình trạng có những em không hiểu bài Do giáo viên không có thời gian quan tâm từng em một Việc trong một lớp mà có đến 50 -60 học sinh thì chắc chắn việc truyền thụ kiến thức đầy đủ cho cả lớp là một việc vô cùng khó khăn, ngay với việc giữ trật tự ổn định trong giờ đã là một việc vô cùng vất cả đối với các giáo viên Hơn nữa, việc các em tiếp thu được hết bài giảng của giáo viên thì đòi hỏi các em phải tập trung và

Trang 9

không mất trật tự Ở lứa tuổi học sinh, đặc biệt là các em tiểu học vẫn còn rất nghịch ngợm và ham chơi, đây cũng là một nguyên nhân lớn cản trở quá trình tiếp thu bài giảng của một tập thể đông Vì thế, dẫn đến tình trạng học sinh phải đi học thêm bên ngoài để bổ sung kiến thức Việc quá tải này còn dẫn đến nhiều bất cập, như phải chia thành nhiều ca học, học sinh phải học cả thứ 7, chủ nhật là hiện tượng rất phổ biến hiện nay

2.1.3 Tác động của dân số đến cơ sở vật chất

Dân số tăng nhanh cũng là gánh nặng đầu tư cho giáo dục Ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục ngày một tăng: do ngân sách chưa lớn, nên đầu tư cho ngành giáo dục chưa cao, cơ sở vật chất hạ tầng còn thiếu thốn, nhiều nơi còn chưa xây dựng được trường lớp khang trang, bàn ghế sách vở đồ dùng còn thiếu Điều này thể hiện rõ nhất trong các trường học ở nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa Tại các môi trường như vậy, điều rõ nhận thấy là sự mất cân đối sâu sắc về chất lượng giáo dục giữa các vùng nông thôn, miền núi còn nhiều khó khăn với các thành phố lớn Việc không được tiếp cận với các trang thiết bị học tập hiện đại sẽ gây cản trở lớn tới việc hình thành và áp dụng những phương pháp học tập đổi mới đối với cả giáo viên và học sinh Điều này làm cho họ bị lạc hậu, do không được tiếp cận với những kiến thức rộng lớn và giảm bớt kĩ năng cần thiết cho một xã hội hiện đại

2.2 Cơ cấu dân số ảnh hưởng đến hệ thống giáo dục

Cơ cấu dân số nước ta thời gian qua không hợp lí cả về giới tính, nhóm tuổi, giữa thành thị và nông thôn Thực tế cho thấy tình trạng mất bình đẳng về giới ở nước ta vẫn xảy ra nhất là khả năng tiếp cận giáo dục, đào tạo về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình đối với phụ nữ và trẻ em gái còn nhiều hạn chế Cơ cấu dân số theo tuổi ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển giáo dục Cơ cấu dân số theo

độ tuổi, giới tính ở nước ta chưa hợp lý và đang biến động Cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính là những yếu tố xác định quy mô, cơ cấu của hệ thống giáo dục

+Theo tuổi: dân số nước ta thuộc loại dân số trẻ, tuy vậy mức độ trẻ ngày càng giảm Nhóm 0-14 tuổi năm 2003 là 30% tổng dân số Cơ cấu tuổi phụ thuộc

Trang 10

dục tương ứng càng phải lớn Việt Nam là nước có cơ cấu dân số trẻ, tháp dân số có dạng hình tam giác, đáy rộng không đồng đều giữa các vùng, miền ảnh hưởng trước tiên tới quy mô, cơ cấu khung và cơ cấu lãnh thổ ngành giáo dục Nếu tất cả trẻ em đến tuổi đi học đều đến trường thì hệ thống giáo dục cũng có dạng hình tháp giống như tháp dân số trẻ

+Theo giới tính: Tỷ lệ nữ trên tổng số dân ở nước ta không ổn định và biến động thất thường, tư tưởng trọng nam khinh nữ có chuyển biến nhưng vẫn còn 16 tỉnh có tỷ số giới tính khi sinh là 115 nam so với 100 nữ, vượt quá mức sinh sản tự nhiên (ở những vùng nông thôn nghèo, vùng xa…tỷ lệ này còn cao hơn) Tuy nhiên, hiện nay không có sự chênh lệch đáng kể Do ngày nay sự bình đẳng giới đã được nâng lên rất nhiều, hệ tư tưởng đã thay đổi mạnh mẽ Đây là bước biến chuyển tốt đẹp, không gây mất cân bằng giới Hiện nay nữ chiếm khoảng 51% tổng dân số

