1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của dân số đến giáo dục Việt Nam

12 2,4K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 57,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ẢNH HƯỞNG CỦA DÂN SỐ ĐẾN PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở VIỆT NAMHVTH: Phạm Hồng Mơ1 GVHD: PGS.TS.Nguyễn Kim Hồng TÓM TẮT Sự phát triển dân số DS ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến đến quy mô, c

Trang 1

ẢNH HƯỞNG CỦA DÂN SỐ ĐẾN PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM

HVTH: Phạm Hồng Mơ1 GVHD: PGS.TS.Nguyễn Kim Hồng

TÓM TẮT

Sự phát triển dân số (DS) ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến đến quy mô, chất lượng, đầu tư cho giáo dục (GD) thông qua quy mô, tốc độ tăng dân số, cơ cấu dân số và phân bố địa lí dân cư Và ngược lại, việc phát triển GD cũng ảnh hưởng đến các động lực phát triển dân số như mức sinh, tử, hôn nhân, di cư và các mặt xã hội của dân cư Bài viết nghiên cứu tác động của gia tăng dân số tới vấn đề giáo dục ở Việt Nam nhằm làm cơ sở để xây dựng

kế hoạch đầu tư thỏa đáng cho GD, phát huy vai trò “GD là quốc sách hàng đầu” trên con đường phát triển kinh tế xã hội (KT – XH) nước ta

Từ khóa: Phát triển dân số, phát triển giáo dục, Việt Nam

1 Đặt vấn đề

Con người là vốn quý nhất của xã hội, là động lực để phát triển kinh tế - xã hội và cũng là mục tiêu hướng tới của mỗi quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, chiến lược phát triển KT –

XH thời kì 2011 – 2020 của đảng ta đã khẳng định “Phát triển con người phải được coi là chiến lược trung tâm của Việt Nam” Trong vấn đề phát triển con người thì giáo dục được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiêp hoá - hiện đại hoá đất nước Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh của nền kinh tế Sự phát triển dân số đã tạo động lực toàn diện tới tác vấn đề kinh tế - xã hội Hiện nay, dân số là vấn đề có tính thời sự và là mối quan tâm của toàn nhân loại Dân số tăng ngày càng nhanh, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển bền vững về các mặt của con người và xã hội Không nằm ngoài thực trạng chung, Việt Nam dưới tình hình dân số hiện nay cũng đang đứng trước cơ hội và thách thức nhiều mặt, trong

đó phải kể đến vấn đề giáo dục DS tác động đến GD thông qua quy mô, cơ cấu, tốc độ gia tăng và chất lượng dân cư…Phát triển dân số hợp lí sẽ trở thành điều kiện thuận lợi cho phát triển GD hoặc ngược lại, sẽ dẫn đến sự trì trệ của ngành GD

2 Nội dung

2.1 Một số khái niệm cơ bản

- Dân số: Là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ quy mô, cơ cấu.

1 Học viên cao học khóa 26, ngành Địa lí học, trường ĐHSP TP HCM

Trang 2

- Phát triển dân số:Là quá trình phát triển số dân trên một lãnh thổ một quốc gia hoặc trên

toàn thế giới, trong một thời gian nhất định ( thường tính từ 1 năm trở lên)

- Giáo dục: Giáo dục là một quá trình tổ chức có mục đích, là hoạt động hướng tới con

người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kĩ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động Một cách khái quát nhất có thể định nghĩa GD là tất cả các dạng học tập của con người

- Phát triển GD: Là việc mở rộng quy mô của hệ thống GD trên các mặt nâng cao dân trí,

đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển nhân cách, đáp ứng những đòi hỏi phát triển của xã hội cũng như của mỗi thành viên

2.2 Các chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển của giáo dục

- Tỉ lệ người lớn biết chữ (trên 15 tuổi)

- Số năm đi học trung bình hay tỉ lệ nhập học các cấp

- Số học sinh trên 1 vạn dân

- Chi phí cho giáo dục: % trong GDP hay so với tổng chi ngân sách

- Số lượng giáo viên / học sinh

- Trình độ trang thiết bị, đồ dùng, phương tiện dạy học

→ Kinh tế càng phát triển thì các chỉ số càng cao

2.3 Vai trò của giáo dục

- Giáo dục được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiêp hoá - hiện đại hoá đất nước

- Giáo dục vừa là mục tiêu vừa là sức mạnh của nền kinh tế

- Giáo dục là nền tảng văn hoá, là điều kiện quan trọng cho một nền dân chủ, chính trị ổn định

- Giáo dục là nền tảng xã hội của nền kinh tế tri thức (Nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.)

- Muốn tiếp cận nền được nền kinh tế và kỹ thuật hiện đại, có trình độ dân trí của nhân dân

và trình độ chuyên môn nghề nghiệp của người lao động

Trang 3

- Trình độ giáo dục là một đại lượng đặc trưng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia

2.4 Tác động của dân số tới vấn đề giáo dục ở Việt Nam

DS và GD có mối liên hệ tác động lẫn nhau và chịu tác động của nhiều yếu tố khác như kinh tế, chính trị, quan niệm, phong tục, truyền thống văn hóa, tôn giáo Sự thay đổi về quy

mô và cơ cấu dân số sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển về số lượng và chất lượng của hệ thống giáo dục

2.4.1 Ảnh hưởng của quy mô và tốc độ gia tăng dân số đến chất lượng giáo dục

Việt Nam là nước có tỷ lệ gia tăng dân số cao Quy mô và tốc độ tăng dân số có tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của giáo dục Ở nước ta do quy mô dân số tăng nhanh nên số lượng học sinh cũng không ngừng tăng nên Tốc độ tăng dân số cao sẽ làm cho số học sinh trong độ tuổi đến trường tăng nhanh chóng.Tuy nhiên, tác động gián tiếp của quy

mô và tốc độ tăng dân số thể hiện thông qua ảnh hưởng của sự tăng nhanh dân số đến chất lượng cuộc sống, mức thu nhập từ đó ảnh hưởng đến quy mô giáo dục, đầu tư cho giáo dục, chất lượng giáo dục Tốc độ gia tăng dân số không tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế dễ dẫn đến tình trạng đói nghèo, thiếu ăn, thiếu chỗ ở, thu nhập thấp, dẫn đến tình trạng những gia đình đông con không có tiền đóng học cho con, nên con cái phải nghỉ học

để phụ giúp gia đình đi làm kiếm tiền Như vậy, khi dân số tăng mà thu nhập thấp thì tỉ lệ trẻ

em đến trường thấp dẫn đến tỉ lệ mù chữ trong dân cư cao

Việt Nam là một quốc gia có quy mô dân số lớn, tốc độ phát triển dân số ngày càng nhanh, khoảng cách dân số tăng gấp đôi ngày càng rút ngắn Năm 2015 Việt Nam đạt 91,7 triệu người, đứng thứ 3 ở Đông Nam Á, chỉ sau Indo-nêxia (257,6 triệu người) và Philippin (100,7 triệu người) và xếp thứ 14 trong tổng số hơn 200 nước trên thế giới [7]

Mặc dù tỷ lệ giảm sinh vừa qua đã giảm và còn tiếp tục giảm, nhưng kết quả giảm sinh chưa thật sự vững chắc, còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gia tăng dân số nhanh trở lại Nếu không duy trì sự nỗ lực thì quy mô dân số nước ta vào giữa thế kỷ XXI có thể nên tới 125 triệu người hoặc cao hơn, và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

Ở nước ta, nhiều trường lớp cũng được mở ra và đội ngũ giáo dục cũng tăng nhằm đáp ứng cho nhu cầu số lượng học sinh tăng lên.Trong giai đoạn 2001-2010, tỷ lệ nhập học tinh tăng nhanh, trong đó mẫu giáo 5 tuổi tăng từ 72% lên 98%, tiểu học từ 94% lên 97%, trung học cơ sở từ 70% lên 85%, trung học phổ thông từ 33% lên 50%; quy mô đào tạo nghề tăng 3,08% lần, trung cấp chuyên nghiệp tăng 2,69 lần, cao đẳng và đại học tăng 2,32 lần; tỷ lệ

Trang 4

lao động đã qua đào tạo đạt 43%, bước đầu đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển rộng khắp trong toàn quốc đã mở rộng cơ hội học tập cho mọi người; bước đầu xây dựng xã hội học tập