Bảng 1: Tỷ lệ nhập học ở cấp tiểu học phân theo giới tính (%)

2006 – 2007 92,24 94,15 95,96

2007 – 2008 92,84 98,82 96,07

2008 – 2009 94,16 97,26 96,95

2009 – 2010 95,43 97,11 97,54

2010 – 2011 95,39 98,68 97,58

2011 – 2012 95,58 99,35 97,67

2012 – 2013 96,92 96,38 98,31

Tỷ lệ nhập học ở cấp tiểu học luôn ổn định ở mức cao, tăng dần từ 95,96% năm học 2006-2007 lên 98,31% năm học 2012-2013 Số liệu ở Bảng 1 cũng cho thấy tỷ lệ nhập học ở cấp tiểu học ít có sự chênh lệch giữa nam và nữ

Bảng 2: Tỷ lệ tuyển mới thô cấp THCS phân theo giới tính

2006 – 2007 84,64 86,69 85,63

2007 – 2008 89,83 82,30 86,19

2008 – 2009 91,56 87,68 89,66

2009 – 2010 92,45 88,69 90,62

Trang 11

2010 – 2011 93,72 96,33 94,97

2011 – 2012 92,80 97,47 95,00

2012 – 2013 98,46 95,51 96,94

Tỷ lệ tuyển mới thô cấp THCS tăng ổn định qua từng năm nhưng vẫn còn có

sự chênh lệch giữa học sinh nam và học sinh nữ

Tỉ lệ nữ nhiều có thể dẫn đến một số ngành đào tạo cao đẳng, đại học thay đổi để phù hợp với cơ cấu dân số theo giới Ví dụ: thường thì nam sẽ chọn những ngành như công nghệ thông tin, xây dựng,… Nữ sẽ chọn những ngành như sư phạm (đặc biệt là mầm non và tiểu học), thư kí văn phòng,

+Cơ cấu nghề: Do xuất phát điểm của Việt Nam là đi lên từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu nên dân số trong khu vực nông nghiệp vẫn luôn chiếm tỉ trọng lớn nhất, mặc dù những năm gần đây có giảm nhưng tốc độ chậm Tuy nhiên không thể phủ nhận những bước chuyển mình theo hướng tích cực của cơ cấu ngành nghề của Việt Nam trong những năm gần đây đó là giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ Kéo theo đó là tỉ số dân cư cũng dịch chuyển theo tương ứng mặc dù sự xê dịch vẫn còn khá chậm Do xuất phát điểm là nông nghiệp nên trình độ dân trí còn thấp, khả năng tiếp thu khoa học kĩ thuật chưa cao Gia đình làm nông thường không quan tâm đến việc học của con, hoặc không

đủ trình độ để dạy con học, dẫn đến tình trạng một số học sinh bỏ học, ở nhà làm nông cùng gia đình

+ Cơ cấu dân số thành thị và nông thôn: Cơ cấu theo trình độ học vấn còn nhiều bất cập và có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn Dân số ở thành thị thì có điều kiện thuận lợi cho học tập hơn ở nông thôn do đó ở thành thị dân số

có trình độ học vấn cao cả về số lượng và chất lượng

2.3 Phân bố dân cư và mật độ dân số ảnh hưởng tới giáo dục

Phân bố địa lý dân số cũng có ảnh hưởng đến giáo dục Ở nước ta dân số phân bố không đều giữa đồng bằng và miền núi; giữa thành thị và nông thôn Ở thành thị và các vùng đông dân kinh tế thường phát triển hơn, nên trẻ em có nhiều

cơ hội được đến trường hơn những vùng kém phát triển dân cư thưa thớt Ngoài ra

do điều kiện kinh tế chưa có nên nước ta chưa quan tâm đúng mức đến sự phát triển

Ngày đăng: 26/11/2018, 12:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w