Năm học 2015-2016, cả nước có 4,0 triệu trẻ em đi học mẫu giáo, tăng 6,0% so với năm học 2014-2015; 15,3 triệu học sinh phổ thông, tăng 1,8%, bao gồm: 7,8 triệu học sinh tiểu học, tăng 3,3%; 5,1 triệu học sinh trung học cơ sở, tăng 0,8% và 2,4 triệu học sinh trung học phổ thông, giảm 0,6% [4] Tính đến tháng 9/2015, cả nước có 32/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, trong đó 10 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 Theo kết quả Điều tra, số trẻ em đi học mẫu giáo trước khi vào lớp 1 đạt tỷ lệ 96,8%; số trẻ em độ tuổi tiểu học đi học đúng tuổi đạt tỷ lệ 97,9%, số trẻ em độ tuổi tiểu học không đi học là 1,5% Số trẻ em độ tuổi trung học cơ sở đi học đúng tuổi đạt tỷ lệ 90,4%; số trẻ em độ tuổi trung học cơ sở không đi học là 6,0% Số học sinh hoàn thành cấp trung học cơ sở tiếp tục đi học trung học phổ thông đạt tỷ lệ 90% Số trẻ em độ tuổi trung học phổ thông đi học đúng tuổi đạt tỷ lệ 70,7%; số trẻ em độ tuổi trung học phổ thông không đi học là 24,1% [4]

Tác động của dân số đến việc giảng dạy

Dân số tăng nhanh đẫn đến số lượng học sinh trong 1 lớp tăng nhanh Số lượng học sinh trong 1 lớp mà Bộ giáo dục quy định là từ 35 – 45 học sinh Năm học 2015-2016, tỷ lệ học sinh trên lớp cấp tiểu học là 27 học sinh/lớp; cấp trung học cơ sở là 33 học sinh/lớp và cấp trung học phổ thông 38 học sinh/lớp Tỷ lệ giáo viên trên lớp cấp tiểu học là 1,4 giáo viên/lớp; cấp trung học cơ sở là 2,0 giáo viên/lớp và cấp trung học phổ thông là 2,4 giáo viên/lớp [4].Tuy nhiên, còn nhiều trường có số lượng học sinh trong 1 lớp là từ 40 – 50 học sinh, thậm chí là 55 học sinh Điều này nói lên một thực trạng đáng cảnh báo về việc lớp học quá tải ở đa số các trường của nước ta hiện nay Đây là thực trạng chung của các thành phố lớn khi dân số ở đây quá đông và chật chội Vì thế, điều này hưởng không nhỏ đến việc giảng dạy của giáo viên Đa số các giáo viên đều cho rằng họ cảm thấy khó khăn trong việc dạy học một lớp có sĩ số đông, đó là việc truyền tải kiến thức, ổn định nề nếp của lớp đông học sinh không được tốt bằng lớp có ít học sinh hơn, do giáo viên không thể bám sát được từng em, làm cho chất lượng học sinh không đều, có khi bị chênh lệch lớn Đó là một trong những vấn đề nan giải của giáo dục hiện nay khi tình trạng thiếu lớp, thiếu giáo viên đã ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng dạy và học trong các trường của nước ta hiện nay

Trang 5

Tác động của dân số đến việc học tập

Do số lượng học sinh trong 1 lớp đông nên không tránh khỏi tình trạng có những em không hiểu bài Do giáo viên không có thời gian quan tâm từng em một Việc trong một lớp

mà có đến 45 -50 học sinh thì chắc chắn việc truyền thụ kiến thức đầy đủ cho cả lớp là một việc vô cùng khó khăn, ngay với việc giữ trật tự ổn định trong giờ đã là một việc vô cùng vất cả đối với các giáo viên Hơn nữa, việc các em tiếp thu được hết bài giảng của giáo viên thì đòi hỏi các em phải tập trung và không mất trật tự Ở lứa tuổi học sinh, đặc biệt là các

em tiểu học vẫn còn rất nghịch ngợm và ham chơi, đây cũng là một nguyên nhân lớn cản trở quá trình tiếp thu bài giảng của một tập thể đông Vì thế, dẫn đến tình trạng học sinh phải đi học thêm bên ngoài để bổ sung kiến thức Việc quá tải này còn dẫn đến nhiều bất cập, như phải chia thành nhiều ca học, học sinh phải học cả thứ 7, chủ nhật là hiện tượng rất phổ biến hiện nay

Tác động của dân số đến cơ sở vật chất

Dân số tăng nhanh cũng là gánh nặng đầu tư cho giáo dục Năm học 2015-2016, cả nước có 14513 trường mẫu giáo, tăng 334 trường so với năm học 2014-2015; 28951 trường phổ thông, tăng 29 trường, bao gồm: 15254 trường tiểu học, giảm 23 trường;

10312 trường trung học cơ sở, tăng 19 trường; 2399 trường trung học phổ thông, tăng 13 trường; 597 trường phổ thông cơ sở, tăng 12 trường và 389 trường trung học, tăng 8 trường [4] Ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục ngày một tăng: do ngân sách chưa lớn, nên đầu tư cho ngành giáo dục chưa cao, cơ sở vật chất hạ tầng còn thiếu thốn, nhiều nơi còn chưa xây dựng được trường lớp khang trang, bàn ghế sách vở đồ dùng còn thiếu Điều này thể hiện rõ nhất trong các trường học ở nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa Tại các môi trường như vậy, điều rõ nhận thấy là sự mất cân đối sâu sắc về chất lượng giáo dục giữa các vùng nông thôn, miền núi còn nhiều khó khăn với các thành phố lớn Việc không được tiếp cận với các trang thiết bị học tập hiện đại sẽ gây cản trở lớn tới việc hình thành và áp dụng những phương pháp học tập đổi mới đối với cả giáo viên

và học sinh Điều này làm cho họ bị lạc hậu, do không được tiếp cận với những kiến thức rộng lớn và giảm bớt kĩ năng cần thiết cho một xã hội hiện đại

2.4.2 Cơ cấu dân số ảnh hưởng đến hệ thống giáo dục

Cơ cấu dân số ở nước ta trong thời gian qua là không hợp lí cả về giới tính, nhóm tuổi, giữa thành thị và nông thôn Thực tế cho thấy tình trạng mất bình đẳng về giới ở nước ta vẫn xảy ra nhất là khả năng tiếp cận giáo dục, đào tạo về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình đối với phụ nữ và trẻ em gái còn nhiều hạn chế Cơ cấu dân số theo tuổi ảnh

Trang 6

hưởng trực tiếp đến phát triển giáo dục Cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính là những yếu

tố xác định hình thức, cơ cấu của hệ thống giáo dục

+ Cơ cấu DS theo tuổi: dân số nước ta thuộc loại dân số trẻ, tuy vậy mức độ trẻ ngày

càng giảm Nhóm 0-14 tuổi giảm từ 33,1% năm 1999 còn 23,5% tổng dân số năm 2014 [3]

Cơ cấu tuổi phụ thuộc vào mức sinh, mức sinh càng cao thì cơ cấu tuổi càng trẻ Thời gian gần đây do có các biện pháp hạn chế mức sinh nên mức sinh đã giảm, vì vậy mức độ trẻ hiện nay đã giảm so với thời kỳ trước Dân số trong độ tuổi đến trường cao, thì quy mô giáo dục tương ứng càng phải lớn Việt Nam là nước có cơ cấu dân số trẻ, tháp dân số có dạng hình tam giác, đáy rộng không đồng đều giữa các vùng, miền ảnh hưởng trước tiên tới quy

mô, cơ cấu khung và cơ cấu lãnh thổ ngành giáo dục Nếu tất cả trẻ em đến tuổi đi học đều đến trường thì hệ thống giáo dục cũng có dạng hình tháp giống như tháp dân số trẻ

+Theo giới tính: Tỷ lệ nữ trên tổng số dân ở nước ta không ổn định và biến động thất

thường, tư tưởng trọng nam khinh nữ có chuyển biến nhưng vẫn còn phổ biến ở nhiều nơi Tính đến năm 2015 vẫn còn 4/6 vùng có tỉ số giới ính khi sinh vượt ngưỡng gồm Đồng bằng sông Hồng (120,7), Trung du và miền núi phía Bắc (114,3), Bắc Trung Bộ và DH Nam Trung Bộ (112,2) và Đông Nam Bộ (114,2) Trong khi đó, tỉ số này của cả nước là 112,8, tuy nhiên, tỷ số giới tính chung vẫn ở mức cho phép đạt 97,3 [4]

Bảng 1: Tỷ lệ nhập học tinh ở cấp tiểu học phân theo giới tính (%)

Nguồn: [1]

Tỷ lệ nhập học ở cấp tiểu học luôn ổn định ở mức cao, tăng dần từ 95,96% năm học 2006-2007 lên 98,31% năm học 2012-2013 Số liệu ở Bảng 1 cũng cho thấy tỷ lệ nhập học ở cấp tiểu học ít có sự chênh lệch giữa nam và nữ

Trang 7

Bảng 2: Tỷ lệ nhập học cấp THCS phân theo giới tính

Năm học Tỷ lệ nhập học tinh ở cấp THCS

Nguồn: [1]

Tỷ lệ nhập học THCS tăng ổn định qua từng năm nhưng vẫn còn có sự chênh lệch giữa học sinh nam và học sinh nữ

Tỉ lệ nữ nhiều có thể dẫn đến một số ngành đào tạo cao đẳng, đại học thay đổi để phù hợp với cơ cấu dân số theo giới Ví dụ: thường thì nam sẽ chọn những ngành như công nghệ thông tin, xây dựng,… Nữ sẽ chọn những ngành như sư phạm (đặc biệt là mầm non và tiểu học), thư kí văn phòng,

+Cơ cấu nghề: Do xuất phát điểm của Việt Nam là đi lên từ một nước nông nghiệp nghèo

nàn, lạc hậu nên dân số trong khu vực nông nghiệp vẫn luôn chiếm tỉ trọng lớn nhất, mặc dù những năm gần đây có giảm nhưng tốc độ chậm Tuy nhiên không thể phủ nhận những bước chuyển mình theo hướng tích cực của cơ cấu ngành nghề của Việt Nam trong những năm gần đây đó là giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ Kéo theo đó

là tỉ số dân cư cũng dịch chuyển theo tương ứng mặc dù sự xê dịch vẫn còn khá chậm Do xuất phát điểm là nông nghiệp nên trình độ dân trí còn thấp, khả năng tiếp thu khoa học kĩ thuật chưa cao Gia đình làm nông thường không quan tâm đến việc học của con, hoặc không đủ trình độ để dạy con học, dẫn đến tình trạng một số học sinh bỏ học, ở nhà làm nông cùng gia đình

+ Cơ cấu dân số thành thị và nông thôn: Cơ cấu theo trình độ học vấn còn nhiều bất cập

và có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn Dân số ở thành thị thì có điều kiện

Trang 8

thuận lợi cho học tập hơn ở nông thôn do đó ở thành thị dân số có trình độ học vấn cao cả về

số lượng và chất lượng

2.4.3 Phân bố dân cư và mật độ dân số ảnh hưởng tới giáo dục

Phân bố địa lý dân số cũng có ảnh hưởng đến giáo dục Ở nước ta dân số phân bố không đều giữa đồng bằng và miền núi; giữa thành thị và nông thôn Ở thành thị và các vùng đông dân kinh tế thường phát triển hơn, nên trẻ em có nhiều cơ hội được đến trường hơn những vùng kém phát triển dân cư thưa thớt Ngoài ra do điều kiện kinh tế chưa có nên nước ta chưa quan tâm đúng mức đến sự phát triển giáo dục ở các vùng hẻo lánh và nhiều giáo viên không muốn làm việc ở vùng này Mật độ dân số ở các khu vực thành thị quá lớn nên ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng giáo dục Mật độ dân số quá lớn số trẻ em đến tuổi đi học cao gây quá tải, học sinh phải học 3 ca, ví dụ như c ở các thành phố lớn như : Hà Nội , Thành Phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng…

Ngược lại ở nơi dân cư thưa thớt, ví dụ như các dân tộc sống rải rác trên núi, số trẻ em trong độ tuổi đi học không nhiều, khoảng cách từ nhà đến trường lớn cũng là một yếu tố gây khó khăn cho ngành giáo dục.Dân số Việt Nam phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng Hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, là châu thổ của hai sông lớn, nơi có đất đai màu mỡ và điều kiện canh tác nông nghiệp thuận lợi, có 43% dân số của cả nước sinh sống Ngược lại, hai vùng Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, là những vùng núi cao điều kiện đi lại khó khăn và là nơi các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu, chỉ chiếm dưới một phần năm (gần 19%) dân số của cả nước Dân số Việt Nam cũng phân bố không đều giữa các tỉnh, đặc biệt dân cư tập trung ở các đô thị lớn

Bảng 3: Diện tích, dân số và mật độ dân cư của các vùng trong cả nước năm 2015

Nguồn: [4]

(Km 2 )

Dân số TB (Nghìn người)

Mật độ dân số (Người/km 2 )

Trung du và miền núi phía Bắc 95266,8 11803,7 124

Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 95832,4 19658,0 205

Trang 9

Chính sự phân bố không đồng đều trên đã ảnh hưởng rất lớn tới tình trạng giáo dục của nước ta Những vùng đông dân thường là những vùng có đất đai màu mỡ, giao thông thuận lợi và kinh tế phát triển nên giáo dục ở những nơi này có điều kiện phát triển tốt hơn, tốt hơn những nơi khác cả về chất và lượng

Bảng 4: Tỷ lệ người lớn (15+) biết chữ phân theo các vùng địa lý (%)

Bắc Trung bộ và DH Nam TB 93,3 94,5 94,7 95,2 95,2

Đồng bằng Sông Cửu Long 92,2 93,1 93,4 92,6 92,9

Nguồn: [4] Nhìn chung, tỷ lệ biết chữ ở các vùng địa lý đều tăng trong giai đoạn 2010-2015 Tỷ lệ biết chữ của người lớn (15+) ở vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ luôn ổn định ở mức cao nhất Vùng có tỷ lệ biết chữ của người lớn (15+) thấp nhất là vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu long, thấp hơn tỷ lệ trung bình của toàn quốc từ 5-6% (người lớn 15+) Như vậy, có thể thấy rằng, số người mù chữ hiện nay chủ yếu là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, giao thông cách trở, địa bàn sinh sống rộng lớn, kinh tế - xã hội chậm phát triển

Bảng 5: Tỉ lệ người lớn (15+) biết chữ phân theo nông thôn, thành thị (%)

Năm Tổng số Theo giới tính Theo thành thị, nông thôn

Nam Nữ Thành thị Nông thôn

Nguồn: [4]

Trang 10

Tính chung cả nước, tỷ lệ biết chữ của người lớn từ 15 tuổi trở lên tiếp tục được cải thiện; tăng dần từ 93,6% lên 94,9% (người lớn 15+) Tuy nhiên:

- Tỷ lệ biết chữ của nữ giới (từ 15 tuổi trở lên) tăng từ 2006 đến nay, tuy nhiên luôn thấp hơn nam giới từ 3-5%

- Tỷ lệ biết chữ của người lớn từ 15 tuổi trở lên giữa nông thôn và thành thị chênh lệch đáng kể, ở nông thôn luôn thấp hơn từ 3-4% so với thành thị

2.4.4 Di cư và giáo dục

Việc di cư, nếu không có tổ chức, không có kế hoạch thì sẽ dẫn đến tình trạng bị gián đoạn hoặc bỏ học ở trẻ; do đó, việc hoạch định chiến lược phát triển giáo dục cần phải tính toán đến các yếu tố này.Theo Tổng điều tra Dân số và nhà ở 1/4/2009, dân số nước ta gần 86 triệu người, tăng 11,3% so với năm 1999 Cũng theo kết quả cuộc Tổng điều tra này, trong 5 năm, từ 2004 đến 2009, gần 7 triệu người di cư, tăng 50% so với giai đoạn 1994-1999 Năm

2013, cả nước có gần1,8 triệu người di cư, tăng 33% so với trung bình giai đoạn (2004-2009) Xét về cường độ cũng có sự gia tăng khá mạnh Di cư giữa các tỉnh, tăng từ 29 người

di cư/1000 dân năm 1999 lên 43 người di cư/1000 dân năm 2009 Di cư giữa các vùng tăng

từ 19 người di cư/1000 dân năm 1999 lên 30 người di cư/1000 dân năm 2009 Rõ ràng, người di cư ngày càng nhiều và tăng mạnh hơn nhiều so với tăng dân số

Bảng 6: Số dân di cư qua các thời kỳ ở nước ta

Nguồn: [2]

Do vốn đầu tư nước ngoài vào các vùng cũng rất khác nhau, cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng di cư giữa các vùng trong cả nước So vùng Tây Nguyên, mức đầu tư nước ngoài vào đồng bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ gấp rất nhiều lần Thực trạng này chứa đựng nguy cơ di cư tự do lớn so với di dân theo dự án Theo số liệu điều tra người di cư nội địa Việt Nam năm 2015, cả nước có 11170 lượt di cư giữa các vùng kinh tế Ở TP Hồ Chí Minh luồng di cư tự do đến không ngừng tăng lên Nhìn chung tình trạng di dân tự do và sự

di chuyển của lực lượng lao động đó đã làm trầm trọng thêm việc đáp ứng những dịch vụ xã hội cơ bản gây ô nhiễm môi trường sống, tàn phá tài nguyên, gia tăng các tệ nạn xã hội và tạo sức ép cho giáo dục Quy mô dân số ở thành thị vượt quá khả năng đáp ứng của kết cấu

hạ tầng (nhà ở, giao thông, cấp thoát nước…) Tuy nhiên, di cư nông thôn - thành thị còn có tác dụng thúc đẩy giáo dục phát triển ở khu vực thành thị: làm tăng số người có nhu cầu đi

Số người di cư (nghìn người) 1.415 4.482 6.725

Ngày đăng: 29/12/2018, 19:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w